1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình Trắc địa công trình nhà cao tầng và dạng tháp (Nghề Trắc địa công trình - Cao đẳng)

53 15 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 607,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu đơn vị thi công không có các thiết bị hiện đại như máy toàn đạc điện tử thì lưới TĐCT được lập dưới dạng các hình vuông hoặc hình chữ nhật có các cạnh song song với trục chính của cô

Trang 1

Quảng Ninh, năm 2021

Trang 5

BÀI 1 CÔNG TÁC TRẮC ĐỊA PHỤC VỤ XÂY DỰNG PHẦN MẶT

có kiến thức và kinh nghiệm

* Cơ sở để ước tính độ chính xác cho các dạng công tác Trắc địa phục vụ thi công nhà cao tầng:

Đối với từng loại công trình xây dựng có đều có một đại lượng mà người

ta coi nó như một giá trị tiêu chuẩn và dựa vào đó để ước tính độ chính xác của các công tác Trắc địa Giá trị đó gọi là cơ sở để ước tính độ chính xác của các công tác Trắc địa trong các giai đoạn khác nhau Ví dụ đối với công trình xây dựng đường tàu điện ngầm, cơ sở để ước tính độ chính xác của các công tác Trắc địa là sai số trung phương hướng ngang đào thông hầm đối hướng, tiếp theo người ta nghiên cứu sai số thông hướng ngang này là do các sai số nào gây nên, cơ chế ảnh hưởng của chúng thế nào? Trên cơ sở đó ước tính độ chính xác cần thiết của các công đoạn sao cho đảm bảo sai số thông hướng ngang nhỏ hơn hoặc bằng giá trị cho phép

Khi đo vẽ bản đồ địa hình thì sai số biểu diễn một điểm trên bản đồ là cơ

sở để ước tính độ chính xác của các công đoạn, khi xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp thì cơ sở để ước tính độ chính xác là sai số bố trí chi tiết các hạng mục công trình trên mặt bằng Vậy trong xây dựng nhà cao tầng thì cơ sở để ước tính độ chính xác của các công tác Trắc địa trong các giai đoạn khác nhau là đại lượng nào?

Trang 6

Chúng ta đều biết rằng, các kết cấu chịu lực chính của một toà nhà nhà cao tầng chủ yếu được xây dựng bằng các loại vật liệu như gạch đá, xi măng, cát Đây là vật liệu có thể chịu tải trọng nén cực kỳ tốt nhưng lại rất yếu khi chịu tải trọng uốn Vì lý do đó cho nên người ta đã thêm cốt thép vào để tăng khả năng chịu tải trọng uốn của chúng Tuy nhiên dẫu sao đối với công các trình có chiều cao lớn nói chung và nhà cao tầng nói riêng thì tải trọng uốn là tải trọng không mong muốn, cần có gắng hạn chế và làm giảm bớt các tác động có khả năng gây ra tải trọng uốn Đối với một toà nhà cao tầng thì khả năng nhiều nhất gây ra tải trọng uốn là độ nghiêng của toà nhà Vậy điều quan trọng nhất là phải đảm bảo độ thẳng đứng của nó Nếu trong suốt quá trình xây dựng, độ thẳng đứng của một toà nhà không được đảm bảo thì người ta nói toà nhà bị nghiêng Thực tế là chúng ta không thể xây dựng được một nhà cao tầng hoàn toàn thẳng đứng mà bao giờ nó cũng bị nghiêng đi một lượng nhất định Do đó đối với một toà nhà cao tầng giá trị độ nghiêng cho phép là một đại lượng cực kỳ quan trọng mà bất cứ đơn vị nào tham gia xây dựng một toà nhà cao tầng đều phải lưu ý và tuân thủ Như vậy cơ sở để ước tính độ chính xác cho công tác Trắc địa phục vụ thi công xây dựng công trình chính

là độ nghiêng cho phép của toà nhà Theo TCXDVN 3972-85 thì độ nghiêng cho phép của công trình là

10000

H nhưng không vượt quá 35mm Như vậy đối với các toà nhà cao tầng độ cao lớn hơn 35 m ( tức là số tầng > 9) thì giá trị tuyệt đối của độ nghiêng được phép là 35 mm Cần lưu ý rằng TCXDVN 3972-85 được biên soạn cách đây đã 20 năm thực tế là tham khảo chủ yếu TCXD của Liên Xô cũ (CHẩẽ-84) lúc đó công nghệ xây dựng còn lạc hậu chưa đạt được mức độ tiên tiến như bây giờ, các nhà cao tầng hồi đó tại Liên

Xô cũ chủ yếu xây dựng bằng phương pháp lắp ghép vì vậy giá trị độ nghiêng cho phép tương đối lớn Ngày nay, công nghệ xây dựng càng ngày càng hiện đại và cũng đòi hỏi độ chính xác của các công tác Trắc địa ngày càng phải nâng cao Trong TCXDVN 3972-85 giới hạn độ nghiêng cho phép ở mức 15-

Trang 7

20mm cho nhà khung - vách cứng lắp ghép và 30mm cho nhà khung - vách cứng đổ tại chỗ

Cuối cùng cần phải lý giải

rõ thế nào là độ nghiêng của một

toà nhà cao tầng Chúng ta đều

biết rằng, để xây dựng một toà

nhà cao tầng thì trên mặt sàn của

mỗi tầng đều phải xây dựng một

Độ thẳng đứng của công trình được đảm bảo trong quá trình thi công bằng các bước sau:

- Xây dựng lưới khống chế mặt bằng bên ngoài công trình Từ các điểm khống chế này tiến hành chuyển các điểm của lưới khống chế phục vụ bố trí vào bên trong công trình tạo nên một lưới điểm cơ sở trên sàn tầng gốc

- Chuyển các điểm của lưới cơ sở trên sàn tầng gốc lên các tầng theo phương dây dọi để tạo thành lưới khung

- Thực hiện việc bố trí chi tiết các trục trên mỗi tầng từ các điểm đã được chiếu lên

Trong quá trình thi công xây dựng nhà cao tầng mặc dù hết sức cố gắng nhưng khi thực hiện các công đoạn trên bao giờ người ta cũng mắc các sai số nhất định Kết quả là toạ độ của các điểm cơ sở trên các tầng sẽ không hoàn toàn thống nhất với nhau và đương nhiên, khi chiếu hệ trục trên từng tầng xuống mặt bằng cơ sở chúng cũng không trùng khít với nhau Sự không trùng khít này được gọi là độ nghiêng của nhà cao tầng, và như chúng ta đã nói ở trên, đây chính là cơ sở để ước tính độ chính xác của các công đoạn khác nhau của các công tác Trắc địa phục vụ thi công xây dựng nhà cao tầng

* Phương pháp ước tính độ chính xác của các công tác Trắc địa phục vụ thi công xây dựng nhà cao tầng

Trang 8

Như chúng ta đã nêu ở trên, TCXDVN 3972-85 cho phép giá trị độ nghiêng của nhà cao tầng là

10000

H nhưng không vượt quá 35mm Điều này nghĩa là các toà nhà có số tầng lớn hơn 10 luôn luôn chỉ được phép nghiêng nhỏ hơn 35mm không phụ thuộc chiều cao của nó là bao nhiêu Độ nghiêng tuyệt đối trên đây là giá trị giới hạn Nếu coi sai số giới hạn ngh bằng 2 lần sai số trung phương mngh thì ta sẽ có:

2

mm 35 2

Giá trị độ lệch (độ nghiêng tuyệt đối) trung phương trên đây bao gồm các thành phần sau:

- Ảnh hưởng của các sai số Trắc địa mđ

- Ảnh hưởng của các sai số xây dựng mc

Từ thực tế công tác xây dựng trên nhiều công trình cho thấy rằng sai số

do xây dựng có thể đạt tới giá trị 15mm Như vậy ảnh hưởng của sai số do các công tác Trắc địa sẽ là:

mm 9 m

m m

m d

2 c

2 ngh

2 d

- Sai số bố trí chi tiết các trục và các cấu kiện mbt

Vì các sai số trên độc lập với nhau nêu ta có thể viết:

2 bt

2 ch

2 kc

Đối với các toà nhà có chiều cao từ 50-100m và dùng máy chiếu loại

ZL để chuyển toạ độ từ mặt bằng cơ sở lên thì có thể coi ảnh hưởng cuả 3 nguồn sai số trên là như nhau nghĩa là: mkc = mch = mbt = m*

(4)

Suy ra: m* = 5 mm

3

9 3

m d = = 

Trang 9

Đối với các toà nhà có chiều cao lớn hơn thì hệ số ảnh hưởng của các nguồn sai số trên đây có thể không giống nhau đặc biệt là sai số chiếu điểm và sai số bố trí chi tiết Trong trường hợp này, tuỳ từng trường hợp cụ thể sẽ gán cho các nguồn sai số này các hệ số ảnh hưởng khác nhau để tính độ chính xác cần phải đạt được của từng công đoạn

1.2 Chọn điểm chôn mốc:

Sau khi thiết kế lưới trong phòng, ta đem bản thiết kế ra thực địa khảo sát lại vị trí các điểm, chọn điểm chính thức và tiến hành chôn mốc Vị trí đặt mốc phải đảm bảo tính ổn định, thông hướng, thuận lợi cho việc đặt máy đo đạc sau này Các mốc là các cột khối bê tông có lõi sắt được chôn sâu vào đất, phần trồi lên mặt đất khoảng 5cm, mặt mốc được gắn dấu mốc hoặc dùng đầu đinh nhỏ để xác định tâm mốc

Các mốc được xây tường rào bảo vệ, dùng sơn ghi ký hiệu mốc và cắm biển cảnh báo để mọi người có ý thức giữ gìn

1.2.1 Một số đặc điểm của lưới khống chế mặt bằng phục vụ thi công nhà cao tầng

Lưới khống chế toạ độ trên mặt bằng xây dựng có một số đặc điểm riêng

so với lưới khống chế toạ độ quốc gia Các đặc điểm đó là:

- So với lưới khống chế toạ độ quốc gia cùng cấp hạng, lưới khống chế toạ độ trên mặt bằng xây dựng công trình (gọi tắt là lưới trắc địa công trình) thường có cạnh ngắn hơn Việc đo đạc các yếu tố trong lưới được thực hiện trong điều kiện khó khăn hơn và yêu cầu về sai số vị trí điểm trong lưới lại chặt chẽ hơn

- Về hình dạng của lưới tuỳ thuộc vào phương pháp bố trí công trình và trang thiết bị của đơn vị thi công Nếu đơn vị thi công không có các thiết bị hiện đại như máy toàn đạc điện tử thì lưới TĐCT được lập dưới dạng các hình vuông hoặc hình chữ nhật có các cạnh song song với trục chính của công trình để các đơn vị thi công có thể bố trí công trình theo phương pháp toạ độ vuông góc Nếu các đơn vị thi công có thiết bị hiện đại thì có thể thành lập lưới khống chế có hình dạng tuỳ ý miễn là đảm bảo độ chính xác và đủ mật

độ để bố trí công trình

Việc thành lập lưới khống chế TĐCT được thực hiện sau khi đã sơ bộ san lấp và vệ sinh mặt bằng Trình tự thành lập lưới như sau:

* Lập phương án kỹ thuật gồm các nội dung chính sau:

- Mục đích, yêu cầu của việc thành lập lưới TĐCT

- Thiết kế kỹ thuật lưới TĐCT

- Đánh giá phương án thiết kế

- Thiết kế các mốc của lưới TĐCT

Trang 10

* Khảo sát thực địa để chính xác hoá lại phương án thiết kế

* Chọn điểm và chôn mốc ngoài thực địa

* Đo góc và đo cạnh và đo độ cao trong lưới

* Xử lý toán học các kết quả đo đạc trong lưới, xuất bản toạ độ và độ

cao của các mốc

* Bàn giao lưới và các tài liệu liên quan cho các đơn vị thi công

TCXDVN quy định việc thành lập lưới khống chế toạ độ trên mặt bằng

xây dựng là trách nhiệm của chủ đầu tư Chủ đầu tư phải bàn giao lưới khống

chế toạ độ cho các nhà thầu chậm nhất là 2 tuần trước khi tiến hành thi công

công trình

Khi thành lập lưới khống chế trên mặt bằng xây dựng phục vụ thi công

nhà cao tầng cần lưu ý một số điểm chính sau:

1.2.2 Hình dạng của lưới

Theo ý kiến của các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực đo đạc phục vụ

thi công nhà cao tầng thì hình dạng của lưới khống chế mặt bằng nên có dạng

gần giống với hình dạng của toà nhà Nếu toà nhà hình vuông hoặc hình chữ

nhật thì lưới khống chế mặt bằng nên xây dựng dưới dạng một tứ giác bao lấy

toà nhà tương lai (H I-2) Đối với các toà nhà hình tròn (elíp) hoặc chia múi,

lưới khống chế mặt bằng nên xây dựng dưới dạng một hệ thống đa giác trung

tâm (H I-3) Trong các trường hợp khác thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà

chọn hình dạng của lưới cho phù hợp sao cho các điểm của lươí có thể được

sử dụng một cách thuận tiện nhất cho việc thi công công trình

1.3 Các yếu tố đo trong lưới

Máy và dụng cụ đo phải được kiểm nghiệm và điều chỉnh trước khi đưa

vào sử dụng Kiểm nghiệm máy kinh vĩ bao gồm: kiểm nghiệm sai số 2C ,

Sai số Mo, độ đồng tâm của vành độ, độ chính xác của các vạch chia, kiểm tra

độ thẳng đứng của trục đứng của máy, kiểm nghiệm bộ phận định tâm quang

học, độ vuông góc của lưới chỉ chữ thập Với máy toàn đạc điện tử ngoài việc

phải kiểm nghiệm như máy kinh vĩ còn cần kiểm nghiệm thêm tín hiệu thu

Trang 11

phát, kiểm tra hằng số máy, hằng số gương Trong trường hợp sử dụng máy thu tín hiệu vệ tinh GPS cũng cần phải kiểm nghiệm máy trước khi đo theo 2 phương pháp kiểm định trên đường đáy "0" hoặc kiểm định 2 máy thu trên đường đáy chuẩn Trong mọi trường hợp đều phải hiệu chỉnh cho đến khi máy

đủ yêu cầu kỹ thuật mới được sử dụng nếu không phải thay máy khác có điều kiện kỹ thuật đảm bảo yêu cầu Nên chọn phương pháp đo góc cạnh kết hợp,

đo thuận đảo và đo đối hướng Khi đo khoảng cách cần phải để chế độ đo chính xác, đo lặp nhiều lần và lấy giá trị tính trung bình

Số liệu đo ngoại nghiệp phải ghi chép đầy đủ vào sổ theo mẫu quy định, không tẩy xoá và phải tính toán, kiểm tra chặt chẽ để loại trừ sai số thô Quá trình này nên giao cho 2 người kiểm tra độc lập nếu có sai số phải tìm ra nguyên nhân để giải quyết Nếu phép đo không đạt yêu cầu độ chính xác thì phải tiến hành đo lại

1.4 Xử lý số liệu đo

Sau khi đã kiểm tra toàn bộ sổ đo góc, đo cạnh, tính giá trị trung bình của các trị đo thì công tác nội nghiệp mới được bắt đầu Công tác nội nghiệp gồm tính toán bình sai, đánh giá độ chính xác và viết báo cáo kỹ thuật Tính toán bình sai để đánh giá độ chính xác của lưới, tính toạ độ các điểm trong lưới Công việc này hiện nay đã có các chương trình tính toán cho mạng lưới bất kỳ nên việc xử lý được nhanh chóng chính xác

Sau khi hoàn thành các công đoạn xây dựng lưới khống chế cần hoàn chỉnh hồ sơ lập báo cáo kỹ thuật có kèm theo sơ đồ và toạ độ các điểm của lưới, bàn giao cho đơn vị thi công sử dụng

Lưới khống chế độ cao cần được đo nối với ít nhất hai điểm có độ cao hạng III Nhà nước hoặc thành phố bằng các tuyến thuỷ chuẩn hạng IV Lưới cần tạo thành các vòng khép để có điều kiện kiểm tra sai số thô, nâng cao độ chính xác

+ Xây dựng các cụm mốc chuẩn phục vụ cho quá trình theo dõi sự biến dạng và lún của công trình trong quá trình thi công và sử dụng sau này Các mốc này được chôn ngoài phạm vi lún của công trình ( khoảng >1,5 lần chiều cao toà nhà) và thường tạo thành cụm 3 mốc được khoan đến tầng đá gốc để đảm bảo sự ổn định của mốc Các mũi khoan được bỏ lại và cần khoan hàn

Trang 12

dấu mốc bịt đầu cần khoan làm tâm mốc, hoàn thiện đầu mốc, xây tường rào bảo vệ, ghi ký hiệu mốc và cắm biển cảnh báo để mọi người có ý thức giữ gìn

+ Đo các yếu tố trong lưới: máy móc thiết bị cần phải được kiểm nghiệm trước khi đo Các máy và mia phải đảm bảo đủ tiêu chuẩn về độ chính xác và các yêu cầu kỹ thuật cho từng loại cấp hạng đo Đo truyền độ cao từ các mốc quốc gia đến các cụm mốc chuẩn bằng đường đo thuỷ chuẩn hạng II nhà nước Quá trình truyền độ cao phải tuân thủ theo đúng tiêu chuẩn và quy định của ngành Bao gồm tiêu chuẩn về quy trình đo, các yêu cầu kỹ thuật trong khi đo, thao tác đo, khoảng cách từ máy đến các mia, chiều cao tia ngắm so với mặt đất và các quy định về chênh lệch khoảng cách từ máy đến các mia cùng với các hạn sai khác

+ Kiểm tra số liệu đo ngoại nghiệp để loại trừ sai số thô, kiểm tra sai số khép vòng đo nếu vượt quá giới hạn cho phép phải đo lại

+ Tính toán bình sai để đánh giá độ chính xác của lưới, tính độ cao các điểm trong lưới Bàn giao số liệu độ cao của lưới cho đơn vị thi công sử dụng

2 Bố trí và cố định các đường trục của tòa nhà

2.1 Bố trí theo phương pháp truyền thống

Theo quan niệm truyền thống trục cơ bản của toà nhà thường được chọn là các đường thẳng đi qua mép tường ngoài của toà nhà và giới hạn đường biên của nó, hoặc có thể là các trục đối xứng của toà nhà Song song với các trục này sẽ là các trục dọc và ngang định vị các bộ phận chính của toà nhà Thông thường đó là đường tim của các dãy cột chịu lực của toà nhà Khoảng cách giữa các cột chính này gọi là bước cột và có giá trị từ 6  8m

đối với các nhà cao tầng Với cách làm truyền thống trước đây người ta chuyển 4 trục cơ bản giới hạn đường biên của toà nhà ra thực địa Có thể nằm trùng trên các trục cơ bản của toà nhà hoặc có thể nằm trên đường thẳng song song với các trục này, với độ dịch chuyển thường không quá 1m Cách thực hiện để bố trí các trục này như sau:

+ Nếu mặt bằng xây dựng thông thoáng thì ở ngoài phạm vi xây công trình trên hai phía đối diện của hố móng theo hướng mỗi trục chính cần đặt một cặp mốc thẳng hàng (một mốc gần công trình và một mốc xa) Đường thẳng qua tâm 2 mốc kéo dài vào phạm vi xây dựng công trình sẽ chính là hướng của 1 trục cơ bản nào đó

+ Nếu mặt bằng công trình xây dựng chật hẹp, phần đất xung quanh công trình không thể đặt được 2 mốc về mỗi phía Thì về mỗi phía của công trình ta chỉ đặt được một mốc cố định

Trang 13

+ Sử dụng hệ thống các mốc có thể là cột gỗ hoặc cột khối bê tông kích thước (10X10X70 cm) để định vị các trục vừa bố trí Các mốc này được chôn sâu vào đất gia cố chắc chắn, tâm mốc được cố định bằng dấu mốc có khắc chữ thập hoặc bằng đinh

+ Dùng máy kinh vỹ và thước thép để xác định vị trí các trụ trong tuyến thẳng hàng của trục cơ bản và các vị trí trụ trên các trục trung gian, đóng cọc

gỗ đánh dấu sơn đầu cọc Đây chính là các vị trí khoan cọc nhồi sẽ được bàn đến trong phần sau

2.2 Bố trí theo phương pháp hiện nay :

Do việc bố trí bằng phương pháp truyền thống tương đối cồng kềnh và mất nhiều thời gian Trong điều kiện hiện nay, trong giai đoạn đầu xây dựng công trình, mặt bằng xây dựng công trình thường thông thoáng rất thuận lợi cho việc sử dụng máy toàn đạc điện tử Do vậy, người ta thường sử dụng máy toàn đạc điện tử để bố trí trực tiếp ngay các điểm định vị các trục công trình Các điểm cố định trục này sẽ được dùng làm trục cơ sở để bố trí các trục chi tiết của toà nhà

3 Công tác trắc địa phục vụ đào các hố và thi công móng sâu

khoảng cách an toàn nào đó, sau đó đưa các

trục chính dọc và ngang của móng lên khung

định vị bằng phương pháp dóng hướng (hình

3.10)

Từ các trục chính này người ta dùng

thước thép cuộn đặt các khoảng cách thiết kế

đến các cạnh mép và đường viền của móng

(mép hố móng, đường viền chân móng, các

mép bậc móng…) với độ chính xác đến

milimét, đánh dấu chúng bằng các đinh nhỏ có

ghi chú bên cạnh số hiệu của trục

Sau khi nối liền các điểm cùng tên trên

khung định vị bằng các dây thép nhỏ ta sẽ xác định được đường viền từng bộ phận của móng

Hình 3.10 B ố trí chi tiết móng (m ặt bằng, MCĐ) Hình 3.10 B ố trí chi tiết móng (m ặt bằng, MCĐ)

Trang 14

Để đánh dấu ranh giới của hố móng trên thực địa, tại giao điểm của các sợi dây thép nối các dấu trục tương ứng trên khung định vị, dùng dây dọi chiếu điểm giao nhau đó xuống mặt đất và cố định bằng các cọc nhỏ

Khi đào các hố móng có độ sâu lớn thì đầu tiên người ta bố trí sơ bộ ranh giới hố móng từ giao điểm của các trục chính bằng cách đo trực tiếp trên mặt đất, đào sơ bộ và di chuyển bớt một phần đất đá Sau đó mới tiến hành dựng khung định vị, các điểm bố trí mặt bằng của hố móng đồng thời cũng phải đo độ cao và ghi chú rõ chiều sâu cần đắp tại những điểm này

b Chuyền độ cao tới hố móng

Khi hố móng đã đào sơ bộ thì cần chuyền độ cao từ mốc thuỷ chuẩn gần đó xuống đáy hố móng để đảm bảo đưa độ cao đáy móng đến đúng mức

độ cao thiết kế Nếu hố móng có mái nghiêng (vách thoải) thì việc chuyền độ cao được tiến hành bằng thuỷ chuẩn hình học tuần tự qua 2 hoặc 3 bậc Trường hợp mái dốc dựng đứng và khó đặt máy thuỷ chuẩn trên đó thì có thể chuyền độ cao bằng cách dùng 2 máy thuỷ chuẩn và một thước thép thả treo xuống hố móng (hình 3.11)

Trên mép hố móng đặt

một giá đỡ và treo vào đó một

thước thép cuộn, đầu thước có

vạch “0” được thả xuống hố

móng và được treo một quả

nặng có trọng lượng bằng

trọng lượng khi kiểm nghiệm

thước Máy thuỷ chuẩn thứ

nhất đặt trên mặt đất ở khoảng

giữa thước treo và mia (đặt tại

mốc biết độ cao gần nhất),

máy thuỷ chuẩn thứ 2 đặt ở

dưới đáy hố móng ở điểm giữa thước thép và điểm cần chuyền độ cao tới (M)

Đọc số trên 2 mia đặt tại mốc thuỷ chuẩn A (được a) và tại điểm M trong hố móng (được b) Sau đó cả hai người đo đều quay máy về phía thước treo và đồng thời đọc số trên thước đó được n1, n2

Vậy độ cao điểm M ở đáy hố được tính:

HM = HA + a - d - b (3.2)

Trong đó:

HA là độ cao mốc thuỷ chuẩn A

a, b là số đọc trên mia tại A, M

d = n2– n1 là hiệu số đọc trên thước cuộn từ 2 máy thuỷ chuẩn

Hình 3.11 Chuy ền độ cao xuống

đáy hố móng Hình 3.11 Chuy ền độ cao xuống

đáy hố móng

Trang 15

Để kiểm tra, có thể chuyền độ cao từ một mốc độ cao khác đến Khi đó

nên thay đổi vị trí treo thước thép đi một chút Sai số cho phép chuyền độ cao

xuống đáy hố móng khi đang thi công đào đắp đất là 1cm

Để chuyền độ cao chính xác hơn thì đoạn thẳng d trên thước cần tính

đến số hiệu chỉnh về nhiệt độ và kiểm nghiệm thước, đồng thời khoảng cách

từ máy đến mia và thước treo phải bằng nhau

Độ cao điểm M ở đáy hố móng sẽ là cơ sở để xác định độ cao các điểm

chi tiết khác dưới hố móng và hoàn thiện việc đào hố móng đúng độ cao thiết

kế

c Đo chi tiết móng

Việc đo vẽ hoàn

công hố móng được tiến

nghiêng của máy kinh vĩ,

người ta đo khoảng cách

cần ghi rõ các kích thước của hố móng từ các trục chính, độ cao mặt đất

trước khi đào hố móng (tử số) và độ cao hoàn công đáy hố móng (mẫu

số), còn độ cao thiết kế được ghi bằng mực đỏ ở giữa bản

vẽ Sai lệch độ cao của các điểm chi tiết so với độ cao thiết kế không

vượt quá 2- 3cm

Đôi khi độ cao của các điểm chi tiết được thống kê vào một bảng (bảng

3.1) và trên bản vẽ chỉ ghi chú số hiệu điểm đo

Độ sai lệch cho phép của kích thước hố móng so với giá trị thiết kế là 

Hình 3.12 B ản vẽ hoàn công hố móng

14

Hình 3.12 B ản vẽ hoàn công hố móng

14

Trang 16

- Để lắp đặt ván khuôn vào đúng vị trí mặt bằng thiết kế, ta sử dụng các trục đã được đánh dấu trên khung định vị xung quanh móng Đối với các móng nằm bên trong nhà (móng để đặt máy móc, thiết bị trong các nhà xưởng), có thể lợi dụng các cột nhà đã được lắp dựng để lập khung định vị liên tục bằng gỗ hoặc khung định vị không liên tục bằng cách làm gá vào các cột những thanh sắt, trên đó ghi dấu các trục

- Vị trí các trục móng được xác định bằng cách nối liền các điểm cùng tên đã được đánh dấu trên các cạnh (các cột) đối diện của khung định vị bằng một sợi dây thép nhỏ Dùng dây dọi chiếu các trục này xuống phía dưới để xác định vị trí của ván khuôn và các bộ phận khác được lắp đặt trong ván khuôn Việc lắp đặt trên có thể đảm bảo độ chính xác yêu cầu:  5- 10mm

- Độ cao thiết kế các bộ phận của ván khuôn được dẫn từ mốc độ cao gần nhất bằng máy thuỷ chuẩn hình học và được đánh dấu trên ván khuôn bằng một nét mảnh (bằng bút chì hoặc sơn) có ghi rõ độ cao thiết kế, sai số  3- 5mm

3.2.2 Lắp đặt các kết cấu neo giữ trong móng

Đối với các công trình công nghiệp dạng nhà xưởng, các cột kim loại

và thiết bị công nghệ được gắn kết với nền móng bằng kết cấu neo giữ chủ yếu dưới dạng bu lông nền còn cột bê tông cốt thép được lắp đặt vào móng riêng có dạng móng cốc

Các kết cấu neo giữ (bu lông nền) được lắp đặt vào bên trong móng trước khi đổ bê tông Việc lắp đặt các bu lông nền đòi hỏi phải được tiến hành thật cẩn thận và chính xác với sai số trung phương lệch tâm của chốt bu lông

so với vị trí thiết kế  2mm (sai số giới hạn là 5mm) Sai số bố trí trục của dãy bu lông nền so với trục chính công trình  4mm Để đảm bảo độ chính xác nêu trên cần có phương pháp bố trí và lắp đặt riêng Cơ sở mặt bằng để bố trí hệ thống bu lông nền (các thiết bị neo giữ khác) là các trục chính của móng được chuyển bằng máy kinh vĩ lên mặt trên của ván khuôn đã được cố định

Nếu ván khuôn hay khung định vị nằm sâu dưới hố móng thì dùng máy kinh vĩ để chuyển trục lên khung định vị (hay mép trên của ván khuôn), ống

Trang 17

kính của máy có thể trúc xuống một góc lớn, do vậy để giảm sai số do máy đến việc chuyển trục ta cần phải thục hiện ở 2 vị trí bàn độ đứng của máy sau

đó lấy trung bình Khi chuyển phải được cân bằng thật cẩn thận để đưa trục quay của máy về vị trí thẳng

đứng

Trong các móng nằm

dưới cột kim loại hay các

thiết bị có trọng lượng không

trong bê tông còn ván khuôn

được tháo dỡ đi

Để neo giữ máy móc thiết bị

nặng thì bu nông nền có đường

kính và trọng lượng lớn hơn Do

vậy khuôn cố định các bu lông này

được chế tạo bằng thép kết hợp với các thiết bị gá lắp khác như khung giá đỡ để nâng khuôn kim loại, thanh giằng… (hình 3.14) để lắp đặt các thiết bị nặng ta phải dùng cần trục

Bộ phận cơ bản của thiết bị gá

Hình 3.13 Khung g ỗ cố định các bu lông nhẹ

Trang 18

ngang của móng trong điều

kiện thuận lợi Để giảm độ

phức tạp của công việc này,

Đầu tiên đánh dấu vị trí trục của khuôn dẫn và từ các trục này xác định chính xác vị trí lỗ khoan đặ bu lông

Trước khi đổ bê tông móng, khuôn dẫn được đặt lên mặt trên của hộp ván khuôn Bằng cách kê kích và xoay một cách cẩn thận, đặt sao cho các trục của khuôn dẫn trùng với trục tương ứng của móng (các trục này được chuyển lên và đánh dấu trên ván khuôn từ trước), đồng thời điều chỉnh mặt trên của khuôn dẫn trùng với vạch độ cao được đánh dấu sẵn trên giá đỡ hoặc trên cốt thép

Sau khi điều chỉnh xong vị trí mặt bằng và độ cao, bu lông được gắn chặt vào khuôn dẫn bằng ecu, còn phần đuôi của chốt bu lông được hàn vào giá đỡ hay cốt sắt để cho khi đổ bê tông thì vị trí của chúng không bị xê dịch Đồng thời với việc đặt các chốt bu lông nền người ta còn đặt các bộ phận ngầm trong móng như các loại ống dẫn, ống để đặt dây cáp điện,….Vị trí của chúng có thể đo từ trục móng hoặc từ bộ phận neo giữ đã lắp đặt

3.2.3 Kiểm tra việc lắp đặt các bộ phận trong móng

Việc lắp đặt các kết cấu neo giữ và các bộ phận bên trong móng là việc rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của công tác lắp ráp Vì vậy, trước

khi đổ bê tông móng cần phải kiểm tra về mặt bằng và độ cao

+ Kiểm tra lại các trục chính của móng, hệ thống khung định vị và các trục đã được chuyển lên ván khuôn

+ Căn dây dọc theo các trục, dùng dây dọi và thước cuộn để đo khoảng cách đến tâm của các chốt bê tông và các bộ phận khác đặt trong móng cũng

Hình 3.15 Khuôn d ẫn

Trang 19

như đo các khoảng cách tương hỗ giữa chúng Độ cao của đầu mỗi bu lông và các bộ phận khác cũng được kiểm tra bằng đo thuỷ chuẩn

+ Theo kết quả kiểm tra, tính được sai lệch so với khoảng cách thiết kế dọc theo các trục dọc và ngang, sai lệch về độ cao đối với từng chốt bulông và các bộ phận chi tiết khác trong móng Các kết quả đo kiểm tra được ghi vào bảng thống kê

Trong quá trình đổ bê tông móng cần chú ý đặt vào móng một số mốc trắc địa mặt bằng, độ cao cần cho công tác quan trắc biến dạng công trình

3.2.4 Đổ bê tông mặt bằng móng

Để bố trí ván khuôn sàn móng và mái tầng hầm, sử dụng các trục của móng bố trí ván khuôn, các bộ phận của móng, cốt thép , dùng máy và mia thủy chuẩn đánh dấu mức đổ bê tông lên thành trong của ván khuôn Khi đổ

bê tông móng, cần tiến hành công tác trắc địa để theo dõi quá trình này

3.2.5 Đo vẽ hoàn công móng sau khi đổ bê tông

Trong quá trình đổ bê tông, dưới tác động của đầm rung, sự co ngót của bê tông… làm cho các bộ phận đặt trong móng, ván khuôn bị

xê dịch, bề mặt bê tông giảm độ cao… Vậy sau khi tháo dỡ các ván khuôn cần phải đo vẽ hoàn công móng bằng cách:

+ Chuyển trực tiếp các trục chính lên bề mặt bê tông của móng bằng phương pháp dóng hướng và đánh dấu chúng bằng một nét vạch mỏng, ở những chỗ có đặt mốc kim loại thì trục được đánh dấu trực tiếp lên mặt mốc Sau đó dùng thước cuộn đo trực tiếp trên bề mặt bê tông khoảng cách từ các trục dọc và ngang đến các chốt bu lông và các

bộ phận khác đã được lắp đặt vào móng, các khoảng cách đến ranh giới của bê tông, các chỗ lồi lõm, các lỗ cửa…đồng thời xác định độ cao của các đầu bu lông, các bản neo, bản tựa và cọc bê tông gần chúng, độ cao các vị trí đặc trưng của các đường ống trong móng…

Độ chính xác yêu cầu: Khoảng cách đo từ trục đến các bộ phận được đặt trong móng và độ cao được xác định  1mm, kích thước của các phần bê tông được đo đến 1cm

Bản vẽ hoàn công móng và bảng kê các số liệu đo vẽ hoàn công các bộ phận neo giữ là cơ sở cho việc nghiệm thu móng và lắp đặt máy móc thiết bị

Trang 20

BÀI 2 CÔNG TÁC TRẮC ĐỊA PHỤC VỤ PHẦN CỌC, ĐÀI CỌC VÀ

TẦNG HẦM TÒA NHÀ

Bài 2 Công tác trắc địa phục vụ phần ngầm tòa nhà

1 Công tác trắc địa phục vụ thi công phần cọc

Dựa vào bản vẽ thiết kết chi tiết vị trí các cọc, dựa vào hệ toạ độ được

sử dụng trên mặt bằng của lưới khống chế cở sở Bằng cách sử dụng bài toán

thuận của Trắc địa tính toán toạ độ tất cả các điểm cọc một cách chính xác

Cọc móng có thể thi công theo phương pháp ép cọc, phương pháp đóng

cọc, phương pháp cọc nhồi Trong thi công cọc móng cần đảm bảo các yêu

cầu:

- Định vị tâm cọc vào đúng vị trí thiết kế;

- Đảm bảo độ thẳng đứng;

- Đảm bảo độ sâu của cọc

Để định vị tâm cọc có thể sử dụng máy toàn đạc điện tử theo phương

pháp toạ độ cực hoặc máy kinh vĩ và thước thép bố trí theo phương pháp toạ

độ vuông góc, giao hội hướng Ban đầu xác định và đánh dấu các trục của

nhóm cọc, sau đó căn cứ vào các trục này để bố trí các cọc riêng rẽ bằng cách

đặt khoảng cách theo hướng Để kiểm tra độ thẳng đứng của cọc có thể sử

dụng hai máy kinh vĩ đặt trên hai hướng trục vuông góc với nhau Độ sâu của

cọc được xác định bằng tổng chiều dài các cọc đã đóng, sau đó đánh dấu vị trí

thiết kế lên cọc cuối cùng

Từ toạ độ các diểm cọc đã tính toán, toạ độ các điểm khống chế mặt

bằng cơ sở tiến hành bố trí vị trí cọc tạo thành các trục dọc, ngang Theo tiêu

chuẩn xây dựng TCXD VN 286 ban hành ngày 05 tháng 06 năm 2003 độ sai

lệch của các trục so với thiết kế không được vượt quá 1cm trên 100 m chiều

dài tuyến Đánh dấu các vị trí cọc này bằng các cọc gỗ đầu cọc sơn đỏ và ghi

số hiệu cọc để đơn vị thi công dễ nhận biết.Tuỳ theo phương pháp thi công

cọc mà công tác Trắc địa phục vụ thi công phần cọc sẽ có các phương pháp

phục vụ khác nhau

1.1.Thi công cọc bằng công nghệ ép cọc

Ép cọc là cọc được hạ bằng năng lượng

tĩnh, không gây nên xung lượng lên đầu cọc Yêu

cầu thi công ép cọc dựa vào điều kiện đất nền,

cách bố trí đài cọc, số lượng cọc trong đài,

phương pháp kiểm tra độ thẳng đứng, kiểm tra

mối hàn, cách đo độ chối, biện pháp an toàn và

đảm bảo vệ sinh môi trường Thiết bị sử dụng để

ép cọc là thiết bị có công suất > 1.4 lần lực ép

Trang 21

lớn nhất do thiết kế quy định Lực ép của thiết bị đảm bảo tác dụng đúng dọc trục tâm cọc Khi ép lực từ đỉnh cọc tác dụng đều lên mặt bên của cọc khi ép

ôm và không gây ra lực ngang lên cọc Công tác Trắc địa phục vụ quá trình ép cọc bao gồm các bước:

+ Định vị và lấy thăng bằng thiết bị ép cọc gồm các khâu:

- Điều chỉnh trục của thiết bị tạo lực phải trùng với tim cọc, sử dụng máy kinh vĩ hoặc máy toàn đạc điện tử bằng tia ngắm nghiêng chúng ta dễ dàng điều chỉnh trục của thiết bị trùng với tim cọc

- Điều chỉnh mặt phẳng "công tác" của sàn máy ép phải nằm ngang Dùng máy thuỷ bình theo phương pháp đo cao hình học điều chỉnh mặt phẳng

"công tác" nâng lên hoặc hạ xuống để số đọc trên mia dựng tại các vị trí trên mặt phẳng công tác là như nhau

- Kiểm tra và điều chỉnh để phương nén của thiết bị tạo lực là thẳng đứng vuông góc với sàn "công tác": sử dụng máy kinh vĩ, máy toàn đạc điện

tử hoặc dùng quả dọi

+ Kiểm tra và điều chỉnh đoạn mũi cọc, sử dụng máy kinh vĩ hoặc máy toàn đạc điện tử kiểm tra theo hai phương vuông góc sao cho độ lệch tâm không quá 10mm Kiểm tra để phát hiện cọc nghiêng để dừng ép và căn chỉnh lại

+ Khi nối các đoạn cọc tiếp theo kiểm tra bề mặt hai đầu đoạn cọc phải phẳng nhẵn điều chỉnh đoạn ghép sao cho tâm của đoạn cọc trùng với tâm của đoạn cọc mũi, kiểm tra độ thẳng đứng sao cho độ nghiêng nhỏ hơn 1%

+ Kiểm tra độ trồi của các cọc lân cận và mặt đất, các công trình xung quanh

+ Kiểm tra độ lệch so với vị trí thiết kế của các cọc trên mặt bằng không được vượt quá trị số cho phép Số cọc bị lệch không được vượt quá 25% tổng

số cọc khi bố trí theo dải , không quá 5% khi bố trí cụm dưới cột

Sau khi thi công cọc tiến hành đo vẽ hoàn công tất cả các đầu cọc (sau khi ép xong) và lập hồ sơ hoàn công, gồm : tài liệu về định vị các vị trí cọc trước khi ép, tài liệu theo dõi quá trình thi công, tài liệu, bản vẽ vị trí mặt bằng và độ cao các cọc đã thi công xong

1.2 Thi công cọc bằng công nghệ đóng cọc

Cọc đóng là cọc được hạ bằng năng lượng động (va đập hoặc rung) Tuỳ theo tài liệu địa chất công trình, quy định của thiết kế về chiều sâu hạ cọc và

độ chối (độ lún của cọc dưới 1 nhát búa đóng và 1 phút làm việc của búa rung) Người ta có thể chọn các thiết bị đóng cọc hoặc rung có dủ năng lượng

để hạ cọc đến chiều sâu thiết kế và độ chối quy định, xuyên qua được các lớp đất dày kể cả kẹp cứng Không gây ứng suất lớn hơn ứng suất động cho phép

Trang 22

của cọc để hạn chế khả năng gãy nứt cọc Công tác Trắc địa phục vụ quá trình thi công đóng cọc gồm các bước sau:

+ Sử dụng máy kinh vĩ hoặc máy toàn đạc điện tử điều chỉnh quá trình lắp đặt và đưa búa đóng vào vị trí cọc đã được định vị Việc thực hiện quá trình này không tốt sẽ làm ảnh hưởng tới độ chính xác các trục của công trình

" làm cho các cọc sai lệch khỏi trục công trình"

+ Căn chỉnh độ thăng bằng của cần búa, bước này được thực hiện bằng cách sử dụng máy thuỷ bình trên cơ sở đo thuỷ chuẩn hình học Quá trình này

sẽ giúp cho các cọc sau khi đóng sẽ thẳng đứng

+ Điều chỉnh quá trình cắm cọc: sau khi máy đóng đã được đưa vào vị trí

và căn chỉnh chính xác, người ta nâng cọc đặt lên giá cọc và đưa cọc vào trong cột dẫn Bố trí hai máy kinh vĩ ở hai bên để điều chỉnh độ thẳng đứng của cột dẫn và cọc, điêù chỉnh cho thân cọc, mũ cọc và búa cọc trên cùng một trục mới bắt đầu đóng

+ Quá trình đóng cọc: thường xuyên quan sát độ lệch tâm của cọc bằng cách sử dụng hai máy kinh vĩ như trên 10 phút một lần Khi đóng cọc bê tông cốt thép thường xảy ra các hiện tượng hư hỏng như: rạn nứt, sứt mẻ đầu cọc,

có khe nứt dọc trên thân cọc, khe nứt ngang, khe nứt xiên 45 độ phần cọc trên mặt đất Nguyên nhân chính là do tập trung ứng suất cục bộ do nhát đập của búa không chính tâm, hoặc do tấm giảm xung hoặc mũ cọc không đạt yêu cầu gây nên Vì vậy việc kiểm tra đồng trục là rất quan trọng Trường hợp nứt xiên do cọc gặp phải chướng ngại vật đổi hướng, do búa bị lệch lắc do bệ búa

bị lún không đều Cho nên việc theo dõi liên tục thường xuyên là hết sức quan trọng để kịp thời khắc phục, đảm bảo cọc được đóng theo phương thẳng đứng

- Có thể kiểm tra biên độ dao động của búa, trong trường hợp không có thiết bị đo hoặc ghi tự động

- Theo dõi độ chối: được tiến hành vào cuối quá trình đóc cọc, khi độ chối gần đạt đến trị số thiết kế thì cần phải tiến hành đóng nhát một và đồng thời dùng máy thuỷ bình để đo trước và sau mỗi nhát búa để xác định độ chối trường hợp búa đi-ê-zen tần số đập búa và hơi cho từng phút, độ chối được xác định từ trị trung bình của 10 loạt nhát sau cùng, độ chối phải được xác định với độ chính xác 1mm

+ Sau khi đóng cọc xong cần kiểm tra độ chuyển dịch của các đầu cọc bằng máy kinh vĩ hoặc máy toàn đạc điện tử Kiểm tra độ trồi lên của các cọc,

độ vồng lên của mặt đất để có cở sở xem xét xử lý tiếp theo, đo vẽ hoàn công hoàn thiện hồ sơ, tài liệu để bàn giao cho đơn vị thiết kế và thi công

1.3 Thi công cọc bằng công nghệ khoan cọc nhồi

Trang 23

Đây là công nghệ dùng máy khoan lỗ, đặt cốt thép, đổ bê tông tại chỗ thành cọc Thông thường, có các phương án thi công như: phương án khoan xoắn ốc đổ bê tông, khoan xoắn ốc tạo lỗ đổ xi măng làm cọc, khoan xoắn lỗ bình thường dùng áp lực đổ vữa vào cọc, cọc nhồi đường kính lớn mở rộng đáy Quy trình Trắc địa phục vụ thi công bao gồm:

+ Chuẩn bị hiện trường tạo mặt bằng cho hố khoan lu lèn đầm chặt cho

xe khoan đi lại an toàn thuận lợi cho thi công Công việc này có thể dùng máy kinh vĩ hoặc máy toàn đạc điện tử tiến hành giống quá trình đo đạc san nền đơn giản, sau khi đã có mặt bằng phục vụ khoan nhồi tiến hành bố trí các trục

và các vị trí cọc lên mặt bằng vừa được tạo nên

+Từ bản kế hoạch và phương án thi công, công nghệ khoan, phương pháp giữ thành, công nghệ đổ bê tông, vị trí cọc trong hố móng, xác định độ chính xác vị trí khoan cọc nhồi Dưới đây xin trích dẫn hạn sai hiện nay đang được dùng:

Phương pháp tạo lỗ cọc

Sai số cho phép vị trí cọc Cọc đơn dưới móng băng theo trục ngang, cọc biên của nhóm cọc (mm)

Cọc đơn dưới móng băng theo trục dọc, cọc ở trong nhóm cọc (mm)

4

D nhưng không lớn hơn 150 mm

1000

D 100+0.01H (mm) 150+0.01H(mm) 2.Tạo lỗ cọc bằng cách

Trang 24

Ảnh hưởng nhiều nhất đến vị trí khoan cọc nhồi là

sai số hạ gầu khoan và sai số hạ ống vách Nhìn chung

trong giai đoạn khoan cọc nhồi, sai số đo đạc cho phép

bố trí lỗ khoan từ 1520 mm

+ Sử dụng máy toàn đạc hoặc hai máy kinh vĩ để

đưa xe vào vị trí cọc, điều chỉnh ngay ngắn thân xe, điều

chỉnh cần khoan cho thẳng, điều chỉnh cần khoan vào

đúng vị trí cọc Dùng máy thuỷ bình căn chỉnh độ thăng

bằng của cần khoan, bước này giúp cho cọc sau khi

khoan nhồi sẽ thẳng đứng không bị xiên

+ Theo dõi độ thẳng đứng của cần khoan bằng hai máy kinh vĩ hoặc máy

toàn đạc điện tử Quá trình theo dõi được tiến hành liên tục suốt thời gian

khoan đến độ sâu định khoan, quay không dọn đáy

+ Truyền độ cao vào miệng hố khoan bằng máy thuỷ bình, kiểm tra độ

sâu hố khoan

+ Sau khi dọn rửa hố khoan, bơm bê tông xong cần đo đạc kiểm tra độ

chênh lệch mặt bằng của các cọc khoan nhồi

+ Đo vẽ hoàn công phần cọc: đo kiểm tra lại vị trí cọc so với thiết kế,

hoàn chỉnh hồ sơ hoàn công, bàn giao tài liệu cho đơn vị thiết kế và thi công

2 Công tác trắc địa phục vụ thi công các đài cọc móng băng và tầng hầm

của tòa nhà

Sau khi hoàn thành việc thi công phần cọc, người ta tiến hành cắt, đập,

xử lý đầu cọc nhô quá cao so với quy định Đồng thời tiến hành việc bốc dọn

một khối lượng đất cơ bản trên phạm vi hố móng công trình để bắt đầu thi

công các đài cọc, các móng băng và tầng hầm của toà nhà Để thi công các bộ

phận này, các trục công trình được chuyển trực tiếp xuống hố móng bằng trục

ngắm của máy kinh vĩ hoặc máy toàn đạc điện tử đã định hướng dọc theo các

cặp mốc cố định các trục Vị trí các trục sẽ được đánh dấu trực tiếp lên mặt

của các ván khuôn của đài cọc hoặc ván khuôn của móng Theo các dấu trục

nói trên, người ta sẽ căng một sợi dây thép nhỏ làm cơ sở để điều chỉnh ván

khuôn, lắp đặt cốt thép và các bộ phận chôn ngầm khác trong móng Sai số

cho phép của dấu trục khi đổ bê tông các đài cọc và các móng băng không

được vượt quá 5mm Sai số định tuyến với các hố móng tuỳ theo chiều dài (L)

Trang 25

của hố móng nhưng phải thoả mãn quy định của quy phạm quốc gia ( GBJ 203-83) :

Độ dài hố móng Sai số cho phép

m

m L

m L

m

Trước khi đổ bê tông, dùng máy và mia thuỷ chuẩn đánh dấu mức đổ

bê tông lên thành trong của ván khuôn bằng dấu sơn đỏ hình tam giác hoặc bật mực để đánh dấu Để tránh cho vữa khi đổ bê tông có thể vương vãi làm che mất dấu sơn hoặc vết mực, tốt nhất ta nên đánh dấu sơn hoặc đường bật mực cao hơn mức đổ bê tông một khoảng cách nhất định (thường là 1dm ) để

dễ quan sát khi đổ bê tông và kịp thời dừng việc trút hoặc bơm bê tông khi đạt đến mức độ cao thiết kế

Trường hợp các dầm và đài cọc được thi công trực tiếp trong lòng máng cần đóng cọc và căng dây ở phía thành của lòng máng phía trong để đánh dấu độ cao thiếi kế, cần đo đạc và điều chỉnh sao cho phần lồng cốt thép phải cao hơn đáy dầm đài cọc từ 5 đến 7 cm Đây là phương pháp được thi công phổ biến hiện nay vì tiếp kiệm được cốp pha, đất mặt bên không bị xáo động, dầm đài cọc sát mặt đất, tương đối thẳng góc, chịu lực ngang tốt, không cần đắp đất dựa vào nền đất đã qua lu lèn và dọn sạch đất tạp trên đầu cọc tiếp kiệm được nhân lực

Khi đổ bê tông móng hoặc tường của tầng hầm, cần đặc biệt lưu ý vị trí chừa lại trên ván khuôn tại các vị trí thiết kế các lỗ cửa của hệ thống các ống dẫn ngầm sẽ được lắp đặt về sau này

Trong quá trình đổ bê tông dưới tác động của đầm rung các bộ phận đặt trong móng cũng như ván khuôn có thể bị xê dịch Ngoài ra sự co ngót của bê tông cũng làm cho bề mặt bê tông bị giảm độ cao Vì vậy để biết rõ vị trí của

Trang 26

các bộ phận đã được lắp đặt cũng như xác định kích thước và độ cao các phần của móng sau khi tháo dỡ ván khuôn cần phải đo vẽ hoàn công móng

Sau khi tháo dỡ các ván khuôn, các trục của móng sẽ được chuyển trực tiếp lên bề mặt của khối bê tông đã được đổ bằng phương pháp dóng trục định hướng Sử dụng thước thép hoặc máy toàn đạc điện tử kiểm tra độ sai lệch các kích thước của móng, độ lệch của các bộ phận chi tiết trên móng so với các trục kiểm tra Đối với móng tường, cần đo vẽ vị trí mặt bằng và độ cao tất cả các lỗ cửa được để chừa ra để sau này đặt các đường ống ngầm

Độ chính xác đo vẽ hoàn công móng được quy định như sau: khoảng cách từ trục đến các bộ phận lắp đặt trong móng và độ cao của chúng được xác định với độ chính xác ±1mm, kích thước các phần bê tông được đo với độ chính xác ±1cm

Kết quả việc đo vẽ hoàn công móng là các bản vẽ hoàn công kèm theo bảng kê độ lệch của các bộ phận móng Những tài liệu này là cơ sở cho việc nghiệm thu móng và lắp đặt các đường ống dẫn ngầm

Kết thúc phần thi công xây dựng phần dưới mặt đất là việc đổ sàn bê tông tầng trệt và trần mái của phần tầng hầm Việc xác định mặt bằng, mức

độ cao thiết kế được thực hiện bằng máy thuỷ bình theo phương pháp đo cao hình học Kết thúc quá trình là việc kiểm tra hoàn công độ cao của các sàn bê tông theo các dãy điểm mia song song nhau và phân bố đều trên phạm vi mặt sàn Trong quá trình đổ bê tông móng, cần lưu ý gắn các mốc đo lún vào các

vị trí kiểm tra lún đã được thiết kế, chuẩn bị cho việc đo lún chu trình đầu tiên, chu trình cơ sở

BÀI 3 TRUYỀN TỌA ĐỘ THEO ĐƯỜNG THẲNG ĐỨNG

Ta phải truyền toạ độ từ mặt bằng cơ sở lên các tầng bắt đầu từ tầng 2 khi đơn vị thi công lập xong mặt bằng ván khuôn để chuẩn bị đổ bê tông sàn Công tác Trắc địa phải tiến hành xác định rõ vị trí đường biên theo thiết kế của mặt sàn, vị trí các lỗ phục vụ cho việc chiếu chuyển điểm lưới bố trí lên các tầng, vị trí tất cả các bộ phận ngầm khác cần lắp đặt trước khi đổ bê tông sàn Quá trình xác định các vị trí này có thể tiến hành bằng máy kinh vĩ, máy

Ngày đăng: 24/10/2022, 20:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm