Số hiệu Tên bảng Trang Bảng 1.1 Khung phân phối chương trình môn Thể dục 26 Bảng 2.1 Dân số ở thành thị và nông thôn của quận Liên Chiểu giai đoạn 2015-2019 35 Bảng 2.2 Giá trị sản xuất
Trang 1VÕ TRỌNG NGHĨA
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO HỌC SINH TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
QUẬN LIÊN CHIỂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Đà Nẵng - Năm 202 2
Trang 2VÕ TRỌNG NGHĨA
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO HỌC SINH TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
QUẬN LIÊN CHIỂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Quản lý giáo d ục
Mã số: 8.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngư ời hướng dẫn khoa h ọc: TS NGUYỄN THANH HÙNG
Đà Nẵng - Năm 202 2
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn về đề tài “Quản lý hoạt động Giáo dục thể chất cho học sinh tại các trường Trung học cơ sở quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi trong thời gian qua Mọi số liệu sử dụng phân tích trong luận văn và kết quả nghiên cứu là do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách khách quan, trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chưa được công bố dưới bất kỳ công trình
nào khác
Tác giả luận văn
Võ Trọng Nghĩa
Trang 4l
TEN DE TAI: QUAN LY HO,<).T D(>NG GIAO DVC THE CHAT CHO
THANH PHO DA NA.NG
Nganh: Quan ly giao d\lC
HQ va ten hQc vien: VO TRQNG NGHlA Nguai hu&ng d!n khoa h9c: TS NGUYEN THANH HUNG
Ca sa dao ti;to: Trm'mg 0i;ti hQc Su ph1;1m - 0i;ti h9c Ba N�ng Tom tilt:
1 Nhii'ng k�t qua chinh ciia Iu�n van: 06 tai da M th6ng h6a nhfrng vAn dS ca ban v6 ly lu�n va th\fc ti€n cua hoi;tt d9ng giao dµc thS ch§t (GDTC) ti;ti cac truang THCS; khao sat d§.y du th\fc tri;tng vS hoi;tt d9ng quan ly GDTC ti;ti cac trucmg THCS qu�n Lien ChiSu thanh ph6 Ba N�ng Tren ca SO' nghien CU'U ly lu�n va khao sat th\fC ti€n, dS tai da d6 xu§t cac bi�n phap quan ly hoi;tt d9ng GDTC ti;ti cac truang THCS qu�n Lien ChiSu nhu sau: Nang cao nh�n thuc cha can b9 quan ly, giao vien va hQc sinh v€ t§.m quan tr9ng cua hoi;tt d9ng Giao d\lc thS ch§t ti;ti truang THCS; Tang cuang t�p hu§n, b6i duang v€ ky nang t6 chuc hoi;tt d9ng Giao d\lC thS ch§t cha d9i ngil giao vien ti;ti truang Trung hQC
ca sa; 06i m6'i v€ phuang phap va hinh thfrc hoi;tt d9ng Giao d\lc thS ch§t ti;ti trm'mg Trung h9c ca sa;
Ba di;tng h6a cac n9i dung, chuong trinh Giao d\lc thS ch§t cha h9c sinh ti;ti trucmg Trung h9c co· s&;
Tang cuang dfiu tu ca so· v�t ch§t va phuO'llg ti�n h6 trq hoi;tt d9ng Giao d\lc thS ch§t cha h9c sinh t1;1i tnrcrng Trung h9c co· so; Chu tr9ng kiem tra, danh gia ho1;1t d9ng Giao dvc the chit cho hQc sinh t�i tnrcrng Trung h9c ca sa.
M6i bi�n phap c6 m<)t vi tri, tfim quan tr9ng rieng nhung tAt ca d8u c6 S\l' chi ph6i, anh hucrng qua l1;1i Iin nhau KSt qua tham do tinh cip thiSt va kha thi cua cac bi�n phap duqc d8 xuit kha cao, c6 the v�n d\lng vao th\fC ti€n quan ly
2.Y nghia khoa h9c va th1}'c ti�n ciia lu�n van: Lu�n van da g6p phfin lam sang to ca so ly lu�n M th6ng h6a cac nghien CU'U trong va ngoai nu6·c, xac djnh duqc cac khai ni�m lam ca SO' cha nghien cuu, chi ra duqc n9i dung ly lu�n v6 quan ly ho1;1t d9ng GDTC ti;ti cac truang THCS Tren ca sa
d6, chQn phuang phap nghien CU'U phu hqp va thiSt l�p cong C\l khao sat v€ th\fC tr1;1ng va quan ly ho1;1t d9ng nay d6i v6·i khach the khao sat g6m (CBQL, GV, HS) t1;1i cac truong THCS qu�n Lien Chieu Ba khao sat, mo ta va danh gia dung th1,rc tr1;1ng quan ly hoi;tt d9ng GDTC, tfr d6 rut ra duqc nhfrng m�t m1;1nh, m�t ySu, d6ng tho·i de xuAt nhil'ng bi�n phap Cl,l the de nang cao hi�u qua quan ly ho1;1t d9ng GDTC t1;1i cac tnro·ng THCS qu�n Lien Chieu thanh ph6 Ba Ning
3 Hmrng nghien CU'U ti�p theo cua t1i tai: KSt qua nghien cu·u cua d8 tai c6 tha ap dvng trong quan ly ho1;1t d<)ng GDTC t1;1i cac truo·ng THCS qu�n Lien Chieu, d6ng thcri theo doi kSt qua phan h6i de danh gia them tinh trng dvng lam co· so· cho vi�c nghien ct'.ru, ap dvng r(mg hon vao th\l'c ti8n cha cac trucrng THCS tren toan qu6c c6 cung di€u ki�n
TU' kh6a: Giao d\lC the ch§t, Quan ly giao d\lC thS ch§t, Quan ly ho1;1t d9ng giao d\lC the chftt
Xac nh�n cua giao vien hmrng din Ngll'O'i th1}'C hi?n t1i tai
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
TRANG THÔNG TIN LUẬN VĂN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Ý nghĩa đóng góp của luận văn 4
9 Cấu trúc của luận văn 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO HỌC SINH TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 5
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 5
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 6
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 8
1.2.1 Khái niệm Giáo dục thể chất 8
1.2.2 Khái niệm hoạt động giáo dục thể chất 10
1.2.3 Khái niệm quản lý 10
1.2.4 Khái niệm quản lý giáo dục 12
1.2.5 Khái niệm quản lý hoạt động Giáo dục thể chất cho học sinh trung học cơ sở 14
1.3 Lý luận về hoạt động giáo dục thể chất cho học sinh tại các trường Trung học cơ sở 15
1.3.1 Mục tiêu của Giáo dục thể chất trong trường Trung học cơ sở 15
1.3.2 Nội dung Giáo dục thể chất trong trường Trung học cơ sở 16
1.3.3 Phương pháp và hình thức Giáo dục thể chất trong trường Trung học cơ sở 18
Trang 7học cơ sở 22
1.3.5 Điều kiện cơ sở vật chất và phương tiện hỗ trợ hoạt động Giáo dục thể chất 23
1.4 Lý luận về quản lý hoạt động Giáo dục thể chất cho học sinh tại trường Trung học cơ sở 24
1.4.1 Quản lý mục tiêu hoạt động Giáo dục thể chất trong trường Trung học cơ sở 24
1.4.2 Quản lý thực hiện nội dung, chương trình hoạt động Giáo dục thể chất trong trường Trung học cơ sở 25
1.4.3 Quản lý phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động Giáo dục thể chất trong trường Trung học cơ sở 28
1.4.4 Quản lý việc phối hợp các lực lượng tham gia hoạt động Giáo dục thể chất trong trường Trung học cơ sở 29
1.4.5 Quản lý điều kiện cơ sở vật chất và phương tiện hỗ trợ hoạt động Giáo dục thể chất trong trường Trung học cơ sở 30
1.4.6 Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động Giáo dục thể chất trong trường Trung học cơ sở 30
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động Giáo dục thể chất cho học sinh tại các trường Trung học cơ sở 32
1.5.1 Yếu tố chủ quan 32
1.5.2 Yếu tố khách quan 33
Tiểu kết chương 1 33
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO HỌC SINH TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ QUẬN LIÊN CHIỂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 35
2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục tại quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng 35
2.1.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội tại quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng 35
2.1.2 Khái quát tình hình giáo dục tại quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng 37
2.1.3 Tổng quan về giáo dục trung học cơ sở 39
2.2 Khái quát quá trình khảo sát thực trạng 42
2.2.1 Mục tiêu khảo sát 42
2.2.2 Nội dung khảo sát 42
2.2.3 Phương pháp khảo sát 42
Trang 82.3 Thực trạng hoạt động Giáo dục thể chất cho học sinh tại các trường Trung học cơ
sở quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng 43
2.3.1 Thực trạng thực hiện mục tiêu của Giáo dục thể chất trong trường Trung học cơ sở 43
2.3.2 Thực trạng thực hiện nội dung chương trình giáo dục thể chất trong trường Trung học cơ sở 46
2.3.3 Thực trạng phương pháp và hình thức Giáo dục thể chất trong trường Trung học cơ sở 48
2.3.4 Thực trạng việc phối hợp các lực lượng tham gia hoạt động Giáo dục thể chất trong trường Trung học cơ sở 50
2.3.5 Thực trạng điều kiện cơ sở vật chất và phương tiện hỗ trợ hoạt động Giáo dục thể chất 52
2.3.6 Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động Giáo dục thể chất trong trường Trung học cơ sở 54
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động Giáo dục thể chất cho học sinh tại các trường Trung học cơ sở quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng 55
2.4.1 Thực trạng quản lý mục tiêu hoạt động Giáo dục thể chất trong trường Trung học cơ sở 55
2.4.2 Thực trạng quản lý thực hiện nội dung, chương trình hoạt động Giáo dục thể chất trong trường Trung học cơ sở 56
2.4.3 Thực trạng quản lý phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động Giáo dục thể chất trong trường Trung học cơ sở 58
2.4.4 Thực trạng quản lý việc phối hợp các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục thể chất tại trường Trung học cơ sở 59
2.4.5 Thực trạng quản lý điều kiện cơ sở vật chất và phương tiện hỗ trợ hoạt động Giáo dục thể chất trong trường Trung học cơ sở 61
2.4.6 Thực trạng quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động Giáo dục thể chất trong trường Trung học cơ sở 62
2.5 Đánh giá chung thực trạng quản lý hoạt động Giáo dục thể chất cho học sinh tại các trường Trung học cơ sở quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng 64
2.5.1 Ưu điểm 64
2.5.2 Hạn chế 65
2.5.3 Nguyên nhân của hạn chế 65
Tiểu kết chương 2 66
Trang 9CHO HỌC SINH TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ QUẬN LIÊN
CHIỂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 67
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 67
3.1.1 Đảm bảo tính kế thừa 67
3.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn 67
3.1.3 Đảm bảo tính hệ thống 68
3.1.4 Đảm bảo tính hiệu quả 68
3.1.5 Đảm bảo tính khả thi 68
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục thể chất cho học sinh tại các trường Trung học cơ sở quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng 68
3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về tầm quan trọng của hoạt động Giáo dục thể chất trong các trường THCS 68
3.2.2 Biện pháp 2: Tăng cường tập huấn, bồi dưỡng về kỹ năng tổ chức hoạt động Giáo dục thể chất cho đội ngũ giáo viên ở trường Trung học cơ sở 71
3.2.3 Biện pháp 3: Đổi mới về phương pháp và hình thức hoạt động Giáo dục thể chất ở trường Trung học cơ sở 74
3.2.4 Biện pháp 4: Đa dạng hóa các nội dung, chương trình Giáo dục thể chất cho học sinh ở các trường Trung học cơ sở 75
3.2.5 Biện pháp 5: Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và phương tiện hỗ trợ hoạt động Giáo dục thể chất cho học sinh Trung học cơ sở 77
3.2.6 Biện pháp 6: Kiểm tra, đánh giá hoạt động Giáo dục thể chất cho học sinh ở các trường Trung học cơ sở 79
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 82
3.4 Khảo nghiệm tính khả thi và sự cấp thiết của các biện pháp 82
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 82
3.4.2 Nội dung khảo nghiệm 82
3.4.3 Phương pháp khảo nghiệm 82
3.4.4 Kết quả khảo nghiệm 83
Tiểu kết chương 3 86
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 88 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
PHỤ LỤC
Trang 10Cụm từ viết tắt Chữ viết đầy đủ CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
GVTD, GVCN Giáo viên thể dục, giáo viên chủ nhiệm
TDTT, HLTT Thể dục thể thao, Huấn luyện thể thao GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
TBDH, HĐDH Thiết bị dạy học, Hoạt động dạy học
Trang 11Số hiệu Tên bảng Trang
Bảng 1.1 Khung phân phối chương trình môn Thể dục 26 Bảng 2.1 Dân số ở thành thị và nông thôn của quận Liên Chiểu giai đoạn
2015-2019
35
Bảng 2.2 Giá trị sản xuất từ năm 2015 đến năm 2019 theo giá hiện hành
tại quận Liên Chiểu
36
Bảng 2.3 Hiện trạng số lớp, số học sinh các trường THCS trên địa bàn
quận Liên Chiểu đến năm 2020
41
Bảng 2.4 Số lượng khảo sát cán bộ quản lý, giáo viên giảng dạy môn thể
dục, giáo viên chủ nhiệm và học sinh các trường THCS trên địa bàn quận
Bảng 2.7 Đánh giá của CBQL và GV về mức độ phù hợp của nội dung
Giáo dục thể chất trong trường Trung học cơ sở
46
Bảng 2.8 Đánh giá của học sinh về mức độ hứng thú khi tham gia các
nội dung hoạt động giáo dục thể chất tại trường
47
Bảng 2.9 Đánh giá của CBQL và GV về mức độ thực hiện của phương
pháp và hình thức tổ chức hoạt động Giáo dục thể chất ở các trường Trung học cơ sở
48
Bảng 2.10 Đánh giá của học sinh về những phương pháp và hình thức
được tiếp cận trong hoạt động giáo dục thể chất
49
Bảng 2.11 Đánh giá của CBQL và GV về các lực lượng tham gia hoạt
động Giáo dục thể chất tại các trường Trung học cơ sở
50
Bảng 2.12 Đánh giá của HS về các lực lượng tham gia hoạt động Giáo
dục thể chất tại trường Trung học cơ sở
51
Bảng 2.13 Đánh giá của CBQL và GV về các điều kiện cơ sở vật chất
phục vụ hoạt động Giáo dục thể chất tại các trường Trung học
Bảng 2.15 Đánh giá của CBQL và GV về kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt
động Giáo dục thể chất tại các trường Trung học cơ sở
54
Bảng 2.16 Đánh giá của CBQL và GV về mức độ hiệu quả của quản lý
mục tiêu hoạt động Giáo dục thể chất trong trường THCS
55
Trang 12nội dung chương trình GDTC tại các trường THCS Bảng 2.18 Đánh giá của CBQL và GV về mức độ hiệu quả của quản lý
phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động Giáo dục thể chất trong trường THCS
58
Bảng 2.19 Đánh giá của CBQL và GV về mức độ hiệu quả của quản lý sự
phối hợp các lực lượng tham gia hoạt động GDTC trong trường THCS
59
Bảng 2.20 Đánh giá của CBQL và GV về mức độ hiệu quả của quản lý
phương tiện và điều kiện hỗ trợ hoạt động giáo dục thể chất cho học sinh THCS
61
Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm về tính cấp thiết của các biện pháp 83 Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của các biện pháp 84
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cùng với quá trình đổi mới, phát triển kinh tế – xã hội, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến mục tiêu giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, trong đó có thể lực, trí lực được coi là những vấn đề quan trọng nhằm giáo dục hình thành nhân cách con người Trong các văn kiện của Đảng, tư tưởng chỉ đạo về mục tiêu phát triển giáo dục trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đã được xác định là: Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có lý tưởng, đạo đức, có tính tổ chức và kỷ luật, có ý thức cộng đồng và tính tích cực cá nhân, làm chủ tri thức hiện đại, có tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp và có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Với những nỗ lực không ngừng của ngành giáo dục Việt Nam trong việc nâng cao chất lượng dạy và học, những năm gần đây, Giáo dục thể chất (GDTC) trong nhà trường đã và đang được chú trọng nhằm cân bằng thời lượng giữa học tập và vui chơi vận động, giúp cho các em học sinh được phát triển toàn diện cả về thể lực và trí lực Giáo dục thể chất được xác định là môn học bắt buộc và dạy chính thức trong kế hoạch giảng dạy của nhà trường từ mầm non cho đến Đại học
Thể dục thể thao là một bộ phận của nền Giáo dục xã hội chủ nghĩa, trong quá trình phát triển và trưởng thành của một con người toàn diện, GDTC và thể thao trường học thực sự có vị trí quan trọng trong sự nghiệp đổi mới nền giáo dục của nước
ta trong giai đoạn hiện nay Cùng với chuyên ngành khoa học khác, GDTC và thể thao trường học góp phần đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện Đức, Trí, Thể, Mỹ để phục
vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giữ vững và tăng cường an ninh quốc phòng cho đất nước
Trong những năm qua hoạt động GDTC, thể thao trường học đã được các ngành các cấp chú trọng quan tâm, hỗ trợ, đầu tư cơ sở vật chất, sân bãi, dụng cụ kể cả
về đội ngũ giáo viên và đã mang lại một số kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên, trên thực
tế cho thấy một số trường còn xem nhẹ việc thực hiện chương trình môn học Giáo dục thể chất, triển khai chương trình giáo dục thể chất theo hình thức, kém hiệu quả Hoạt động thể thao trường học hướng dẫn nội dung còn nghèo nàn, hình thức hoạt động đơn điệu, chưa thu hút được đông đảo lực lượng học sinh tham gia tập luyện thể dục, thể thao Nguồn lực đầu tư cho công tác GDTC và TTTH chưa đáp ứng yêu cầu
Tình hình thực tế đến thời điểm này, tuy đã có nhiều công trình, luận văn nghiên cứu về quản lý hoạt động GDTC tại trường Trung học cơ sở (THCS) ở các tỉnh, thành phố, quận, huyện nhưng chưa có luận văn nào nghiên cứu về vấn đề quản
Trang 14lý hoạt động Giáo dục thể chất cho học sinh tại các trường Trung học cơ sở quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý hoạt động Giáo dục thể chất cho học sinh tại các trường Trung học cơ sở quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng” làm nội dung nghiên cứu luận văn tốt nghiệp cao học Với mong muốn
nâng cao công tác quản lý, chất lượng dạy và học GDTC góp phần tạo dựng cơ sở cho
sự phát triển cơ thể toàn diện, sức khỏe và hình thành các kỹ năng vận động cho học sinh; góp phần rèn luyện và hình thành nhân cách cho học sinh - nguồn nhân lực tương lai của đất nước và quận nhà
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động Giáo dục thể chất cho học sinh tại các trường Trung học cơ sở quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng,
đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động GDTC trong thời gian đến
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động Giáo dục thể chất cho học sinh tại các
trường Trung học cơ sở
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Quản lý hoạt động Giáo dục thể chất cho học sinh tại
các trường Trung học cơ sở quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng
4 Giả thuyết khoa học
Quản lý hoạt động Giáo dục thể chất cho học sinh tại các trường Trung học cơ
sở quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng còn chưa đáp ứng yêu cầu của mục tiêu giáo dục, phát triển giáo dục thể chất cho học sinh Nguyên nhân thực trạng chủ yếu là do các yếu tố và điều kiện đảm bảo cho công tác GDTC, đặc biệt là chưa có được những giải pháp cụ thể, phù hợp và còn gặp nhiều hạn chế, bất cập Nếu đề xuất được các biện pháp cấp thiết và khả thi thì sẽ góp phần vào tăng cường hiệu quả, chất
lượng để phát triển hoạt động giáo dục thể chất cho học sinh
5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác quản lý hoạt động Giáo dục thể chất cho học sinh tại các trường Trung học cơ sở quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng
- Về phạm vi địa bàn: Đề tài nghiên cứu trên 8 trường THCS thuộc địa bàn quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng
- Về đối tượng khách thể khảo sát: Luận văn tập trung khảo sát đối tượng giáo viên và học sinh của 5 trường THCS quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng
Số lượng các đối tượng khách thể khảo sát như sau:
Trang 156 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDTC cho học sinh tại các trườngTHCS
- Khảo sát thực trạng về hoạt động GDTC và quản lý hoạt động Giáo dục thể chất cho học sinh tại các trường Trung học cơ sở quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng
- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục thể chất cho học sinh ở các trường Trung học cơ sở quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, khái quát hoá các tài liệu có nội dung liên quan tới giáo dục
thể chất và quản lý hoạt động giáo dục thể chất tại các trường trung học cơ sở
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp gồm phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp và phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
7.2.1 Phương pháp điều tra
Phương pháp điều tra là phương pháp khảo sát các đối tượng trên một diện rộng nhằm phát hiện các quy luật phân bố, trình độ phát triển, những đặc điểm về định tính
và định lượng của các đối tượng cần nghiên cứu Các số liệu điều tra được sẽ là những thông tin quan trọng về đối tượng cần cho quá trình đánh giá về thực trạng hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ giáo viên các trường THCS hiện nay Từ đó,
có căn cứ trong việc đề xuất các biện pháp
- Các số liệu liên quan đến luận văn: Tác giả thu thập từ Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Liên Chiểu, cục thống kê và từ nhiều công trình nghiên cứu trước có liên quan đến vấn đề hoạt động GDTC như: Đề tài nghiên cứu khoa học, sách tham khảo, bài tạp chí khoa học chuyên ngành, bài viết mang tính nghiên cứu và trao đổi trên các diễn đàn internet, văn bản pháp luật, v.v Sau khi thu thập các tài liệu, tác giả thực hiện việc sắp xếp, phân loại theo thời gian, theo từng nội dung cụ thể có liên quan đến các phần, mục trong đề tài để thuận tiện cho việc mã hóa các dữ liệu này
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn
- Ngoài ra, tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn, khảo sát qua bảng hỏi Khảo
Trang 16sát được thực hiện với các đối tượng cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh (175 người) Việc chọn mẫu được tiến hành theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống Rà soát lập danh sách đối tượng cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh đang học tập và làm việc tại
05 trường THCS thuộc quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng Đối với các dữ liệu sơ cấp thu được từ các bảng hỏi và từ những ý kiến, nhận định, đánh giá người trả lời bảng hỏi, tác giả sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp để lượng hóa mức độ đánh giá của các đối tượng trả lời đánh giá thực trạng quản lý hoạt động Giáo dục thể chất cho học sinh tại các trường Trung học cơ sở quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng 7.2.3 Phương pháp toán thống kê
Sử dụng phương pháp thống kê, so sánh để phân tích các số liệu thu thập từ đó
có được những thông tin đầy đủ nhất về thực trạng của công tác quản lý hoạt động Giáo dục thể chất cho học sinh tại các trường Trung học cơ sở quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
8 Ý nghĩa đóng góp của luận văn
8.1 Về mặt lý luận: Góp phần bổ sung cho lý luận về quản lý giáo dục nói
chung, và lý luận về quản lý hoạt động giáo dục thể chất cho học sinh trong các trường THCS nói riêng
8.2 Về mặt thực tiễn: Khảo sát, nhận xét thực trạng và đề xuất được các biện
pháp quản lý hoạt động giáo dục thể chất cho học sinh THCS, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục quận Liên Chiểu nói riêng, với các ban ngành hoạt động thể dục thể thao (TDTT) thành phố Đà Nẵng nói chung
9 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 3 phần
* Phần mở đầu: Lý do chọn đề tài, mục đích, khách thể, đối tượng nghiên cứu,
giả thuyết khoa học, phạm vi đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu
* Phần nội dung: Gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động Giáo dục thể chất cho học sinh
tại các trường Trung học cơ sở
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động Giáo dục thể chất cho học sinh tại các
trường Trung học cơ sở quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục thể chất cho học sinh tại
các trường Trung học cơ sở quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng
* Phần kết luận và khuyến nghị
- Danh mục tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO
HỌC SINH TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển của xã hội “Chiến lược con người” là một trong những chiến lược quan trọng mà nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm, đã và đang nỗ lực nghiên cứu, đặc biệt ở các lĩnh vực nghiên cứu về tâm sinh lý, năng lực thể lực của con người
Giáo dục thể chất (GDTC) là một mặt trong mục tiêu giáo dục toàn diện Trong các trường phổ thông, GDTC có nhiệm vụ giáo dục những phẩm chất ý chí tốt đẹp như lòng dũng cảm, tính bạo dạn, quyết đoán, kiên trì, tự kiềm chế,… bồi dưỡng cho người học khả năng tự tập luyện lâu dài và hình thành thói quen tập luyện trong cuộc sống, khơi dậy lòng ham mê, hứng thú với môn thể dục thể thao (TDTT) Đồng thời, GDTC được xem như là một phương tiện để nâng cao thể lực, hình thành và phát triển toàn diện nhân cách của người học Vì thế, phần lớn các nước trên thế giới đều quan tâm đến công tác GDTC đối với thanh thiếu niên và học sinh “Các học giả khi nghiên cứu
về TDTT đều cho rằng việc GDTC trong hệ thống nhà trường các cấp ở các nước xã hội chủ nghĩa cũ, đặc biệt là Liên Xô trước đây và các nước Đông Âu đã được tiến hành rất tốt và đã rất nỗ lực nghiên cứu vấn đề này”[1] Nhờ đó đã thành lập được những thang bậc và những tiêu chuẩn đánh giá thể lực làm cơ sở cho công tác GDTC
và huấn luyện thể thao (HLTT) mang lại hiệu của cao
GDTC là một bộ phận rất quan trọng của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa nhằm giáo dục và đào tạo cho thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, góp phần nâng cao khả năng làm việc và kéo dài tuổi thọ của con người “Trong các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, GDTC cho học sinh, sinh viên được coi là một mặt của giáo dục, là nhiệm vụ quan trọng góp phần bồi dưỡng nâng cao năng lực thể chất, có sức khỏe dồi dào với một dũng khí kiên cường để kế tục sự nghiệp của Đảng
và nhân dân một cách đắc lực Cùng với các mặt giáo dục khác, quá trình giáo dục thể chất giúp cho HS hoàn thiện về nhân cách, có phẩm chất đạo đức tốt để đáp ứng được các yêu cầu về nghiệp vụ chuyên môn và những khó khăn trong cuộc sống”.[2]
Tư tưởng về phát triển con người hài hòa giữa thể chất và tinh thần đã xuất hiện trong kho tàng văn hóa chung của xã hội loài người từ nhiều thế kỷ trước đây Từ nhà triết học cổ Hi Lạp Aristốt, những nhà triết học theo chủ nghĩa nhân đạo thời Phục
Trang 18Hưng như Môngten, hay những người theo Chủ Nghĩa Xã Hội Không Tưởng như Xanhximông,… đến những nhà bác học và giáo dục nổi tiếng của Nga như M.V.Lômônôxốp, V.G.Bêlinski,… và nhiều nhà khoa học khác nữa đã ra sức phát triển, bảo vệ tư tưởng của học thuyết về phát triển hài hòa giữa năng lực thể chất và tinh thần của con người
Các Mac và Ăng ghen đã chứng minh sự phát triển của quá trình giáo dục phụ thuộc vào điều kiện sống vật chất, khám phá ra bản chất xã hội, bản chất giai cấp, đồng thời chỉ ra rằng trong Xã hội Chủ nghĩa Cộng sản tương lai con người phát triển toàn diện là một yếu tố khách quan, và bởi vì đó là nhu cầu xủa xã hội Nhấn mạnh vấn đề này Mác viết: “Kết hợp với lao động sản xuất với trí dục và thể dục Đó không những
là biện pháp để tăng thêm sức sản xuất của xã hội, mà còn là biện pháp duy nhất để đào tạo con người toàn diện”
Lê Nin tiếp tục đi sâu và phát triển sáng tạo học thuyết về giáo dục toàn diện Ông nhấn mạnh “Thanh niên đặc biệt cần sự yêu đời và sảng khoái, cần có thể thao lành mạnh, thể dục, bơi lội, tham quan, các bài bài tập thể lực, những hứng thú phong phú về tinh thần như học tập, phân tích, nghiên cứu và cố gắng phối hợp tất cả các hoạt động ấy lại với nhau”.[3]
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cũng như trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước hiện nay, thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chủ tịch, Đảng và Nhà nước ta không ngừng tạo điều kiện để biến học thuyết phát triển con người toàn diện thành hiện thực
“Chỉ thị 36 CT/TW ngày 24/3/1994 của Ban bí thư Trung ương Đảng khóa VII
đã giao trách nhiệm cho Bộ Giáo dục và Đào tạo, cùng với Tổng cục TDTT thường xuyên phối hợp chỉ đạo tổng kết công tác GDTC Xây dựng và không ngừng cải tiến chương trình giảng dạy Tiến hành nghiên cứu và xây dựng Tiêu chuẩn Rèn luyện thân thể, đào tạo giáo viên TDTT cho trường học các cấp, tạo điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất để thực hiện chế độ GDTC bắt buộc ở tất cả các trường học, làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh - sinh viên Qua đó, phát hiện và tuyển chọn được nhiều tài năng thể thao cho đất nước”.[4]
Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, tại điều 41 quy định “Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp phát triển TDTT, quy định chế độ GDTC bắt buộc trong trường học, khuyến khích và giúp đỡ các hình thức tổ chức TDTT tự nguyện của nhân dân, tạo điều kiện cần thiết để không ngừng mở rộng các hoạt động thể thao chuyên nghiệp, bồi dưỡng các tài năng thể thao”.[5]
Trang 19Luật Giáo dục được Quốc hội khóa IX, nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 02/12/1998 và pháp lệnh TDTT được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua tháng 09/2000 quy định: “Nhà nước coi trọng TDTT trường học nhằm phát triển và hoàn thiện thể chất cho tầng lớp thanh thiếu niên và nhi đồng GDTC là nội dung giáo dục bắt buộc đối với học sinh, sinh viên được thực hiện theo hệ thống giáo dục quốc dân từ mầm non đến đại học TDTT trường học bao gồm việc tiến hành chương trình GDTC bắt buộc và tổ chức hoạt động TDTT ngoại khóa cho người học GDTC thể chất là một bộ phận quan trọng để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa”.[6]
Văn kiện Đại hội VIII của Đảng đã chỉ rõ: Giáo dục và Đào tạo cùng với khoa học công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu, chuẩn bị tốt cho thế hệ trẻ đi vào thế kỷ XXI,… Đồng thời khẳng định “… Sự cường tráng về thể chất là nhu cầu của bản thân con người, là vốn quý để tạo ra tài sản, trí tuệ và vật chất cho xã hội, chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội của các cấp, các ngành, các đoàn thể…”
Văn kiện Đại hội IX của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khẳng định mục tiêu tổng quát của chiến lược phát kinh tế xã hội từ năm 2000 đến 2010 là “… Đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân,…” Chỉ thị số 17/CT-TW ngày 23/10/2002 của Ban Bí thư Trung ương Đảng nêu rõ “… Đẩy mạnh hoạt động TDTT ở trường học, đảm bảo mỗi trường học đều có giáo viên TDTT… Tăng cường đầu tư của Nhà nước trong lĩnh vực TDTT” Nghị quyết
số 08- NQ/TW ngày 01/12/2011 đã đề ra quan điểm “Phát triển thể dục, thể thao là một yêu cầu khách quan của xã hội, nhằm góp phần nâng cao sức khoẻ, thể lực và chất lượng cuộc sống của nhân dân, chất lượng nguồn nhân lực; giáo dục ý chí, đạo đức, xây dựng lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân,
mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế; đồng thời, là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội và của mỗi người dân Các cấp ủy đảng có trách nhiệm thường xuyên lãnh đạo công tác thể dục, thể thao, bảo đảm cho sự nghiệp thể dục, thể thao ngày càng phát triển”
Để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển sự nghiệp thể thao nước nhà, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 133/TTG ngày 07/3/1995 về việc xây dựng quy hoạch ngành TDTT, trong đó ghi rõ “Ngành TDTT phải xây dựng định hướng có tính chất chiến lược, trong đó quy định các môn thể thao và hoạt động mang tính phổ cập đối với mọi đối tượng, lứa tuổi, tạo thành phong trào tập luyện rộng rãi của thể
Trang 20thao quần chúng, khỏe để xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.[7]
Thực hiện mục tiêu chiến lược đã đề ra, BGD&ĐT đã kịp thời ban hành các chỉ thị, quyết định chỉ đạo thực hiện công tác GDTC trong trường học, ban hành Quy chế Giáo dục thể chất và Y tế trường học trong nhà trường các cấp Quyết định số 14/2001/QĐBGDĐT ngày 03/5/2001, “BGD&ĐT tiếp tục khẳng định vị trí vai trò Giáo dục thể chất là một hoạt động giáo dục bắt buộc nhằm giáo dục, bảo vệ và tăng cường sức khỏe, phát triển thể chất, góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách đáp ứng nhu cầu giáo dục toàn diện cho HSSV Gần đây nhất, được BGD&ĐT ban hành Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT ngày 18/9/2008 về việc quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lực HSSV nhằm mục đích điều chỉnh nội dung, phương pháp GDTC phù hợp với các trường ở các cấp học và trình độ đào tạo Đẩy mạnh việc thường xuyên rèn luyện thân thể, nâng cao sức khỏe để học tập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho HSSV trong quá trình hội nhập quốc tế”.[8]
Như vậy, có thể thấy rằng Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm, chú trọng đến việc phát sự nghiệp TDTT nói chung và công tác GDTC chất nói riêng GDTC trong nhà trường là nội dung giáo dục, môn học bắt buộc, thuộc chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo nhằm nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Khái niệm Giáo dục thể chất
Thuật ngữ Giáo dục thể chất có từ lâu trong ngôn ngữ nhiều nước Ở nước ta,
do bắt nguồn từ gốc Hán – Việt nên cũng có người gọi tắt giáo dục thể chất là thể dục theo nghĩa tương đối hẹp Vì theo nghĩa rộng của từ Hán – Việt cũ, thể dục còn có nghĩa là thể dục thể thao Thông thường, người ta coi Giáo dục thể chất là một bộ phận của thể dục thể thao Nhưng chính xác hơn, đó còn là một trong những hình thức hoạt động cơ bản có định hướng rõ của thể dục thể thao trong xã hội, một quá trình có tổ chức truyền thụ và tiếp thu những giá trị của thể dục thể thao trong hệ thống giáo dục – giáo dưỡng chung (chủ yếu trong nhà trường)
Giáo dục thể chất là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người Tổng hợp quá trình đó xác định khả năng thích nghi thể lực của con người
Giáo dục thể chất là hình thức giáo dục được đào tạo một cách bài bản có hệ thống Trong đó các môn học chủ yếu là dạy học sinh, sinh viên vận động thông qua các động tác có nhịp điệu Nhằm khai tác các tố chất vận động tiềm ẩn bên trong con người Qua đó để xác định được những khả năng thích nghi thể lực của con người, cải
Trang 21thiện sức khỏe tinh thần
GDTC là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động
và phát triển có chủ định các tố chât vận động của con người Tổng hợp quá trình đó xác định khả năng thích nghi thể lực của con người
Theo từ điển thể thao Nga -Việt của Nguyễn Văn Hiếu chủ biên (2000) thì
“GDTC được hiểu là một loại hình giáo dục lấy nhiệm vụ chủ yếu là phát triển thể lực, tăng cường thể chất làm chính, thông qua tham gia các môn thể thao để thực hiện”
Tác giả Nôvicốp và Mátvêép cho rằng “GDTC là hoạt động cơ bản có định hướng TDTT trong xã hội, là một quá trình tổ chức để truyền thụ và tiếp thu những giá trị của TDTT trong hệ thống giáo dục, giáo dưỡng chung ở nhà trường các cấp”.[9]
Theo Nguyễn Toán - Phạm Danh Tốn: GDTC một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động và phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người GDTC cũng như các loại hình giáo dục khác là một quá trình sư phạm với đầy đủ những dấu hiệu chung về vai trò chủ đạo của nhà giáo dục trong quá trình dạy học, tổ chức dạy học phù hợp với các nguyên tắc sư phạm.[10]
GDTC được chia làm hai mặt chuyên biệt là: dạy học vận động (động tác) và giáo dục các tố chất vận động Trong đó, dạy học học động tác là một quá trình truyền thụ, tiếp thu có hệ thống những cách thức điều khiển hợp lý sự vận động của con người, qua đó 8 hình thành nên những kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản và những hiểu biết có liên quan Còn giáo dục các tố chất thể lực (tố chất vận động) là tác động có chủ đích đến sự phát triển các tố chất thể lực nhằm đảm bảo cho việc phát triển các năng lực vận động (sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo và khéo léo) của con người
Trong hệ thống giáo dục, nội dung đặc trưng của GDTC gắn liền với trí dục, đức dục, mỹ dục và giáo dục lao động Mục đích chính là tăng cường sức khỏe, phát triển thể chất con người, hướng đến phát triển con người toàn diện
Trên cơ sở các quan điểm của các tác giả nên trên, theo tôi: “giáo dục thể chất là một quá trình được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch thực hiện với chức năng chuyên biệt nhằm phát triển các kỹ năng vận động, các tố chất vận động và phát triển thể lực cho người học”
Giáo dục thể chất là một trong những nội dung giáo dục toàn diện nhân cách người học trong các nhà trường nói chung và trường THCS nói riêng, nó có thể tiến hành bằng nhiều con đường như: Thông qua tổ chức các hoạt động thể thao trong nhà trường, thông quan các hoạt động rèn luyện thân thể ngoài nhà trường nhưng trong
đó con đường dạy học môn GDTC là con đường cơ bản và quan trọng nhất
Trang 221.2.2 Hoạt động giáo dục thể chất
Giáo dục thể chất là một phạm trù biện chứng của triết học Đông – Tây Nó tồn tại từ khi xuất hiện xã hội loài người và tồn tại tự nhiên như một nhu cầu cấp bách trong những điều kiện của nền kinh tế xã hội và đời sống con người
Giáo dục thể chất là quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện thể chất, nhân cách, năng lực vận động và nâng cao khả năng làm việc và kéo dài tuổi thọ của con người
Trong quá trình giáo dục thể chất, hình thái và chức năng các cơ quan trong cơ thể từng bước được hoàn thiện, hình thành và phát triển các tố chất thể lực, kỹ năng, kỹ xảo vận động và hệ thống tri thức chuyên môn Giáo dục thể chất có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành năng lực vận động của con người
Giáo dục thể chất là một bộ phận hợp thành quan trọng của nội dung giáo dục toàn diện nhằm giúp thế hệ trẻ trang bị những kiến thức cơ bản về thể chất con người, giúp hình thành các kỹ năng vận động và thói quen rèn luyện và củng cố, nâng cao sức khỏe để làm cho cơ thể phát triển cân đối khỏe mạnh GDTC là một loại hình giáo dục chuyên biệt với đặc trưng cơ bản chủ yếu là dạy học để phát triển các tố chất thể lực của con người, tiếp thu có hệ thống những cách thức điều khiển hợp lý động tác, qua
đó hình thành, kỹ xảo vận động cơ bản và những hiểu biết có liên quan Giáo dục các
tố chất thể lực là một quá trình tác động có chủ đích nhằm nâng cao năng lực vận động của con người
GDTC là một trong những hình thức hoạt động có định hướng sư phạm của TDTT trong xã hội, một quá trình tổ chức truyền thụ và tiếp thu những giá trị của TDTT trong hệ thống giáo dục chung
Hệ thống GDTC là sự tổng hợp các cơ sở khoa học về quan điểm và phương pháp luận của GDTC cùng với các cơ quan tổ chức thực hiện kiểm tra công tác GDTC quốc dân Hệ thống GDTC nhằm mục đích phát triển hài hòa thể chất và tinh thần con người, đáp ứng hoạt động trong lĩnh vực kinh tế và xã hội Trong mỗi hình thái XH luôn tồn tại một hệ thống giáo dục chung trong đó có GDTC
Những yếu tố đặc trưng hình thành hệ thống GDTC:
- Quan điểm, mục tiêu, hệ thống tri thức
- Cấu trúc, nội dung và hình thức
- Tổ chức về phương pháp luận và phương pháp GDTC
- Tổ chức và quản lý
1.2.3 Khái niệm quản lý
“Quản lý” là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: “quản” và “lý”
Trang 23Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống vào thế “phát triển” Nếu người quản lý chỉ lo việc “quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ; tuy nhiên nếu chỉ quan tâm đến việc “lý”, tức là chỉ lo việc sắp xếp, tổ chức, đổi mới
mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định, thì hệ thống sẽ phát triển không bền vững Nói chung, trong “quản” phải có “lý” và trong “lý” phải có “quản”, làm cho hoạt động của hệ thống luôn ở trạng thái cân bằng Sự quản lý đưa đến kết quả đích thực bền vững đòi hỏi phải có mưu lược, nghệ thuật làm cho hai quá trình “quản” và “lý” tích hợp vào nhau
Có nhiều cách nhìn khác nhau về khái niệm quản lý:
– Warren Bennis, một chuyên gia nổi tiếng về nghệ thuật lãnh đạo đã từng nói rằng: “Quản lý là một cuộc thử nghiệm gắt gao trong cuộc đời mỗi cá nhân, và điều đó
sẽ mài giũa họ trở thành các nhà lãnh đạo” Tiếng Việt cũng có từ “quản lý” và “lãnh đạo” riêng rẽ giống như “manager” và “leader” trong tiếng Anh.[11]
– Theo Harold Koontz, quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo sự phối hợp
nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt đến mục tiêu tổ chức nhất định.[12]
– Theo Mary Parker Follett (1868 – 1933), nhà khoa học chính trị, nhà triết học
Mỹ thì: “Quản lý là một nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác”
Frederick W.Taylor (1856 – 1915) là một trong những đại biểu xuất sắc của trường phái quản lý theo khoa học Để trả lời câu hỏi quản lý là gì ông cho rằng: Quản
lý là biết được chính xác điêu bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ
đa hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” Ông đã đưa ra các tư tưởng chính của thuyết quản lý theo khoa học là: Tiêu chuẩn hóa công việc, chuyên môn hóa lao động, cải tạo các hệ quản lý
Tư tưởng và quan điểm “quản lý” đã có từ cách đây hơn 2500 năm nhưng cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, vấn đề quản lý theo khoa học mới xuất hiện Người khởi xướng là Fredrich Winslow Taylor với cuốn sách “Các nguyên tắc quản lý theo khoa học” Theo ông thì người quản lý phải là nhà tư tưởng, nhà lên kế hoạch chỉ đạo tổ chức công việc.[13]
Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tô chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tô chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”; “Quản lý là sự tác động có tô chức, có hướng đich của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”.[14]
Trong cuốn “Khoa học Tổ chức và Quản lý”, tác giả Đặng Quốc Bảo quan
Trang 24niệm: “Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra những
nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt được những mục tiêu cụ thể”
Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường
Quản lý là hiện tượng tồn tại trong mọi chế độ xã hội Bất kỳ ở đâu, lúc nào con người có nhu cầu kết hợp với nhau để đạt mục đích chung đều xuất hiện quản lý Quản
lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức điều hành các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên những quy luật khách quan Xã hội càng phát triển, nhu cầu và chất lượng quản lý càng cao
Quản lý là việc quản trị của một tổ chức, cho dù đó là một doanh nghiệp, một tổ chức phi lợi nhuận hoặc cơ quan chính phủ Quản lý bao gồm các hoạt động thiết lập chiến lược của một tổ chức và điều phối các nỗ lực của nhân viên (hoặc tình nguyện viên) để hoàn thành các mục tiêu của mình thông qua việc áp dụng các nguồn lực sẵn
có, như tài chính, tự nhiên, công nghệ và nhân lực
Quản lí là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lí nhằm đạt được những mục đích đã định trước
1.2.4 Khái niệm quản lý giáo dục
– Quản lý giáo dục là sự tác động lên tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động họ cùng phối hợp, tác động tham gia các hoạt động giáo dục của nhà trường để đạt mục đích đã định
– Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục thực chất là tác động đến nhà trường, làm cho nó tổ chức tối ưu được quá trình dạy học, giáo dục thể chất theo đường lối nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt được những tính chất trường THPT xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bằng cách đó tiến tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái chất lượng mới về chất”.[15]
– Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ thống giáo dục) nhằm làm cho
hệ vận hành theo đường lối và nguyên tắc giáo dục của Đảng thực hiện được những tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về
Trang 25Theo M.I.Kônđacôp, “quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp khoa học nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của cơ quan trong hệ thống giáo dục, để tiếp tục phát triển, mở rộng hệ thống giáo dục cả về số lượng cũng như chất lượng”
Theo Okumbe, quản lý giáo dục là một quá trình thu thập và phân bổ nguồn lực
để đạt được các mục tiêu giáo dục được xác định trước
– Đối với cấp độ vĩ mô, QLGD “Là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội”
– Đối với cấp độ vi mô, quản lý giáo dục “Là quản lý hoạt động giáo dục trong nhà trường bao gồm hệ thống những tác động có hướng đích của hiệu trưởng đến các hoạt động giáo dục, đến con người (giáo viên, cán bộ nhân viên và học sinh), đến các nguồn lực (cơ sở vật chất, tài chính, thông tin, v.v…), đến ảnh hưởng ngoài nhà trường một cách hợp quy luật ( quy luật quản lý, quy luật giáo dục, quy luật tâm lý, quy luật kinh tế, quy luật xã hội, v.v…) nhằm đạt mục tiêu giáo dục”
Giáo dục và quản lý giáo dục tồn tại song hành Nếu nói giáo dục là hiện tượng
xã hội và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người thì cũng có thể nói như vậy về quản lý giáo dục Giáo dục xuất hiện nhằm thực hiện cơ chế truyền kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người, của thế hệ đi trước cho thế hệ sau và để cho thế hệ sau có trách nhiệm kế thừa, phát triển các kinh nghiệm ấy một cách sáng tạo, làm cho xã hội và bản thân con người luôn phát triển không ngừng Để đạt được mục đích đó, quản lý được coi là nhân tố tổ chức, chỉ đạo việc thực thi cơ chế nêu trên
Cũng như quản lý xã hội nói chung, quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của con người nhằm đạt được những mục đích của mình Chỉ có con người mới có khả năng khách thể hoá mục đích, nghĩa là biến cái hình mẫu ý tưởng của đối tượng trong tương lai, mà ta gọi là mục đích thành trạng thái hiện thực Mục đích giáo dục nằm
Trang 26trong mục đích của quản lý giáo dục
“Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích,
có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ thể quản lý quản lý đến tất cả mắt xích của hệ thống từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục”
Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Trong
hệ thống giáo dục, con người giữ vai trò trung tâm của mọi hoạt động Con người vừa
là chủ thể vừa là khách thể quản lý Mọi hoạt động giáo dục và QLGD đều hướng vào việc đào tạo và phát triển nhân cách thế hệ trẻ, bởi vậy con người là nhân tố quan trọng nhất trong QLGD
Tóm lại, “Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lí ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo cho sự phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng”
1.2.5 Khái niệm quản lý hoạt động Giáo dục thể chất cho học sinh trung học
cơ sở
Với cách tiếp cận Quản lý TDTT nói chung và quản lý hoạt động GDTC nói riêng là một bộ phận không thể thiếu của quản lý Xã hội chủ nghĩa nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội của Đảng và Nhà nước, các nhà quản lý học TDTT của Liên Xô cũ và Trung Quốc như Nôvicốp, Mátvê ép (Liên Xô cũ),
Dụ Kế Anh, Chu Nghiêm Kiệt (Trung Quốc) đã đi đến khái niệm về quản lý TDTT trong đó có quản lý TDTT trường học tức GDTC trường học như sau:
“Quản lý GDTC là sự tác động liên tục mang tính mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu GDTC
đã đề ra”
Còn các nhà nghiên cứu quản lý TDTT ở nước ta với cách tiếp cận quản lý TDTT hướng vào hoạt động có tổ chức, có ý thức của con người nhằm không ngừng xây dựng, phát triển sự nghiệp TDTT và sự nghiệp GDTC cho học sinh, sinh viên trường học các cấp, góp phần đào tạo con người phát triển toàn diện đức, trí, thể,
mỹ phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN Từ khái niệm về quản
lý hoạt động GDTC của các học giả trong và ngoài nước, ta có thể khái quát về quản lý hoạt động GDTC như sau:
- Quản lý hoạt động GDTC cho học sinh là tổ chức điều hành và phối hợp của
Trang 27các lực lượng GDTC nhằm thúc đẩy công tác GDTC cho thế hệ trẻ theo đúng nguyên
lý giáo dục, đúng mục tiêu đào tạo và phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội
- Công tác quản lý hoạt động GDTC cho học sinh trong nhà trường phải xây dựng một chương trình giảng dạy TDTT thống nhất có tính kế thừa Đồng thời xác định mục tiêu công tác TDTT trong thế hệ trẻ không chỉ xác định mục tiêu kiến thức
mà còn phải đảm bảo tính thống nhất giữa các mặt: Kiến thức, thể lực, kỹ thuật động tác thể thao Cần phải đưa chương trình GDTC thành pháp lệnh Cần có kế hoạch chế
độ thích hợp để động viên việc tổ chức hướng dẫn thực hiện các hoạt động ngoại khóa cho học sinh Trong công tác GDTC phải đảm bảo tốt việc tổ chức tập luyện, huấn luyện, giảng dạy, thi đấu thể thao trong học sinh Tổ chức các CLB TDTT, các lớp huấn luyện thành lập các đội tuyển thể thao trong học sinh, có như vậy thì công tác giảng dạy và quản lý GDTC trong nhà trường mới có thể thực hiện tốt
1.3 Lý luận về hoạt động giáo dục thể chất cho học sinh tại các trường Trung học
cơ sở
1.3.1 Mục tiêu của Giáo dục thể chất trong trường Trung học cơ sở
Giáo dục thể chất trong nhà trường là nội dung giáo dục, môn học bắt buộc, thuộc chương trình giáo dục phổ thông và trình độ đào tạo, nhằm trang bị cho học sinh các kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập thể dục, thể thao để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện
Hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của học sinh được
tổ chức theo phương thức ngoại khóa, câu lạc bộ thể dục, thể thao, nhóm, cá nhân phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khỏe, nhằm hoàn thiện các kỹ năng vận động, hỗ trợ thực hiện mục tiêu giáo dục thể chất thông qua các hình thức luyện tập, thi đấu thể thao, tạo điều kiện cho học sinh thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao; phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, tài năng thể thao
Mục tiêu chung của giáo dục nước ta là "hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân; đào tạo những người lao động có nghề, năng động và sáng tạo, có niềm tự hào dân tộc, có ý chí vươn lên góp phần làm cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc" Mục tiêu cụ thể của giáo dục phổ thông là: " giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động
và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa ".[17]
Mục tiêu của chương trình môn Thể dục là giúp cho học sinh có sự tăng tiến về sức khỏe, thể lực Đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo lứa tuổi và giới tính Có
Trang 28những kiến thức, kỹ năng cơ bản về Thể dục thể thao và phương pháp tập luyện; các
kỹ năng vận động cần thiết trong đời sống Hình thành thói quen tập luyện Thể dục thể thao thường xuyên và nếp sống lành mạnh, tác phong nhanh nhẹn, kỷ luật, tinh thần tập thể và các phẩm chất đạo đức ý chí Biết vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã học vào các hoạt động ở nhà trường và trong đời sống hàng ngày
Cho nên khi xây dựng chương trình giáo dục nói chung và môn Thể dục nói riêng, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã đưa ra các quan điểm xây dựng và phát triển chương trình với các nội dung rất cụ thể:
Chương trình môn Thể dục phải góp phần thực hiện mục tiêu, kế hoạch dạy học chung và những đổi mới về phương pháp dạy học, đánh giá ở từng cấp học
Lấy việc nâng cao thể lực, sức khỏe cho học sinh, sinh viên là mục tiêu quan trọng và xuyên suốt
Đảm bảo tính sư phạm, khoa học, liên thông, kết hợp bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc những thành tựu khoa học giáo dục thể chất hiện đại
Chương trình phải có tính khả thi, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi và giới tính, với sức khỏe, thể lực học sinh, đồng thời định hướng cho việc nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên và tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho việc giảng dạy môn thể dục
Đảm bảo tính thống nhất của chương trình, đồng thời mở rộng quyền chủ động sáng tạo phát huy thế mạnh của địa phương trong quá trình thực hiện chương trình"
Với quan điểm xây dựng và phát triển chương trình cho thấy, giữa mục tiêu giáo dục và chương trình, nội dung, hình thức giáo dục có mối quan hệ khăng khít và chặt chẽ với nhau Chương trình, nội dung giáo dục được xây dựng dựa trên cơ sở mục tiêu giáo dục, là sự thể hiện mục tiêu giáo dục và ngược lại mục tiêu giáo dục như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt, giúp chương trình, nội dung và hình thức giáo dục được định hướng chính xác, tránh những lệch lạc trong quá trình giáo dục
Từ thực tế về đổi mới chương trình, nội dung giáo dục theo hướng bám sát mục tiêu là một trong những giải pháp phát triển giáo dục Do vậy, vấn đề cải tiến nội dung, phương pháp và hình thức tập luyện TDTT cho học sinh là một yêu cầu cấp bách và đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm mục tiêu phát triển giáo dục trong giai đoạn mới
1.3.2 Nội dung Giáo dục thể chất trong trường Trung học cơ sở
“Nội dung GDTC ở giáo dục phổ thông là dạy cho học sinh hình thành và tiếp thu các kiến thức, kỹ năng cơ bản để thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông, chưa đặt
ra mục tiêu đào tạo cho những người làm nghề thể thao chuyên nghiệp Cùng với một
Trang 29số môn học khác, môn Thể dục góp phần hình thành những kiến thức cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn, lâu dài và hiểu biết về những kỹ năng, ý thức rèn luyện sức khỏe, truyền đạt một số kiến thức cơ bản, cần thiết, mang tính phổ thông nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, với nội dung chương trình bao gồm hai phần: Lý thuyết và thực hành”.[18]
- Nội dung nội khóa
Phần thực hành: Giải quyết về kỹ năng vận động
Phần lý thuyết: Môn học cung cấp cho học sinh những kiến thức chung về hoạt động GDTC Từ cơ sở khoa học của sinh lý học thể dục thể thao, học sinh hiểu được những ảnh hưởng của tập luyện đối với cơ thể người học Hiểu và vận dụng những kiến thức về vệ sinh tập luyện, các nguyên tắc tập luyện trong quá trình học tập Giáo dục thể chất Học sinh được trang bị những kiến thức cơ bản trong quá trình học tập và rèn luyện Hiểu biết được những nguyên nhân dẫn đến chấn thương, cách khắc phục và phòng tránh trong tập luyện TDTT
- Nội dung ngoại khóa
Là nhu cầu và sở thích trong lúc nhàn rỗi của một bộ phận học sinh với mục đích và nhiệm vụ là góp phần phát triển năng lực, thể chất một cách toàn diện, đồng thời góp phần nâng cao thành tích thể dục thể thao của học sinh Thời gian học ngoại khoá nhằm củng cố và hoàn thiện các bài học chính khoá và được thực hiện vào giờ tự học của học sinh hoặc dưới sự hướng dẫn của giáo viên TDTT, huấn luyện viên Ngoài
ra còn có các hoạt động thể dục thể thao cộng đồng ngoài giờ học bao gồm: Luyện tập trong các câu lạc bộ, thi đấu các giải trong và ngoài nhà trường được tổ chức hàng năm, các bài tập thể dục duy trì sức khỏe chống mệt mỏi hàng ngày, phong trào tự tập luyện rèn luyện thân thể của học sinh Hoạt động ngoại khoá với chức năng là động viên và thu hút nhiều đối tượng tham gia tập luyện các môn thể thao yêu thích, góp phần nâng cao tinh thần, sức khoẻ phục vụ học tập và sinh hoạt
Tác dụng của hoạt động giáo dục thể chất và các hình thức sử dụng TDTT có chủ đích được áp dụng trong các trường học là toàn diện, là phương tiện để hợp lý hoá chế độ hoạt động, nghỉ ngơi tích cực, giữ gìn và nâng cao năng lực hoạt động, học tập của học sinh trong suốt quá trình học tập trong nhà trường, cũng như đảm bảo trang bị kiến thức thể lực chung và thể lực chuyên môn phù hợp với những điều kiện của nghề nghiệp trong tương lai
Hoạt động giáo dục thể chất và thể thao trường học; Tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về giáo dục thể chất và thể thao trường học; chỉ đạo các trường học hướng dẫn, tổ chức cho học sinh bài thể dục giữa giờ, tổ chức
Trang 30thành lập các Câu lạc bộ thể dục thể thao
Các hoạt động thể dục giữa giờ sau các tiết học được các nhà trường triển khai nghiêm túc, đều đặn với nhiều hình thức phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi đã góp phần tạo tâm lý vui tươi, phấn khởi trong học sinh Đặc biệt, các nhà trường phải chủ động đổi mới chương trình và phương pháp giáo dục thể chất, gắn giáo dục thể chất với giáo dục ý chí, đạo đức, giáo dục quốc phòng, giáo dục sức khỏe và kỹ năng sống của học sinh Hình thức tổ chức và nội dung tập luyện thể dục thể thao của học sinh ngày càng đa dạng và dần đi vào nền nếp
Các loại hình câu lạc bộ thể dục thể thao trong trường học được khuyến khích nhân rộng, đồng thời chú trọng đa dạng các môn thể thao Nhiều môn thể thao như: bơi, bóng đá, bóng chuyền, cầu lông… được đưa vào các hoạt động ngoại khóa thu hút đông đảo học sinh các lớp tham gia trên tinh thần tự nguyện, tự giác Đặc biệt, các môn thể thao dân tộc, trò chơi dân gian như: kéo co, đẩy gậy… được các trường lồng ghép vào phong trào thi đua của nhà trường
Những hoạt động tiêu biểu như Hội khỏe Phù Đổng các được tổ chức định kỳ 1 năm một lần Đây là ngày hội thể thao học đường nhằm tạo sân chơi bổ ích, góp phần nâng cao sức khỏe, phát triển thể chất, giáo dục toàn diện cho học sinh Qua các kỳ Hội khỏe Phù Đổng, phong trào rèn luyện, thi đấu các môn thể thao đã phát triển sâu rộng trong các trường học
1.3.3 Phương pháp và hình thức Giáo dục thể chất trong trường Trung học
cơ sở
1.3.3.1 Phương pháp
a Nhóm phương pháp sử dụng dùng lời
- Khái niệm: Đây là nhóm phương pháp mà giáo viên thường sử dụng lời nói
để giảng giải, phân tích, đàm thoại, phỏng vấn, kể chuyện, nêu gương, mệnh lệnh, nhận xét, đánh giá giới thiệu kiến thức mới, các kỹ thuật động tác, nhiệm vụ bài học, phân tích về nội dung cơ bản, phương hướng chuyển động của các bộ phận cơ thể, các mấu chốt kĩ thuật động tác
- Ưu điểm của phương pháp này: Xây dựng được khái niệm ban đầu về động tác giúp học sinh hiểu và nắm bắt được chi tiết, nhiệm vụ và yêu cầu giờ học, cấu trúc
kỹ thuật động tác, tăng cường tính tư duy cho học sinh
- Nhược điểm của phương pháp này: Học sinh không thấy được biên độ, đường
đi, hướng động tác kỹ thuật
- Yêu cầu khi sử dụng nhóm phương pháp này:
+ Khi giảng giải (lời nói) cần có sức truyền cảm, đủ âm lượng, tạo nên sự chú ý
Trang 31theo dõi của học sinh;
+ Lời giảng của giáo viên cần chính xác, ngắn gọn, dễ hiểu làm nổi bật trọng tâm bài học Không giải thích dài dòng ảnh hưởng đến thời gian luyện tập của học sinh;
+ Khi sử dụng phương pháp phỏng vấn, câu hỏi phải rõ ràng, trong sáng, vừa sức học sinh;
+ Khi sử dụng khẩu lệnh cần phải rõ ràng, dứt khoát, có sức truyền cảm Lời nói của giáo viên cần chuẩn xác khi giao nhiệm vụ, dặn dò, hay phê bình, động viên học sinh
b Nhóm phương pháp trực quan
- Khái niệm: Trực quan là các hình thức thị phạm, làm mẫu của giáo viên hay cán sự bộ môn (trực quan trực tiếp), xem tranh ảnh, bằng hình, biểu mẫu, biểu đồ (trực quan gián tiếp) nhằm mục đích thực hiện lại kỹ thuật động tác giúp học sinh hình dung
về hình dáng, biên độ, kết cấu, hướng chuyển động và thứ tự tiến hành của kỹ thuật động tác đó
- Ưu điểm của phương pháp này: Đây là phương pháp chủ yếu giúp học sinh nắm bắt được bản chất cụ thể của biên độ, đường đi, hướng động tác kỹ thuật, từ đó giúp các em bắt chước và làm theo
- Nhược điểm của phương pháp này: Nếu lạm dụng phương pháp này sẽ hạn chế đến khả năng tư duy để hiểu về kết cấu kỹ thuật động tác cho học sinh trong quá trình học tập
- Yêu cầu khi sử dụng nhóm phương pháp này: Động tác làm mẫu phải chính xác, đẹp, hoàn chỉnh để giúp học sinh nắm được những yếu lĩnh cơ bản của kỹ thuật;
+ Có thể làm mẫu toàn bộ động tác hoặc một phần của động tác, làm chậm hoặc nhanh, tại chỗ hoặc di động, động tác đúng và động tác sai, tay không hoặc có dụng
cụ Đối với các động tác mới cần làm mẫu nhiều lần, từ đơn giản đến phức tạp, từ chậm đến nhanh;
+ Vị trí làm mẫu và hướng làm mẫu phải phù hợp để mọi học sinh có thể nhìn thấy biến độ của động tác (Trung tâm đội hình);
+ Khi làm mẫu cần kết hợp với phân tích kỹ thuật giúp học sinh nắm bắt yếu lĩnh kỹ thuật động tác nhanh hơn;
+ Ngoài việc làm mẫu, giáo viên cần phải tăng cường sử dụng tranh ảnh, biểu đồ, hình vẽ (nhất là các bài học có nội dung mới) nhằm giúp học sinh hiểu, nắm được kỹ thuật nhanh hơn và vận dụng vào tập luyện Tranh ảnh, hình vẽ, biểu đồ phải được trưng bày xuyên suốt cả tiết học để học sinh có thể đối chứng giữa động tác của mình với
Trang 32tranh ảnh kỹ thuật từ đó để so sánh, sửa chữa, khắc phục những thiếu sót của học sinh
c Nhóm phương pháp hoàn chỉnh và phân đoạn
Ưu điểm: Học sinh dễ nắm bắt được các chi tiết của từng phần kỹ thuật động tác, tiết kiệm được thời gian, thích hợp khi dạy các động tác khó, phức tạp
Nhược điểm: Chia động tác ra nhiều phần chi tiết, kĩ thuật riêng là học sinh sẽ khó nắm được hệ thống của động tác, đưa đến định hình động tác không chính xác
Tóm lại, hai phương pháp trên đều có ưu điểm và nhược điểm riêng của nó Các động tác kỹ thuật khó khi sử dụng phương pháp phân đoạn sẽ dễ dàng thực hiện, ngược lại những động tác đơn giản dùng phương pháp hoàn chỉnh sẽ giúp học sinh hệ thống, liên kết động tác một cách thuận lợi Các phương pháp này chỉ sử dụng được khi gặp các động tác có kỹ thuật đơn giản hoặc phức tạp Còn lại nếu lạm dụng phương pháp này cho tất cả các động tác sẽ dẫn tới cấu trúc kỹ thuật động tác bị vỡ vụn Vì vậy giáo viên cần nghiên cứu kỹ, phối hợp sử dụng để chúng bổ sung lẫn nhau
- Yêu cầu khi sử dụng nhóm phương pháp này
+ Giáo viên cần nghiên cứu kĩ động tác để quyết định nên cho học sinh tiến hành thực hiện phương pháp hoàn chỉnh hay phân đoạn
+ Khi dùng phương pháp hoàn chỉnh phải chú ý tìm cách nhấn mạnh vào khâu trọng tâm, có thể giảm bớt độ khó các động tác như: bớt khối lượng, rút ngăn cự ly, hạ thấp độ cao
Khi dùng phương pháp phân đoạn cần chú ý: Thận trọng trong việc chia nhỏ động tác, cân nhắc kĩ lưỡng quan hệ giữa các bộ phận của động tác để khỏi phá hoại kết cấu hữu cơ của động tác Phân tích cho học sinh thấy có vị trí của các bộ phận trong toàn bộ động tác và ảnh hưởng qua lại của chúng Sau khi tập các động tác phân đoạn cần bố trí thời gian thích hợp để tập liên kết các động tác, tiến tới nắm động tác
Trang 33hoàn chỉnh
d Nhóm phương pháp tập luyện
- Khái niệm: Phương pháp luyện tập là thông qua luyện tập để tiếp thu kiến thức kỹ năng và năng cao các tố chất thể lực Đó là đặc điểm nổi bật của TDTT, khác hẳn với các môn văn hóa
Phương pháp luyện tập bao gồm rất nhiều hình thức, đó là:
+ Hình thức tập luyện lặp lại: Tức là tập đi tập lại một động tác nhiều lần với khoảng cách và cường độ không quy định rõ ràng;
+ Hình thức tập luyện biến đổi: Tức là tập một động tác nhưng đã thay đổi hình thức yêu cầu, độ khó và các điều kiện khác;
+ Hình thức trò chơi, thi đấu: Là thông qua trò chơi, thi đấu để luyện tập, nó có tác dụng làm cho học sinh phấn khởi, hào hứng luyện tập đồng thời cũng đánh giá được tương đối khách quan kết quả học tập của học sinh;
+ Hình thức tổ chức học tập: Phân nhóm, phân nhóm quay vòng, tập đồng loạt tập luyện vòng tròn, chia tổ luyện tập tạo điều kiện cho học sinh được trao đổi, thảo luận, tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau
- Ưu điểm của phương pháp này: Đây là phương pháp đặc trưng của bộ môn, nó khác với các môn học tập văn hoá khác Sử dụng phương pháp này tạo điều kiện giúp học sinh hình thành kỹ năng, kỹ xảo, nâng cao được sức khoẻ, thể chất cho người tập
- Nhược điểm của phương pháp này: Khó hình thành khả năng tư duy cho học sinh trong luyện tập, lạm dụng nhiều dẫn tới mệt mỏi và nhàm chán trong học tập
- Yêu cầu khi sử dụng phương pháp luyện tập:
+ Khối lượng vận động trong luyện tập phải phù hợp với sức khỏe, trình độ, giới tính
+ Khi tập luyện động tác không nên lặp đi lặp lại quá nhiều lần tránh sự nhàm chán, gây mệt mỏi, dễ bị chấn thương
+ Hình thức tập luyện phải phong phú, (sử dụng phương pháp tập đồng loại, phân nhóm, quay vòng và không quay vòng ), không phức tạp, không đòi hỏi nhiều dụng cụ, không tốn nhiều thời gian và luân chuyển đội hình tập luyện quá nhiều
e Nhóm phương pháp sửa chữa động tác sai
- Khái niệm: Phương pháp sửa sai là phương pháp dùng để uốn nắn sữa chữa những động tác sai lệch về mặt kỹ thuật ban đầu góp phần kịp thời hướng cho người học thực hiện đúng, chính xác kỹ thuật, tạo điều kiện tiếp thu kỹ thuật mới nhanh và phòng tránh chấn thương
- Ưu điểm của phương pháp này: Phương pháp này giúp người học nắm rõ chi
Trang 34tiết, cấu trúc, biên độ, hướng chuyển động của động tác Từ đó để chỉnh sửa hướng tới hình thành kĩ năng cho người học
- Nhược điểm của phương pháp này: Sử dụng phương pháp này thường xuyên
sẽ ảnh hưởng đến thời gian và chất lượng chung của giờ học
- Yêu cầu khi sử dụng phương pháp sửa sai
+ Phát hiện sớm những sai lệch về mặt kỹ thuật của học sinh, từ đó giúp các em sửa chữa kịp thời, tránh để học sinh tập đi tập lại động tác sai sẽ hình thành kỹ năng xấu, khó sửa chữa;
+ Tổ chức sửa sai bên ngoài đội hình tập luyện của học sinh để tránh ảnh hưởng chung đến thời gian học tập của cả lớp
1.3.3.2 Hình thức
Hình thức GDTC được thực hiện trong giờ học môn thể dục, sức khỏe và các hoạt động thể dục thể thao trong trường học bao gồm: giờ học nội khóa và giờ ngoại khóa
Giờ học nội khóa là hình thức cơ bản nhất được tiến hành học tập theo kế hoạch của nhà trường đảm bảo theo chương trình quy định của Bộ GD&ĐT, giờ học nội khóa là việc giáo dục cơ bản về thể chất, thể thao là nhiệm vụ cần thiết để phát triển các tố chất thể lực và phối hợp vận động cho học sinh, đồng thời giúp học sinh có trình
độ nhất định để tiếp thu được các kỹ thuật động tác thể dục thể thao giúp học sinh phát triển cơ thể một cách hài hòa, bảo vệ và củng cố sức khỏe, hình thành năng lực chung
về chuyên môn
Giờ học ngoại khóa là hoạt động thể dục thể thao theo kế hoạch của nhà trường
và các cấp quản lý giáo dục Trong giờ học ngoại khóa, tự luyện tập là theo nhu cầu và
sự ham thích của học sinh với mục đích và nhiệm vụ là góp phần phát triển năng lực, thể chất một cách toàn diện, đồng thời góp phần nâng cao thành tích thể thao của học sinh Mặt khác giờ học ngoại khóa là nhằm củng cố và hoàn thiện các bài học chính khóa và được tiến hành vào giờ tự học của học sinh theo sự hướng dẫn của giáo viên.[19]
1.3.4 Các lực lượng tham gia hoạt động Giáo dục thể chất trong trường Trung học cơ sở
- Các CLB năng khiếu trong nhà trường
- Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh
- Ban chấp hành Công đoàn, đội ngũ giáo viên
- Đoàn thanh niên của giáo viên
- Cụm tổ chuyên môn GDTC
Trang 35- Các tổ chức xã hội
- Sự quan tâm từ cha mẹ học sinh
Các câu lạc bộ năng khiếu sẽ giúp các em học sinh phát huy năng khiếu và đam
mê của bản thân, đồng thời các câu lạc bộ này sẽ là công cụ để đoàn trường xây dựng một môi trường học tập, rèn luyện tích cực hơn
Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh là nơi các em được giáo dục, tự giáo dục, rèn luyện phấn đấu và trưởng thành Trong công tác phối hợp quản lý hoạt động
giáo dục thể chất cho học sinh tại các trường THCS thì Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ
Chí Minh là người hỗ trợ tích cực, là cầu nối và là chỗ dựa đáng tin cậy, cổ vũ tất cả học sinh tham gia
Ban chấp hành công đoàn là cầu nối giữa cán bộ quản lý, giáo viên, đoàn viên với các đoàn thể trong trường và ngoài xã hội chăm lo, bảo vệ lợi ích chính đáng cho các em học sinh
Cha mẹ học sinh giữ vai trò quan trọng trong việc phối hợp với cán bộ quản lý, giáo viên theo dõi, giáo dục các em Kết nối giữa nhà trường và gia đình, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng các hoạt động rèn luyện thể chất, phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu cho các em học sinh,…
Hoạt động giáo dục của đội ngũ giáo viên phải được đào tạo bài bản về chuyên môn, nghiệp vụ kết hợp với phẩm chất đạo đức phục vụ cho việc đổi mới giáo dục
Được tập huấn thường xuyên về các kiến thức mới nhất để giáo viên phổ thông hiện hành cập nhật về nội dung, phương pháp dạy học và phương pháp kiểm tra, đánh giá Xây dựng các chuyên đề tập huấn sâu về các nội dung lý thuyết mới trong môn giáo dục thể chất theo từng cấp học.[20]
1.3.5 Điều kiện cơ sở vật chất và phương tiện hỗ trợ hoạt động Giáo dục thể chất
“Cơ sở vật chất là yếu tố quan trọng trong hoạt động GDTC trong trường học là một trong các yếu tố quyết định nâng cao chất lượng đào tạo giáo dục hiện nay CSVC bao gồm: nhà tập, sân bãi, dụng cụ học tập nhằm phục vụ cho nhu cầu dạy và học của giáo viên và học sinh”.[21]
Thực tế ở các trường THCS hiện nay điều kiện phục vụ cho hoạt động GDTC
đã được cấp và tự vận động mua sắm tương đối đầy đủ Tuy nhiên phần lớn các trường còn gặp khó khăn về sân bãi, nhà tập luyện, các dụng cụ dạy học của các môn tự chọn, các môn thể dục thể thao ngoại khóa và nguồn kinh phí tổ chức các giải phong trào
Để nâng cao chất lượng GDTC và hoạt động TDTT cho học sinh, phải đảm bảo những điều kiện cơ sở vật chất, kinh phí phục vụ cho việc giảng dạy môn học thể dục
Trang 36nội khóa cũng như các hoạt động ngoại khóa cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Xây dựng nội dung và kế hoạch, nguồn kinh phí trang bị sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ hoạt động GDTC
- Cải tạo nâng cấp sân bãi để có thể tận dụng tối đa điều kiện của nhà trường phục vụ giảng dạy và tập luyện
- Tổ chức bồi dưỡng kĩ năng sử dụng các phương tiện trang thiết bị, dụng cụ phục vụ hoạt động GDTC
- Quản lý các trang thiết bị phục vụ hoạt động dạy và học môn giáo dục thể chất, hệ thống phòng bộ môn, nhà tập, sân bãi, thư viện
- Nhà trường quy hoạch xây dựng nhà tập thể thao, phòng tập thể thao, đường chạy, phòng học lý thuyết
1.4 Lý luận về quản lý hoạt động Giáo dục thể chất cho học sinh tại trường Trung học cơ sở
1.4.1 Quản lý mục tiêu hoạt động Giáo dục thể chất trong trường Trung học
cơ sở
- Hoạt động GDTC giúp học sinh có cuộc sống khỏe mạnh cả về thể chất và tinh thần, hình thành và hoàn thiện các năng lực thể chất thông qua việc trang bị kiến thức, kĩ năng về bảo vệ và quản lí sức khỏe, thường xuyên tập luyện phù hợp với bản thân, biết cách thích ứng với các điều kiện sống Nâng cao tính tự giác, chủ động rèn luyện, bảo đảm sức khỏe trong học tập và rèn luyện Giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần, từng bước góp phần phát triển toàn diện con người mới
Đối với học sinh trung học cơ sở, môn Giáo dục thể chất giúp học sinh tiếp tục củng cố và phát triển các kĩ năng chăm sóc sức khoẻ, vệ sinh thân thể và vận động cơ bản, thói quen tập luyện và kĩ năng thể dục thể thao; nếp sống lành mạnh, hoà đồng và trách nhiệm; ý thức tự giác, tích cực vận dụng những điều đã học để tham gia các hoạt động thể dục, thể thao; bồi dưỡng năng khiếu thể thao.[22]
Để quản lý được mục tiêu hoạt động GDTC cho học sinh trong nhà trường cần phải thực hiện một số nhiệm vụ sau:
- Quản lý xâ y dự ng việc thực hiện các mục tiêu giáo dục để góp phần hình thành và phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh, trọng tâm là: Trang bị cho học sinh kiến thức và kĩ năng chăm sóc sức khoẻ; kiến thức và kĩ năng vận động; hình thành thói quen tập luyện, khả năng lựa chọn môn thể thao phù hợp để luyện tập nâng cao sức khoẻ, phát triển thể lực và tố chất vận động; trên cơ sở đó giúp học sinh có ý thức, trách nhiệm đối với sức khoẻ của bản thân, gia đình và cộng đồng, thích ứng với
Trang 37các điều kiện sống, sống vui vẻ, hoà đồng với mọi người
- Quản lý việc nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động Giáo dục thể chất trong nhà trường
- Quản lý việc phổ biến, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chăm sóc sức khỏe, kỹ năng vận động, các nội dung liên quan đến hoạt động giáo dục thể chất tại các trường trung học cơ sở
- Quản lý cán bộ, giáo viên, học sinh trong việc thực hiện mục tiêu rèn luyện sức khỏe, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tự giác trong các hoạt động GDTC tại các trường trung học cơ sở
1.4.2 Quản lý thực hiện nội dung, chương trình hoạt động Giáo dục thể chất trong trường Trung học cơ sở
Giáo dục thể chất là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động và sự phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người Các giai đoạn dạy học động tác nhằm hình thành ở người học kỹ năng vận động, khả năng vận dụng vào thực tế Vì vậy, việc tổ chức các hoạt động, trang bị kiến thức và hình thành
kỹ năng vận động (kỹ năng thực hiện bài tập, động tác và trò chơi vận động ) thông qua dạy học động tác và tổ chức các hoạt động, giúp cho học sinh hình thành và phát triển được các tố chất thể lực cơ bản như: nhanh, mạnh, bền, khéo léo, mềm dẻo; khả năng thích ứng của cơ thể, trí nhớ vận động, giúp cho học sinh hình thành và phát triển các tố chất thể lực
Để quản lý triển khai các nội dung chương trình hoạt động GDTC cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
- Quản lý nghiêm việc chấp hành các qui chế giảng dạy và học tập về khối lượng, nội dung chương trình về thời gian quy định cho tiết học, buổi học, tuần học, học
kỳ năm học Luôn luôn cải tiến phương pháp giảng dạy và học tập giúp cho học sinh học một cách tự giác, dễ hiểu, nhớ lâu
- Quản lý việc hướng dẫn học sinh vui chơi giải trí lành mạnh và thoải mái ở trong và ngoài trường bằng nhiều hình thức, trong vui chơi có học tập, song chủ yếu để giải trừ mệt mỏi, gây hưng phấn thần kinh
- Quản lý giáo dục cho học sinh có tình cảm, ý thức, hiểu biết vệ sinh tối thiểu như: Vệ sinh thân thể, vệ sinh đồ dùng cá nhân, vệ sinh hoàn cảnh, vệ sinh học tập, vệ sinh lao động, vệ sinh rèn luyện, vệ sinh tinh thần, vệ sinh phòng bệnh, phòng dịch Cần giáo dục liên tục gắn với thực tế, xây dựng thành thói quen và nếp sống
- Quản lý nghiêm túc việc giảng dạy thể dục, thể thao theo một chương trình hệ thống được thực hiện liên tục trong 4 năm, mỗi năm học gồm 70 tiết trong đó lý thuyết
Trang 38chiếm 4/70 tiết, thực hành chiếm 54/70 tiết và thể thao tự chọn chiếm 12/70 tiết, môn thể thao tự chọn định hướng tùy theo sở thích của học sinh và điều kiện về cơ sở vật chất của nhà trường Chọn trong các môn thi đấu của giải thể thao học sinh (Bóng đá, bóng rổ, bóng chuyền, cầu lông, bóng bàn, bơi lội, ).[21]
Bảng 1.1 Khung phân phối chương trình môn Thể dục
Lớp 6
Cả năm: 35 tuần (70 tiết) Học kì I: 18 tuần (36 tiết) Học kì II: 17 tuần (34 tiết)
Chương 3 Bài thể dục phát triển chung (Bài TD) 6 (0, 5, 1)
Ôn tập, kiểm tra học kì I và II, kiểm tra, đánh giá, xếp loại thể
Chương 1 Nguyên nhân và cách phòng tránh chấn thương khi
hoạt động TDTT
2 (2, 0, 0)
Chương 3 Bài thể dục phát triển chung (Bài TD) 6 (0, 5, 1)
Trang 39Chương 5 Chạy bền 6 (0, 5, 1)
Ôn tập, kiểm tra học kì I và II, kiểm tra, đánh giá, xếp loại thể
Chương 1 Một số phương pháp tập luyện phát triển sức nhanh 2 (2, 0, 0)
Chương 3 Bài thể dục phát triển chung (Bài TD) 6 (0, 5, 1)
Ôn tập, kiểm tra học kì I và II, kiểm tra, đánh giá, xếp loại thể
Trang 40Lớp 9
Cả năm: 35 tuần (70 tiết) Học kì I: 18 tuần (36 tiết) Học kì II: 17 tuần (34 tiết)
Chương 1 Một số phương pháp tập luyện phát triển sức bền 2 (2, 0, 0)
Chương 3 Bài thể dục phát triển chung (Bài TD) 6 (0, 5, 1)
Ôn tập, kiểm tra học kì I và II, kiểm tra, đánh giá, xếp loại thể
- Nhiệm vụ của nhà quản lý là:
+ Quản lý giờ lên lớp
+ Quản lý việc tổ chức thao giảng, dự giờ