1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Phục hồi và phát triển nguồn lợi trai tai tượng (họ Tridacna) ở biển Việt Nam

4 524 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 86,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm tắt các kết quả nghiên cứu "Phục hồi và phát triển nguồn lợi trai tai tượng (họ Tridacna) ở biển Việt Nam": thành phần loài, phân bố sinh thái, đặc điểm sinh học, sản xuất giống, trữ lượng...nguồn lợi trai tai tượng (họ Tridacnidae) ở biển Việt nam (Tridacna squamosa, T. maxima, T. crosea)...! Đây là những kết quả thuộc đề tài cấp Bộ, nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc "cấp quota, hạn ngạch xuất khẩu các loài trai tai tượng). Chi tiết liên hệ (TS. Nguyễn Quang Hùng, Viện Nghiên cứu Hải sản: nqhung@rimf.org.vn; hungrimf75@yahoo.com)

Trang 1

Mở đầu

Trai tai tượng (họ Tridacnidae) là nguồn lợi hải đặc sản thuộc lớp ĐVTM hai mảnh vỏ, cú giỏ trị kinh tế cao ở Việt Nam và nhu cầu xuất khẩu lớn Thịt cú hàm lượng dinh dưỡng cao, vỏ là hàng mỹ nghệ và cú giỏ trị làm dược liệu Chỳng cung cấp nguồn thức ăn bổ dưỡng và là sản phẩm xuất khẩu phục vụ nhu cầu rất lớn để làm cảnh, giải trớ, đó mang lại nguồn thu nhập đỏng kể cho ngư dõn ven biển-đảo Do cú giỏ trị kinh tế cao, khai thỏc quỏ mức và sử dụng thiếu bền vững nờn nguồn lợi tự nhiờn của cỏc loài trai tai tượng (họ Tridacnidae) cú xu hướng suy giảm nhanh chúng trong những năm gần đõy (đó được liệt kờ trong phụ lục II, CITES) Tuy nhiờn, những nghiờn cứu về Trai tai tượng ở biển Việt Nam cũn rất hạn chế, chưa cú đủ cơ

sở khoa học để xõy dựng hạn ngạch xuất khẩu hàng năm Vỡ vậy năm 2008, theo yờu cầu của cơ quan CITES quốc tế, Việt Nam sẽ phải tạm dừng xuất khẩu Trai tai tượng đến khi cú những nghiờn cứu, đỏnh giỏ đầy đủ hơn về nguồn lợi, sinh học, sinh thỏi của cỏc loài Trai tai tượng thỡ mới tiếp tục được phộp xuất khẩu

Đề tài ”Nghiờn cứu phục hồi và phỏt triển nguồn lợi Trai tai tượng (họ Tridacnidae) ở biển Việt Nam” được thực hiện từ thỏng 5/2009-12/2011 Phạm vi

nghiờn cứu tại 8 đảo cú Trai tai tượng phõn bố phổ biến, đại diện ở biển Việt Nam là:

Cự Lao Chàm (Quảng Nam), Lý Sơn (Quảng Ngói), Vịnh Nha Trang (Khỏnh Hoà), Hũn Cau (Ninh Thuận), Phỳ Quớ (Bỡnh Thuận), Cụn Đảo (Bà Rịa Vũng Tàu), Phỳ Quốc (Kiờn Giang) và Nam Yết (Trường Sa) Mục tiờu chớnh của đề tài là đỏnh giỏ được hiện trạng nguồn lợi, khả năng khai thỏc bền vững và một số đặc điểm sinh học, sinh thỏi, phõn bố của họ Trai tai tượng (Tridacnidae), đề xuất cơ sở khoa học cho việc phục hồi và phỏt triển nguồn lợi trai tai tượng ở biển Việt Nam

Kết quả nghiờn cứu của đề tài đó đỏnh giỏ được hiện trạng nguồn lợi và khả năng khai thỏc cho từng loài Trai tai tượng (họ Tridacnidae) phõn bố tại 8 đảo ở biển Việt Nam; đặc điểm phõn bố sinh thỏi theo độ sõu, vựng địa lý và cấu trỳc nền đỏy rạn san hụ; đỏnh giỏ được trữ lượng và số lượng cỏ thể của từng loài theo cỏc nhúm kớch thước khỏc nhau Bước đầu nghiờn cứu khả năng sinh sản nhõn tạo: đó nuụi vỗ

thành thục và cho đẻ thành cụng 03 loài Trai tai tượng (Tridacna squamosa, T maxima, T crocea) ở qui mụ thử nghiệm Nuụi phục hồi tại vựng rạn san hụ và nuụi

trong ụ lồng trờn biển theo cỏc mụ hỡnh khỏc nhau Ngoài ra, dựa trờn cơ sở khoa học

và phõn tớch kết quả điều tra, nghiờn cứu ngoài thực địa, đề tài đó đề xuất được cỏc giải phỏp cú tớnh khoa học, thực tiễn và khả thi nhằm phục hồi và phỏt triển nguồn lợi Trai tai tượng (họ Tridacnidae) ở biển Việt Nam

Nhìn chung, tập thể cán bộ khoa học của đề tài đã hoàn thành tốt các nội dung nghiên cứu theo đúng tiến độ, đáp ứng đợc mục tiêu đề ra và thu đợc nhiều kết quả có giá trị khoa học và thực tiễn với độ tin cậy cao Kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở khoa học và ứng dụng thực tiễn cho việc khôi phục, bảo vệ

và phát triển nguồn lợi các loài Trai tai tợng (họ Tridacnidae) ở biển Việt Nam Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cơ sở khoa học cần thiết cho cơ quan quản lý CITES và Tổng Cục Thủy sản để xây dựng hạn ngạch xuất khẩu từng loài Trai tai tợng nhằm

đảm bảo khai thác bền vững, không ảnh hởng đến quần thể ngoài tự nhiên (theo qui

định tại phụ lục II, CITES và đáp ứng yêu cầu của cơ quan CITES quốc tế)

Phần 1 Tổng quan tỡnh hỡnh nghiờn cứu (Download)

Trang 2

Phần 2 Phương pháp nghiên cứu (Download)

Phần 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận (Download)

kÕt luËn vµ kiÕn nghÞ

kÕt luËn

1 Điều kiện môi trường sống của trai tai tượng:

- Chất lượng nước ở 08 đảo nghiên cứu đang ở mức an toàn về môi trường, chỉ

số tai biến môi trường RQtt đều ≤ 0,25 so với QCVN và tiêu chuẩn nước biển ASEAN Tuy nhiên, một số đảo như Phú Quý, Phú Quốc, Lý Sơn, vịnh Nha Trang có chỉ số RQtt khá cao, thể hiện mối nguy cơ tiềm ẩn về ô nhiễm môi trường biển

- Điều kiện môi trường sống phù hợp của các loài trai tai tượng ổn định tương đối trong khoảng nhiệt độ nước (25-31oC), độ mặn (30-34‰), pH (8-8,5), độ trong cao, ánh sáng có thể chiếu xuyên tới, độ sâu thích hợp ≤ 20m nước và phân bố chủ yếu trong các vùng rạn san hô tạo rạn

2 Hiện trạng nguồn lợi trai tai tượng và hạn ngạch xuất khẩu:

- Hiện nay, chỉ có 03 loài trai tai tượng phân bố phổ biển tại 08 đảo nghiên cứu

là Tridacna squamosa, T maxima và T crocea Hai loài T gigas và Hippopus hippopus trước đây có phát hiện phân bố tại một số đảo, đến nay không còn bắt gặp

nữa, nguồn lợi 2 loài này có nguy cơ đe dọa tuyệt chủng rất lớn

- Phân bố nguồn lợi của các loài trai tai tượng có sự biến động rất lớn và khác nhau giữa các vùng địa lý, cấu trúc nền đáy và đới rạn, độ sâu, thể hiện đặc trưng

phân bố sinh thái của từng loài Loài T squamosa chiếm ưu thế tại vùng biển Phú Quốc, đới mặt bằng rạn và sườn dốc rạn (chiếm 86%) và độ sâu 3-9m nước; Loài T maxima chiếm ưu thế tại vùng biển Nam Yết, đới mặt bằng rạn và sườn dốc rạn (chiếm 84%) và độ sâu 2-9m nước; và Loài T crocea chiếm ưu thế tại vùng biển Côn

Đảo, đới ven bờ và mặt bằng rạn (chiếm 75%) và độ sâu 2-5m nước

- Phân bố tần suất chiều dài của nhóm kích thước nhỏ và nhóm kích thước lớn của 3 loài trai tai tượng ngoài tự nhiên tại 08 đảo chiếm tỷ lệ rất thấp (khoảng 12%),

chiếm ưu thế là nhóm kích thước 100-280mm đối với loài T squamosa, 70-210mm đối với loài T maxima và nhóm kích thước ≤150mm đối với loài T crocea (khoảng

88%) Nhóm kích thước đạt tiêu chuẩn khai thác theo qui định hiện hành của các loài chiếm tỷ lệ thấp (khoảng 21,0% về khối lượng và 8,3 % về số lượng cá thể)

- Tổng trữ lượng tức thời của 03 loài trai tai tượng tại 08 đảo đạt khoảng

1.865,4 tấn (4,42 triệu cá thể) Trong đó, trữ lượng tức thời của loài T squamosa khoảng 94,8 tấn (58.900 cá thể), loài T maxima khoảng 90,3 tấn (133.100 cá thể) và loài T crocea khoảng 1.680,3 tấn (4,23 triệu cá thể)

- Tổng khả năng khai thác bền vững tối đa (MSY) của 03 loài trai tai tượng tại

08 đảo đạt khoảng 274,7 tấn (364.090 cá thể) Trong đó, khả năng khai thác của loài

T squamosa khoảng 11,4 tấn (1.700 cá thể), loài T maxima khoảng 11,3 tấn (2.300

cá thể) và loài T crocea khoảng 252,0 tấn (360.000 cá thể)

- Tổng lượng khai thác chung của 03 loài trai tai tượng tại 08 đảo (khoảng 20.860 cá thể) chưa vượt quá ngưỡng khả năng khai thác bền vững tối đa cho phép

(364.090 cá thể) là do tại Côn Đảo có trữ lượng và khả năng khai thác của loài T.

Trang 3

crocea rất cao (261.100 cá thể), nên tại hầu hết các đảo (trừ Côn Đảo, Lý Sơn và

Nam Yết) đều đã bị khai thác quá mức bền vững cho phép rất nhiều

- Nguồn lợi trai tai tượng hiện nay chủ yếu phục vụ cho xuất khẩu với nhu cầu làm cảnh là chính, giá trị chế biến làm thực phẩm và tiêu thụ trong nước chiếm tỷ lệ rất thấp Giá trị trong nước của các loài trai tai tượng phụ thuộc vào kích thước, loài

và thời điểm (dao động trong khoảng 15-30 USD/cá thể sống), giá tại thị trường nước ngoài dao động khoảng 20-75 USD/cá thể sống, có khi lên đến 120 USD/cá thể sống

- Hạn ngạch khai thác và xuất khẩu trai tai tượng trung bình hàng năm tại 08

đảo: Tổng hạn ngạch xuất khẩu của loài Trai tai tượng xẻ rãnh (T squamosa) tối đa khoảng 1.760 cá thể/năm (11,4 tấn); loài Trai tai tượng vàng (T crocea) tối đa khoảng 3.960 cá thể/năm (2,8 tấn); loài Trai tai tượng lớn (T maxima) sẽ tạm dừng

cấp hạn ngạch xuất khẩu trong 2 năm 2012-1013 để khôi phục lại quần thể và tiếp tục cấp hạn ngạch từ năm 2014-2015 tối đa khoảng 2.350 cá thể/năm (11,3 tấn)

3 Đặc điểm sinh học của trai tai tượng:

- Trai tai tượng dinh dưỡng bằng 2 hình thức chủ yếu là: (1) Cộng sinh với loài tảo quang hợp (Symbiodinium microadriaticum) và (2) dị dưỡng thông qua ăn lọc

SVPD (phát hiện 91 loài TVPD trong hệ tiêu hóa, thuộc 2 ngành tảo chủ yếu là tảo Silic và tảo Giáp) và các mảnh vụn hữu cơ ngoài môi trường nước

- Trai tai tượng là loài lưỡng tính, tính đực chín trước khoảng 4-9 năm đầu tùy

loài Kích thước sinh sản lần đầu của loài T squamosa khoảng 20-22 cm (tương ứng

khoảng 8-9+ tuổi), loài T maxima khoảng 14-16 cm (tương ứng khoảng 6-7+ tuổi),

loài T crocea khoảng 9-11 cm (tương ứng khoảng 4-5+ tuổi) Trai tai tượng ở biển Việt Nam sinh sản rải rác từ tháng 3 - tháng 11, nhưng tập trung vào tháng 5 - tháng 8 hàng năm Sức sinh sản của các loài trai tai tượng khá cao so với các loài nhuyễn thể khác, sức sinh sản tương đối dao động từ 4.600-9.500 trứng/gam và sức sinh sản tuyệt đối dao động từ 2,8-22,0 triệu trứng/cá thể

- Tốc độ sinh trưởng của các loài trai tai tượng khá chậm, dao động từ 12 –

26mm/năm Cấu trúc tuổi tối đa phân bố ngoài tự nhiên của loài T quamosa là 18+

tuổi, loài T maxima là 17+ tuổi và loài T crocea là 14+ tuổi

4 Thử nghiệm sinh sản nhân tạo và nuôi phục hồi:

- Khẳng định khả năng thành công trong việc lưu giữ và nuôi vỗ thành thục trai tai tượng bố mẹ trong điều kiện nhân tạo với tỷ lệ sống từ 53-93%, tỷ lệ thành thục cao (58-86%) Kích thích sinh sản bằng phương pháp “phơi khô, tạo dòng chảy mạnh” có hiệu quả nhất với tỷ lệ đẻ trung bình khoảng 42-60% tùy loài

- Bước đầu thử nghiệm thành công sinh sản nhân tạo 03 loài trai tai tượng với

tỷ lệ đẻ trung bình dao động từ 45,7 – 66,3%; tỷ lệ trứng thụ tinh trung bình từ 82,6 – 94,7%; tỷ lệ nở của trứng trung bình từ 78,5 – 85,6%; tỷ lệ sống trung bình của ấu trùng mới nở đến ấu trùng giai đoạn chữ D dao động từ 79,4 – 91,3%, thu được tổng

số 185,8 triệu ấu trùng chữ D và khả năng ương nuôi ấu trùng đến được giai đoạn giống con non 18-20 ngày tuổi

- Ba mô hình nuôi phục hồi (trong bể xi măng, nuôi trong ô lồng trên biển và nuôi đáy ở vùng rạn san hô) đều có thể áp dụng nhằm phục hồi nguồn lợi trai tai tượng Tuy nhiên, mô hình nuôi đáy ở vùng rạn san hô có tính khả thi, dễ áp dụng vào điều kiện thực tiễn và có hiệu quả hơn cả

Trang 4

kiến nghị

 Các cơ quan quản lý thủy sản địa phơng cần tăng cờng kiểm tra, giám sát chặt

chẽ việc thực thi khai thác theo qui định kích cỡ của từng loài (T squamosa ≥ 350mm, T maxima ≥ 340mm, T crocea ≥ 140mm)

 Qui định cấm/hạn chế khai thác trong mùa sinh sản tập trung từ tháng 5-tháng 8 hàng năm

 Tạm thời cấm hoàn toàn việc khai thác loài T maxima tại đảo Phú Quốc và Côn

Đảo, cấm hoàn toàn việc khai thác loài T crocea tại Phú Quốc do tần suất bắt gặp các

loài này hiện nay tại đây còn rất thấp

 Triển khai bảo tồn chuyển vị loài T maxima ra đảo Phú Quốc và Côn Đảo, loài

T crocea ra Phú Quốc để phục hồi nguồn lợi

 Bảo tồn chuyển vị, cấm tuyệt đối khai thác và xuất khẩu loài trai tai tợng khổng

lồ (T gigas) và loài Trai tay gấu (H hippopus)

 Đề nghị tiếp tục điều tra, khảo sát nguồn lợi Trai tai tợng phân bố tại các gò nổi

ở biển Việt Nam (nơi có vùng rạn san hô)

 Tiếp tục hoàn thiện hớng nghiên cứu sinh sản nhân tạo một số loài Trai tai tợng,

đặc biệt là kỹ thuật ơng nuôi ấu trùng giai đoạn sau 20 ngày tuổi

Ngày đăng: 15/03/2014, 17:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w