Văn hoá kinh doanh các nước Scandinavia và cơ hội giao thương của Việt Nam
Trang 13 HÔI GIAO THƯƠNG CỦA VẺ ĩ NAM
Trang 2B ộ G I Á O D Ụ C V À Đ À O T Ạ O
T R Ư Ờ N G Đ Ạ I H Ọ C NGOẠI T H Ư Ơ N G
Khoa Kinh tê Ngoại thương
* —
TOREIGN TR<1DE UNIVEĨl&iry
Đề tài:
VĂN HOA KINH DOANH CÁC NƯỚC ỔCANDINAVIA
VÀ CO HỘI GIAO THƯƠNG CỦA VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn : PGS TS Phạm Duy Liên
Sinh viên thực hiện : Vương Nữ Ngọc Quyên Lớp : Anh l i - K40C - KTNT
Trang 3MỤC LỤC
N ộ i d u n g T r u n g Mục lục
Lời nói đầu Ì
Chương 1: TỔNG QUAN VĂN HOA KINH DOANH 3
1.1 Sự hình thành quan niệm ván hoa kinh doanh 3
1.2 Khái niệm vãn hoa kinh doanh 3
1.2.1 Vãn hoa 3
1.2.2 Kinh doanh 5
1.2.3 Mối quan hệ giữa vãn hoa và kinh doanh 8
1.2.4 Vãn hoa kinh doanh 13
1.3 Mối quan hệ giữa vãn hoa kinh doanh và cơ hội giao thương giữa các quóc gia 21
1.3.1 Sự tương đồng -1
1.3.2 Sự khác biệt 22
Chương 2: VĂN HOA KINH DOANH CÁC NƯỚC SCANDINAVIA 24
2.1 Giới thiệu các nước Scandinavia 24
2.1.1 Giới thiệu chung các nước Scandinavia 24
2.1.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội các nước Scandinavìa 27
2.2 Đặc trưng của vãn ho;í kinh doanh các nước Scandinavia 34
2.2.1 Vãn hoa doanh nghiệp 35
2.2.2 Ván hoa kinh doanh trong Marketing 41
2.2.3 Vãn hoa đàm phán 44
2.2.4 Vãn hoa tiêu dùng 59
Trang 4doanh các nước phương tày và phương đỏng
2.3.1 So với vãn hoa k i n h doanh các nước phương Tẫ^^~ 7
2.3.1 So với vãn hoa k i n h doanh các nước phương
Chương 3: cơ HỘI GIAO THƯƠNG CỦA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC
S C A N D I N A V I A
3.1 T h ự c t r ạ n g q u a n hệ giao thương của V i ệ t N a m với các nước Scádinavia 3.1.1 Thực trạng quan hệ giao thương của Việt N a m và các nước Scandinavia 3.1.2 Thực trạng quan hệ giao thương của Việt Nam với lừng nước Seandinavia 3.1.3 Gác yếu tố cản trờ quan hệ giao thương Việt Nam và các nước Scandinãvia 3.2 C ơ hội giao thương của V i ệ t N a m với các nước Scadinavia
Trang 5LÒI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
D o yêu cầu phát triển, V i ệ t N a m luôn phải c h ủ động đẩy mạnh h ộ i nhập
k i n h tế quốc t ế và tìm k i ế m thị trường m ớ i V à trong b ố i cảnh n ề n k i n h tế t h ố g i ớ i hiện nay, cơ h ộ i k i n h doanh mặc dù được m ờ rộng nhưng n ế u không biết tận dọng
và c h ủ động tạo ra thì doanh n g h i ệ p V i ệ t N a m cũng sẽ không t h ể đi t ớ i thành cóng T r o n g các y ế u t ố đóng góp vào sự thành công cùa các doanh n g h i ệ p k i n h doanh quốc tế, y ế u t ố văn h o a k i n h doanh đang thế hiện rõ vai trò hết sức quan trọng của mình
T u y nhiên, v ấ n đề văn h o a k i n h doanh ở V i ệ t N a m v ẫ n chưa được quan tâm đúng mức, ờ cả hai phương diện là hiểu biết văn hoa k i n h doanh của đôi lác (đặc biệt là các thị trường m ớ i ) và xây dựng n ề n văn hoa k i n h doanh của chính V i ệ t Nam
T r o n g các thị trường m ớ i m à V i ệ t N a m đang tìm cách thâm nhập có thị trường các nước Scanđinavia, song hiểu biết của doanh n g h i ệ p V i ệ t N a m về các nước Scandinavia nói chung và văn hoa k i n h doanh của k h u vực này nói riêng còn rất khiêm tốn
V ớ i những lý d o trên, người viết đã lựa c h ọ n đề tài: " V ă n hoa k i n h doanh các nước Scandinavia và cơ h ộ i giao thương của V i ệ t N a m " c h o bài khoa luận t ố t nghiệp của mình để đóng góp vào công cuộc thâm nhập thị trường Scanđinavia của các doanh nghiệp V i ệ t Nam
2 Mọc đích và phạm vi nghiên cứu
Vì bàn thân khái n i ệ m văn hoa k i n h doanh còn gây n h i ề u tranh cãi không chỉ ở V i ệ t N a m m à trên cả t h ế g i ớ i và các nước Scandinavia là thị trường x a xôi, đang trong giai đoạn thăm dò của V i ệ t Nam; nên m ọ c đích c ủ a bài k h o a luận là nêu ra quan điểm c ủ a người viết về khái n i ệ m văn hoa k i n h doanh, và tìm h i ể u văn hoa k i n h doanh của các nước Scandinavia ở m ứ c độ c h u n g nhất v ớ i những đặc
Trang 6trưng nổi bật của vãn hoa kinh doanh khu vực này Và với những hiểu biết của mình, người viết muốn đánh giá cơ hội giao thương của Việt Nam với khu vực này, cũng như đề xuất một số giải pháp nhằm mờ rộng quan hệ giao thương của hai bên
3 Kết cấu của khoa luận
Với mục đích và phạm vi nghiên cịu (rên, bài khoa luận được chia thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan vãn hoa kinh doanh
Chương 2: Văn hoa kinh doanh các nước Scanđinavia
Chương 3: Cơ hội giao thương của Việt Nam với các nước Scandinavia
4 Phương pháp nghiên cịu
Để thực hiện khoa luận, người viết đã thực hiện phối hợp nhiều phương pháp nghiên cịu Trong chương ì và li, người viết tiến hành tổng hợp và phân tích các tài liệu sách, báo trong và ngoài nước về văn hoa kinh doanh và văn hoa kinh doanh các nước Scandinavia, nhận xét và so sánh văn hoa kinh doanh các nước Scandinavia với các khu vực, quốc gia khác Từ đó, trong chương IU người viết đưa ra những so sánh, đánh giá về cơ hội giao thương của Việt Nam với các nước Scandinavia
Có thể nói đây là một đề tài khá phịc tạp, cộng thêm những hạn chế nhất định về mặt kiến thịc và thời gian của người viết nên bài khoa luận không tránh khỏi nhiều thiêu sót Người viết mong nhận được những lời nhận xét, góp ý từ phía thầy cô, bạn bè để có cơ hội hoàn thiện nhận thịc về vấn đề
Cuối cùng, người viết xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS TS Phạm Duy Liên, thầy giáo đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho người viết hoàn thành bài khoa luận tốt nghiệp này
Hà nội, tháng 11 năm 2005 Vương Nữ Ngọc Quyên
Trang 7Chương Ì
TỔNG QUAN VĂN HOA KINH DOANH
1.1 sự HÌNH THÀNH QUAN NIỆM VĂN HOA KINH DOANH
Mờ đẩu cho những nghiên cứu về văn hoa trong kinh doanh là công trình
nghiên cứu về môi quan hê giữa văn hoa và kinh doanh quốc tế mang tên "Văn
hoa và tố chức - phấn mềm cùa ý thức" ("Culture and Organiiations - The software of mind"), ra đời vào thập kỷ 60 của thế kỷ X X do Hoisteđc xuất bản
Vào thời gian đó, vấn đề này được giới nghiên cứu đề cập tới qua những cách tiếp cận như "kinh doanh có văn hoa" hay "văn hoa trong kinh doanh " Mãi cho tới những năm 90 cùa thế kỷ XX, thuật ngữ "văn hoa kinh doanh" ("business culture") mới xuất hiện Sự ra đời của thuật ngữ "văn hoa kinh doanh"
đánh dấu sự thay đổi sâu sạc về các yếu tố văn hoa trong mọi mặt hoạt động của một doanh nghiệp nói riêng và toàn nền kinh tế nói chung
Và trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay, "văn hoa kinh doanh" càng được
quan lâm nhiều hơn, không chỉ trong giới nghiên cứu m à trong cà giới kinh doanh
và người tiêu dùng
1.2 KHÁI NIỆM V Ă N HOA KINH DOANH
Để có cái nhìn đúng đạn về thuật ngữ "văn hoa kinh doanh ", trước hết chúng
ta cần tìm hiểu "văn hoa " và "kinh doanh " là gì
1.2.1 Văn hoa
1.2.1.1 Định nghĩa
Tác phẩm "Tính xã hội của văn hoa" của A.Môlô - một học giả người Pháp
đã đưa ra thống kê sơ bộ về định nghĩa văn hoa, theo đó có hơn 250 định nghĩa
"văn hoa" trong khoảng thời gian từ khi thuật ngữ này xuất hiện vào cuối thế kỷ
X V I I I cho tới nửa cuối thế kỷ XX Những định nghĩa được thống kẽ có cách hiểu
Trang 8rất khác nhau về vấn đề này do nghiên cứu của các tác giả có những mục đích, góc
độ nhìn nhận khác nhau
Xét về mặt ngôn từ, văn hoa có nguồn gốc từ thuật ngữ Latinh "Cultus" nghĩa
là "trồng trọt", gồm hai mặt là văn hoa vật chất - trổng nên cây trái để giúp con
người tồn tại và văn hoa tinh thần - cải tạo con người sống tốt đẫp hơn
Có những định nghía chi có thổ coi là hướng dẫn về một cách tiếp cận vì còn rất chung chung, chì mang tính định hướng như: triết gia người Đức Wilhem
Ostwald định nghĩa: "Chúng ta gọi những gì phím biệt giữa con người với dộng
vật là văn hoa" [10,45], E.Heriot nhận định: "Cái gì còn lại khi lất cả những cái khác bị quên lãng đi - đó là văn hoa" [2,9] Cũng mang tính khái quát nhưng đã
cụ thể hơn là định nghĩa văn hoa trong triết học Mác - Lênin: "Văn hoa là tổng
hợp các giá trị vật chất và tinh thán do con người sáng tạo ra, là phương thức và phương pháp mà con người sủ dụng nhâm cải lạo tự nhiên, xã hội và giáo dục con người" [8,23]
Một số tác giả do mục đích nghiên cứu nên khi định nghĩa vãn hoa chỉ đề cập tới mặt giá trị tinh thần m à đã bỏ qua giá trị vật chất - một phần quan trọng của
văn hoa Trong lĩnh vực lâm lý học, văn hoa được định nghĩa là "hành vi, hành
động, thái độ của con người" Nhà nhân chủng học E.B.Tylor định nghĩa: "Văn hoa là một tổng thề phức tạp bao gồm cả kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và tất cả những khả năng, thói quen mà con người đạt được với tu cách là thành viên mội xã hội" [19,6] Những định nghĩa này chỉ có giá trị
trong những nghiên cứu cụ thể của các tác giả
Tổng giám đốc UNESCO - Frederico Mayor định nghĩa: "Văn hoa bao gồm
tất cả những gì làm cho dân tộc nảy khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động" [20,7]
Về bình diện kinh tế, chuyên gia trong lĩnh vực giao lưu văn hoa và quản lý Geert Hostede định nghĩa: "Văn hoa là sự chương trình hoa chung của tinh thẩn,
Trang 9giúp phân biệt thành viên của nhóm người này với thành viên của nhóm người khác, theo nghĩa này, văn hoa bao gồm hệ thống các chuẩn mực, và các chuẩn mực là mội trong số các nền tảng của văn hoa" [23,67]
Hay Czinkota coi: "Văn hoa là hệ thống những cách ứng xử đặc mmg cho
các thành viên của bất kỳ một xã hội nào Hệ thống này bao gồm mịi vấn đề, lừ cách nghĩ, nói, làm, thói quen, ngôn ngữ, sản phẩm vật chút và những lình cám, quan điếm chung của các thành viên đó" [21,203]
Có thể thấy các định nghĩa trên đây có cùng quan điểm cho rằng văn hóa là các hành vi, tư duy, tình cảm, các sản phẩm vật chất của các cộng đồng người riêng biệt, vốn được đúc kết, lan truyền và chia sẻ từ đời này sang đời khác, được truyền bá từ nơi này sang nơi khác Hiểu đúng về khái niệm "văn hoa " và nội hàm của nó là cơ sặ quan trọng để đi vào nghiên cứu khái niệm "văn hoa kinh
doanh "•
1.2.1.2 Đặc điềm
Vãn hoa mang các đặc điểm sau: mang tính tập quán, có tính cộng đổng, mang tính dân tộc, có thể học hỏi được, mang tính chủ quan, mang tính khách quan, mang tính lịch sử, mang tính kế thừa và mang tính tiến hoa
Các đặc điểm của vãn hoa sẽ được nghiên cứu kỹ hơn trong phần nghiên cứu
về đặc điểm của văn hoa kinh doanh
1.2.2 Kinh doanh
1.2.2.1 Khái niệm
Trên thế giới cũng như ặ Việt Nam có rất nhiều định nghĩa về "kinh doanh " Theo Collins: "Kinh doanh là những hành vi có liên quan đến sản xuất, mua bán hàng hoa hoặc dịch vụ " [30,368]
Chỉ trong các cuốn từ điển tiếng Việt của Việt Nam đã có nhiều cách định nghĩa. "Từ điển tiếng Việt" do Văn Tân chủ biên định nghĩa: "Kinh doanh tức là
dùng công sức, tiên tài mà tố chức các hoạt động để kiếm lời như buôn bán, mở
Trang 10nhà máy" [17,9] "Từ điển tiếng Việt" do Hoàng Phê chủ biên thì cho rằng: "Kinh doanh là tổ chức việc sản xuất, buôn bán, dịch vụ nhằm mục đích sinh lời"
[18,529] "Từ điển Từ và ngữ Việt Nam" cùa Nguyễn Lân giải thích: "kinh doanh
là tổ chức hoại động về mặt kinh tế dề sinh lời" [17,9]
Học giả Đ ỗ Minh Cương trong cuốn "Văn hoa kinh doanh và triết lý kinh doanh" đã đưa ra một số khái niệm:
"Kinh doanh là mật dạng thức cùa kinh tế với mục đích chính là dại được lợi nhuận cho chủ thố",
"Kình doanh là tất cả những hoại động có mục tiêu cơ bản là đạt được lợi nhuận cho chủ thố",
"Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc lất cả các công đoạn của quá trình đáu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị /rường nhầm mục đích sinh lời" [17,9]
Luật Doanh nghiệp Việt Nam 1999 cũng có định nghĩa về kinh doanh: "Kinh
doanh là việc thực hiện một, mội sò hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đáu
tư, tù sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ímg dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi" [2,25]
Trong các định nghĩa trên đây, kinh doanh đểu được thống nhất ỉ điểm kinh
doanh là hành vi gắn liền với sàn xuất, mua bán hăng hoa hoặc dịch vụ với mục đích chính là đố thu lợi nhuận
Tim hiểu đặc điểm của "kinh doanh" sẽ giúp chúng ta có cái nhìn rõ hơn về khái niệm này
Trang 11tạo ra sản phẩm thoa m ã n n h u cầu cùa khách hàng
3 Đ ố i tượng c ủ a k i n h doanh có thể là k i n h doanh thương m ạ i , k i n h doanh sản xuất, k i n h doanh dịch vụ
4 M ụ c đích chính của k i n h doanh là đ e m l ạ i l ợ i nhuận cho c h ủ t h ổ k i n h doanh
5 Nguyên tắc c ủ a k i n h doanh là đôi bên c h ủ t h ể và khách thể k i n h doanh cùng có l ợ i
1.2.2.3 Kinh doanh quốc tế
T r o n g n ề n k i n h t ế toàn cầu hiện nay, m ọ i doanh n g h i ệ p đểu phải vươn r a thị trướng quốc tế và k h i đó, hoạt động k i n h doanh vượt ra k h ỏ i biên giới m ộ t q u ố c gia để trở thành hoạt động k i n h doanh quốc tế
K i n h d o a n h quốc t ế là việc thực hiện một, m ộ t số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu t h ụ sản p h ẩ m hoặc cung ứng địch vụ trên thị trướng nhằm m ụ c đích sinh l ợ i , được tiến hành giữa doanh nghiệp trong nước với các đối tác nước ngoài
K i n h doanh q u ố c tế có các đặc trưng khác v ớ i k i n h doanh trong biên g i ớ i m ộ t quốc gia, đó là:
1 C h ủ t h ể và khách t h ể của k i n h doanh q u ố c t ế có quốc tịch khác nhau
2 C ó sự d i c h u y ể n tài sản qua biên giới q u ố c gia
3 K i n h doanh q u ố c tế hoạt động trong môi trướng phức tạp
N h ư đã trình bày, h ầ u h ế t hoạt động k i n h doanh của các doanh nghiệp ngày nay là k i n h doanh q u ố c tế, và m ụ c đích c ủ a k h o a luận cũng tập trung vào nghiên cứu văn hoa k i n h doanh trong k i n h doanh q u ố c tế Vì vây trong p h ạ m v i k h o a luận, ngưới viết sẽ sử dụng khái n i ệ m " k i n h d o a n h " để nói t ớ i k i n h doanh q u ố c t ế
Trang 121.2.3.2 Văn hoa là một ngành kinh doanh
Ngày nay, đời sống con người được cải thiện, văn hoa ngày càng được coi trọng và trở thành một nhu cầu thưởng thức, tìm hiểu; do đó văn hoa đã trỏ thành một đối tượng kinh doanh, giúp chủ thể kinh doanh vừa thu lợi nhuận, vừa truyền
bá các giá trị văn hoa, truyền thống Kinh doanh "trà đớo" của Nhật Bản hay kinh doanh "nhớc cung đình Huế" cùa Việt Nam là những hoớt động kinh doanh vãn hoa
Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra đối với hoớt động kinh doanh văn hoa là không làm mất đi những nét riêng biệt, bàn sắc văn hoa để tớo nên sự phát triển bền vững trong tương lai
1.2.3.3 Văn hoa định hình tư duy kinh doanh
Tư duy kinh doanh là yếu tô đầu tiên trong quá trình kinh doanh và cũng là yếu tố quyết định cách làm của chù thể kinh doanh Văn hoa là một trong các yếu
tố tác động tới tư duy kinh doanh, làm cho cách tư duy của các chú thể kinh doanh trong cùng một nền vãn hoa kinh doanh giống nhau đồng thời phân biệt tư duy kinh doanh của các chù thể kinh doanh trong những nền văn hoa khác nhau
Ví dụ như Khổng giáo Trung Quốc xưa kia cho rằng: "Vi nhân bãi phú, vi
phú bất nhân " ("Nhân từ thì không giàu m à đã giàu thì không thể nhân từ") Như
vậy, trong thời kỳ này, kinh doanh không được khuyến khích, vì vậy, thương nhân không có động lực mớnh mẽ để làm giàu
Hay các giá trị trong kinh doanh của đớo Khổng là: "lòng trung thành, tương
thăn tương ái và sự trung thực " ảnh hưởng tới cách quan hệ cùa các thành viên
trong hoớt động kinh doanh Theo đó, mâu thuẫn trong công việc được giảm bớt, thiết lập mối quan hệ hợp tác giữa công nhân với nhau, giữa chủ và thợ, giữa các công ty
Hay nghiên cứu của Hoístede đã chỉ ra ảnh hưởng của vãn hoa "chấp nhận
rủi ro trong kinh doanh " tới tư duy kinh doanh của các chủ thể Tới những quốc
gia có chỉ số cao như các quốc gia thuộc nền văn hoa Latinh (châu Âu, châu Mỹ)
Trang 13hay khái niệm "văn hoa kinh doanh" để nói tới văn hoa kinh doanh trong kinh doanh quốc tế
Trong thuật ngữ "văn hoa kinh doanh" có sự kết hợp giữa văn hoa và kinh doanh, vậy mối quan hệ đó là như thế nào?
1.2.3 M ố i quan hệ giữa văn hoa và kinh doanh
1.2.3.1 "Kinh doanh có văn hoa" tạo cơ sở cho sự phát triển bền vững
Mục đích của hoạt động kinh doanh là thu lợi nhuận, như C.Mác nói: "với
một lợi nhuận thích đáng thì tư bản trở nên can đảm; được đảm bảo 10% lợi nhuận thì người ta có thề dùng tư bản vào đâu cũng được; được 20% thì nó hoạt bát hẳn lên; được 50% thì nó trở nên thật sự táo bạo; được 100% thì nó chà đạp lên mọi luật lệ của loài người; được 300% thì không còn tội ác nào nó không dám phạm, dù có nguy cơ bị treo cễ" [17,11] Như vậy, với bản chất vì lợi nhuận cùa
mình, hoạt động kinh doanh nếu không có định hướng sẽ rất dễ đi ngược lại với những giá trị chung được mổi người thừa nhận
Theo ông F.Mayor - Tổng giám đốc UNESCO, "khi các mục tiêu tăng
trưởng kinh tế được đại ra mà tách rời mói trường văn hoa thì kết quả thu được sẽ rất khập khiễng, mất cân đối cả vê kinh tế lẩn văn hoa, đễng thời khả năng sáng lạo của mối dân tộc sẽ bị suy yếu đi rất nhiêu" [17,11]
Nhân tố định hướng, dẫn đường cho hoạt động kinh doanh chính là văn hoa giá trị chung của cộng đổng
-Thực tiễn phát triển của các quốc gia cho thấy các nhân tố văn hoa truyền thống có tác động tích cực tới kinh doanh, và ngược lại, kinh doanh có phát triển cũng tạo nên tiền đề vật chất hỗ trợ phát triển các hoạt động văn hoa hay có những tác động ngược trở lại văn hoa, từ đó quốc gia đạt được sự phát triển năng động, hiệu quả, đạt chất lượng cao trong mổi mặt của đời sống
Trang 14(cao nhất là Hylạp với chì số 110/110), các nhà kinh doanh ưa thích sự thay đổi và dám mạo hiểm trong kinh doanh Ngược lại, các quốc gia châu Á lại có chỉ số thấp (Nhật Bản là 92/110, Hàn Quốc là 85/110, Đài Loan là 69/110, Singapore có chỉ số thấp nhất là 8/110), do đó, các thương nhân châu Á thích những lĩnh vực kinh doanh ổn định, ít mạo hiểm
1.2.3.4 Văn hoa hướng dẫn quá trình giao tiếp trong kinh doanh quốc tế
Các chủ thể kinh doanh mang văn hoa khác nhau có cách giao tiếp khác nhau
Giao liếp bằng ngôn ngữ có lời
Trong giao tiếp, phương tiện được sử dỏng nhiều nhất là ngôn ngữ có lời (vcrbal language), dưới cả hình thức nói và viết Ngôn ngữ có lời tỏ ra rõ ràng, cỏ thể, phổ biến hơn so với ngôn ngữ phi ngôn từ, nhưng đo văn hóa khác nhau nên cũng có thể gây ra những hiểu nhầm
Trường hợp của Hãng Electrolux là một ví dỏ Lời quảng cáo: "Nolhìng
sucks like an Electrolux" nếu được hiểu theo đúng ý định của nhà kinh doanh sẽ
là: "Không có máy hút bụi nào tối bằng Electrolux", tuy nhiên ở Mỹ lại được hiểu
là: "Không cõng ly nào tồi tệ nhưElectrolux"
Hay trong đàm phán, trong khi người Mỹ nói "yes" với ý là "đồng ý" thì người Nhật lại dùng khi muốn nói "tói đã hiểu " Sự khác biệt này xuất phát từ
khác biệt trong văn hoa đàm phán cùa doanh nhân Mỹ - thẳng thắn, đi thẳng vào vấn đề, trong khi doanh nhân Nhật Bản lại tỏ ra dè dặt, cẩn trọng trong việc đưa ra các quyết định
Giao tiếp bằng ngón ngữ phi ngôn từ
Đối với ngôn ngữ có lời, có thể có những chuẩn mực chung trong cách sư dung, nhưng với ngôn ngữ phi ngôn từ (bao gồm điệu bộ, cử chỉ, tư thế, nét mặt) thì rất đa dạng và có khác biệt lớn giữa những chù thể kinh doanh có văn hoa khác nhau
Trang 15Hành động tặng quà trong kinh doanh được coi là một phần của ngôn ngữ
không lời Một quà tặng đối với chủ thể kinh doanh này có thể thể hiện lời cảm ơn nhưng đối với chủ thể kinh doanh khác lại có thể gây bối rối, có khi là xúc phàm tới đối tác Ví dụ như quà tặng một thương nhân Pháp, hay Thái Lan không nên là một chiếc dao vì văn hoa các quốc gia này quan niệm dao có thể cắt đứt quan hộ hữu nghọ giữa các bên
1.2.3.5 Văn hoa quyết định phương thức quản trị trong kinh (loanh quốc tê
Văn hoa quyết đọnh cách các doanh nhân tổ chức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình
Truyền thống tinh thần đoàn kết Nhật tạo cho các công ty Nhật một không khí làm việc như trong gia đình, các thành viên gắn bó với nhau chặt chẽ Lãnh đạo của công ty luôn quan tâm đến các thành viên, thậm chí ngay cả trong những chuyện riêng tư cùa họ như cưới xin, ma chay, ốm đau, sinh con, cũng đều được lãnh đạo thăm hỏi chu đáo Vì làm việc suốt đời cho công ty nên công nhân và người lao động sẽ được tạo điều kiện để học hỏi và đào tạo từ nguồn vốn của công
ty Nâng cao năng suất, chất lượng và đào tạo con người được coi là hai đặc trưng
cơ bản của văn hoa doanh nghiệp Nhật Bàn
Hay văn hoa trong phân cấp quyền lực cao hay thấp ờ các nền văn hoa khác nhau sẽ hình thành nên những cách lựa chọn m ô hình kinh doanh theo chiều đọc hay chiều ngang Theo nghiên cứu cùa Hofstede, những nước có chỉ số phân cấp quyền lực cao là các nước châu Á và các nước Nam Mỹ, trong đó cao nhất là Malaysia (104/110), Panama (95/110), Philippines (94/110) Tại các nước này, các doanh nghiệp thường được tổ chức theo m ó hình dọc, theo đó có một người lãnh đạo cao nhất đưa ra các mệnh lệnh, và bên dưới nhân viên gồm nhiều cấp bậc khác nhau chia theo các tầng lớp Còn tại các nước có chỉ số phân cấp quyền lực thấp như Áo (11/100), Đan Mạch (18/100), Phần Lan (33/100), Hà Lan (22/100), Australia (36/100), Mỹ (40/100) m ô hình tổ chức theo chiều ngang được sử
Trang 16dụng nhiễu hơn - cách tổ chức có nhiều giám đốc, mỗi nguôi chịu trách nhiệm về một lĩnh vực
Phương thức quàn trị của doanh nghiệp còn chịu ảnh hưởng của văn hoa trong việc nhìn nhận vai trò của tính sáng tạo cá nhân trong kinh doanh Tại các nước
mà cá tính, tính sáng tạo của cá nhân đưỉc khuyến khích (quốc gia có chì số cá nhân cao) như Australia (90/100), Mỹ (91/100), Đan Mạch (74/100) , doanh nghiệp có cách quản lý phát huy tính sáng tạo, độc lập, cá tính riêng của từng cá nhân Ngưỉc lại, ở Malaysia với chỉ sô cá nhân ở mức thấp đạt 26/100, Panama (11/100), Philippincs (32/100) doanh nghiệp không khuyến khích vai trò cá nhân, mọi người làm việc đều vì lỉi ích tập thể
1.2.3.6 Hướng dẫn tiêu dùng trong kinh doanh quốc tế
ỉ Văn hoa quyết định mẫu mã sản phẩm
Có thể một sản phẩm bán chạy ờ một thị trường nhất định, song lại không thành công ở một thị trường khác Nguyên nhàn thường là nhà sản xuất đã không thực sự hiểu văn hoa của thị trường mới xâm nhập Điển hình cho sai lầm này là trường hỉp của nhà sản xuất búp bê Barbie Trong một thời gian dài, húp bê Barbie
- với nguyên mỉu thành công ờ Mỹ đã đưỉc tung ra thị trường Nhật Bản nhưng đã hoàn toàn thất bại Vấn đề là ở chỗ quan điểm của trẻ em Nhật Bản không chấp nhận mẫu m ã của búp bẽ Barbie với cặp mắt xanh, đôi chân dài phi thực tế Chì khi tiến hành những thay đổi về khác biệt giữa văn hoa Nhật Bản và mẫu m ã sản phẩm, nhà sản xuất mới có đưỉc thành công to lớn
ĩ Văn hoa ảnh hưởng đến giá cả sản phẩm
Giá tiền m à khách hàng trả cho một sản phẩm không chỉ dựa vào giá trị thực
sự của nó mà còn phụ thuộc vào giá trị đưỉc xã hội đó nhận thức Ví dụ như ờ Việt Nam, hàng hoa nhập khẩu từ các nước phương Tây luôn đưỉc đánh giá cao hơn hàng nhập khẩu từ các nước trong khu vực, đặc biệt hàng hoa nhập khẩu từ Trung Quốc luôn bị coi là kém chất lưỉng Do đó, khi đưa sản phẩm vào một thị trường, việc xác định giá cả còn cần có sự nghiên cứu về văn hoa của thị trường đó
Trang 17Như vậy, văn hoa và kinh doanh có tác động qua lại lẫn nhau: kinh doanh tạo
ra cơ sở vật chất nâng cao đời sống văn hoa đồng thời có những tác động trực tiếp
lên văn hoa; ngược lại văn hoa có tính chất quyết định tới mọi hoạt động kinh
doanh Hiểu được mối quan hủ biủn chứng này, doanh nhân có thể áp dụng văn
hoa vào hoạt động kinh doanh tạo nên sự phát triển bền vững, và cũng hưứn» hoạt
động kinh doanh phù hợp với vãn hoa chung của cộng đồng
1.2.4 Vãn hoa kinh doanh
1.2.4.1 Khái niệm
Hiủn nay, trên thế giới cũng như ở Viủt Nam, văn hoa kinh doanh vẫn được
hiểu theo nhiều cách khác nhau, tuy nhiên có thể thấy các cách hiểu này đi theo
hai xu hướng
/ Xu hướng thứ nhất
Xu hướng thứ nhất coi chủ thể của văn hoa kinh doanh là các doanh nghiủp,
do đó vãn hoa kinh doanh (business culture), văn hoa doanh nghiủp (corporatc
culture) và văn hoa tổ chức (organizational culture) được hiểu với nghĩa như nhau
Ví dụ cho cách hiểu này là ông Georges de Saite Marie - chuyên gia người
Pháp về doanh nghiủp vừa và nhỏ với định nghĩa: "Văn hoa doanh nghiệp là tổng
hợp các giá trị, các biểu tượng, huyên thoại, nghi thức, các điều cấm ky, các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp" [2,50]
Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO - Intemational Labour Organization) định
nghía: "Văn hoa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn,
thói quen, truyền thễng, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng la là duy nhất đễi với một tổ chức đã biết" [2,50]
Và định nghĩa phổ biến nhất là định nghĩa của Edgar H.Schein - chuyên gia
nghiên cứu các tổ chức: "Văn hoa doanh nghiệp (hay văn hoa công ty) là tổng
hợp những quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được trong quá
Trang 18trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung
quanh"[2,50]
Có thể thấy theo cách hiểu này thì các nhà nghiên cứu coi những người trong
doanh nghiệp là một cộng đồng riêng biệt, được phân biệt bằng "mội lổng thể
những hệ thống biểu tnmg (ký hiệu) chi phối cách ihig xử vá sự giao liếp trong một cộng đồng, khiến cộng đồng ấy có đặc thù riêng" [2,50]
Xu hướng này được chấp nhận nhiều trong giới nghiên cứu quản trị kinh
doanh Tuy nhiên cách hiểu này chỉ tập trung vào chủ thể kinh doanh m à không đề
cập tới nhiều đụi tượng khác cũng tham gia vào hoạt động kinh doanh, đó là Nhà
nước, người tiêu dùng, đụi tác, Hạn chế này đã được khắc phục trong xu hướng thứ hai
2 Xu hướng thứ hai
Những người theo xu hướng thứ hai coi kinh doanh là hoạt động có liên quan
đến mọi thành viên trong xã hội, do đó, vãn hoa doanh nghiệp theo cách hiếu trên
chỉ là bộ phận của vãn hoa kinh doanh Xu hướng này ngày càng được chấp nhận
nhiều hơn
Viện kinh doanh Nhật Bản Hoa Kỳ (Japan America Business Academy
-JABA) đã đưa ra định nghĩa: "Văn hoa kinh doanh có thể được đỉnh nghĩa như
ảnh hường của những mô hình văn hoa của một xã hội đến những thiết chế và thông lệ kinh doanh của xã hội đó " [2,51 ]
Cũng theo xu hướng này, Vern Terspstra và Kennesh David - hai giáo sư
trường Đại học Michigan, Hoa Kỳ định nghĩa: "Văn hoa kinh doanh bao gồm
những nguyên tắc điều chỉnh việc kinh doanh, việc ấn đỉnh ranh giới giữa hành vi cạnh tranh và cách ứng xử vó đạo đức, những quy tắc phải tuân thủ irong các thoa thuận kình doanh " [2,51]
Giới nghiên cứu Việt Nam đã có nhiều bài phát biểu, tham luận đề cập tói văn hoa và kinh doanh nhưng thuật ngữ "vãn hoa kinh doanh" ít được sử dụng m à
chủ yếu là những cách nói mang tính cụ thể hơn như: "văn hoa trong kinh
Trang 19doanh", hay "kinh doanh có văn hoa" Có thể thấy ngay giới nghiên cứu vẫn
chưa mạnh dạn trong việc sử dụng thuật ngữ còn chưa thống nhất "văn hoa kinh doanh" này
GS TS Nguyễn Duy Quý, trong bài phát biểu tại Hội thào khu vực Châu Á
-Thái Bình Dương về chủ đề "Văn hoa và kinh doanh " đã viết: "Trong kinh doanh
đã có mội nền văn hoa kinh doanh thể hiện ở sự vận dựng khoa học và kỹ thuật, lổ chức và quản lý kinh doanh, à những cách thức giao liếp và ứng xử trong kinh doanh thương mại" [2,52]
Kổ sư Hà Trọng Dũng - giám đốc chương trình thiết bị đổ chơi trẻ em
"Protcct 2000" cho rằng: "Bản thân hoạt động kinh doanh, dưới mọi hình thức,
cũng là mội hoạt động văn hoa " [2,52]
Và GS TS Đ ỗ Huy định nghía: "Văn hoa kinh doanh là một bộ phận cấu
thành nên văn hoa chung, phản ánh trình độ cợa con người trong lĩnh vực kinh doanh" [2,52]
Những khái niệm trẽn đày chỉ có thể coi là những định hướng tiếp cận cho người nghiên cứu vì những khái niệm này còn rất chung chung, không làm rõ nội dung của văn hoa kinh doanh
GS Hoàng Trinh đã đưa ra khái niệm văn hoa kinh doanh cụ thể hơn: "Văn
hoa kinh doanh (hay kinh doanh có văn hoa) có nghĩa là hoại động kinh tế có hiệu quả, đạt năng suất, số lượng, giá trị cao, giá thành thấp, sản phẩm đạt chất lượng cao, tiêu thụ được sản phẩm trên thị trường trong nước và ngoài nước, làm đẩy đợ nghĩa vụ với Nhà nước" [17,17] Định nghĩa này đã có mục đích làm rõ
nội hàm của vãn hoa kinh doanh, nhưng lại coi văn hoa kinh doanh là kinh doanh
có văn hoa, do đó đối tượng đề cập tới không phải là văn hoa kinh doanh
Cũng nhằm làm rõ khái niệm văn hoa kinh doanh, trong Hội thảo khu vực
Châu Á Thái Bình Dương về chủ đề " Văn hoa vã kình doanh", GS Phạm Xuân Nam định nghĩa: "Văn hoa kinh doanh là phương pháp kinh doanh bằng cách
Trang 20nắm bắt thông tin, ra sức cài tiến kỹ thuật, công nghệ, tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu, quan lâm thích đáng đến đời sống vật chất và tinh thẩn của người lao động, bồi dưỡng và phá! huy tiềm năng sáng tạo của họ trong việc tạo ra những hàng
hoa và dẹch vụ có chất lượng tốt, hình thức đẹp, giá cà hợp lý, đáp ứng được nhu cầu thẹ trường, giữ được chữ tín với người tiêu dùng trong và ngoài nước" [2,53]
Định nghĩa này cũng giống như định nghĩa của GS Hoàng Trinh, do đó vẫn chưa
thuyết phục những người quan tâm tới văn hoa kinh doanh
TS Nguyễn Hoàng Ánh đã đưa ra khái niệm văn hoa kinh doanh trong luận
án tiến sỹ 2004 của mình như sau: "Văn hoa kinh doanh là sự thế hiện phong cách
kinh doanh của mội dân tộc Nó bao gồm các nhân tố rút ra lừ một dân tộc, được
cúc thành viên trong xã hội vận dụng vào hoạt động kinh doanh của mình và cả nhũng giá trẹ, triết lý mà các thành viên này lạo ra trong quá trình kinh doanh "
[2,54] Định nghĩa này ngay trong câu mở đầu đã coi chủ thể của văn hoa kinh
doanh là mội dân tộc, như vậy tác giả có sồ phân loại văn hoa kinh doanh theo cấp
của chủ thể vì văn hoa kinh doanh nếu phân theo cấp chủ thể có thế bao gồm vãn
hoa kinh doanh của doanh nghiệp, văn hoa kinh doanh của một vùng, văn hoa
kinh doanh của một dãn tộc, hay văn hoa kinh doanh của một khu vực gồm nhiêu
quốc gia Hay nói cách khác định nghĩa như vậy sẽ làm mất đi tính khái quát của
vấn đề
Hiện nay, định nghĩa được những người theo xu hướng này chấp nhận nhiều
nhất là định nghĩa của học già Đ ỗ Minh Cương 'Văn hoa kinh doanh là việc sử
dụng các nhân tố văn hoa vào trong hoạt động kinh doanh của chủ thể, là củi văn
hoa mà các chủ thể kinh doanh lạo ra trong quá trình kinh doanh hình thành nên nhũng kiểu kinh doanh ổn đẹnh và đặc thù của họ" [2,53] Như vậy định nghĩa
này không cụ thể chủ thể kinh doanh, nên không mất đi tính bao quát, nhưng cũng
tương đối rõ ràng Vì vậy người viết sẽ lấy khái niệm này làm định hướng cho bài
khoa luận của mình
Trang 211.2.4.2 Đặc điểm
Ì.2.4.2.1 Mang các đặc điềm của văn hoa
"Văn hoa kinh doanh là việc sử dụng các nhân tố văn hoa vào trong hoại động kinh doanh của chủ thề", do đó, vãn hoa kinh doanh cũng mang nhỡn" đặc
điểm của văn hoa
1 Vãn hoa kinh doanh mang tính tập quán: văn hoa kinh doanh bao gồm những hành vi được chấp nhận hay không trong một cộng đồng, trờ thành thói quen, cách làm chung cho mọi thành viên trong cộng đồng
2 Văn hoa kinh doanh có tính cộng đồng: vì văn hoa kinh doanh do mọi thành viên trong cộng đồng cùng nhau xây dựng, phát triển
3 Văn hoa kinh doanh mang tính dân tộc: trong các đơn vị cộng đổng, dân tộc là đơn vị có nét vãn hoa rõ nét, mỗi dân tộc có những văn hoa nói chung và vãn hoa kinh doanh nói riêng mang đậm bớn sắc dân tộc khác; biệt so với văn hoa kinh doanh của dãn tộc khác
4 Văn hoa kinh doanh có thể học hỏi được: trong nền kinh tê toàn cầu, các chủ thể kinh doanh có thể học những thành công của những chủ thổ kinh doanh khác để làm phong phú thêm và hoàn thiện hơn về mọi mặt, trong đó có văn hoa kinh doanh
5 Văn hoa kinh doanh mang tính chù quan: văn hoa kinh doanh do con người qua các thế hệ lạo dựng nên, do đó, văn hoa kinh doanh mang những đặc điểm chủ quan cùa chủ thể, do chù thể quyết định
6 Văn hoa kinh doanh mang tính khách quan: văn hoa kinh doanh mang tính chủ quan vì là sớn phẩm đo con người tạo dựng nên, nhưng đổng thời cũng là một hiện tượng khách quan nằm ngoài ý muốn chủ quan cùa con người, được hình thành và duy trì phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan trong môi trường
7 Văn hoa kinh doanh mang tính lịch sử: văn hoa kinh doanh cũng giống như văn hoa, khá bển vũng, tuy nhiên không phới là không thể thay đổi mà văn hoa kinh doanh của một chù thể trong những thời kỳ lịch sự khác nhau sẽ khác nhau
Trang 22Vì vậy có thể một hành vi trong kinh doanh trong một thời kỳ được mọi người chấp nhận và trờ thành thành phần trong văn hoa kinh doanh, nhưng trong thời kỳ khác lại không còn phù hợp nữa
8 Văn hoa kinh doanh mang tính kế thừa: những nét văn hoa của thế hệ trước được truyền sang cho các thế hệ sau một cách chọn lọc
9 Văn hoa kinh doanh mang tính tiến hoa: văn hoa kinh doanh có thể bền vững, khó thay đổi nhưng văn hoa kinh doanh cũng phựi thích ứng với môi trường nên có thể thay đổi khi cần thay đổi cho phù hợp
1.2.4.2.2 Đặc trưng riêng cùa văn hoa kinh doanh
Bên cạnh những đặc điểm của vãn hoa, văn hoa kinh doanh mang những đặc trưng riêng
1 Văn hoa kinh doanh xuất hiện cùng sự xuất hiện của hàng hoa và thị trường: văn hoa kinh doanh được hình thành ngay khi hoạt động kinh doanh xuất hiện, vì khi đó, những chủ thể tham gia kinh doanh đã tạo lập cho mình những cách làm riêng đặc trưng cho họ, tuy nhiên, quan niệm về văn hoa kinh doanh hay thuật ngữ "văn hoa kinh doanh" chỉ mới được quan tám
2 Văn hoa kinh doanh của một chủ thể phựi phù hợp với trình độ kinh doanh của chù thể đó: khi so sánh văn hoa kinh doanh của chủ thể này với văn hoa kinh doanh của chủ thể khác, chúng ta phựi xét tới đặc điểm về trình độ kinh doanh của chủ thể vì có thể một vãn hoa kinh doanh là hay với chù thể kinh doanh này nhưng lại là không hay khi áp dụng cho chủ thể kinh doanh khác
1.2.4.3 Các yếu tố cấu thành nên văn hoa kinh doanh
1.2.4.3.1 Căn cứváo tính hữu hình của văn hoa kinh doanh
Edgar H.Schein - giáo sư về quựn trị tại Học viện Công nghệ Massachuset
(MÍT) chia văn hoa doanh nghiệp thành 3 lớp (level) Lớp ngoài cùng là những
quá trình và các cấu trúc hữu hình của doanh nghiệp (Artifacts), lớp tiếp theo là những giá trị được chấp nhận (Espoused Values) và lớp trong cùng là những quan niệm ẩn (Basic Underlying Assumptions)
Trang 23Dựa trên cách chia này - căn cứ vào tính hữu hình của văn hóa kinh doanh,
văn hoa kinh doanh có thể được chia thành ba lớp:
Ì Cấu trúc hữu hình của văn hoa kinh doanh
Đó là những yếu tố hữu hình, có thể nhìn, nghe, cảm thấy trong văn hoa kinh doanh, bao gồm: cơ sở vật chất (nhà máy, văn phòng làm việc), công nghệ, sản phẩm, ngôn ngữ và ngôn ngữ phi ngôn từ, phong cách của doanh nhân thể hiện qua ăn mặc giao tiếp Lộp văn hoa này mang tính chất hình thức, mọi người có thể thấy được khi tiếp xúc vội chủ thể kinh doanh, nhưng không nói lên được nội đun" thực sự của nền văn hoa kinh doanh đó (không phải lúc nào hình thức cũng phản ánh đúng nội dung của sự vật hiện tượng)
2 Những giá trị được công nhận
Lộp văn hoa này bao gồm hệ thống giá trị, quan điểm và phong lục tập quán trong kinh doanh
Hệ thông giá trị là những niềm tin, chuẩn mực chung cho xã hội, được các thành viên trong xã hội đó chấp nhận Quan điểm là cách nhìn nhận vấn đồ dựa trên nền tàng là hệ thống giá trị Phong tục tập quán có ý nghĩa thấp hơn khi đó là những cách làm đã được mọi người chấp nhận
Lộp văn hoa này được hình thành qua nhiều thế hệ trong một thời gian dài thành thói quen để mọi người dựa vào đó để xác định cách làm cho mình, có thể được nhận biết khi đã đi sâu vào nền văn hoa kinh doanh trong một thời gian đủ đài
3 Những quan niệm ẩn
Đây là những quan niệm chung, niềm tin, nhận thức mang tính truyền thống,
ăn sâu vào tàm lý của các thành viên trong xã hội
Lộp văn hoa thứ ba có vai trò quan trọng nhất trong văn hoa kinh doanh, có thể coi là nội dung của văn hoa kinh doanh, rất khó để có thể nhặn biết Vì là nội dung của văn hoa kinh doanh nên những quan niệm ẩn được thể hiện qua cấu trúc
Trang 24doanh
Q u á trình hình thành của n h ữ n g l ớ p văn h o a k i n h doanh t h ứ ba thường d i t ừ những giá trị h ữ u hình, sau k h i được m ọ i người chấp nhận, được t r u y ề n t ừ đời này sang đời khác để cuối cùng trở thành những quan n i ệ m ẩn V à k h i đã trờ thành quan n i ệ m ẩn, lớp văn h o a k i n h doanh này rất khó để có thể thay đỏi
Không phải nét văn hoa k i n h doanh nào c ũ n g phát triển lên thành những quan
n i ệ m ẩn, m à trải q u a m ộ t quá trình phát triển, c h ọ n lọc, k ế thừa và học h ỏ i , m ộ t xã hội sẽ hình thành nôn cho mình riêng những quan n i ệ m ẩn đặc trưng cho xã h ộ i
đó
Cách phân chia này nghiêng hơn về phần "văn h o a " trong "vãn hoa k i n h doanh", khá trừu lượng và khó phân biệt ranh giới giữa các lớp
1.2.4.3.1 Căn cứ vào quá trình kinh doanh
Căn cứ vào quá trình k i n h doanh, văn hoa k i n h doanh bao gồm:
• V ă n hoa doanh nghiệp: văn h o a k i n h doanh trong n ộ i b ộ doanh nghiệp
• V ă n hoa k i n h doanh trong M a r k e t i n g : văn h o a k i n h doanh trong phân phối, xúc tiến thương mại
• V ă n hoa đ à m phán: vãn hoa k i n h doanh trong giao tiếp, trao đ ỏ i ,
t h u y ế t phục giữa các đôi tác k i n h doanh
• V ă n hoa tiêu dùng: tập quán, thị hiếu, quan điểm cùa người tiêu dùng
Cách phân chia t h ứ hai dựa trên quá trình k i n h doanh nên nghiêng hơn về phần " k i n h d o a n h " trong "văn hoa k i n h doanh", song tỏ ra rõ ràng, bao quát được
m ọ i nét văn hoa k i n h doanh, vì v ậ y người viết sẽ dựa theo cách chia này để nghiên cứu trong chương l i của bài luận văn về vãn h o a k i n h doanh của các nước Scandinavia
Trang 251.3 M Ố I Q U A N H Ệ G I Ữ A V Ã N H O A K I N H D O A N H V À cơ H Ộ I
G I A O T H Ư Ơ N G G I Ữ A C Á C Q U Ố C G I A
Sự tương đổng và khác biệt trong văn hoa kinh doanh có tác động trực tiếp tới
cơ hội giao thương giữa các quốc gia
1.3.1 Sự tương đồng
Từ thực tế giao thương giữa các quốc gia, chúng ta có thể thấy ihông thường các quốc gia có quan hệ giao thương chậ yếu với các nước láng giềng hay trong khu vực Bên cạnh các nguyên nhân như điều kiện địa lý thuận lợi, do quan hệ truyền thống lâu đời, còn có một nguyên nhân là vãn hoa kinh doanh cậa các quốc gia này có những nét tương đồng Sự tương đồng trong văn hoa nói chung và văn hoa kinh doanh nói riêng này được hình thành từ lâu đời nhờ có sự giao lưu văn hoa giữa các quốc gia, do di dân giữa các vùng lân cận,
Nhìn vào vẫn hoa kinh doanh các nước phương Tây mặc dù có những điểm khác nhau nhưng vẫn có nhiều giá trị chung Ví dụ như đàm phán giữa các đối tác phương Tây thường diễn ra suôn sẻ hơn, nhanh chóng hơn, và các bên hiểu nhau hơn so với đàm phán giữa các doanh nhân phương Đông và phương Tây, do họ thường có cùng văn hoa đàm phán là đi thẳng vào vấn đề, quyết dinh dứt khoát và coi hợp đồng là ràng buộc chắc chắn, những nét vãn hoa kinh doanh không phải đặc trưng cậa doanh nhân phương Đông
Hay sự tương đồng trong văn hoa tiêu dùng - một phần cậa văn hoa kinh doanh cũng là nhân tố thúc đẩy quan hệ giao thương giữa các quốc gia trong kinh doanh quốc tế Ví dụ như hàng hoa cậa Trung Quốc được chấp nhận nhiều ở Việt Nam m à không cần thay đổi quá nhiều so với nguyên mỉu sản phẩm bán trong nước, do đó các nhà kinh doanh Trung Quốc đấy mạnh xuất hàng sang Việt Nam
so với các thị trường khác m à họ phải có những thay đổi trong sản phẩm
Hai ví dụ trẽn cho thấy, các nhà kinh doanh có nhiều cơ hội thành công hơn khi tham gia vào thị trường có nhiều nét văn hóa tương đổng, hay nói cách khác,
cơ hội giao thương được nâng cao hơn, và quan hộ giao thương được mở rộng
Trang 261.3.2 Sự khác biệt
Thực tế cho thấy, với mỗi người chúng ta, việc thích ứng với tập quán của môi trường văn hoa gốc của mình là rất dễ dàng, khiến chúng ta đôi khi không để
ý tới nó, nhưng việc biểu hiện và thích ứng với nền văn hoa của nước đối tác thì lại
rất khó khăn Không hiểu biết nền văn hoa của đối tác có thể gây nin những hiểu
nhầm đáng tiếc và trong kinh doanh quốc tế, những hiểu nhầm như vậy sẽ gây ra hậu quà nghiêm trọng
Mịt trở ngại lớn cho các thương nhân phương Tây khi tham gia đàm phán với đối tác phương Đông, đặc biệt là doanh nhân Trung Quốc là người Trung Quốc thường rất kín đáo, vòng vo khi trình bày vấn đề, thận trọng trong việc ra quyết định - so với văn hoa thẳng thắn, trực tiếp của doanh nhãn phương Tây Ngoài ra, người Trung Quốc có xu hướng không coi hợp đổng như mịt cam kết chính thức
mà chỉ là sự khơi đầu cho mịt mối quan hệ, trong khi thương nhân phương Tây vốn quen coi hợp đổng là ràng buịc chắc chắn Những khác biệt này nếu không được các bên tìm hiểu để khắc phục thì rất dễ trở thành nguyên nhãn cho những thất bại của thương nhân trên thương trường có văn hoa kinh doanh khác biệt Trong văn hoa tiêu dùng đã có nhiều trường hợp doanh nhân nước ngoài chịu thất bại ở mịt thị trường mới thâm nhập do thị hiếu, tập quán, quan niệm của người tiêu dùng giữa phương Đông và phương Tây khác nhau Mịt ví dụ được mọi người biết đến là trường hợp của sản phẩm búp bê Barbie Tại thị trường phương Tây, búp bê Barbie được bán kèm với bạn trai là búp bẽ Ken và đã trờ thành búp
bẽ bán chạy nhất ở thị trường Mỹ Tuy nhiên, trẻ em An Đ ị và ở phần lớn các quốc gia châu Á khác lại không chấp nhận việc búp bê có bạn trai do văn hoa truyền thống phong kiến của các nước châu Á Chỉ khi nhà sản xuất Mattel tạo ra búp bê Mark là anh trai của búp bê Barbie thì sản phẩm này mới thực sự thành công vì anh chị em Ân Đ ị gần gũi nhau hơn ở phương Tây nên dể được chấp nhận
và yêu thích
Trang 27Như vậy, văn hoa kinh doanh có thể là nhân tố thúc đẩy nhưng cũng có thể là vật cản, hạn chế cơ hội giao thương trong kinh doanh quốc tế Trong thời đại ngày nay, việc cạnh tranh trên thị trường quốc tế diễn ra ngày càng gay gắt, trình độ sàn xuất của các nước ngày càng được nâng cao hơn và người mua ngày càng có nhiều khả năng lầa chọn hơn Do đó, sầ hiểu biết về phong tục tập quán của đối tác là cách tốt nhất để thâm nhập được vào thương trường và di đến thành công; doanh nhân cần nắm bắt được những nét tương đồng để phát huy cũng như những khác biệt để khắc phục, tầ tạo ra cho mình cơ hội trong kinh doanh quốc tế về phương diện văn hoa kinh doanh
Trang 28chương 2 VĂN HOA KINH DOANH CÁC NƯỚC ỔCANDINAVIA
2.1 GIỚI THIỆU CÁC NƯỚC SCANDINAVIA
2.1.1 Giói thiệu chung các nước Scandinavia
Khi tới làm ăn ở Phần Lan, nếu đối tác nước ngoài gọi người Phần Lan là người Scandinavia, có thể người đó sẽ tỏ ra không hài lòng, điều này cũng có thể xảy ra ở Ai-xơ-len Nhiều người đã lừng đặt câu hỏi: Đan Mạch có phải là một quốc gia Bắc Âu hay không, và người Đan Mạch có thực sự là người Scandinavia hay không? Còn có rất nhiều vấn đề khác về các quốc gia Scandinavia mà một doanh nhân khi tới làm viợc ờ đây cần nắm vững, m à trước hết là khái niợm các nước Scandinavia
Mặc dù các khu vực khác trên thế giới dùng cách gọi "Scandinavia "
-"người Scandinavia " và "Nordic " - -"người Bắc Âu " với ý nghĩa như nhau và có
thể thay thế cho nhau, tuy nhiên người châu Âu lại không như vậy Người châu Âu muốn phân biợt rõ ràng những khác biợt dù nhỏ giữa các quốc gia láng giềng, do
đó người nước ngoài nên có cách dùng chính xác trong những ngữ cảnh thích hợp
Đối với cách dùng của "người Scandinavia " và "người Bắc Âu " cũng cần phải sử
dụng đúng, cho dù chính người châu Âu cũng chưa thống nhất về cách dùng hai từ
này
Các quốc gia Bắc Âu là gì?
Hội đồng Bấc Âu được thành lập năm 1956, từ đó chúng ta có một khái niợm mới để thể hiợn sự tương đồng về văn hoa giữa các quốc gia trong hội đồng này là
"Norden" (theo tiếng Phần Lan là: "Pohịola" hay "Polựoismaat") "Norden"
được sử dụng phổ biến ở các quốc gia Bắc Âu, tuy nhiên mặc dù đã nhiều người
cố gắng dịch khái niợm này sang tiêng Anh nhưng đến nay vân chưa có từ tiếng Anh tương ứng
Trang 29Theo Từ điển quốc tế Webster tái bản lần thứ ba, "Nordic" - "Bắc Âu" là:
"thuộc hay có liên quan tới Nauy, Thúy Điển, Đan Mạch, Ai-xơ-len và Phẩn Lan "
[42] Từ điển Oxford định nghĩa "Bắc Ấu" là: " thuộc vềScandinavia, Phún Lan
và Ai-xơ-len" [43]
Người Pháp dựa vào mặt ngôn ngữ và địa lý để đưa ra khái niệm "Pays
Nordiqaes", trong tiếng Anh là "Nordic Coulries" có nghĩa là "các quốc gia Bắc Âu", để chỉ hán đảo Scandinavia, Ai-xơ-len và Phần Lan
Các nước Scandinavia là gì?
Trong tiếng Bắc Âu, nghĩa của từ "Scandinavia " khá rõ ràng: "Skandinavien
bao gồm: Thúy Điển, Đan Mạch, Nauy (và có thề là Ai-xơ-Ien) - vùng đất xưa kia của người Nauy"
Từ điển tiếng Anh hiện đại Longman định nghĩa "Scandinavian" là: "thuộc
về các quốc gia Đan Mạch, Nauy, Thúy Điển, Phẩn Lan và Ai-xơ-ĩen ở phía Bắc châu Âu; con người hay ngôn ngữ của các quốc gia này" [44]
Từ điển tắt Oxíord định nghĩa "Scandinavia" là: "vùng lãnh thổ ở phía bắc
châu Âu, bao gồm các vương quốc Thúy Điển, Nauy và Đan Mạch; xét về mặt văn hoa và lầch sử thì Phấn Lan và Aì-xơ-len cũng được coi là một phần của Scandinavia" [45]
Như vộy, về mặt đầa lý, bán đảo Scandinavia là lãnh thổ chung của Nauy,
Thúy Điển, có biên giới không rõ ràng với bán đảo Kola, và bắc Phần Lan cũng thuộc bán đảo Scandinavia Do đó nếu dựa vào căn cứ địa lý, các nước Scandinavia chỉ gồm Nauy và Thuỵ Điển
Về mặt ngôn ngữ, người Thuỵ Điển, Nauy và Đan Mạch dùng chung ngôn
ngữ "Skandinavien " do xưa kia vùng đất này thuộc về người Nauy Và người dân
thuộc ba quốc gia này đều cho rằng Scanđinavia bao gồm ba nước là Thúy Điển, Nauy và Đan Mạch Tuy nhiên, xưa kia, Ai-xơ-len cũng là đất của người Nauy và người Ai-xơ-len cũng thuộc nhóm có ngôn ngữ chung nói trên Quần đảo Faroes
Trang 30tương tự như vậy Vì vậy, một xu hướng khác cho rằng Scandinavia gồm bốn nước Thúy Điển, Nauy, Đan Mạch và Ai-xơ-len Người Phần Lan cũng nói tiếng Thúy Điển và ngược lại, tiếng Phần Lan và tiếng Sami phương bắc cũng được dùng ở Thúy Điển và Nauy Như vậy, nếu căn cứ vào ngôn ngữ sủ dụng ở các nước thì Scandinavia bao gồm năm quốc gia là: Thúy Điển, Nauy, Đan Mạch, A i -xơ-len, và Phần Lan
ỵẻt về mại văn hoa và lịch sử, Bắc Âu bao gồm các vương quốc Thúy Điển,
Đan Mạch và Nauy Phần Lan là một phẩn của vương quốc Thúy Điển và len thuộc về Nauy và Đan Mạch Ngoài việc có chung lịch sủ, thì xét về mặt chính trị và kinh tế, năm quốc gia này đã đi theo một m ô hình tương tự nhau là Nhà nước
Ai-xơ-vì hệ thống phúc lợi xã hội, áp dụng từ đầu thế kỷ XX Theo cách giải thích này
thì năm quốc gia trên là mội cộng đổng và được gọi với cái tên là "các nước
Scandinavia" Đây là xu hướng được nhiều người chấp nhận và cũng phù hợp với
mục đích của bài khoa luận là nghiên cứu văn hoa kinh doanh các nước Scandinavia, vì vậy bài khoa luận sẽ nghiên cứu văn hoa kinh doanh của năm quốc gia này
Trang 31Bảng 2.1: Một số thông tin cơ bẩn về các nước Scandinavia
Tên nước
Vương quốc
Đan Mạch
Vương quốc Thúy Điển
Cộng hoa Phần Lan
Vương quốc Nauy
Cộng hoà Ai-xơ-len
Thủ đô Côpenhagen Stockholm Helsiki ốl-xlô Rảy-ki-a-vích
Khí hậu bắc cực
Khí hâu thất thường
Phần Lan, Thúy Điển, Anh
Nauy, Sami phương Bắc
Ai-xơ-len (gốc Nauy)
Euro Krone Nauy Euro
Nguồn: hỉíD:llww\v2.hsator.ỉiỉi.selnordìcì
N ă m quốc gia Scanđinavia thuộc cùng một khu vực nhưng có trình độ phát
đường lối phát triển
Trang 322.1.2.1 Đặc điểm kinh tế
1 Nauy
Nauy là quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có, nhất là vé năng lượng (dầu khí, thúy điện), thúy hải sản và rừng Chính trị xã hội ổn định, giáo dục phát triển nên Nauy có lực lượng lao động có trình độ khoa học kỹ thuớt và tay nghề cao Đây là những yếu tố thuớn lợi để Nauy trờ thành một nước công nghiệp phát triển, có tốc độ tăng trưởng cao bớc nhất ở châu Âu, với nhiều ngành công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới như công nghiệp đóng tàu và vớn tải biển Hiện nay, Nauy đứng thứ ba thế giới về cung cấp các dịch vụ cho khai thác dầu khí ngoài khơi và đứng thứ hai (sau Mỹ) về đội tàu phục vụ khai thác dầu v ề đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thúy hải sản - ngành kinh tế quan trọng nhất của Nauy Nauy có khoảng 8000 tàu đánh cá, trong đó, 9 0 % số cá đánh và nuôi được
là để xuất khẩu Với 1/5 diện tích là rừng, Nauy có tới 1500 xí nghiệp sản xuất giấy, bột giấy, gỗ xẻ Hơn 200.000 hổ nước ờ trên núi và hệ thống sõng, suối có
độ dốc cao cho Nauy tiềm năng lớn về thúy điện
Tuy nhiên Nauy cũng có những mặt hạn chế do điều kiện địa hình phức tạp, đồi núi chiếm 3/4 diện tích cả nước, bờ biển dài 21.347km, nhưng rất lồi lõm, khúc khuỷu, do đó, việc phát triển giao thông, liên lạc và các công trình thuộc hạ tầng cơ sở rất tốn kém 1/3 diện tích Nauy nằm ờ Bắc cực về mùa đông không trổng trọt, canh tác được
Dân số ít nên nhu cầu của thị trường trong nước nhỏ và ngoại thương đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Nauy Xuất khẩu dầu khí là nguồn thu nhớp quan trọng nhất của Nauy lại phụ thuộc vào giá cả thị trường thế giới nên không ổn định, ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế cùa Nauy Các thị trường buôn bán quan trọng nhất cùa Nauy là EU (76,9%), các nước Bắc Âu (18,8%), các nước đang phát triển (6,7%), EFTA ( 1 % ) (năm 2004)
Nói đến Nauy là nói đến một xứ sở thanh bình và sung túc Chỉ có khoảng 5 triệu dân, nhưng tổng sản phẩm quốc nội của Nauy đạt trên 140 tỷ USD (2004) và
Trang 33thu nhập bình quân đầu người cao hàng đầu thế giới (khoảng 32.000
USD/người/năm)
Không chỉ giàu có, Nauy còn có một nền văn hoa rất phong phú và đậm đà bản sắc dân tộc Người dân Nauy được chăm sóc chu đáo và đầy đù bời mạng lưới dịch vụ y tế và an sinh xã hội phát triển mạnh M ọ i người dãn đều được hỗ trợ về kinh tế và nhống hình thức hỗ trợ cộng đồng khác khi ốm đau, về già, thất nghiệp
do Nauy dành khoảng 3 5 % ngân sách nhà nước cho hệ thống an sinh và y tế, dồng [hời đặc biệt quan tâm tới các vấn để trẻ em, gia đình, công bằng giới
2 Phân Lan
Đặc điểm nổi bật của Phần Lan là Phần Lan thuộc một trong nhống nước nhiều rừng, bình quân 4ha rừng/người, đứng đầu thế giới và gấp 15 lẩn mức trung bình của các nước Tây Âu
Hiện nay Phần Lan là một trong nhống nền kinh tế có sức cạnh tranh mạnh nhất thế giới Kinh tế phát triển với nhiều ngành công nghiệp mũi nhọn truyền thống, có chuyên môn hoa cao như: công nghiệp gỗ giấy, công nghiệp luyện kim, công nghiệp đóng tàu và vận tải, công nghiệp hoa chất, dược phẩm, điện tử
Về ngoại thương, Phần Lan buôn bán chủ yếu với Tây Bắc Âu (trên 6 0 % ) , nhiều nhất với CHLB Đức, Thúy Điển và Anh, và có quan hệ chặt chẽ với Estonia, Litva và Latvia
Trang 34Bảng 2.2: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Phẩn Lan
N ă m
(Triệu euro)
N ă m
Cán cân thương mại (Triệu euro)
Về hoạt động xuất nhập khẩu, các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Thúy Điển là máy móc, thiết bị, xe hơi các loại, giấy, bột giấy, gỗ, hoa chất, sắt thép, Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc, xăng dổu, hoa chất, thực phẩm, quổn áo
Trang 35phomát, đồ uống (bia Calsberg, Turborg); công nghiệp sản xuất ximăng; công nghiệp cơ khí đóng tàu; năng lượng
Về ngoại thương, Đan Mạch buôn bán chủ yếu với các nước trong EU ( 7 5 % ) , châu Á (9,4%), Mỹ ( 5 % ) và Đông  u ( 3 % )
5 Ai-xơ-len
Ai-xơ-len là nước nhỏ, ít dân, khí hậu Bắc cực, đất canh tác chỉ chiếm 1 % diện tích cà nước, tài nguyên khoáng sản nghèo, tiềm năng kinh tế chủ yếu là đánh bắt, chế biến cá, nguồn địa nhiệt tổ các suối nước nóng và thuv điện Bời vậy, A i -xơ-len không có một nền công nghiệp đa dạng, sản xuất nông nghiệp, nhất là trổng trọt không thuận lợi
Do những đặc điểm trên, ngoại thương có một vai trò sống còn đối với len Trổ ngành công nghiệp chế biến cá, Ai-xơ-len phải nhập khẩu hầu hết nguyên vật liệu cho ngành cõng nghiệp khác cũng như hàng hoa tiêu dùng cho nhu cầu trong nước Xuất khẩu của Ai-xơ-len tương đương 3 5 % GDP trong khi đó nhập khẩu tương đương 4 0 % GDP (2004)
Ai-xơ-2.1.2.2 Đặc điểm văn hóa
Do có nhiều đặc điểm tương đồng về tự nhiên cộng với nhiều ràng buộc trong lịch sử và đường lối phát triển giống nhau, các nước Scandinavia có vãn hoa tương
tự như nhau
Như đã trình bày ở chương ì, khái niệm văn hoa rất rộng, vì vậy bài viết chì
căn cứ theo một hướng phân tích văn hoa để tìm hiểu vãn hoa của các nước Scandinavia, đó là theo m ó hình nghiên cứu mối quan hệ giữa văn hoa và kinh doanh quốc tế theo khuôn mẫu văn hoa phương Tây cùa Geert Hoístede - m ô hình xác định bốn chỉ tiêu cơ bản về văn hoa ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh quốc
tế giữa các quốc gia và sau đó ra đời thêm một chỉ tiêu mới — tầm nhìn dài hạn
Trang 36Ì Mức độ phán cấp quyền lực
Chỉ số phân cấp quyền lực (PDI - Power Distance Index) cho thấy mức độ công bằng hay không giữa các cá nhân trong xã hội PDI cao chứng tỏ quốc gia có
sự phân hoa lớn về quyền lực cũng như của cải trong xã hội Những quốc gia này
có xu hướng áp dụng hệ thống phân theo chiều dọc với nhiều tầng lớp và thứ tự trong xã hội tương đối ạn định, không có sự thay đại nào đáng kể Thứ hạng thấp
về chỉ sô này cho thấy xã hội đó không có sự phân hoa quá lớn về quyền lực và cùa cải giữa các thành viên Mục tiêu của những quốc gia này là bình đẳng và cơ hội cho tất cả mọi người
Theo nghiên cứu của Hoístede, cũng giống như các quốc gia châu Âu khác, các nước Scandinavia có chì số phân cấp quyền lực thấp như Đan Mạch (18/100), Phần Lan (33/100) Điều này thể hiện rõ qua hệ thống phúc lợi xã hội rất phát triển ở các quốc gia này
2 Tính củ nhãn
Tính cá nhân (IDV - Indiviđualism) chì ra mức độ xã hội ủng hộ tính cá nhân hay tập thể và quan hệ qua lại giữa các cá nhân trong tập thể Một quốc gia có IDV cao chứng tỏ cá nhân và các quyển của họ được đánh giá cao Ngược lại, xếp hạng thấp về tính cá nhãn thể hiện tính tập thể của xã hội đó và các cá nhân có quan hệ qua lại mật thiết với nhau, và trách nhiệm là của chung tất cả mọi người trong một tập thể
Các nước Scandinavia có chỉ số này khá cao, ví dụ như Đan Mạch (74/100)
Vì vậy, người dân các nước Scandinavia có xu hướng độc lập, có trách nhiệm trong mọi việc làm của họ
ì Phân biệt về giới
Phân biệt về giới (MAS - Masculinity) chỉ ra mức độ xã hội coi trọng hay không coi trọng yếu tố giới tính Với các quốc gia có chỉ số này cao, thường thì các quốc gia này có sự coi trọng vai trò của nam giới, nam giới được coi trọng hơn
Trang 37và thường được hưởng nhiều quyền lợi hơn nữ giới Nếu quốc gia có chỉ số này thấp thì nam và nữ trong xã hội được đối xử bình đẳng như nhau
Trong nghiên cứu của Hofstede về thước đo phân biệt về giới, các nước Scandinavia thuộc nhóm có sự phân biệt về giới tính thấp Có thể thấy rõ điều này qua sự phàn biệt giữa nam và nữ trong công việc, đó là thành công của nam doanh nhân và nữ doanh nhân là như nhau So với các nước châu  u khác thì Đan Mỷch
là quốc gia tiến bộ nhất trong thực hiện bình đẳng giữa nam và nữ, ví dụ như Đan Mỷch là quốc gia đứng đầu về tỷ lệ nữ giới đi làm và có nhiều phụ nữ Đan Mỷch giữ vị trí cao trong các doanh nghiệp Đan Mỷch
5 Tấm nhìn dài hạn
Sau khi tiến hành nghiên cứu ờ nhiều quốc gia khác, Hoístede đã tăng thêm một chỉ tiêu nữa trong m ó hình của ông, đó là tầm nhìn dài hỷn (LTO - Long-term Orienlation Mục đích của chì tiêu này là cho thấy mức độ tuân theo một định hướng dài hỷn, có bảo tồn truyền thống hay không của một quốc gia
Các nước Scandinavia không phải là những nước dễ dàng chấp nhận những thay đổi, họ định ra những bước đi dài hỷn, họ tôn trọng truyền thống, họ có thay đổi, học hỏi nhưng phải qua chọn lọc Một biểu hiện rõ nét cho văn hoa này của người Scandinavia là một khi họ đã có một cam kết nào thì chắc chắn họ sẽ thực hiện mà không có sự thay đổi hay bỏ dở giữa chừng như các nước châu Á, ví dụ như Việt Nam
Trang 38Như vậy, qua một số thông tin ban đầu về các nước Scandinavia, chúng ta có thể có được những hiểu biết nhất định về các nước này Có thể thấy các nước Scandinavia mặc dù có điều kiện tự nhiên không thực sự thuận lợi, dân số không đông nhưng đều là những nền kinh tế phát triển, giàu có, người dãn được hưởng chế độ phúc lợi xã hội tốt nhất trên thế giới Không chỉ giàu có về mặt kinh tế, các nước Scandinavia cũng có một nền văn hoa phong phú lâu đời, mang đậm bàn sức của người dân Scandinavia Cái nhìn sơ lược về đặc điểm kinh lê - xã hội của các nước Scandinavia có thể giúp chúng ta đễ dàng hơn khi nghiên cứu về văn hoa kinh doanh của các nước này
2.2 Đ Ặ C T R Ư N G C Ủ A V Ã N HOA K I N H D O A N H C Á C N Ư Ớ C
S C A N D I N A V I A
Để nghiên cứu được một cách đầy đủ văn hoa kinh doanh của các nước Scandinavia, người viết sẽ phân tích những đặc trưng của văn hoa kinh doanh các nước Scandinavia theo các yếu tố cấu thành nên văn hoa kinh doanh Như đã trình bày trong chương ì, có nhiều cách để xác định các yếu tố cấu thành nên văn hoa kinh doanh, nhưng người viết sẽ lấy cách phân chia căn cứ vào quá trình kinh doanh, theo đó, văn hoa kinh doanh bao gồm:
• Văn hoa doanh nghiệp
• Văn hoa kinh doanh trong Marketing
• Văn hoa đàm phán
• Vãn hoa tiêu dùng
Trong quá trình tìm hiểu các đặc trưng của văn hoa kinh doanh các nước Scandinavia, người viết sẽ phân tích vai trò, tác động của văn hoa trong những đặc trưng văn hoa kinh doanh đó
Trang 392.2.1 Văn hoa doanh nghiệp
2.2.1.1 Phong cách quản lý
Chịu ảnh hưởng c ủ a văn h o a c o i trọng tính cá nhân, phong cách quản lý các nước Scandinavia dựa trên quan điểm cho rằng m ỗ i cá nhân đều có k h ả năng cũng như có thiện chí sẵn sàng thực h i ệ n tốt công việc
M ộ t nhà quản lý Scandinavia thường thì c o i mình như là m ộ t huấn l u y ệ n viên chạ không phải là m ộ i người chỉ huy, và nhà quản lý thường giao n h i ệ m vụ cũng như q u y ề n hạn cho nhân viên của mình M ọ i nhân viên, phòng ban trong doanh nghiệp đều có q u y ề n tự d o đưa r a các quyết định và g i ả i q u y ế t các v ấ n đề bất thường m à không cần thông q u a cấp trẽn
V í d ụ như, theo văn hoa Thúy Điển thì m ộ t nhà quản lý tốt là người có k h ả năng tận dụng được k h ả năng sáng tạo c ủ a đ ộ i n g ũ nhân viên, và k h u y ế n khích h ọ làm việc có h i ệ u quả Đ ó là nhà quản lý không lãnh đạo nhân viên dựa vào q u y ề n hành h a y vị trí lãnh đạo c ủ a họ, m à dựa vào các q u y tắc, q u y định của công t y và theo thoa thuận M ộ t t ố chất khác của m ộ t nhà quản lý Thúy Điển là phải biết lắng nghe - lắng nghe các cá nhân trong doanh nghiệp để có thể n ắ m bắt được ý k i ế n của m ọ i thành viên
N h ư vậy, cách quản lý của các doanh n g h i ệ p Scandinavia có ưu điểm là phát huy tính sáng tạo của các cá nhân, tạo động lực k h u y ế n khích m ọ i người làm việc
T u y nhiên, đây là cách làm việc thích h ợ p v ớ i các nước Scandinavia vì người Scandinavia có văn h o a làm việc độc lập, tinh thần trách n h i ệ m cao; song l ạ i không thích hợp v ớ i những n ề n k i n h t ế còn chưa phát triển, các cá nhân chưa xây đựng được ý thạc t ự giác, ví d ụ như trong các doanh nghiệp V i ệ t Nam
2.2.1.2 Văn hoa tổ chức
V ề cách tổ chạc, các doanh n g h i ệ p có thể được tổ chạc theo c h i ề u dọc, h a y
c h i ề u ngang Điển hình cho cách tổ chạc theo c h i ề u đọc h a y hình tháp là các doanh nghiệp N h ậ t B ả n - trong đó, m ỗ i thành viên n ằ m dưới sự k i ể m soát của người lãnh đạo trực tiếp c ủ a mình và người đạng đẩu doanh n g h i ệ p n ắ m q u y ề n
Trang 40kiểm tra toàn bộ các nhân viên Còn các doanh nghiệp Scandinavia thường sử dụng cách thức tổ chức theo chiều ngang, do đó hoạt động của doanh nghiệp không cứng nhắc như cách tổ chức theo chiều dọc
Ví dụ như người Thúy Điển thường giải quyết vấn đề theo cách không chính thức và khá thực dụng, họ sẩn sàng bò qua một sợ bước m à đáng ra cần thông qua nhà điều hành cấp trên Trong phần lớn các trường hợp như vạy, nhà quản lý chấp nhận cách làm này vì theo họ thì các quyết định được đưa ra là nhằm đạt kết quả tợt nhất chứ không phải để củng cợ vị trí của họ Điều này thường không thể thấy
ờ các doanh nghiệp có văn hoa tổ chức theo chiều dọc
Cũng giợng như với phong cách quản lý phái huy tính cá nhân, cách thức tổ chức khá linh hoạt này của các doanh nghiệp Scandinavia đòi hỏi phải có tính tự giác cao từ phía các thành viên trong doanh nghiệp
2.2.1.3 Phán biệt cấp bậc
Phân biệt ngôi thứ có thể được định nghĩa là ở một mức độ nào đó, người có
vị trí cao trong công ty có thể điều khiển người khác hay nói cách khác người có
vị trí thấp hơn phải vàng lời người trên
Thúy Điển là quợc gia có sự phân biệt về cấp bậc, ngôi thứ trong doanh nghiệp nhỏ nhất trên thế giới Tại các công ty Thúy Điển, khái niệm phân biệt ngôi thứ được thay thế bằng trách nhiệm cá nhân, nghĩa là cá nhân chịu trách nhiệm cho chính mình m à không phải tuân theo cấp trẽn của mình Nhà quản lý Thúy Điển rất hiếm khi có biểu hiện cá nhân và nhân viên thì không cảm thấy có
vị trí thấp hơn so với cấp trên của họ Một dấu hiệu khác cho thấy cơ cấu công ty không phân biệt ngôi thứ (hay gọi theo cách khác là cơ cấu đơn giản) là người Thúy Điển thường không sử dụng họ trong cách xưng hô tại công ty, tạo ra không khí bình đẳng giữa mọi người
Cũng tương tự như vậy, người dân Đan Mạch không đợi xử phân biệt trong xã hội Vì xã hội Đan Mạch không có sự phân biệt về cấp bậc (trong nghiên cứu của
Hoístede, Đan Mạch có chỉ số phân cấp quyền lực - PDI ờ mức 18/100), do đó đợi