Để đạt được chất lượng cao trong việc phát triển trí tuệ cho trẻ ở lứa tuổi này cần tổ chức đa dạng, hiệu quả các hoạt động: hoạt động thể dục, hoạt động học, hoạt động ngoài trời, hoạt
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-
LÊ THỊ TUYẾT HOA
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ CHO TRẺ 3-4 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON
TƯ THỤC THỊ XÃ ĐIỆN BÀN TỈNH QUẢNG NAM
Đà Nẵng - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-
LÊ THỊ TUYẾT HOA
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ CHO TRẺ 3-4 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON
TƯ THỤC THỊ XÃ ĐIỆN BÀN TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 814.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ ĐÌNH SƠN
Đà Nẵng - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Lê Thị Tuyết Hoa
Trang 5DISCUSSION INFORMATION SITUATION WILL MANAGE OPERATION KNOWLEDGE DEVELOPMENT FOR CHILDREN AGE 3-4 YEARS OLD
IN THE PRIVATE KINDERGARTENSCHOOLS OF ELECTRIC BAN
MARKET IN QUANG NAM
- Industry: Education management
- Student's full name: Le Thi TuyetHoa
- Scientific instructors: Assoc.Prof.Df Le Dinh Son
-Training institution: Danang·Pedagogical University
Summary
L The main results of the thesis:
Over the time of research, the author of the thesis has clal'ified the theoretical and practical issues about organizing intellectual development activities and managing intellectual development activities for
· children 3-4 years old fully survey the current situation of intellectual development activities for children 3-4 years old at IO private kindergartens in Dien Ban town, Quang Nam province in recent years On the basis of theoretical research and practical surveys, the topic has proposed measur�s to manage intellectual development activities for 3-4 year old children at private kindergartens in Dien Ban town, Quang Nam province test the urgency and feasibility bf the pr�posed measures.
2 Proposed measures
Based on the actual situation of entertainment organization and entertainmen� activities
management, the author of the thesis proposes thefollowing 05 measures:
- Raising awareness of ac;lministrators, teachers and parents about the importance of intellectual development activities for children 3-4 years old; ' '
- Develop a plan to implement content developm�nt activities for children 3-4 years old;
- Fostering knowledge and skills for teachers about organizing intellectual development
activities for children 3-4 years old;
- Renewing methods and forms of intellectual development activities for children 3-4 years old
in groups and classes;
- Invest in improving teaching aids, toys and equipment for 3-4 years old children's intellectual development;
- Strengthening coordination between school and family in intellectual development activities for children 3-4 years old;
- Periodically examine, evaluate and adjust intellectual development activities for children 3-4 years old
3, Keywords: Management, development, intellectual development, intellectual development activities, intellectual development management
Confirmation of instructors.·
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
6 Phạm vi nghiên cứu 2
7 Phương pháp nghiên cứu 2
8 Cấu trúc của luận văn 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ CHO TRẺ 3 - 4 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON 4
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 4
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 4
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 5
1.2 Các khái niệm chính của đề tài 6
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 6
1.2.2 Hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi 9
1.2.3 Quản lý hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi 10
1.3 Hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi tại các trường mầm non 11
1.3.1 Đặc điểm phát triển trí tuệ của trẻ 3 - 4 tuổi 11
1.3.2 Mục tiêu hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi 12
1.3.3 Nội dung hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi 15
1.3.4 Phương pháp, hình thức hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi 17
1.3.5 Các điều kiện phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi 23
1.3.6 Kiểm tra, đánh giá hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi 26
1.4 Quản lý hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi tại các trường mầm non 27
1.4.1 Quản lý mục tiêu hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi 27
1.4.2 Quản lý nội dung hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi 29
1.4.3 Quản lý phương pháp, hình thức hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi 32
1.4.4 Quản lý các điều kiện phát triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi 33
1.4.5 Quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi 34
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi tại các trường mầm non 35
1.5.1 Yếu tố khách quan 35
1.5.2 Yếu tố chủ quan 36
Tiểu kết chương 1 36
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ CHO TRẺ 3 - 4 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON TƯ THỤC THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM 37
2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội và phát triển giáo dục thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam 37
2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội thị xã Điện Bàn 37
2.1.2 Tình hình phát triển giáo dục thị xã Điện Bàn 38
Trang 72.2 Khái quát quá trình khảo sát 40
2.2.1 Mục tiêu khảo sát 40
2.2.3 Đối tượng, địa bàn khảo sát 40
2.2.4 Phương pháp khảo sát 41
2.2.5 Quy trình, thời gian khảo sát 42
2.3 Thực trạng hoạt động phát tiển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi tại các trường mầm non tư thục thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam 42
2.3.1 Thực trạng thực hiện mục tiêu phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi 42
2.3.2 Thực trạng thực hiện nội dung phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi 44
2.3.3 Thực trạng hình thức, phương pháp hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi 45
2.3.4 Thực trạng các điều kiện phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi 47
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi tại các trường mầm non tư thục thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam 48
2.4.1 Thực trạng quản lý mục tiêu phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi 48
2.4.2 Thực trạng quản lý nội dung hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi 50 2.4.3 Thực trạng quản lý phương pháp, hình thức phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi 51
2.4.4 Thực trạng quản lý các điều kiện phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi 53
2.4.5 Thực trạng quản lý công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi 55
2.5 Đánh giá chung về thực trạng 58
2.5.1 Điểm mạnh 58
2.5.2 Hạn chế 58
2.5.3 Nguyên nhân hạn chế 58
Tiểu kết chương 2 59
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ CHO TRẺ 3 - 4 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON TƯ THỤC THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM 60
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 60
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 60
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 60
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 60
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 61
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 61
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ trẻ 3 - 4 tuổi tại các trường mầm non tư thục thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam 61
3.2.1 Nâng cao nhận thức của CBQL, GV và phụ huynh về tầm quan trọng của hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi 61
3.2.2 Xây dựng kế hoạch thực hiện các nội dung hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 – 4 tuổi 64
3.2.3 Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho GV về tổ chức các hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi 65
3.2.4 Tổ chức đổi mới phương pháp, hình thức hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi trong các nhóm, lớp 68
Trang 83.2.5 Tổ chức đầu tư cải tiến đồ dùng, đồ chơi, thiết bị dạy học phục vụ hoạt
động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi 71
3.2.6 Tăng cường phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong các hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi 74
3.2.7 Định kỳ kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3- 4 tuổi 76
3.3 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 79
3.3.1 Mục đích khảo nghiệm 79
3.3.2 Đối tượng khảo nghiệm 79
3.3.3 Tiến trình khảo nghiệm 79
3.3.4 Nội dung khảo nghiệm 79
3.3.5 Kết quả khảo nghiệm và phân tích kết quả khảo nghiệm 80
Tiểu kết chương 3 83
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC PL1
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BGH : Ban giám hiệu CBQL : Cán bộ quản lý CMT : Cha mẹ trẻ CSGD : Chăm sóc giáo dục CSVC : Cơ sở vật chất
GDĐT : Giáo dục đào tạo GDMN : Giáo dục mầm non GVMN : Giáo viên mầm non
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
2.2 Kết quả đánh giá mức độ thực hiện mục tiêu hoạt động phát
triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi tại các trường mầm non 432.3 Kết quả đánh giá mức độ thực hiện các các nội dung phát triển
trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi ở các trường mầm non tư thục 442.4
Kết quả đánh giá về mức độ thực hiện các phương pháp và hình
thức tổ chức hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi tại các
trường mầm non tư thục
46
2.5 Kết quả đánh giá về thực trạng các điều kiện hỗ trợ hoạt động
phát triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi tại các trường mầm non tư thục 472.6 Kết quả đánh giá về mức độ thực hiện quản lý mục tiêu hoạt
động phát triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi tại các trường mầm non 492.7 Kết quả đánh giá mức độ thực hiện quản lý nội dung hoạt động
phát triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi tại các trường mầm non 502.8
Kết quả đánh giá mức độ thực hiện quản lý các hình thức,
phương pháp hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi tại các
trường mầm non
52
2.9 Kết quả đánh giá mức độ thực hiện quản lý các điều kiện hoạt
động phát triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi tại các trường mầm non 532.10
Kết quả đánh giá mức độ thực hiện quản lý công tác kiểm tra,
đánh giá hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi tại các
trường mầm non
56
3.1 Kết quả đánh giá tính cấp thiết của các biện pháp quản lý hoạt
3.2 Kết quả đánh giá tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
GDMN là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân GDMN thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ phát triển về nhận thức, trí tuệ, ngôn ngữ, thể chất, tình cảm, kỹ năng xã hội và thẩm mỹ, từ đó hình thành những yếu tố đầu tiên về nhân cách cho trẻ Nhiều nghiên cứu cho thấy, những năm tháng đầu đời đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển năng lực của trẻ Trẻ bẩm sinh đã có khả năng tiếp thu, học tập, não bộ đã được lập trình để tiếp nhận những thông tin cảm quan, làm tiền đề cho việc hình thành hiểu biết, giao tiếp với thế giới Nếu được quan tâm và phát triển trí tuệ đúng hướng, phù hợp, GDMN sẽ tạo được nền móng vững chắc cho sự phát triển trong tương lai của trẻ; chuẩn bị cho trẻ những kỹ năng, khả năng cần thiết, thuận lợi cho việc học tập ở bậc học tiếp theo; tăng khả năng sẵn sàng để bước vào giai đoạn giáo dục phổ thông và đạt được nhiều thành tựu trong học tập
Giai đoạn 3 - 4 tuổi là thời kỳ đầu của tuổi mẫu giáo, là giai đoạn chuyển tiếp quan trọng về tư duy của trẻ, đó là bước chuyển tư duy từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong Đây là thời điểm vàng cho sự phát triển não bộ của trẻ Do vậy, việc giáo dục trí tuệ cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi cần được quan tâm đặc biệt Để đạt được chất lượng cao trong việc phát triển trí tuệ cho trẻ ở lứa tuổi này cần tổ chức đa dạng, hiệu quả các hoạt động: hoạt động thể dục, hoạt động học, hoạt động ngoài trời, hoạt động góc và các hoạt động nhận thức khác ở mọi lúc, mọi nơi… Với phương châm “học mà chơi, chơi mà học” cần lồng ghép vào các hoạt động phong phú của trẻ những nội dung giáo dục đơn giản, nhưng đúng hướng, tạo được sự gợi mở, kích thích được sự tìm tòi, ham hiểu biết, khám phá từ trẻ
Trong những năm qua, các trường mầm non tư thục thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam đã thực hiện Thông tư số 28/2016/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Bộ GD&ĐT về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung của chương trình giáo dục mầm non, trong đó chú trọng đến lĩnh vực phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi Tuy nhiên, do
ở lứa tuổi này trẻ còn nhỏ nên việc thực hiện ở các nhà trường còn gặp những bất cập trong cách thức truyền đạt các nội dung giáo dục và tổ chức hoạt động cho trẻ Từ thực tiễn giáo dục cho thấy muốn trẻ 3 - 4 tuổi phát triển tốt về trí tuệ thì việc quản lý hoạt động phát triển trí tuệ phải được đặc biệt quan tâm, thực hiện một cách khoa học, có hiệu quả Xác định đây là vấn đề cần được đổi mới và quan tâm nhiều hơn của GDMN nói chung và giáo dục của các trường mầm non tư thục huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng
Nam nói riêng, chúng tôi chọn đề tài “Quản lý hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 -
4 tuổi tại các trường mầm non tư thục thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” để làm luận
văn tốt nghiệp
Trang 122 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi tại các trường mầm non tư thục thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, luận văn đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động này nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ tại các nhà trường hiện nay
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi tại trường mầm non
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi tại các trường mầm non tư thục thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
4 Giả thuyết khoa học
Hiện nay, công tác quản lý hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi tại các trường mầm non tư thục thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam vẫn còn bất cập, hạn chế Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý hợp lý và khả thi thì khi áp dụng
sẽ nâng cao được hiệu quả hoạt động này, đáp ứng yêu cầu chất lượng công tác chăm sóc, giáo dục trẻ tại các nhà trường ở địa phương nghiên cứu
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4
tuổi tại các trường mầm non
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 -
4 tuổi tại các trường mầm non tư thục thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi
tại các trường mầm non tư thục thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
6 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu thực trạng hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ
3 - 4 tuổi tại 10 trường mầm non tư thục thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam và thực trạng quản lý hoạt động này từ năm 2019 đến 2020; đề xuất các biện pháp quản lý của hiệu trưởng đối với công tác này cho giai đoạn 2020 - 2025
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, so sánh và hệ thống hóa tài liệu thông qua nghiên cứu các
giáo trình, sách báo, các công trình, sản phẩm liên quan
7.1.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng để
phân chia đối tượng nghiên cứu thành các phần nhỏ nhằm mục đích nghiên cứu các đặc điểm, tính chất của từng thành phần đối tượng nghiên cứu đã được chia nhỏ một các dễ dàng, hiệu quả Trên cơ sở kết quả thu được từ quá trình nghiên
Trang 13cứu từng phần ấy, chúng tôi rút ra kết luận về bản chất, quy luật vận động và phát
triển khách quan của đối tượng nghiên cứu
7.1.2 Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng để thấy được
sự tương đồng và dị biệt giữa các đối tượng, các nội dung nghiên cứu trong cùng một thời điểm hay các thời điểm khác nhau; từ đó có cách nhìn nhận, đánh giá và tiếp nhận khái quát, toàn diện
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Bằng việc xây dựng hệ thống câu hỏi nhằm khảo sát thực trạng quản lý hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng hoạt động phát triển trí tuệ và quản lý hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi Đây là căn cứ thực tiễn cho chúng tôi đề xuất giải pháp quản lý hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi một cách hiệu quả, sát thực tế
7.2.2 Phương pháp quan sát
Quan sát hoạt động phát triển trí tuệ và quản lý hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi tại các trường mầm non tư thục thị xã Điện Bàn
7.2.3 Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến của các chuyên gia (những người làm công tác quản lý giáo dục mầm non và các chuyên gia nghiên cứu quản lý giáo dục có kinh nghiệm về các biện pháp quản lý hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ mầm non
7.2.4 Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn một số cán bộ quản lý và giáo viên ở trường mầm non về thực trạng quản lý hoạt động phát triển trí tuệ và biện pháp quản lý hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi
7.3 Nhóm phương pháp hỗ trợ
Sử dụng các phương pháp thống kê toán học để xử lý dữ liệu khảo sát thực trạng
và phân tích thông tin theo mục tiêu, nội dung nghiên cứu đã xác định
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được bố cục trong 3 chương
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi tại các trường mầm non
Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi tại các trường mầm non tư thục thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
Chương 3 Biện pháp quản lý hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ trẻ 3 - 4 tuổi tại các trường mầm non tư thục thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN
TRÍ TUỆ CHO TRẺ 3 - 4 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Nhiều nhà tâm lý học, giáo dục học Xô viết nổi tiếng như A.N Lêônchiev, X.L Rubinstein, N.A.Menchinxkaia đã nghiên cứu quá trình hình thành hành động trí tuệ ở trẻ em, nhờ đó đã phát hiện ra cơ chế chuyển từ hành động vật chất bên ngoài thành hành động trí tuệ ở bên trong và đặc điểm, các giai đoạn của sự hình thành các hành động trí tuệ ở trẻ em [2]
Năm 1983, Howard Gardner – một nhà tâm lý học nổi tiếng của Đại học Harvard- đã xuất bản một cuốn sách có nhan đề “Frames of Mind” (tạm dịch “Cơ cấu của trí tuệ”) Cuốn sách đã mang lại một cái nhìn nhân bản và cần thiết nhằm kêu gọi nhà trường và giáo viên coi trọng sự đa dạng về trí tuệ ở trẻ: mỗi loại trí tuệ đều quan trọng và mỗi trẻ đều có ít nhiều khả năng theo nhiều khuynh hướng khác nhau Nhà trường phải là nơi giúp đỡ, khơi gợi tiềm năng, tạo điều kiện học tập theo các hướng khác nhau cho các chủ nhân tương lai của xã hội Làm được điều đó, chúng ta sẽ giúp mỗi trẻ tỏa sáng và thành công trong cuộc sống của chúng
Bàn về giáo dục trí tuệ trong quá trình dạy học, A I Xôrô Kina nhấn mạnh: Trong hoạt động “giáo dục trẻ em trước tuổi đến trường” cần chú trọng đến mục tiêu phát triển trí tuệ phù hợp với sự phát triển thể chất của trẻ trong từng giai đoạn [1] Jean Piaget (1896 - 1980) là nhà tâm lí học Thuỵ Sĩ Ông là một trong những người sáng lập môn tâm lí học phát triển, và chuyên nghiên cứu về tâm lí học tư duy
và tâm lí học trẻ em Dựa trên những dữ liệu từ thực nghiệm, Piaget xây dựng học thuyết về sự hình thành và phát triển trí tuệ Học thuyết này coi trí tuệ là sự phối hợp các hành động bên trong của chủ thể, đó là những thao tác Theo ông, trí tuệ không bất biến mà phát triển theo từng cấp độ phụ thuộc vào giai đoạn và các thời kì được hoà nhập kế tiếp nhau bởi các điều kiện sinh lí của sự phát triển Nó là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa chủ thể và môi trường Mỗi lứa tuổi có đặc trưng riêng về chất lượng trí tuệ và được coi là một giai đoạn phát triển Một giai đoạn phát triển trí tuệ có những đặc trưng sau: thứ nhất, các thành tựu trí tuệ giai đoạn này là sự kế tiếp giai đoạn trước; thứ hai, là sự kết hợp thống nhất các cấu trúc đã có từ giai đoạn trước; thứ ba, mỗi giai đoạn là một cấu trúc tổng thể các sơ đồ chứ không phải là sự xếp chồng các
sơ đồ lên nhau; thứ tư, mỗi giai đoạn đều gồm các cấu trúc đã có, đang có và các yếu
tố chuẩn bị cho giai đoạn tiếp sau Dựa vào các dấu hiệu trên, J.Piaget chia quá trình phát triển trí tuệ của trẻ em thành các giai đoạn lớn, và trong mỗi giai đoạn lớn đó bao gồm những thời kỳ nhỏ
Maria Montessori trong tác phẩm”Trẻ thơ trong gia đình” đã phân tích môi
Trang 15trường cho trẻ tìm tòi phát triển trí tuệ với đặc trưng cơ bản là: việc học thông qua trải nghiệm bằng các giác quan Bà nhấn mạnh vai trò của sự kết nối giữa gia đình và nhà trường trong việc tạo môi trường mang tính học cụ cho trẻ trải nghiệm tích cực Ở các góc được chuẩn bị các giáo cụ, trẻ huy động tối đa các giác quan để tìm hiểu khám phá; Tôn trọng những nét khác biệt của trẻ: Trẻ được tự do lựa chọn hoạt động theo hứng thú nhu cầu của trẻ, kết quả tùy thuộc vào năng lực từng trẻ; Đề cao tính chủ động độc lập của trẻ Trẻ không chỉ học cái gì, mà quan trọng hơn còn được học cách học như thế nào và bồi dưỡng lòng say mê khám phá để phát triển tư duy cho trẻ Theo quan điểm của L.X Vưgotxki, trí tuệ có hai mức độ là trí tuệ bậc thấp và trí tuệ bậc cao Trí tuệ bậc thấp có phần giống với trí tuệ động vật được đặc trưng bởi mối quan hệ trực tiếp kích thích - phản ứng Trí tuệ bậc cao đặc trưng bởi sự tham gia của ngôn ngữ và mối quan hệ gián tiếp giữa chủ thể với đối tượng thông qua công cụ tâm
lý Như vậy, phương tiện làm trung gian của trí tuệ bậc cao đó là ngôn ngữ (hệ thống tín hiệu thứ hai) Vốn tâm lý là phương tiện giúp chúng ta phát hiện, tiếp cận xử lý thông tin Khả năng trí tuệ phụ thuộc rất nhiều vào ngôn ngữ và vốn tâm lý Có thể thấy, trẻ em khi phát triển ngôn ngữ thì phát triển trí tuệ và khi trí tuệ phát triển cao thì chức năng tâm lý được cải tổ phát triển cao [14]
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Trí của mỗi đứa trẻ khác nhau Cho đến nay, người ta chưa thể giải thích năng khiếu của con người ở đâu mà có, và đâu là nguyên nhân khiến trí của người này khác người kia Nhiều cha mẹ thấy con của người khác tài giỏi nên cũng ao ước con mình tài giỏi như thế Họ tìm mọi cách để rèn luyện con mình cho bằng con người ta mà không nhận ra việc nhồi nhét ấy chẳng những không mang lại hiệu quả mà còn làm cản trở sự phát triển tâm sinh lý bình thường của trẻ
Về vấn đề này, học giả Gia Hiền có lời khuyên: "Điều quan trọng là hãy dạy trẻ nên người, còn tài thì tùy thuộc vào trí của trẻ Trước hết, cần dạy cách làm người và ứng xử trong việc làm người đối với từng trẻ một Sau đó, cung cấp thông tin, tín hiệu phù hợp với khả năng tiếp nhận của trẻ, đồng thời theo dõi xem phần giáo dục nào có thể biến thành trí tuệ để điều chỉnh kỹ năng giáo dục trẻ hợp lý và hiệu quả".Về cơ bản, trí tuệ của một con người được phân làm 3 cấp độ:
Cấp độ1: Hiểu sự vật từ đơn giản đến phức tạp, có ngôn ngữ(có chữ), biết kỹ năng sống và lao động
Cấp độ 2: Phát hiện ra các mối liên hệ của con người trong xã hội, tìm ra các mối liên hệ và phát triển của sự vật Từ đó tạo ra nhận thức chủ quan mà thành trí tuệ cá nhân, thành kết quả lao động, sáng tạo, phát triển cuộc sống và xã hội
Cấp độ 3: Đỉnh cao của trí tuệ là khả năng thấu hiểu giá trị làm người, giá trị vạn vật, biến hiểu biết thành trí thức, kết hợp được cảm xúc và trí tuệ trong sáng tạo, có thể sáng tạo ra khoa học kỹ thuật, làm cho sự vật có ý nghĩa đối với đời sống con người, làm cho đời sống con người đạt tới chân-thiện–mỹ
Trang 16Theo quan điểm về tâm lý học trẻ em, trí tuệ được hiểu là một nội dung tâm lý điều khiển hành động của con người trong những tình huống cụ thể, hợp quy luật và mang lại hiệu quả cao [17].
Từ quan niệm của các nhà nghiên cứu, chúng ta thấy rằng trí tuệ là một khái niệm rộng phải xem xét trên nhiều khía cạnh khác nhau thì mới có thể nghiên cứu về trí tuệ một cách đầy đủ được Mỗi nhà nghiên cứu đều có lý khi đưa ra luận điểm của mình để giải thích và khái quát về trí tuệ, nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu đã gặp nhau ở quan điểm chung nhất là xem xét trí tuệ dựa trên thực tiễn hoạt động của con người bởi tất cả các quá trình nhận thức đều phải thông qua hoạt động bằng các hành
vi cụ thể mới có thể lĩnh hội được những yêu cầu của nhận thức
Thực ra, các quan niệm về trí tuệ không loại trừ nhau Trong thực tiễn không có quan niệm nào chỉ chú ý đến duy nhất một khía cạnh năng lực tư duy hay khả năng thích ứng, mà thường đề cập đến hầu hết các nội dung đã nêu trên Sự khác biệt giữa các quan niệm chỉ là ở chổ khía cạnh nào được nhấn mạnh và nghiên cứu sâu hơn “Trí tuệ là một mặt cơ bản của nhân cách, là khả năng phát hiện, tiếp cận và xử lý thông tin
để giải quyết những tình huống mới, trong mối quan hệ giữa chủ thể hoạt động với môi trường hoạt động nhằm thích ứng tích cực với điều kiện của cuộc sống” [20] Tác giả Đinh Văn Vang cho rằng “qua các thực nghiệm về tính linh hoạt của
tư duy đã đi đến kết luận: hành động với đồ vật càng phong phú, đa dạng càng giúp trẻ tránh được sự hình thành kiểu tư duy giáo điều, kinh nghiệm chủ nghĩa sau này Đồng thời tác giả cũng nhận định độ tuổi mẫu giáo lớn là giai đoạn cuối cùng của trẻ em
ở lứa tuổi “mầm non” Ở giai đoạn này, những cấu tạo tâm lý đặc trưng của con người
đã được hình thành trước đây, đặc biệt là trong độ tuổi mẫu giáo nhỡ vẫn tiếp tục phát triển mạnh Với sự giáo dục của người lớn, những chức năng tâm lý đó sẽ được hoàn thiện về mọi phương diện của hoạt động tâm lý (nhận thức, tình cảm và ý chí) để hoàn thành việc xây dựng những cơ sở ban đầu về nhân cách của con người” [24]
Trong cuốn sách “Nội dung và phương pháp giáo dục trí tuệ cho trẻ mẫu giáo”, tác giả N N Pôtdiacốp cho rằng: Trẻ ở tuổi mầm non là cơ hội tốt nhất để rèn luyện những kĩ năng, kĩ xảo sơ đẳng về hoạt động trí tuệ, bao gồm: Quan sát, ghi nhớ, tái hiện, tưởng tượng, phân tích, tổng hợp, so sánh và phân loại [18]
Mặc dù, đã có nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu về sự phát triển trí tuệ trẻ em Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi tại các trường mầm non, cần có nhiều hơn các đề tài nghiên cứu liên quan đến vấn đề này ở từng địa phương cụ thể
1.2 Các khái niệm chính của đề tài
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Quản lý là một hoạt động bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động trong một
tổ chức nhất định Sự phân công, hợp tác lao động đó nhằm đạt hiệu quả và năng suất
Trang 17lao động cao hơn, do vậy cần có người đứng đầu, chỉ huy, phối hợp điều hành, kiểm tra, điều chỉnh…Chính vì vậy, người ta quan niệm quản lý là một thuộc tính lịch sử vì
nó phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người, thường xuyên biến đổi, nó là hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm
Có nhiều cách nhìn khác nhau về quản lý:
Warren Bennis, một chuyên gia nổi tiếng về nghệ thuậtt lãnh đạo đã từng nói rằng : “Quản lý là một cuộc thử nghiệm gắt gao trong cuộc đời mỗi cá nhân, và điều
đó sẽ mài giũa họ trở thành các nhà lãnh đạo”
Với Harolk Kootz & Cyryl O'Donell: "Quản lý là việc thiết lập và duy trì môi trường nơi mà cá nhân làm việc với nhau trong từng nhóm có thể hoạt động hữu hiệu
và có kết quả, nhằm đạt được các mục tiêu của nhóm" [7]
Harol Koontz: "Quản lý là nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạt động của những người khác" Theo Mary Parker Follett, nhà khoa học chính trị, nhà triết học Mỹ thì: “Quản lý là nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác”
Tư tưởng và quan điểm “quản lý” đã có từ cách đây hơn 2500 năm nhưng cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, vấn đề quản lý theo khoa học mới xuất hiện Người khởi xướng là Fredrich Winslow Taylor với cuốn sách “Các nguyên tắc quản lý theo khoa học” Theo ông thì người quản lý phải là nhà tư tưởng lên kế hoạch chỉ đạo
Theo các tác giả Trần Xuân Bách, Lê Đình Sơn: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý, về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội”
Tác giả Nguyễn Minh Đạo cho rằng: "Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra" Quản lý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có kết quả và hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra [5]
Từ những quan niệm này cho thấy, quản lý là một hoạt động liên tục và cần thiết khi con người kết hợp với nhau trong tổ chức Đó là quá trình tạo nên sức mạnh gắn liền các hoạt động của các cá nhân với nhau trong một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung Quản lý bao gồm các yếu tố sau: Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp từ chủ thể quản lý Tác động có thể liên tục nhiều lần Muốn quản lý thành công, trước tiên cần phải xác định rõ chủ thể, đối
Trang 18tượng và khách thể quản lý Điều này đòi hỏi phải biết định hướng đúng Chủ thể quản
lý phải thực hành việc tác động và phải biết tác động Vì thế chủ thể phải hiểu đối tượng và điều khiển đối tượng một cách có hiệu quả Chủ thể có thể là một người, một nhóm người; còn đối tượng có thể là con người (một hoặc nhiều người), giới vô sinh hoặc giới sinh vật
Tóm lại, từ những phân tích trên có thể hiểu chung về quản lý như sau: “Quản lý
là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường”
Quản lý là hiện tượng tồn tại trong mọi chế độ xã hội Bất kỳ ở đâu, lúc nào con người có nhu cầu kết hợp với nhau để đạt mục đích chung đều xuất hiện quản lý Quản
lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức điều hành các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên những quy luật khách quan Xã hội càng
phát triển, nhu cầu và chất lượng quản lý càng cao
Ngày nay, quản lý trở thành một nhân tố của sự phát triển xã hội Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan
đến tất cả mọi người
1.2.1.2 Quản lý giáo dục
Giáo dục là một lĩnh vực hoạt động xã hội nhằm truyền đạt những kinh nghiệm của thế hệ trước cho thế hệ sau Nhờ vậy mà xã hội loài người tồn tại và phát triển Giáo dục là một hiện tượng xã hội, QLGD là một loại hình quản lý, một bộ phận của quản lý xã hội Khi đề cập đến QLGD là đề cập đến việc quản lý mọi hoạt động giáo dục con người trong xã hội
Trong những năm qua, định nghĩa quản lý giáo dục đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu:
Theo M.I.Kônđacôp, “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp khoa học nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của cơ quan trong hệ thống giáo dục, để tiếp tục phát triển, mở rộng hệ thống giáo dục cả về số lượng cũng như chất lượng”
Theo tác giả Nguyễn Gia Quý: "Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục tới mục tiêu đã định, trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng những quy luật khách quan của hệ thống giáo dục quốc dân" [21]
Từ những định nghĩa nêu trên, có thể hiểu một cách khái quát về QLGD: Đó là
sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục tới mục tiêu đã định, trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng những quy luật khách quan của hệ thống giáo dục quốc dân
Trang 19Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên
lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, đối với thế hệ trẻ và đối với từng học sinh” [6]
Tóm lại, QL nhà trường là một bộ phận của QLGD QL nhà trường là một hệ thống những tác động sư phạm khoa học và có tính định hướng của chủ thể QL đến tập thể GV, HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm làm cho nhà trường vận hành theo đúng đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng trong thực tiễn Việt Nam Người QL nhà trường phải làm sao cho hệ thống các thành tố vận hành chặt chẽ với nhau, đưa đến kết quả mong muốn
1.2.2 Hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi
1.2.2.1 Khái niệm phát triển
Trong phép biện chứng duy vật, phát triển là quá trình biến đổi từ thấp đến cao,
từ đơn giản đến phức tạp Đó là sự tích lũy dần về số lượng dẫn đến sự biến đổi về vật chất; là quá trình nảy sinh cái mới trên cơ sở cái cũ, do sự đấu tranh của các mặt đối lập nằm ngay trong bản thân sự vật hiện tượng
Theo quan điểm Triết học, phát triển là khái niệm biểu hiện sự thay đổi tăng tiến
cả về chất, cả về không gian lẫn thời gian của sự vật, hiện tượng và con người trong xã hội Như vậy, phát triển được hiểu là sự tăng trưởng, là sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực, tiến lên
Tác giả Đặng Bá Lãm, "Phát triển là một quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, theo đó cái cũ chuyển biến mất và cái mới ra đời, Phát triển
là một quá trình nội tại: Bước chuyển từ thấp lên cao xảy ra bởi vì trong cái thấp đã chứa đựng dưới dạng tiềm tàng những khuynh hướng dẫn đến cái cao Còn cái cao là cái thấp đã phát triển" [15]
Có thể tóm lại “phát triển là sự vận động đi lên của mọi sự vật và hiện tượng
Trang 20tuân theo những quy luật nội tại, khách quan của chúng”
1.2.2.2 Khái niệm phát triển trí tuệ
Trẻ em, trong quá trình phát triển, sự phát triển trí tuệ đóng một vai trò rất quan trọng góp phần phát triển toàn diện của đứa trẻ
Theo nghĩa thông thường, trí tuệ là kết quả của hoạt động trí thức, dựa trên lý trí dùng đến lý luận, khái niệm, ngôn từ, và chủ yếu bao gồm những sự hiểu biết, kinh nghiệm,những kiến thức đã được gom góp lại
Sự phát triển trí tuệ là toàn bộ những thay đổi về số lượng và chất lượng diễn ra trong hoạt động tư duy của trẻ gắn liền với lứa tuổi, được thực hiện dưới tác động của môi trường xã hội Trong quá trình trẻ tham gia vào các loại hình hoạt động với kinh nghiệm phong phú và chịu ảnh hưởng của những tác động giáo dục Lứa tuổi mầm non
sự tích lũy tri thức diễn ra nhanh chóng, ngôn ngữ được hình thành, các quá trình nhận thức được hoàn thiện thông qua các hoạt động phát triển trí tuệ: hoạt động với đồ vật, hoạt động tạo tạo hình, các trò chơi, lao động, giao tiếp…
Như vậy, “Phát triển trí tuệ là một quá trình sư phạm được tổ chức đặc biệt nhằm hình thành cho trẻ những biểu tượng sơ đẳng về cuộc sống xung quanh, về bản thân và phát triển các quá trình tâm lí nhận thức, lòng ham hiểu biết và năng lực trí tuệ ở trẻ”
1.2.2.3 Khái niệm hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi
Trong quá trình phát triển toàn diện của trẻ, hoạt động phát triển trí tuệ đóng một vai trò rất quan trọng góp phần phát triển toàn diện cho trẻ ở những giai sau này Hoạt động phát triển trí tuệ lại là một quá trình nhắm đến việc phát triển khả năng hoạt động
có hiệu quả của trí óc
Hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi bao gồm các nội dung sau: Đặc điểm phát triển trí tuệ, mục tiêu của hoạt động phát triển trí tuệ, nội dung của hoạt động phát triển trí tuệ, phương pháp, hình thức hoạt động phát triển trí tuệ, các điều kiện phát triển trí tuệ
Hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi được thực hiện, được duy trì và đạt kết quả là khi cán bộ quản lý, tổ chuyên môn, giáo viên các trường mầm non thực hiện
đúng, đầy đủ, kịp tiến độ tất cả các yếu tố nêu trên Tóm lại “Hoạt động phát triển trí tuệ là quá trình giáo viên truyền đạt cho trẻ những kiến thức, kỹ năng sơ đẳng về thế giới xung quang, khả năng nhận thức và năng lực trí tuệ của trẻ sau này”
1.2.3 Quản lý hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi
Trẻ em 3-4 tuổi là lứa tuổi có cái nhìn về thế giới rộng mở hơn, các khái niệm về thời gian và không gian bắt đầu hình thành, sự hình thành ý thức về bản thân nhiều
hơn, sự phát triển về chú ý và đặc biệt là phát triển ngôn ngữ Việc tổ chức các hoạt
động đa dạng giúp trẻ không chỉ có những kinh nghiệm về cuộc sống xung quanh, hiểu được ý nghĩa và một số tính chất của các sự vật hiện tượng mà còn có khả năng phán đoán – suy lý đơn giản Ở giai đoạn này, trẻ tích cực hoạt động với đồ vật, lặp đi, lặp
Trang 21lại và lâu dần nhập tâm, hình thành các biểu tượng trong trí óc, trẻ bắt đầu xuất hiện tưởng tượng có chủ đích và tưởng tượng sáng tạo Ngôn ngữ có ý nghĩa rất lớn kích thích tưởng tượng phát triển Đây là giai đoạn quan trọng để các nhà giáo dục thực hiện nhiệm vụ giáo dục cho trẻ
Quản lý hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi tại các trường mầm non là sự tác động có mục đích, có định hướng, hợp quy luật của Hiệu trưởng đến cách thức làm việc của giáo viên và hoạt động của trẻ nhằm đạt được mục tiêu quản lý hoạt động phát triển trí tuệ
Quản lý hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ là công việc quan trọng nhất của trường mầm non, mọi hoạt động, cách thức tổ chức hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ của giáo viên đều chịu sự tác động trực tiếp từ cán bộ quản lý tại trường mầm non Trong trường mầm non, hiệu trưởng thường phân công cho hiệu phó phụ trách chuyên môn quản lý hoạt động phát triển của nhà trường, và trong đó có quản lý hoạt động phát triển trí tuệ của trẻ 3-4 tuổi
Vì vậy, quản lý hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi tại các trường mầm non là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch của nhà quản lý tại cơ sở giáo dục đến các yếu tố trong hệ thống giáo dục nhà trường nhằm thực hiện tốt kế hoạch hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ để đạt được mục đích mà giáo dục mầm non đặt ra
1.3 Hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi tại các trường mầm non
1.3.1 Đặc điểm phát triển trí tuệ của trẻ 3 - 4 tuổi
Đặc điểm phát triển trí tuệ của trẻ 3 - 4 tuổi là khả năng trực giác phát triển mạnh hơn, tư duy gắn liền với tình cảm và các ý muốn chủ quan Trí tưởng tượng phong phú, sự tập trung chú ý cao
Với trẻ 3-4 tuổi là trẻ sẽ bắt đầu hỏi nhiều câu hỏi dạng Khi nào? Bao nhiêu? Tại sao? Mô tả đồ vật dùng làm gì? Hiểu các khái niệm khó như chất lượng, số lượng, chất liệu Gọi đúng tên màu sắc quen thuộc, sắp xếp các đối tượng theo hình dáng và màu sắc Ghi nhớ được tình tiết của các câu chuyện; Bắt đầu biết đếm và biết mặt số Hiểu khái niệm ngày, đêm, phân biệt các hoạt động khác nhau ở ngày và đêm.Hiểu khái niệm đối lập như đầy/vơi, giống/khác So sánh hơn, kém, cao hơn/thấp hơn Vào một thời điểm nhất định, trẻ muốn sờ, nếm, gửi, nghe và thử nghiệm tất tả mọi thứ xung quanh Trẻ thể hiện rõ ý thức ham học hỏi qua kinh nghiệm và thực hành Trẻ học từ các trò chơi, bận rộn trong việc phát triển các kỹ năng, sử dụng ngôn ngữ và luôn cố gắng để kiểm soát được nội tâm Trẻ muốn tự khẳng định bản thân khi tách khỏi cha mẹ, độc lập hơn các em bé tuổi chập chững và đã có thể diễn đạt các nhu cầu của mình bằng ngôn ngữ
Có thể gọi tên chính xác 8 màu Cảm nhận về thời gian được cải thiện (ngay bây giờ, sau đó, tiếp theo) Nhớ được các đoạn của một câu chuyện Hiểu được khái niệm giống và khác Thích phân loại đồ vật (theo kích thước và màu sắc) Hoàn thành được trò chơi ghép hình Nhận biết được các nhãn hiệu và biển báo…
Trang 22Hoạt động phát triển trí tuệ của trẻ là mang tính tri giác, tư duy, trí nhớ và khả năng tưởng tượng, điều đó có nghĩa hoạt động đã xuất hiện một số dạng phán đoán, suy lý đơn giản gắn liền với các sự kiện, hiện tượng mà trẻ tri giác được gắn với hoàn cảnh cụ thể như: tự nhiên, xã hội, con người…Do vậy, đối với trẻ 3-4 tuổi, hoạt động phát triển trí tuệ có một vai trò quan trọng để trẻ tiếp cận xã hội thực một cách tự nhiên
và tự do nhất
1.3.2 Mục tiêu hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi
Theo Điều 23, Luật giáo dục số: 43/2019/QH14 ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định về vị trí, vai trò và mục tiêu của giáo dục mầm non: là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời
Hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ mầm non là một quá trình sư phạm được tổ chức một cách đặc biệt nhằm hình thành những tri thức và kĩ năng sơ đẳng, phát triển những năng lực và nhu cầu hoạt động trí tuệ cho trẻ em Để việc tổ chức các hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi được thực hiện tốt thì nhà giáo dục phải nắm rõ các mục tiêu hoạt động phát triển trí tuệ như sau:
* Trẻ có một số biểu tượng sơ đẳng về thiên nhiên, xã hội, con người
Giáo dục trí tuệ, đặc biệt là giáo dục và phát triển hoạt động nhận cảm (cảm giác, tri giác), hoạt động tư duy, tưởng tượng cho trẻ em lứa tuổi mầm non là điều rất quan trọng, vì đây là cơ hội vàng để rèn luyện các giác quan cho trẻ, nếu bỏ lỡ cơ hội quý giá này sẽ gây ra hậu quả xấu cho việc phát triển năng lực nhận cảm của trẻ ở những lứa tuổi tiếp theo Việc tổ chức các hoạt động đa dạng giúp trẻ không chỉ có những kinh nghiệm về cuộc sống xung quanh, hiểu được ý nghĩa và một số tính chất của các
sự vật hiện tượng mà còn có khả năng sắp xếp – phân loại Từ đó, trẻ có khả năng mở rộng sự định hướng của mình trong môi trường xung quanh, tích cực khám phá những điều mới lạ, hấp dẫn trong thế giới xung quanh
Trong quá trình tổ chức các hoạt động và giao tiếp với trẻ, giáo viên cần từng bước hình thành cho trẻ những biểu tượng sơ đẳng về một số đồ vật, hiện tượng thiên nhiên, xã hội xung quanh cho trẻ mầm non gồm:
- Những biểu tượng sơ đẳng về các đồ vật trong cuộc sống sinh hoạt gần gũi (ở gia đình, trường mầm non), cô giáo dạy trẻ biết được tên gọi, tính chất, chức năng, cách sử dụng những đồ vật quen thuộc đó
- Những biểu tượng sơ đẳng về các hiện tượng tự nhiên như thời tiết khí hậu, các hiện tượng mưa, gió, sấm sét…
- Những biểu tượng sơ đẳng về thực vật, động vật: Cần dạy trẻ biết tên gọi, đặc điểm, cấu tạo tác dụng của chúng và cách chăm sóc chúng, mối quan hệ của chúng với
Trang 23các sự vật, hiện tượng xung quanh
- Những biểu tượng sơ đẳng về các sự kiện, các hiện tượng xã hội mà trẻ có thể hiểu được như, lao động của người lớn xung quanh, các phương tiện giao thông và về những ngày hội, ngày lễ, các công trình văn hoá, các di tích lịch sử của địa phương, của đất nước, về thủ đô, về các miền của đất nước, về lãnh tụ, về quốc kì, quốc ca… Cùng với việc hình thành và phát triển ở trẻ những biểu tượng về thế giới xung quanh, giáo viên mầm non cần hình thành những biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ, giúp trẻ xác định được những mối quan hệ, những thuộc tính của chúng về số lượng, kích thước, hình dạng, vị trí của chúng trong không gian, cụ thể:
- Hình thành cho trẻ những biểu tượng về tập hợp và số lượng trong phạm vi 1-2, phân biệt sự khác nhau về số lượng giữa các nhóm đối tượng
- Hình thành cho trẻ những biểu tượng về kích thước: to, nhỏ, dài, ngắn, rộng, hẹp của đồ vật
- Hình thành những biểu tượng về hình dạng: tròn, vuông, chữ nhật, tam giác, khối vuông, khối cầu, khối trụ…
- Hình thành cho trẻ những biểu tượng về định hướng trong không gian
Tóm lại, nhờ sự giúp đỡ của người lớn, kinh nghiệm xã hội của trẻ ngày càng phong phú Đó là những biểu tượng sơ đẳng về thiên nhiên, xã hội và mối quan hệ giữa con người với con người, con người với thiên nhiên, giúp trẻ khám phá thế giới hiện thực để có được hình ảnh chung về thế giới tự nhiên, xã hội, con người; hình thành những biểu tượng đúng đắn về thế giới xung quanh, trên cơ sở đó hình thành thái độ đúng đắn đối với cuộc sống xung quanh
* Trẻ có khả năng phát triển năng lực trí tuệ và giải quyết vấn đề đơn giản theo những cách khác nhau
Mỗi trẻ lại có một quá trình phát triển năng lực trí tuệ của riêng mình, sự phát triển năng lực trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non được diễn ra thông qua các hoạt động đa dạng: giao tiếp, hoạt động với đồ vật, hoạt động phát triển trí tuệ đi dạo… và sinh hoạt hằng ngày Những tri thức mà trẻ tiếp nhận được trong cuộc sống hằng ngày thường được mỗi trẻ hệ thống, giải quyết theo những cách hiểu riêng đơn giản của mình Khả năng phát triển năng lực trí tuệ có hiệu quả nhất được diễn ra dưới tác động
có tổ chức, có hệ thống của nhà giáo dục
Năng lực phát triển trí tuệ của trẻ thường biểu hiện ở những dấu hiệu sau đây: Phát triển năng lực vận động (thông qua phát triển các vận động: lẫy, bò, ngồi, tập đi…) và các cử động của bàn tay, ngón tay; Phát triển xúc giác (cảm giác da), thị giác, thính giác; Hình thành và phát triển năng lực nhận cảm như phân biệt được độ lớn, màu sắc, hình dáng, âm thanh của đồ vật, vị trí không gian của đồ vật so với các đồ vật khác; Hình thành “chuẩn nhận cảm” (màu sắc, mùi, vị…), khả năng định hướng không gian (trước – sau, trên – dưới, trong – ngoài, cao – thấp…) và khả năng định hướng thời gian (trong ngày: sáng, trưa, chiều, tối; hôm qua, hôm nay; trong tuần) Những nội
Trang 24dung giáo dục trên đây cần được tiến hành thông qua việc tổ chức các hoạt động phát triển năng lực trí tuệ đa dạng, phù hợp với lứa tuổi cho trẻ
Trẻ có khả năng giải quyết vấn đề đơn giản bằng các cách khác nhau (bằng hành
động, hình ảnh, lời nói ) với ngôn ngữ nói là chủ yếu
Trẻ mô tả những dấu hiệu nổi bật của đối tượng được quan sát với sự gợi mở của
cô giáo
Trẻ thể hiện một số điều quan sát được qua các hoạt động chơi, âm nhạc, tạo hình như:
Trẻ chơi đóng vai (bắt chước các hành động của những người gần gũi như chuẩn
bị bữa ăn của mẹ, bác sĩ khám bệnh
Trẻ hát các bài hát về cây, con vật
Trẻ vẽ, xé, dán, nặn con vật, cây, đồ dùng, đồ chơi, phương tiện giao thông đơn giản
* Trẻ có khả năng biểu lộ thái độ, cảm xúc thông qua các hoạt động
Mọi hành động trí tuệ đều có sự tham gia của cảm xúc Trí tuệ cảm xúc là khả năng nhận biết các cảm giác, cảm xúc của bản thân và của người khác, trên cơ sở đó
mà có khả năng làm chủ bản thân và thấu hiểu cảm xúc của người khác nhằm định hướng suy nghĩ và hành động của mình, đồng thời làm chủ mối quan hệ bền vững Người có trí tuệ cảm xúc cao là người nhận biết được cảm xúc, hiểu được cảm xúc, tạo
ra cảm xúc và biết quản lý cảm xúc đó
Ở giai đoạn này trẻ đã phát triển tất cả các sắc thái xúc cảm, trẻ phản ứng với
những người xung quanh, các sự kiện vui, buồn, hờn giận đặc biệt trẻ phản ứng xúc
cảm qua lời nói, sự vận động và điệu bộ, hành vi của trẻ thông qua các hoạt động như sau:
Tình cảm trí tuệ của trẻ bắt đầu xuất hiện: Qua câu chuyện kể, trẻ thích thú lắng
nghe và kể lại nội dung một cách hứng thú, xúc động thật sự đối với các nhân vật yếu
ớt, tự hào, thích thú noi gương các nhân vật anh hùng
Nhiều đối tượng mới lạ đều gây sự tò mò ham hiểu biết đối với trẻ Trẻ biết kể
chuyện khi đến thăm vườn bách thú, bắt chước những hành vi của các con vật một cách say sưa
Tình cảm đạo đức ở trẻ thể hiện khá rõ: khi mẹ ốm, trẻ biết lo lắng, giúp mẹ lấy
nước biết phân biệt hành vi tốt của mình và trẻ khác
Tình cảm thẩm mỹ được phát triển mạnh: qua các giờ dạy vẽ, nặn, xé, dán ở các
lớp mầm non Trẻ biết khen đẹp, chê xấu
* Trẻ có khả năng quan sát, ghi nhớ, khả năng phân biệt, so sánh, phân loại và phát triển ngôn ngữ
Năng lực trí tuệ của con người biểu hiện ở những khả năng sau đây: khả năng quan sát, ghi nhớ, so sánh, phân loại và phát triển ngôn ngữ cụ thể như sau:
- Khả năng quan sát các sự vật, hiện tượng xung quanh, Cô giáo cần dạy cho các
Trang 25em biết quan sát những hiện tượng tự nhiên, những sự biến đổi trong tự nhiên, những biến đổi trong cuộc sống xã hội v.v…
- Khả năng phân biệt, so sánh, phân loại: trong quá trình nhận thức các sự vật
hiện tượng Khi tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ, cô giáo không chỉ hướng dẫn trẻ quan sát, phân tích các dấu hiệu đặc trưng của sự vật, hiện tượng mà cần hướng dẫn trẻ phân biệt, so sánh, phát hiện sự giống nhau, khác nhau của các sự vật, hiện tượng dựa trên một vài dấu hiệu đặc trưng nào đó Ví dụ: con gà trống và con gà mái khác nhau ở cái mào và cái đuôi…Phát triển năng lực so sánh, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển trí tuệ cho trẻ Một mặt nó giúp cho sự phân tích đối tượng được sâu sắc hơn, mặt khác nó tạo cơ sở cho quá trình khái quát hoá các sự vật, hiện tượng thành nhóm, loại một cách hợp lí
- Phát triển ngôn ngữ: Ngôn ngữ trẻ 3- 4 tuổi phát triển rất nhanh, vốn từ của trẻ trong giai đoạn này tăng gấp nhiều lần so với trẻ ở năm thứ 2 Trẻ 3-4 tuổi đã có khả năng nghe, hiểu được lời nói, biết sử dụng ngôn ngữ lời nói ở các hoạt bè… ngôn ngữ của trẻ phát triển, vốn từ trẻ được mở rộng và khả năng tích cực hóa vốn từ của trẻ được nâng cao Mỗi hình thức tổ chức sẽ có những biện pháp tương ứng Biện pháp PTNN cho trẻ thông qua hoạt động khám phá xã hội, làm quen văn học, làm quen chữ cái Do vậy, khi PTNN cho trẻ, GV cần chú ý đến đặc điểm sinh lí, nhận thức, sự cá biệt hóa của mỗi cá nhân trẻ và cần đảm bảo được nguyên tắc giáo dục có tính khoa học, hệ thống, trực quan, đảm bảo tính thực tiễn
1.3.3 Nội dung hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi
Là cán bộ quản lý, là giáo viên mầm non điều quan trọng là nắm vững nội dung
và kết quả giáo dục về phát triển trí tuệ của trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non Nếu chúng
ta muốn trẻ em được phát triển tốt ở các giai đoạn tiếp theo thì cán bộ quản lý, giáo viên cần nắm vững được các nội dung cốt lõi về phát triển trí tuệ
Thông tư 28/2016/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Bộ trưởng bộ giáo dục và Đào tạo về sửa đổi, bổ sung một số nội dung của chương trình giáo dục mầm non Trong đó bổ sung nội dung đánh giá sự phát triển của trẻ theo ngày, theo giai đoạn nhằm theo dõi sự phát triển của trẻ Nội dung phát triển trẻ em 3-4 tuổi gồm:
5 lĩnh vực, 30 chỉ số Trong đó, phát triển trí tuệ có những nội dung phù hợp với một
số nội dung đánh giá sự phát triển trẻ em 3-4 tuổi như sau:
* Biết sử dụng các giác quan để xem xét, tìm hiểu đối tượng
- Trẻ ham hiểu biết, thích khám phá, tìm tòi các sự vật, hiện tượng xung quanh
- Trẻ quan tâm, hứng thú với các sự vật, hiện tượng gần gũi, như chăm chú quan sát sự vật, hiện tượng; hay đặt câu hỏi về đối tượng
- Trẻ sử dụng các giác quan để xem xét, tìm hiểu đối tượng: nhìn, nghe, ngửi, sờ, để nhận ra đặc điểm nổi bật của đối tượng
- Trẻ thu thập thông tin về đối tượng bằng nhiều cách khác nhau có sự gợi mở của cô giáo như xem sách, tranh ảnh và trò chuyện về đối tượng
Trang 26-Trẻ phân loại các đối tượng theo một dấu hiệu nổi bật
* Biết đặc điểm nổi bật, ích lợi, của con vật, cây, hoa, quả quen thuộc
- Trẻ có thể gọi tên con vật, cây, hoa quả quen thuộc mà trẻ biết
- Nhận ra sự khác biệt giữa các con vật, cây, hoa, quả về màu sắc, hình dạng
- Nói được những lợi ích, công dụng đơn giản của các con vật, hoa, quả…
* Biết vận động theo nhịp điệu bài hát, bản nhạc (vỗ tay theo phách, nhịp, vận động minh họa)
- Hát tự nhiên, hát được theo giai điệu bài hát quen thuộc
-Vận động theo nhịp điệu bài hát, bản nhạc (vỗ tay theo phách, nhịp, vận động minh hoạ)
-Vui sướng, vỗ tay, nói lên cảm nhận của mình khi nghe các âm thanh gợi cảm
và ngắm nhìn vẻ đẹp nổi bật của các sự vật, hiện tượng
-Chú ý nghe, tỏ ra thích được hát theo, vỗ tay, nhún nhảy, lắc lư theo bài hát, bản nhạc
* Đọc thuộc, rõ ràng các bài thơ, ca dao, đồng dao phù hợp với độ tuổi
- Đọc rõ các tiếng các bài thơ, ca dao, đồng dao
- Sử dụng được các từ thông dụng chỉ sự vật, hoạt động, đặc điểm trong bài thơ,
ca dao, đồng dao…
- Kể lại truyện đơn giản đã được nghe với sự giúp đỡ của người lớn
- Bắt chước giọng nói của nhân vật trong truyện, bài thơ, ca dao, đồng dao
* Hiểu và làm theo được các yêu cầu đơn giản; lắng nghe và trả lời được câu hỏi của người đối thoại
-Thực hiện được yêu cầu đơn giản, ví dụ: “Cháu hãy lấy quả bóng, ném vào rổ” -Hiểu nghĩa từ khái quát gần gũi: quần áo, đồ chơi, hoa, quả…
-Lắng nghe và trả lời được câu hỏi của người đối thoại
* Biết thu thập thông tin về đối tượng bằng nhiều cách khác nhau
-Nói được tên, tuổi, giới tính của bản thân khi được hỏi, trò chuyện
- Nói được tên của bản thân, bố mẹ và các thành viên trong gia đình
- Nói được địa chỉ của gia đình khi được hỏi, trò chuyện, xem ảnh về gia đình
- Nói được tên trường/lớp, cô giáo, bạn , đồ chơi, đồ dùng trong lớp khi được hỏi, trò chuyện
* Nhận ra qui tắc sắp xếp đơn giản (mẫu) và sao chép lại
- Biết cách sắp xếp đối tượng theo mẫu Bước đầu biết sắp xếp đối tượng theo ý thích
- Nhận ra quy tắc sắp xếp đơn giản (mẫu) và sao chép lại
* Tạo ra sản phẩm theo ý thích và đặt tên cho sản phẩm tạo hình
- Vui sướng, chỉ, sờ, ngắm nhìn và nói lên cảm nhận của mình trước vẻ đẹp nổi bật (về màu sắc, hình dáng…) của các tác phẩm tạo hình
- Sử dụng các nguyên vật liệu tạo hình để tạo ra sản phẩm theo sự gợi ý
Trang 27- Vẽ các nét thẳng, xiên, ngang, tạo thành bức tranh đơn giản
- Xé theo dải, xé vụn và dán thành sản phẩm đơn giản
- Lăn dọc, xoay tròn, ấn dẹt đất nặn để tạo thành các sản phẩm có 1 khối hoặc 2 khối
- Xếp chồng, xếp cạnh, xếp cách tạo thành các sản phẩm có cấu trúc đơn giản
Ở lứa tuổi này, khả năng tư duy của trẻ phát triển rất nhanh để tưởng tượng, sáng tạo và những khả năng nổi trội trong việc học tập của trẻ Sự khéo léo trong hành động cũng như tính độc lập và sáng tạo bắt đầu phát triển đầy đủ Trẻ ở giai đoạn này nội dung giáo dục phải đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức và tính nguyên tắc đồng tâm phát triển từ dễ đến khó, đảm bảo tính liên thông giữa các độ tuổi, thống nhất giữa các nội dung giáo dục với cuộc sống hiện thực, gắn với kinh nghiệm và cuộc sống của trẻ, chuẩn bị cho trẻ từng bước hòa nhập vào cuộc sống, phù hợp với đặc điểm phát triển tâm sinh lí của trẻ, hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; giúp trẻ phát triển cơ thể cân đối, khỏe mạnh, nhanh nhẹn, phát triển các giác quan, khả năng suy đoán, ham hiểu biết và thích được đến trường để tìm tòi, học hỏi
1.3.4 Phương pháp, hình thức hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi
Trẻ ở độ tuổi này học tập tốt nhất qua nhiều phương pháp, nhưng hầu như các phương pháp đều thông qua hoạt động chơi mà học Chương trình giáo dục phát triển việc chơi và khám phá của trẻ theo chiều sâu có sự hướng dẫn và gợi mở dưới sự chuẩn bị cẩn thận của giáo viên
1.3.4.1 Các phương pháp hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi
Có 5 nhóm phương pháp được thực hiện phổ biến
a Nhóm phương pháp trực quan- minh họa
Dùng phương tiện trực quan (Vật thật, đồ chơi, tranh ảnh, phim ảnh) hành động mẫu( lời nói và cử chỉ) cho trẻ quan sát, rèn luyện, sự nhạy cảm của các giác quan, thỏa mãn nhu cầu cách tiếp cận các thông tin từ thế giới bên ngoài Phương tiện trực quan và hành động mẫu cần sử dụng đúng lúc, và kết hợp với lời nói với các minh họa
phù hợp
b Nhóm phương pháp thực hành, trãi nghiệm
+Hành động, thao tác với đồ vật, đồ chơi: Tổ chức cho trẻ thao tác trực tiếp với
đồ chơi, đồ vật dưới sự hướng dẫn của giáo viên(Sờ mó, cầm nắm, lắc, mở, đóng, xếp cạnh nhau, xếp chồng lên nhau) để tiếp nhận thông tin, nhận thức và hình thành các hành vi, kĩ năng
+ Trò chơi: Sử dụng các yếu tố chơi, các trò chơi đơn giản thích hợp để kích
thích trẻ hoạt động, mở rộng hiểu biết về môi trường xung quanh và phát triển lời nói
và vận động phù hợp
+ Luyện tập: Tổ chức cho trẻ lặp đi, lặp lại các câu nói, động tác, hành vi, cử chỉ, điệu bộ phù hợp với yêu cầu nội dung giáo dục và hứng thú của trẻ Lời nói của cô cần hướng đến giúp trẻ dễ dàng thực hiện các hành động, động tác luyện tập nhằm
Trang 28phát triển trí tuệ cho trẻ
Khi trẻ quan sát tranh, mô hình trò chơi giáo viên yêu cầu trẻ mô tả, kể tên hoặc sắp xếp các đối tượng theo nhóm sau khi quan sát
c Phương pháp sử dụng trò chơi
Là phương pháp giáo viên dùng trò chơi làm con đường truyền thị tri thức, củng
cố, mở rộng tri thức đã biết của trẻ, hoàn thiện các kĩ năng, kĩ xảo và năng lực nhận thức của trẻ Thực tế cho thấy, trò chơi học tập có vai trò quan trọng trong dạy học và phát triển trí tuệ cho trẻ Do vậy, việc sử dụng trò chơi học tập như một hình thức, một phương pháp, biện pháp dạy học cho trẻ và nhiệm vụ học tập được lồng ghép vào nhiệm vụ chơi
Ví dụ:
+ Trò chơi: con biết phải làm gì trong ngày( Sáng tạo từ hoạt động trong ngôi nhà khoa học của Sammy) Khi chơi trò chơi trẻ biết được các khoảng thời gian khác nhau trong ngày, trẻ có khả năng quan sát sự khác nhau trong một nhóm các bức tranh liên kết Phát triển tư duy logic để sắp xếp các bức tranh, khám phá được một nhóm các bức tranh không chỉ có ý nghĩa trong một cách sắp xếp Trẻ biết kiểm tra thứ tự xuôi hoặc ngược
d Phương pháp làm mẫu, đàm thoại (dùng lời nói)
Sử dụng lời nói, lời kể diễn cảm, câu hỏi gợi mở phối hợp cùng với các cử chỉ, điệu bộ phù hợp nhằm khuyến khích trẻ tiếp xúc với đồ vật và giao tiếp với người xung quanh, bộc lộ ý muốn, chia sẻ những cảm xúc với người khác bằng lời nói và hành động cụ thể Đối với trẻ 3-4 tuổi đôi khi cần dùng tiếng mẹ đẻ khi giao tiếp với trẻ Thực tiễn các trường mầm non, đàm thoại về các động vật, cây, hoa, quả về các phương tiện giao thông, các ngày lễ - hội, về cuộc sống của trẻ được tiến hành rộng rãi
thông qua các hoạt động sau:
- Giáo viên cho trẻ tiếp xúc, tìm hiểu các đồ dùng, đồ chơi và các nguyên vật liệu
có sẵn
- Câu hỏi giáo viên đặt ra phải ngắn gọn, rõ ý và phù hợp với độ tuổi
- Giáo viên cho trẻ làm mẫu thông qua các hoạt động làm quen với toán
- Cho trẻ cơ hội nhìn, nghe, tiếp xúc, ném, ngửi các sự vật
- Xây dựng hệ thống câu hỏi kích thích hứng thú, trí tò mò, hoạt động tư duy của trẻ Chuẩn bị các đồ dùng trực quan hoặc các mẫu chuyện, bài thơ, bài hát để minh họa
đ Phương pháp đánh giá, nêu gương
Ơ lứa tuổi nhỏ, người lớn khen, nêu gương, tỏ thái độ đồng tình, khích lệ những việc làm, hành vi, lời nói tốt của trẻ là chủ yếu, có thể tỏ thái độ không đồng tình, nhắc nhở khi cần thiết nhưng cần nhẹ nhàng, khéo léo
- Nêu gương: Sử dụng các hình thức khen, chê phù hợp, đúng lúc, đúng chỗ Biểu dương trẻ là chính, nhưng không lạm dụng
Trang 29- Đánh giá: Thể hiện thái độ đồng tình hoặc chưa đồng tình của người lớn, của bạn bè trước việc làm, hành vi, cử chỉ của trẻ Từ đó, đưa ra nhận xét, tự nhận xét trong từng tình huống hoặc hoàn cảnh cụ thể Không sử dụng các hình phạt làm ảnh hưởng đến sự phát triển tâm – sinh lý của trẻ
1.3.4.2 Các hình thức tổ chức hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi
Tùy thuộc vào căn cứ tổ chức hoạt động phát triển trí tuệ mà có nhiều hình thức
tổ chức hoạt động phát triển trí tuệ khác nhau, cụ thể:
a Hoạt động trong lớp học
Lớp học diện tích, nền lớp được lát các loại gạch đảm bảo an, bàn ghế đúng quy cách phù hợp với lứa tuổi mầm non, mỗi bàn là 2 trẻ ngồi học, mỗi phòng học có đủ ánh sáng, trang trí theo từng chủ đề của tuần, tháng và năm học, có 4 góc trưng bày đầy đủ các đồ dùng, dụng cụ phục vụ cho tất cả các hoạt động phát triển trí tuệ của lớp 3-4 tuổi
CSVC trong lớp học là môi trường trong khuôn viên nhà trường/lớp gồm các phòng chức năng, nhóm, lớp của trường, sân chơi và các thiết bị, chơi ngoài trời, khu chơi với cát nước, khu vận động, vườn hoa, góc thiên nhiên, vườn cổ tích phải được bố trí phù hợp, khoa học
Các hoạt động học thực hiện trong lớp học như: Khám phá xã hội, làm quen với toán, làm quen văn học, tạo hình… là những hoạt động nhằm giúp cung cấp cho trẻ những kiến thức mới và trẻ được trải nghiệm qua các hoạt động cô tổ chức hàng ngày trong lớp học Ví dụ muốn dạy một hoạt động cho trẻ làm quen với toán có thành công hay không phụ thuộc phần lớn vào sự chuẩn bị của giáo viên Vì vậy, để hoạt động phát triển trí tuệ đạt kết quả tốt thì đồ dùng dạy và học của cô và trẻ phải đa dạng về màu sắc, hấp dẫn với trẻ, phải đảm bảo tính sư phạm và đặc biệt là phải đảm bảo tính
chính xác của hoạt động toán, phải phù hợp với chủ đề mình đang thực hiện
b Hoạt động chơi ở các góc
Hoạt động góc trong trường mầm non là phương tiện phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ, thể chất Trẻ em đến trường không chỉ cần được chăm sóc sức khỏe được học tập mà quan trọng nhất là đc vui chơi… không những thế thông qua các hoạt động góc hằng ngày giúp trẻ chia sẻ niềm vui của mình với bạn bè, cộng đồng làm cho thế giới xung quanh của các bé đẹp hơn và rộng lớn hơn
Như vậy giờ hoạt động góc được phát triển và mở rộng theo sự phong phú và mở rộng các mối quan hệ qua lại của trẻ với môi trường xung quanh, phản ánh sáng tạo độc đáo sự tác động qua lại giữa trẻ với môi trường xung quanh một cách tích cực, tự lực tự nguyện và tự tin Hoạt động góc có giá trị lớn và đã trở thành phương tiện để giáo dục trẻ phát triển tình cảm xã hội, phát triển thẩm mỹ, phát triển thể chất, phát triển ngôn ngữ, phát triển nhận thức và là phương tiện không thể thiếu nhằm phát triển toàn diện nhân cách và trí tuệ cho trẻ ở trường mầm non
Các hoạt động góc được tổ chưc hằng ngàyở trường mầm non như sau:
Trang 30* Góc học tập: Trẻ tham gia chơi ở góc học tập như: Xem tranh, tô màu các tranh
ảnh theo chủ đề cần chơi, sau đó đếm và so sánh về số lượng của các đồ dùng, đồ chơi
đó, nhận xét về kích thước, màu sắc
* Góc xây dựng:
Góc xây dựng biết sử dụng những nguyên vật liệu sẵn có để xếp chồng, xếp cạnh tạo thành ngôi nhà của bé
- Cô hướng trẻ về góc xây dựng cho trẻ tham quan góc xây dựng
- Cho trẻ giới thiệu về công trình xây dựng của mình
- Cô nhận xét nhóm chơi xây dựng và nhận xét các nhóm chơi
- Cô nhận xét trưởng nhóm
- Trưởng nhóm nhận xét các bạn
- Động viên khuyến khích trẻ chơi
- Cho trẻ thu dọn đồ chơi dúng nơi quy định
* Góc nghệ thuật: Cho trẻ cắt dán, vẽ, nặn, tô màu, hát múa về nôi dung của chủ
đề
- Góc thiên nhiên: Trong góc thiên nhiên khi trẻ được chơi với cát, nước, được
chăm sóc cây trẻ sẽ nhận thức được bồn cây to hơn sẽ phải tưới nhiều nước hơn, bồn cây nhỏ hơn sẽ tưới ít nước hơn
Trẻ chơi chủ yếu do nhu cầu và khả năng của trẻ, nhu cầu muốn bắt chước, muốn làm người lớn, nhưng khả năng và sức lực của trẻ chưa đủ để làm người lớn do đó trẻ giải tỏa nhu cầu khi tham gia vào các hoạt động
c Hoạt động ngoài trời
Hoạt động phát triển trí tuệ ngoài trời là khoảng thời gian vô cùng quý giá đối
với sự phát triển của trẻ mà ít thời điểm sinh hoạt nào khác có thể so sánh được Chơi ngoài trời là khoảng thời gian trẻ được thỏa mãn thực hiện các vận động giải phóng năng lượng Không gian chơi ngoài trời có rất nhiều lợi thế cho việc tổ chức các hoạt động đa dạng, tích cực của trẻ mà điều kiện trong phòng không thể đáp ứng được.Thông qua hoạt động phát triển trí tuệ ngoài trời trẻ phát triển trí tuệ, thể chất, tình cảm quan hệ xã hội qua đó nhằm phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ Đối với trẻ hoạt động ngoài trời là một hoạt động không thể thiếu vì trẻ sẽ được hít thở không
Trang 31khí trong lành, được quan sát thế giới xung quanh khám phá những điều mới lạ từ thiên nhiên giúp trẻ tăng thêm vốn sống và nhất là trẻ được tự do hoạt động.Qua đó trẻ nhận thức được thế giới xung quanh bằng cách tiếp xúc, tìm hiểu, khám phá và quan tâm đến những gì xảy ra ở cuộc sống xung quanh mình Trẻ thoả mãn nhu cầu hoạt động, nhu cầu tìm hiểu, khám phá của trẻ Hoạt động phát triển trí tuệ ngoài trời tạo cho trẻ sự nhanh nhẹn và hứng thú với môi trường tự nhiên đồng thời trẻ tự tin, mạnh dạn trong cuộc sống, góp phần tích cực để trẻ phát triển một cách toàn diện
d Hoạt động lao động
Hoạt động lao động là một bộ phận quan trọng của giáo dục phát triễn toàn diện, nhằm hình thành ở trẻ những phẫm chất của người lao động mới : yêu lao động, quý trọng người lao động, giúp trẻ nắm được các kỹ năng lao động đơn giãn phục vụ cho sinh hoạt và chuẩn bị sau này cho trẻ tham gia vào đời sống lao động Hoạt động lao động có ý nghĩa quan trọng đối với các mặt giáo dục khác và có quan hệ mật thiết với chúng, giúp cho quá trình giáo dục nhân cách phát triễn toàn diện
Hoạt động lao động đối với trẻ mầm non không chỉ là nhiệm vụ của các cô giáo trong trường mà đồng thời phải từ chính gia đình trẻ.Trong thời đại hiên nay, các gia đình cũng bằng cách này cách khác để giáo dục trẻ yêu lao động, nhưng con trẻ vẫn ngại làm việc hoặc chỉ thực hiện các nhiệm vụ một cách miễn cưỡng Để con hứng thú với lao động thì đầu tiên bố mẹ hãy là tấm gương chuẩn mực và là người truyền tình yêu lao động cho con trẻ Bên cạnh đó thì việc trẻ ở trường các cô giáo phải tạo cơ hội cho trẻ làm quen với động từ những việc đơn giản từ những hoạt động cá nhân hay tính lao động tập thể để trẻ có thói quen biết lao động
Lao động của trẻ ở trường mầm non rất đa dạng Điều này cho phép duy trì hứng thú hoạt động của trẻ, thực hiện giáo dục toàn diện Có bốn hình thức lao động cơ bản: lao động tự phục vụ, lao động sinh hoạt, lao động trong thiên nhiên và lao động thủ công
* Lao động tự phục vụ
Lao động tự phục vụ là hình thức lao động nhằm thoả mãn những nhu cầu sinh hoạt cá nhân hằng ngày, nhằm chăm sóc cho bản thân mình (tắm rửa, cởi quần áo, thu dọn giường ngủ, chuẩn bị chỗ làm việc đi giày dép v.v…)
Ý nghĩa của lao động tự phục vụ trước hết là ở sự cần thiết của nó, khuynh hướng thoả mãn những nhu cầu sinh hoạt cá nhân hằng ngày của trẻ Do hành động được lặp đi lặp lại hằng ngày, các kĩ xảo tự phục vụ được trẻ lĩnh hội vững chắc, tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ nắm kinh nghiệm thực tế và độc lập hành động Đồng thời, trẻ ý thức được mọi người đều có trách nhiệm lao động liên quan đến những nhu cầu sống hằng ngày của mình Lao động tự phục vụ bắt đầu được nhận thức như một trách nhiệm, như là sự bắt buộc
Giáo viên phải hình thành cho trẻ kỹ năng tự phục vụ, rèn luyện cho trẻ tính độc lập, tính cẩn thận và thói quen giữ gìn sạch sẽ Giáo viên phải biết tổ chức quá trình
Trang 32lao động tự phục vụ cho mọi trẻ, đưa nội dung phức tạp dần Giáo viên phải thật kiên trì dạy trẻ kĩ xảo lao động tự phục vụ với phương pháp cơ bản là trình bày cách làm của từng động tác đơn giản và trình tự của chúng, vừa làm mẫu, vừa giải thích Giáo viên phải tiếp xúc với từng em, nhất là các em còn yếu Đưa trẻ vào thực hành với sự
nỗ lực, sự cẩn thận, chu đáo của cô nhằm đạt được kết quả phía trẻ Hướng dẫn trẻ theo một cách làm nhất định, theo một trình tự hành động hợp lí Ở lớp bé có thể dạy trẻ tự ăn, tắm rửa, mặc và cởi quần áo Quá trình hướng dẫn cho trẻ có được những thói quen văn hoá – vệ sinh phải rất tỉ mỉ, lâu dài, giáo viên phải luôn củng cố, kiểm tra, nhắc nhở, nêu gương và đưa trẻ vào rèn luyện hằng ngày
* Lao động trong sinh hoạt
Lao động sinh hoạt là hình thức lao động đi vào toàn bộ cuộc sống hằng ngày của trường mầm non Hình thức lao động này nhằm giữ gìn sự sạch sẽ và ngăn nắp trong lớp và ngoài sân trường, giúp đỡ người lớn tổ chức quá trình sinh hoạt hằng ngày Lao động sinh hoạt nhằm phục vụ chung cho tập thể, vì vậy có khả năng to lớn để giáo dục thái độ quan tâm đến tập thể, đến các bạn
Ở tuổi mầm non bé, hình thành cho trẻ những kĩ xảo sinh hoạt sơ đẳng: giúp đỡ dọn bàn ăn, xếp gọn đồ chơi sau khi chơi, thu dọn lá cây ngoài sân
Ở nhóm trẻ lớn, nội dung lao động phong phú hơn, mang tính chất thường xuyên
và phần lớn chuyển thành nhiệm vụ của các em trực nhật Trẻ giữ gìn sạch sẽ lớp học, ngoài sân chơi, sửa chữa đồ chơi, dán lại sách vở, giúp đỡ các em nhỏ Trẻ nhóm lớn phải biết tự tổ chức các công việc – trẻ luôn tỏ ra cố gắng, muốn có kết quả tốt và quan
hệ tốt với bạn bè để được đánh giá cao
* Lao động trong thiên nhiên
Lao động trong thiên nhiên là hình thức lao động cho trẻ tham gia chăm sóc cây cối và súc vật, trồng cây ở góc thiên nhiên ngoài vườn, trong vườn hoa
Lao động của trẻ trong thiên nhiên có ý nghĩa đặc biệt để phát triển trí tuệ, phát triển óc quan sát, giáo dục ý thức bảo vệ thiên nhiên Lao động trong thiên nhiên tạo điều kiện tất để phát triển thể lực nâng cao sức chịu đựng của cơ thể Lao động trong thiên nhiên thường xuyên giáo dục lòng yêu lao động và mang lại niềm vui cho trẻ trong lao động Trẻ có được những kĩ xảo thực hành đơn giản, sử dụng các dụng cụ lao động, biết chăm sóc cây trồng, vật nuôi, hiểu biết nhiều về sự sinh trưởng và phát triển của cây, tập tính của các động vật
Trẻ nhỏ, khi lao động với trẻ, giáo viên gọi tên các cây, các bộ phận của chúng, các động tác trong lao động Việc đó làm mở rộng vốn từ cho trẻ Trẻ quan sát cây cối (lá nhỏ, lá to), ngửi hoa, đếm các bông hoa nở v.v… Giáo viên giải thích sự cần thiết chăm sóc cây cối và súc vật
* Lao động thủ công
Lao động thủ công là hình thức cho trẻ làm các đồ vật bằng các vật liệu khác nhau như bìa cát tông, giấy, gỗ, các vật liệu tự nhiên (các hạt, củ, quả, vỏ cây, v.v…),
Trang 33phế liệu (các mụn giẻ, ống chỉ, hộp, ống bơ v.v…) hình thức này phần lớn tiến hành ở các nhóm trẻ lớn Trẻ có thể làm đồ chơi, hay các đồ chơi dùng cho trò chơi như: con thuyền, cái nhà, xe ôm, bàn ghế, động vật v.v…
Hình thức lao động này tạo điều kiện để giáo dục kĩ thuật tổng hợp Trẻ bắt đầu bước vào thế giới kỹ thuật đầy hấp dẫn, điều đó có ý nghĩa quan trọng cho sự phát triển sau này của trẻ
Lao động thủ công phát triển năng lực thiết kế, các kĩ xảo thực hành, hứng thú lao động, những khuynh hướng có ích, tìm hiểu các kĩ thuật đơn giản Trẻ tiếp thu những khái niệm bước đầu về tính chất các vật liệu: vật liệu có thể biến đổi làm ra nhiều đồ vật, như biến đổi phải sử dụng một số dụng cụ, cách gắn liền các bộ phận (bằng hồ, đinh, bằng lắp ghép, xếp, gấp v.v…) Ví dụ: gỗ có thể bào, cưa, cắt, khoan, đóng đinh, gắn Khi sử dụng gỗ có thể dùng cưa, dao, búa, kìm, giấy ráp v.v… trẻ biết được tính chất phong phú của các vật liệu tự nhiên
Trong lao động thủ công, có thể giáo dục trẻ nhiều phẩm chất như tính kiên trì, cẩn thận, tính mục đích và ý thức vượt khó để đạt mục đích, đồng thời, giáo dục cho trẻ óc thẩm mĩ, trí tưởng tượng sáng tạo Cần dạy cho trẻ các kĩ năng, kĩ xảo để trẻ có khả năng thực hiện ý định của mình Có như vậy, mới hình thành cho trẻ hứng thú và
sự say mê trong lao động sáng tạo
1.3.5 Các điều kiện phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi
Điều kiện phát triển trí tuệ cho trẻ có vai trò hết sức quan trọng trong tổ chức hoạt động phát triển trí tuệ Điều kiện vật chất tạo ra những điều kiện thuận lợi để tổ chức các hoạt động phát triển trí tuệ, không chỉ tạo ra sự thích thú cho trẻ mà còn thuận tiện trong việc hình thành các kỹ năng tư duy cho trẻ
1.3.5.1 Cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng
Điều kiện vật chất, thiết bị, đồ dùng là những điều kiện rất cần thiết trong tổ chức hoạt động phát triển trí tuệ ở trường mầm non Cơ sở vật chất đầy đủ, đảm bảo tạo ra một môi trường hợp về không gian để trẻ có thể thực hiện các hoạt động phát triển trí tuệ Bản thân trẻ luôn tò mò và thích thú về những cái mới lạ, do vậy trong điều kiện vật chất sau mỗi lần tổ chức các hoạt động cần phải sắp sếp lại một cách hợp lý để trẻ luôn thấy tính mới của môi trường Đối với trẻ mầm non nói chung và trẻ 3-4 tuổi nói riêng thì có những yêu cầu, tiêu chuẩn về môi trường vật chất như: CSVC xung quanh lớp học là môi trường trong khuôn viên nhà trường/lớp gồm các phòng chức năng, nhóm, lớp của trường, sân chơi và các thiết bị, chơi ngoài trời, khu chơi với cát nước, khu vận động, cổng trường, hàng rào, vườn hoa, vườn cây góc thiên nhiên được bố trí đẹp và khoa học, vườn rau trẻ chăm sóc và vườn cổ tích có các con vật cũng cần được chú ý để thu hút hứng thú nhận thức và phát triển trí tuệ của trẻ
- Có các đồ dùng, đồ chơi đa dạng có màu sắc sặc sỡ, hình dạng phong phú, hấp dẫn phát ra tiếng kêu và có thể di chuyển được
- Trang trí phòng lớp đảm bảo thẩm mỹ, thân thiện và phù hợp với chủ đề giáo dục
Trang 34- Sắp xếp và bố trí đồ dùng, đồ chơi hợp lí, đảm bảo an toàn và đáp ứng mục đích giáo dục
- Có khu vực để bố trí chỗ ăn, chỗ ngủ cho trẻ đảm bảo yêu cầu qui định
- Các khu vực hoạt động bố trí phù hợp, linh hoạt (có thể bố trí cố định hoặc có thể di chuyển), mang tính mở, tạo điều kiện dễ dàng cho trẻ tự lựa chọn và sử dụng đồ vật, đồ chơi, tham gia hoạt động và thuận lợi cho sự quan sát của giáo viên
1.3.5.2 Môi trường giáo dục bên trong và bên ngoài trường học, lớp học
Môi trường giáo dục trong trường Mầm non gồm có môi trường bên trong và môi trường bên ngoài lớp học Cả hai môi trường này đều rất quan trọng đến việc dạy và học của cô và trẻ Trẻ sẽ tham gia vào các hoạt động và các loại trò chơi khác nhau tùy thuộc vào môi trường mà trẻ đang hoạt động Vì vậy trẻ cần có cơ hội để chơi và học ở môi trường bên trong và môi trường bên ngoài lớp học nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt
* Môi trường trong trường học, lớp học
Trường học, lớp học không thể thiếu những góc chơi của trẻ, do đó để trường học, lớp học thêm lôi cuốn trẻ nhà trường phải tạo một môi trường trong trường cũng như trong lớp với những màu sắc sinh động và ngộ nghĩnh Môi trường có không gian, cách sắp xếp phù hợp, gần gũi, quen thuộc với cuộc sống thực hằng ngày của trẻ
Ở mỗi lớp học được giáo viên cần trang trí với những hình ảnh khác nhau trước cửa lớp để đón trẻ trẻ vào mỗi buổi sáng như vậy sẽ làm cho trẻ rất thích đi học hơn, những cử chỉ âu yếm, hôn lên má cô, hoặc bắt tay nhau sẽ làm tình cảm giữa cô và trẻ ngày càng gần gũi nhau hơn Các góc cần bố trí hợp lý, góc cần hoạt động hợp lí: Góc hoạt động cần yên tĩnh bố trí xa góc hoạt động ồn ào, góc thư viện/sử dụng sách, tranh ở những nơi nhiều ánh sáng…Các góc hoạt động có “ranh giới” rõ ràng, có lối đi cho trẻ
di chuyển thuận tiện khi liên kết giữa các góc chơi Sắp xếp các góc để giáo viên có thể
dễ dàng quan sát được toàn bộ hoạt động của trẻ Tên hoặc ký hiệu các góc đơn giản, gần gũi với trẻ, được viết theo đúng quy định mẫu chữ hiện hành Nhiều góc sẽ ở trong lớp và có góc sẽ được đưa ra ở ngoài trời, sắp xếp một cách khoa học Ngoài ra các góc chơi bày biện hấp dẫn có đồ chơi, học liệu và phương tiện đặc trưng cho từng góc Học liệu, nguyên vật liệu, đồ dùng, đồ chơi trong góc hoạt động đóng vai trò không nhỏ trong quá trình học và chơi của trẻ Vì vậy các đồ dùng và học liệu mà giáo viên cung cấp cho các góc hoạt động cần được lên kế hoạch thật cẩn thận để hỗ trợ giáo viên lên
kế hoạch cho việc học của trẻ và để thu hút trẻ tham gia, cũng như tạo ra các cơ hội học tập khác Đồ dùng, đồ chơi, nguyên vật liệu, học liệu có giá đựng ngăn nắp, gọn gàng,
để ở nơi trẻ dễ thấy, dễ lấy, dễ dùng, dễ cất Đồ dùng, đồ chơi, nguyên vật liệu được thay đổi và bổ sung phù hợp với mục tiêu chủ đề/hoạt động và hứng thú của trẻ…
* Môi trường bên ngoài lớp học
Đối với môi trường bên ngoài lớp học trẻ được cùng nhau vui chơi, cùng nhau khám phá mọi lúc, mọi nơi từ đó giúp trẻ tích lũy các kỹ năng và phát triển các kỹ
Trang 35năng giao tiếp, ứng xử, kỹ năng hoạt động nhóm từ đó hình thành và phát triển nhân
cách sau này cho trẻ
Các hoạt động trải nghiệm, rèn kỹ năng sống cho trẻ cũng cần chú trọng thực hiện nhằm trang bị cho trẻ những kỹ năng sống phù hợp với trẻ mầm non trong giai đoạn hiện nay như tổ chức các lớp học nhằm phát triển kỹ năng, tư duy cho trẻ như: rèn các kỹ năng tự vệ khi gặp người xấu, kỹ năng tham gia giao thông, kỹ năng tránh
xa các vật dụng nguy hiểm như điện, lửa củi và tránh xa hồ, ao, sông, suối khi không
có người lớn đi cùng Sân vườn cần có cây xanh, cây che bóng mát, có bồn hoa, cây cảnh được bố trí hợp lý trước các lớp học, có vườn rau Có khoảng sân phía trước và xung quanh trường, trung tâm sân trường dành cho hoạt động tập thể, xung quanh sân trường bố trí các khu vui chơi ngoài trời như: Khu vui chơi phát triền vận động của bé (tại khu PTVĐ trẻ được vui chơi với các đồ chơi, có nhiều đồ chơi, khu vui chơi với cát, nước, sỏi…
1.3.5.3 Điều kiện nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL, GV, NV
GVMN nhất là giáo viên dạy lớp 3-4 tuổi trong trường mầm non phải có trình độ chuyên môn trên chuẩn, có tư tưởng chính trị tốt, có đạo đức, nhân cách và có lối sống lành mạnh, trong sáng, có ý thucs phấn đấu vươn lên trong nghề nghiệp, yêu nghề, mến trẻ, sẵn sàng khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiêm vụ chăm sóc, giáo dục trẻ
- Phải có kiến thức cơ bản về GDMN, kiến thức khi tổ chức hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi trong trường mầm non, kiến thức chuyên ngành, phương pháp
tổ chức hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi
- Phải biết lập kế hoạch, có kỹ năng tổ chức thực hiện hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi trong trường mầm non, kỹ năng quản lý trẻ, quản lý lớp học Biết sử dụng bộ chuẩn đánh giá sựn phát triển trẻ 3-4 tuổi
1.3.5.4 Công tác xã hội hóa giáo dục
Công tác xã hội hóa thực chất thực chất là nội dung huy động các lực lượng xã hội tham gia vào xây dựng nhà trường ở các khía cạnh: Đảm bảo môi trường giáo dục, đóng góp xây dựng chương trình, nội dung giáo dục của nhà trường, hỗ trợ nguồn lực cho nhà trường phát triển Vì vậy muốn xây dựng nhà trường vững mạnh, cần phải huy động các lực lượng xã hội tham gia vào công tác XHHGD Có 6 nhóm đối tượng tham gia công tác XHHGD như sau:
- Đảng, chính quyền các cấp: Đây là lực lượng quan trọng lãnh đạo chỉ đạo và quyết định sự đầu tư cơ sở vật chất cho nhà trường và tạo cơ chế để thực hiện công tác XHHGD ở địa phương
- Các cơ quan, ban ngành, đoàn thể xã hội như y tế, công an, quân sự, Ủy ban bảo vệ chăm sóc trẻ em, mặt trận Tổ Quốc, Hội cựu chiến binh, Hội khuyến học, Hội nông dân, các tổ chức tôn giáo, các tổ chức từ thiện có trách nhiệm phối hợp với nhà trường trong các hoạt động giáo dục thế hệ trẻ
- Các cơ sở kinh doanh, dịch vụ, đây là lực lượng hỗ trợ quan trọng, tạo khr năng
Trang 36liên kết, trong việc huy động các nguồn lực vật chất
- Các tổ chức quốc tế, cá nhân có uy tín, các mạnh thường quân ở trong và ngoài nước,
- Bản thân ngành giáo dục cũng được xem là đối tượng cơ bản để thực hiện XHHGD
- Gia đình, cha mẹ trẻ, ban đại diện cha mẹ học sinh, đây là một đối tác quan trọng, thường xuyên, liên tục và không thể thiếu trong việc XHHGD nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường
Hiệu trưởng với tư cách là chcur thể quản lý giáo dục cần phải chủ động phân tích, phối hợp với các đối tượng khác nhau để huy động sự đóng góp về các mặt nhăm xây dựng nhà trường, theo định hướng phát triển phù hợp với đặc thù phát triển của giáo dục địa phương Bên cạnh đó, luôn vận dụng tốt những hỗ trợ vào xây dựng nhà trường để từng bước nâng cao chất lượng, đảm bảo đủ điều kiện để con em người dân được hưởng thụ giáo dục tương xứng với sự đóng góp của họ
1.3.6 Kiểm tra, đánh giá hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi
Kiểm tra, đánh giá là một hoạt động phát triển trí tuệ nhằm thẩm định, xác định mức độ phù hợp, thích hợp và kết quả, hiệu quả đạt được của một hành vi, một công việc, một hoạt động của cá nhân hay một tổ chức diễn ra trước, trong và sau quá trình thực hiện quyết định
Kiểm tra, đánh giá hoạt động phát triển trí tuệ ở các trường mầm non là quá trình theo dõi, thu thập, xử lý thông tin để kịp thời điều chỉnh và làm cơ sở phân loại năng lực, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ quản lý, giáo viên và kết quả học tập của trẻ Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo thì: “Đánh giá sự phát triển của trẻ là quá trình thu thập thông tin về trẻ một cách có hệ thống và phân tích, đối chiếu với mục tiêu của chương trình giáo dục mầm non, nhận định mức độ phát triển của trẻ, nhằm điều chỉnh kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ một cách phù hợp”
Trong điều kiện xã hội và giáo dục hiện nay thì kiểm tra, đánh giá hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi theo hướng và quan điểm mở đang được nhiều trường áp dục để tạo điều kiện cho cán bộ, giáo viên và trẻ có cơ hội thể hiện tư duy độc lập và khả năng sáng tạo của mình Cùng với quá trình đổi mới chương trình, hoàn thiện nội dung, phương pháp giảng dạy, thì việc “Phân tích, đối chiếu với các tiêu chí phát triển
và đưa ra các kết luận về hoạt động phát triển trí tuệ” để đổi mới hoạt động kiểm tra, đánh giá cũng cần được bổ sung, đổi mới cho phù hợp với điều kiện mới
Công tác kiểm tra, đánh giá giúp cho chúng ta “Nhận định được hoạt động phát triển trí tuệ” đối với cán bộ quản lý, giáo viên và trẻ trên các vấn đề giáo dục: Mục tiêu giáo dục, nội dung - hình thức giáo dục, phương pháp giáo dục
Mục đích của nội dung này là: Xác định mức độ đạt được ở các lĩnh vực phát triển theo giai đoạn (cuối chủ đề/ tháng, cuối mỗi độ tuổi), trên cơ sở đó “điều chỉnh những sai lệch trong hoạt động phát triển trí tuệ ở trường mầm non”
Trang 371.4 Quản lý hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi tại các trường mầm non
1.4.1 Quản lý mục tiêu hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi
Quản lý mục tiêu hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi tại các trường mầm non bao gồm: Rà soát để liên tục cập nhật các văn bản quản lý mục tiêu, phổ biến, triển khai các văn bản này đến với giáo viên và các đối tượng có liên quan một cách kịp thời, đầy đủ và chính xác; Xác định nội dung các công tác quản lý mục tiêu hoạt động phát triển trí tuệ; Xây dựng kế hoạch quản lý mục tiêu hoạt động phát triển trí tuệ; Triển khai kế hoạch cụ thể đến các thành viên trong nhà trường; Giám sát việc thực hiện kế hoạch phù hợp với các mục tiêu đặt ra
1.4.1.1 Rà soát, cập nhật các văn bản, hướng dẫn về phát triển trí tuệ cho trẻ
Cập nhật, rà soát, cập nhật các văn bản là công việc hết sức quan trọng của mỗi nhà quản lý Hệ thống hoá các văn bản là công việc phức tạp, khối lượng công việc nhiều đòi hỏi người quản lý phải nắm bắt kịp thời, hiểu rõ từng nội dung, theo đó, quy trình rà soát văn bản gồm các bước cơ bản như lập kế hoạch rà soát; thu thập văn bản
để rà soát và các văn bản để đối chiếu; thực hiện các thao tác nghiệp vụ cụ thể như đọc, nghiên cứu văn bản, đối chiếu, so sánh văn bản, nhận biết các dạng khiếm khuyết của văn bản; lập danh mục văn bản gồm danh mục chung, danh mục văn bản còn hiệu lực, danh mục văn bản hết hiệu lực, danh mục văn bản đề nghị sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, huỷ bỏ, danh mục văn bản cần ban hành mới; xử lý kết quả rà soát và xây dựng báo cáo kết quả rà soát và thường xuyên phổ biến, triển khai các văn bản đến với giáo viên và các đối tượng có liên quan một cách kịp thời, đầy đủ và chính xác;
1.4.1.2 Xác định nội dung quản lý mục tiêu hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ
Xác định nội dung các công tác quản lý mục tiêu hoạt động phát triển trí tuệ là nội dung rất quan trọng đối với nhà trường Căn cứ vào số ngày phải học trong tháng hoặc thời điểm trong năm học, thời lượng / số tuần, số lượng chủ đề đã lựa chọn đẻ phân bổ mục tiêu vào từng tháng/chủ đề phù hợp Phân bổ mục tiêu giáo dục năm học vào các chủ đề phải đảm bảo tính phát triển từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, phù hợp với sự phát triển của trẻ.Ví dụ: Mục tiêu là: Trẻ hiểu được 1 số từ khái quát:
đồ gỗ Tùy theo khả năng của trẻ, có thể bắt đầu từ những từ chỉ đặc điểm bên ngoài đến những từ chỉ cấu tạo, tính chất bên trong của đối tượng Nội dung giáo dục trong tháng hoặc chủ đề được lựa chọn trên cơ sở các nội dung theo độ tuổi của Chương trình GDMN, phù hợp với mục tiêu của chủ đề và điều kiện cụ thể của địa phương Cần xác định những nội dung cần đưa vào trong từng lĩnh vực về công tác quản lý mục tiêu hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi như sau:
* Lĩnh vực phát triển thể chất:
- Tung bắt bóng với cô: Bắt được 3 lần liền không rơi bóng (khoảng cách 2,5m)
- Nói đúng tên một số thực phẩm quen thuộc khi nhìn vào vật thật hoặc tranh ảnh
và một số món ăn hằng ngày
Trang 38- Nói đúng tên một số thực phẩm quen thuộc khi nhìn vào vật thật hoặc tranh ảnh
và một số món ăn hằng ngày
* Lĩnh vực giáo dục phát triển nhận thức
-Biết sử dụng các giác quan để xem xét, tìm hiểu đối tượng
- Biết tên, đặc điểm nổi bật, công dụng, cách sử dụng của đồ dùng, đồ chơi, một
số phương tiện giao thông
- Biết thu thập thông tin về đối tượng bằng nhiều cách khác nhau có sự gợi mở của cô giáo
- Biết một số nguồn nước, ánh sáng và ích lợi của chúng đối với đời sống con người, con vật, cây cối
* Lĩnh vực giáo dục phát triển ngôn ngữ
- Hiểu và làm theo được các yêu cầu đơn giản; lắng nghe và trả lời được câu hỏi của người đối thoại
- Biết đề nghị người khác đọc sách cho nghe; tự giở sách xem tranh; nhìn vào tranh minh họa và gọi tên nhân vật trong tranh
- Kể lại truyện đơn giản đã được nghe với sự giúp đỡ của người lớn
* Lĩnh vực giáo dục phát triển tình cảm và kĩ năng xã hội
- Mạnh dạn tham gia vào các hoạt động, mạnh dạn khi trả lời câu hỏi
- Thực hiện được một số quy định ở lớp và gia đình: Cất đồ chơi, không tranh giành
đồ chơi, vâng lời ông bà, cha mẹ
- Nhận biết được hành vi “đúng” – “sai”, “tốt” – “xấu”
* Lĩnh vực giáo dục phát triển thẩm mĩ
- Biết vận động theo nhịp điệu bài hát, bản nhạc (vỗ tay theo phách, nhịp, vận động minh họa)
- Biết xếp chồng, xếp cạnh, xếp cách để tạo thành sản phẩm có cấu trúc đơn giản
- Sử dụng các nguyên vật liệu tạo hình để tạo ra sản phẩm theo sự gợi ý
1.4.1.3 Xây dựng kế hoạch quản lý mục tiêu hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ
Kế hoạch có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động quản lý một tổ chức Xây dựng kế hoạch là nhiệm vụ quan trọng của mỗi nhà trường Xây dựng kế hoạch quản
lý mục tiêu hoạt động phát triển trí tuệ trước tiên là xây dựng kế hoạch giáo dục năm học: là những dự kiến về mục tiêu, nội dung giáo dục, dự kiến các chủ đề giáo dục trong một năm học của cơ sở giáo dục mầm non, nhằm đạt được mục tiêu của Chương trình Giáo dục Xây dựng kế hoạch giáo dục tháng hoặc chủ đề: là một phần của kế hoạch giáo dục năm học Kế hoạch tháng hoặc chủ đề gồm mục tiêu, các nội dung giáo dục và dự kiến hoạt động giáo dục cho từng nội dung giáo dục theo theo tháng hoặc chủ đề.Kế hoạch giáo dục tuần: là dự kiến các hoạt động giáo dục của một tuần nhằm chuyển tải các nội dung giáo dục, được sắp xếp phù hợp vào các thời điểm chế độ sinh hoạt ngày của trẻ trong tuần Kế hoạch ngày: là một phần của kế hoạch tuần bao gồm các nội dung, hoạt động giáo dục cụ thể được thực hiện trong ngày
Trang 39Nội dung xây dựng kế hoạch hoạt động phát triển trí tuệ ở trẻ 3-4 tuổi gồm:
- Xác định mục tiêu các hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi;
- Xác định đối tượng hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi;
- Nguồn lực phục vụ cho hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi;
- Xây dựng nội dung, chương trình và phương pháp thực hiện hoạt phát triển cho trẻ 3-4 tuổi;
- Điều kiện cơ sở vật chất phục vụ hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi; Xây dựng kế hoạch quản lý mục tiêu hoạt động phát triển trí tuệ là lựa mục tiêu hoạt động phù hợp với đặc điểm của trẻ, phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của trường, lớp, điều kiện môi trường của địa phương và văn hóa xã hội của dân tộc, của vùng miền Ngoài ra thông qua việc xây dựng quản lý mục tiêu hoạt động phát triển trí tuệ cán bộ quản lý có thể hỗ trợ cho giáo viên trong việc tổ chức tiến hành các hoạt động giáo dục và giảng dạy, hỗ trợ các ý tưởng sáng taọ của giáo viên và tạo điều kiện
để họ thực hiện Các giáo viên khác có thể chia sẻ kinh nghiệm, thông tin trong việc hợp tác giáo dục
1.4.1.4 Giám sát việc thực hiện kế hoạch phù hợp với các mục tiêu đặt ra
Công tác giám sát thực hiện kế hoạch phù hợp với các mục tiêu đề ra là là một hoạt động quản lý thường xuyên của hiệu trưởng; là một yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới quản lý giáo dục hiện nay
Giám sát việc thực hiện kế hoạch bao gồm các hoạt động: Hiệu trưởng chỉ đạo
tiến hành kiểm tra việc thực hiện hoạt động của Hiệu phó chuyên môn, các tổ chuyên môn, giáo viên
Giám sát, kiểm tra cán bộ, giáo viênthực hiện nhiệm vụ được phân công (việc thực hiện qui chế chuyên môn, công tác giảng dạy, tổ chức nuôi ăn bán trú
Giám sát, kiểm tra các điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo hoạt động, hiệu quả của việc sử dụng phương tiện phục vụ dạy học và giáo dục
Khi thực hiện công tác giám sát phải đảm bảo tính chính xác, khách quan, hiệu quả Kết quả giám sát phải phản ánh đúng thực trạng về đối tượng kiểm tra, tránh định kiến, cả nể, làm qua loa, hìnhthức;
1.4.2 Quản lý nội dung hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi
Quản lý nội dung hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi là quá trình tác động có mục đích nhằm đẩy mạnh hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ Quản lý nội dung hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình tổ chức quản lý vì đây là giai đoạn hiện thực hóa mục tiêu kế hoạch Quản lý nội dung hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 -4 tuổi bao gồm:
1.4.2.1 Chỉ đạo xác định hệ thống các hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ
Xác định nội dung bài học chứa những nội dung chính trong chương trình có liên quan đến chủ đề, qua đó giáo viên mong muốn cung cấp những kiến thức, kĩ năng, thái
độ cho trẻ
Trang 40Vào đầu năm học, trên cơ sở hướng dẫn nhiệm vụ năm học của các cấp đã triển khai, căn cứ vào tình hình thực tế của nhà trường, của địa phương, BGH trường mầm non xác định kế hoạch năm học nói chung và kế hoạch quản lý nội dung của hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi trong trường mầm non nói riêng theo Chương trình GDMN
Xác định các hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3-4 tuổi trong trường mầm non theo chủ đề, theo tuần, theo ngày và có thể điều chỉnh bổ sung kịp thời phù hợp với tình hình thực tế của trường, lớp theo từng thời điểm Các mục tiêu, chỉ tiêu cần được bàn bạc, cân nhắc một cách kĩ lưỡng trong hội đồng sư phạm, thống nhất các thành viên trong trường đều biết, thực hiện
1.4.2.2 Thiết kế mạng nội dung hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ theo chủ đề
Mạng nội dung giúp cho giáo viên trình tự thực hiện trước, sau, từ nội dung, kiến thức, kĩ năng đơn giản, gần gũi rồi mở rộng, nâng cao dần ; từ những điều trẻ đã biết đến chưa biết và biết hoàn thiện trọn vẹn hơn ; từ tổng thể đến chi tiết, phù hợp với độ tuổi và sự hiểu biết của trẻ theo nguyên tắc đồng tâm phát triển
Chỉ đạo xây dựng nội dung là đưa ra hàng loạt các chỉ dẫn mà giáo viên dự kiến cho trẻ trải nghiệm hằng ngày, hằng tuần để tìm hiểu, khám phá các nội dung của chủ
đề, từ đó thu được các kĩ năng, kinh ngiệm cần thiết cho sự phát triển toàn diện của trẻ, đặc biệt là sự phát triển trí tuệ theo mục tiêu đã đề ra
Hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn gợi cho giáo viên cách tiếp cận dạy và học tích hợp trong giáo dục mầm non Đó là cách thức cung cấp sự định hướng mở, linh hoạt, cho phép giáo viên tổ chức các hoạt động và tạo ra môi trường giáo dục liên quan đến chủ đề Việc phối hợp một cách tự nhiên cho trẻ trải nghiệm thông qua các hoạt động như quan sát, khám phá môi trường tự nhiên và xã hội; vận động, kể chuyện/ đọc thơ, làm quen với toán, các hoạt động âm nhạc, tạo hình( vẽ, tô màu, nặn, gấp giấy, cắt, dán) và chơi các loại trò chơi khác nhau như xây dựng, lắp ghép, chơi phân vai,… và những công việc được giao, công việc tự phục vụ,… giúp trẻ phát triển đồng thời các mặt ngôn ngữ, thể lực, nhận thức – tình cảm, xã hội và sáng tạo thẩm mĩ Cách tiếp cận này cho phép giáo viên có thể điều chỉnh giáo án một cách linh hoạt hơn để có thể đưa các tình huống tự nhiên vào kế hoạch hằng ngày, nhằm đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ và làm cho không khí lớp học thêm sôi động, từ đó trí tuệ trẻ được phát triển tốt hơn Chú trọng quản lý, xây dựng hoạt động phát triển trí tuệ ngay từ đầu, lãnh đạo nhà trường sẽ giúp , giáo viên dễ dàng nhìn thấy sự liên kết giữa các nội dung giáo dục và các hoạt động, như vậy khi tiến hành sẽ không bị động và hiệu quả giáo dục tăng lên
1.4.2.3 Triển khai thực hiện các nội dung hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ
Khi xây dựng chương trình, cán bộ quản lý cần quan tâm đến nội dung trọng tâm của hoạt động trong việc thúc đẩy sự phát triển hoạt động học cũng như hoạt động phát triển trí tuệ của trẻ có ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển trí tuệ
Các công việc cần triển khai: