MỤC LỤC Lời tựa BÙI MINH TRÍ Gốm Tống - Trung Quốc trong Hoàng cung Thăng Long ĐỖ TRƯỜNG GIANG, NGUYỄN THỊ HỒNG LÊ, PHẠM THỊ OANH LÊ THỊ YÊN, PHẠM THẢO NGÂN Đồ gốm men trắng thời Lý tro
Trang 2NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI
Kinh thành cổ Việt Nam
V I E T N A M A N C I E N T C A P I T A L S
Trang 3MỤC LỤC
Lời tựa
BÙI MINH TRÍ
Gốm Tống - Trung Quốc trong Hoàng cung Thăng Long
ĐỖ TRƯỜNG GIANG, NGUYỄN THỊ HỒNG LÊ, PHẠM THỊ OANH
LÊ THỊ YÊN, PHẠM THẢO NGÂN
Đồ gốm men trắng thời Lý trong Hoàng cung Thăng Long - Kết quả nghiên cứu
năm 2019-2020
LÊ THỊ BÍNH
Đồ gốm men ngọc thời Lý trong Hoàng cung Thăng Long - Kết quả nghiên cứu
năm 2019-2020
WONG WAI-YEE, SHARON
Những phát hiện khảo cổ học về sản xuất và tiêu thụ gốm sứ ở Quảng Đông và
Hồng Kông giai đoạn Tống - Nguyên (thế kỷ 10-14)
DAVID BROTHERSON
Đồ sứ Trung Quốc thời Tống ở Angkor
ĐẶNG THỊ KHƯƠNG, CAO THỊ HUYỀN
Đồ đun nấu thời Đinh - Tiền Lê khu di tích Hoàng thành Thăng Long
LẠI VĂN TỚI
Di chỉ sản xuất gốm Gò Cây Me - nhận thức mới qua kết quả khai quật
năm 2017 - 2018
NGÔ VĂN CƯỜNG
Gạch chữ Hán thời Lê sơ tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long
BÙI HỮU NGỌC
Ngói hộp lợp bờ nóc mái kiến trúc cung điện thời Lê Trung hưng
NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO
Hiện vật kim loại khu di tích Hoàng thành Thăng Long - Kết quả bảo quản, nghiên
cứu và phân loại sơ bộ
PHAN THANH HẢI
Điện Thái Hòa và Điện Cần Chánh thời Nguyễn nhìn từ góc độ bố trí không gian
nghi lễ
81270
100
136
150162178
212234252
278
Trang 4Preface
BÙI MINH TRÍ
Song Dynasty Ceramics (China) excavated in Thăng Long imperial citadel
ĐỖ TRƯỜNG GIANG, NGUYỄN THỊ HỒNG LÊ, PHẠM THỊ OANH
LÊ THỊ YÊN, PHẠM THẢO NGÂN
Vietnam white-glazed ceramics in Lý dynasty - Perception from 2019-2020
research results
LÊ THỊ BÍNH
Vietnam celadon-glazed ceramics in Lý dynasty - Perception from 2019-2020
research results
WONG WAI-YEE, SHARON
The recent archaeological findings on ceramic production and consumption in
Guangdong and Hồng Kông during the Song-Yuan Period (10-14C)
DAVID BROTHERSON
Song-dynasty Chinese ceramics at Angkor
ĐẶNG THỊ KHƯƠNG, CAO THỊ HUYỀN
Cookwares from Đinh - pre Lê period in Thăng Long imperial citadel site
LẠI VĂN TỚI
Gò Cây Me ceramic kiln site: New perception through the 2017-2018 excavations
NGÔ VĂN CƯỜNG
Old bricks carving of Chinese characters at Thăng Long imperial citadel
BÙI HỮU NGỌC
Box-shaped tile decorated on architectural roof in Lê Trung hưng period
NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO
Metallic materials at Thang Long imperial citadel: the preservation and primary
research and classification results
PHAN THANH HẢI
Thái Hòa and Cần Chánh Palaces in the Nguyễn dynasty - A view from ritual space
arrangement
101270
100
136
150162178212234252
278
Trang 5* NCS, Viện Nghiên cứu Kinh thành
ĐỖ TRƯỜNG GIANG*, NGUYỄN THỊ HỒNG LÊ,
PHẠM THỊ OANH, LÊ THỊ YÊN, PHẠM THẢO NGÂN**
ĐỒ GỐM MEN TRẮNG THỜI LÝ
TRONG HOÀNG CUNG THĂNG LONG
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NĂM 2019-2020
Trang 6MỞ ĐẦU
Khu di tích Hoàng thành Thăng Long trong hai cuộc khai quật khảo cổ học năm 2002-2004 tại 18 Hoàng Diệu (khu ABCD) và năm 2008-2009 tại khu vực xây dựng nhà Quốc hội (khu E) đã thu được một khối lượng khổng lồ các di vật có giá trị văn hóa, lịch sử như: vật liệu kiến trúc, gốm sứ, sành, đất nung, kim loại, đá, nhuyễn thể, xương… Với những giá trị di sản, kiến trúc, văn hóa được kết tinh qua hàng nghìn năm lịch sử, khu di tích này đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa thế giới vào năm 2010 Trong số các di vật khai quật được tại Hoàng thành Thăng Long, đồ gốm sứ là loại hình di vật chiếm số lượng lớn và có nhiều giá trị khoa học trong việc nghiên cứu các vấn đề về văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo cũng như kinh tế của
xã hội đương thời Việc chỉnh lý, nghiên cứu, đánh giá giá trị các di vật gốm sứ phát hiện tại Hoàng thành Thăng Long đang được Viện Nghiên cứu Kinh thành thực hiện theo lộ trình dựa trên nguồn gốc, niên đại và dòng men Trong hai năm 2019-2020, Viện Nghiên cứu Kinh thành đã tiến hành chỉnh lý chi tiết và nghiên cứu đồ gốm sứ thời Lý, Trần, bước đầu giải mã những vấn đề khoa học, bí ẩn về đời sống trong Hoàng cung Thăng Long đương thời
Đồ gốm sứ Việt Nam thời Lý (1010-1225) phát hiện tại khu ABCD có số lượng tương đối lớn với 16.084 hiện vật, gồm: 288 hiện vật đủ dáng và 15.796 hiện vật mảnh vỡ (gồm 3.521 mảnh miệng, 5.995 mảnh thân và 6.281 mảnh đáy) Đồ gốm thời kỳ này rất phong phú về loại hình, đa dạng về kiểu dáng, đặc sắc về hoa văn trang trí Theo nghiên cứu của PGS.TS Bùi Minh Trí, đồ gốm sứ Việt Nam thời Lý có sáu dòng men: men trắng, men ngọc, men nâu, men lục, men vàng và hoa nâu (Bùi Minh Trí, 2012) Tại khu ABCD, các nhà khảo cổ học đã phát hiện được đủ sáu dòng men của đồ gốm thời Lý với 20 loại hình, gồm: bát, đĩa, đĩa mài thảo dược, âu, ang, chậu, liễn, bình, bình hoa, bình đốt trầm, bình rượu, vò, lọ, hộp, ống nhổ, bát bồng, thạp, đĩa đài, nắp, chân đế thạp/liễn Trong đó, tuy số lượng loại hình trong mỗi dòng men có số lượng khác nhau, nhưng về tổng thể chúng có những đặc trưng mang tính tương đồng về hình dáng và kỹ thuật sản xuất, mang dấu ấn của thời đại
Đĩa đài sen men trắng, trang trí hoa cúc dây, thời Lý, thế kỷ 11-12
Nguồn: Zetterquits Galleries (New York, NY).
Trang 7Bài viết này là kết quả bước đầu quá trình nghiên cứu về đồ gốm men trắng Việt Nam thời Lý phát hiện được tại khu ABCD của khu di tích Hoàng thành Thăng Long tại 18 Hoàng Diệu, thực hiện bởi nhóm nghiên cứu gốm sứ của Viện Nghiên cứu Kinh thành trong hai năm 2019-2020 dưới sự chỉ đạo, điều hành và hướng dẫn của PGS.TS Bùi Minh Trí - Chuyên gia gốm cổ Việt Nam, Chủ nhiệm Dự án.
I LOẠI HÌNH
Đồ gốm men trắng Việt Nam thời Lý phát hiện tại khu ABCD có số lượng lớn nhất với 11.561 hiện vật, gồm: 254 hiện vật đủ dáng, 11.307 hiện vật mảnh vỡ (2.898 mảnh miệng, 3.540 mảnh thân và 4.869 mảnh đáy), phong phú nhất với 16 loại hình: bát, đĩa, đĩa mài thảo dược, âu, ang, chậu, liễn, bình hoa, bình đốt trầm, bình rượu, vò, lọ, hộp, ống nhổ, bát bồng, đĩa đài, trong đó, loại hình bát và đĩa có số lượng lớn nhất,
đa dạng về loại hình học, đặc sắc về hoa văn trang trí (xem Bảng 1)
Bảng 1 Số lượng đồ gốm sứ men trắng, thời Lý (thế kỷ 11 - 13), khu ABCD
TT Loại hình
Số lượng hiện vật
Tổng cộng Nguyên Đủ dáng Mảnh vỡ
Miệng Thân Đáy Tổng
Trang 8Hình 1 Nhóm bát men trắng thân cong, chân đế cao
Trang 9Bát có đặc điểm chung là sâu lòng, miệng thẳng, miệng loe hoặc miệng khắc cánh sen và có 2 loại chân
đế là chân cao và chân thấp Chiếm số lượng lớn là bát sâu lòng, miệng thẳng, chân đế cao (xem Hình 1) Chân
đế cao hay chân đế thấp đều có nhiều kiểu loại, nhưng nhìn chung có 3 kiểu loại chính: chân đế đứng, chân
đế thon và chân đế choãi
Về kích cỡ bát có 2 loại: Bát loại nhỏ, số lượng không nhiều, đường kính miệng trung bình 11,2cm - 12,8cm, cao 4,55cm - 5,2cm, đường kính đáy 4,6cm - 5,2cm Bát loại to chiếm số lượng lớn, đường kính miệng trung bình 15,4cm - 21cm, cao 6,45cm - 10,1cm, đường kính đáy 5,2cm - 7,2cm
Các loại bát này có hoa văn trang trí khá đẹp, chủ yếu từ 2 kỹ thuật khắc chìm và in khuôn, trong đó phổ biến là kỹ thuật khắc chìm dưới men với đường nét tỉ mỉ, linh hoạt, đề tài phong phú Các loại bát trang trí hoa văn bằng kỹ thuật in khuôn tuy có số lượng không nhiều, nhưng đề tài cũng vô cùng sinh động với các motif trang trí như hoa mẫu đơn, hài nhi trong hoa mẫu đơn, hoa cúc và cá… (xem Hình 1-3)
Về kỹ thuật xếp nung: các loại bát men trắng chủ yếu được xếp chồng lên nhau, được nung trong bao nung hình trụ và được chống dính bằng bột chống dính hoặc dùng con kê vòng tròn có 4 hoặc 5 chân kê.Trên cơ sở sự khác biệt về hình dáng, kỹ thuật tạo chân đế, kỹ thuật xếp nung (nung trực tiếp hay gián tiếp bằng con kê, bột chống dính…), bát men trắng được phân thành 24 loại, trong mỗi loại lại chia thành nhiều kiểu Phương pháp phân loại loại hình và kiểu trong từng loại hình của đồ gốm chủ yếu dựa trên sự khác biệt về hình dáng và kỹ thuật tạo chân đế, trong đó kỹ thuật tạo chân đế là quan trọng nhất (Bùi Minh Trí, 2012b) Trong số
24 loại bát được phân loại, có một số loại bát nổi bật mang tính đặc trưng riêng biệt và cho thấy trình độ phát triển cao của đồ gốm men trắng, cũng như tính thẩm mỹ thời đại thể hiện trên đồ gốm men trắng thời Lý
2 Đĩa
Đĩa gốm men trắng chiếm số lượng lớn nhất với 4.911 hiện vật, gồm: 50 hiện vật đủ dáng, 1.248 mảnh miệng, 1.299 mảnh thân, 2.314 mảnh đáy, phong phú về mặt hình học, đa dạng về mặt chất lượng, đặc sắc
về họa tiết, hoa văn trang trí
Phần lớn đây là loại đĩa sâu lòng, có dáng miệng loe, hoặc thẳng, mép vuốt mỏng, chân đế nhỏ, thấp
Về kích thước có 2 loại đĩa lớn và đĩa nhỏ Đĩa nhỏ chiếm đa số, có đường kính miệng 12cm - 22,6cm, chiều cao 3cm - 6cm, đường kính đáy 4,2cm - 8,6cm, tỉ lệ đường kính chân đế bằng khoảng 1/3 đường kính miệng Đĩa lớn có số lượng không nhiều, phần lớn bị vỡ không còn đủ dáng, nhưng dựa trên cơ sở nghiên cứu so sánh có thể phỏng đoán loại đĩa này kích thước lớn, đường kính miệng khoảng 28cm - 35cm, cao 7cm - 10cm, đường kính đáy 9cm - 13cm
Hoa văn trang trí trên đĩa men trắng khá đặc sắc với hai kỹ thuật khắc chìm dưới men và in khuôn, trong
đó phổ biến nhất là khắc chìm dưới men Tương ứng với truyền thống kỹ thuật này là sự khác biệt nhau khá
rõ nét về phong cách nghệ thuật trang trí hoa văn Đối với kỹ thuật khắc chìm, phần lớn hoa văn được bố cục thưa thoáng, phóng đạt và không chú trọng chi tiết (xem Hình 4) Đối với kỹ thuật in khuôn, hoa văn được chú trọng đến từng chi tiết, bố cục dày đặc, đề tài thường phối hợp giữa hoa và nhân vật (tiểu đồng hay hài nhi) (xem Hình 5) Tuy có khác nhau về kỹ thuật, nhưng motif hoa văn trang trí trên loại hình đĩa men trắng phổ biến là hoa sen, hoa cúc, hoa mẫu đơn, văn sóng nước, cá, bướm
Kỹ thuật xếp nung trên các loại đĩa to nhỏ có sự khác nhau và khá đa dạng với các kỹ thuật: xếp nung gián tiếp bằng con kê, hòn kê, xếp nung trực tiếp bằng bột chống dính hoặc nung đơn chiếc Trong đó, kỹ thuật xếp nung bằng bột chống dính và con kê chiếm số lượng chủ yếu
Trên cơ sở sự khác biệt về hình dáng, kỹ thuật tạo chân đế, kỹ thuật xếp nung, chất liệu, nhóm nghiên cứu phân loại đĩa men trắng khu ABCD thành 26 loại Số liệu này cho thấy, đĩa gốm men trắng thời Lý rất phong phú, đa dạng về hình dáng và kỹ thuật tạo chân đế Điều này phán ánh rằng, các loại đĩa đó được sản xuất bởi nhiều xưởng lò khác nhau và sản xuất ở trong những khoảng thời gian khác nhau (xem Hình 4-6)
Trang 10Hình 3 Nhóm bát gốm men trắng thân vát, chân đế thấp
Nguồn: Viện Nghiên cứu Kinh thành
1
2
3
4
Trang 11Hình 4 Nhóm đĩa men trắng thân cong,
Trang 12Hình 6 Một số đĩa men trắng, thân vát; thân giật cấp; chân tiện
Nguồn: Viện Nghiên cứu Kinh thành
Trang 133 Đĩa mài thảo dược
Có 27 hiện vật, gồm 3 hiện vật đủ dáng, 14 mảnh miệng, 3 mảnh thân và 7 mảnh đáy
Đĩa mài thảo dược không phong phú về kiểu dáng, chất lượng khá đồng đều với nhau Đây là loại đĩa miệng loe, bản miệng tạo nổi nhẹ các đường tròn nhỏ có kích thước trung bình 4mm nằm sát nhau chạy xung quanh vành miệng, thân cong, lòng nông, thành thấp, chân tiện, đáy rộng, lòng khá phẳng, lòng được khắc vạch các đường rãnh cắt chéo nhau tạo thành hình thoi hay hình ô vuông nhỏ Loại đĩa này không có dấu vết con kê hay bột chống dính, nên không rõ kỹ thuật xếp nung Đĩa có kích thước trung bình: đường kính miệng 22,4cm - 26,4cm; chiều cao 3,7cm - 4,0cm; đường kính đáy 18cm - 21,2cm (xem Hình 7.1)
4 Âu
Có 172 hiện vật, gồm 116 âu và 56 nắp âu
4.1 Thân âu: Có 116 hiện vật gồm 5 hiện vật đủ dáng, 36 mảnh miệng, 4 mảnh thân và 71 mảnh đáy
Âu có hình dáng không đồng nhất với nhau, niên đại kéo dài từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 13, có dáng miệng thẳng hoặc khum nhẹ, thân cong tròn hoặc đứng hình trụ, có loại cắt bằng và có chân đế Loại âu bằng đáy thường có niên đại sớm hơn (thế kỷ 11 - 12), không rõ dấu vết xếp nung Loại âu tạo chân đế được xác định thế kỷ 13 Loại này thường có vết bột chống dính trong lòng sản phẩm Kích thước trung bình: đường kính miệng 14,4cm - 18,2cm; chiều cao 6,0cm - 9,9cm; đường kính đáy 5,3cm - 9,0cm (xem Hình 7.2-3)
4.2 Nắp âu: Có 56 hiện vật, gồm 4 hiện vật đủ dáng và 52 mảnh miệng Đặc điểm chung của nắp là dáng
hình nón thấp, kích thước trung bình đường kính miệng 3,2cm - 14cm; chiều cao 2,1cm - 9,5cm Thân nắp vát xuôi, mép miệng tạo cao liền vành miệng, thon, cao Phần lớn nắp có trang trí hoa văn tạo nổi hoặc khắc chìm; men phủ cả trong và ngoài hoặc chỉ phủ bên ngoài, bên trong để mộc; xương gốm mỏng, đanh chắc (xem Hình 8)
5 Ang
Có 152 hiện vật, gồm 36 mảnh miệng, 22 mảnh thân và 94 mảnh đáy
Ang không có hiện vật đủ dáng nên không rõ hình dáng cụ thể như thế nào Tuy nhiên, dựa vào các mảnh vỡ còn lại cho thấy ang có miệng khum hoặc miệng loe, thân cong khum hình cầu dẹt, đáy tạo bằng hoặc có chân đế nhỏ và rất thấp hoặc tạo chân đế trong.1
Trong nhóm mảnh vỡ đã phân loại, để phần nào hiểu một cách chung nhất về hình dáng ang, chúng tôi chọn đặc trưng kiểu miệng và đáy tiêu biểu như sau: Ang có thân, miệng cong khum, mép miệng vê tròn hoặc tạo nhọn, loe nhẹ ra phía ngoài, thân phần lớn không trang trí hoa văn, số nhỏ tạo 2 gờ nổi, giữa tạo nổi chấm tròn nhỏ có đường kính khoảng 5mm, giống hình bông hoa cúc cách điệu Đáy liền thân cắt bằng hoặc cắt lõm nhẹ ở giữa, không phủ men Men bóng, nhẵn, phủ đều, mỏng Xương gốm mỏng, đanh, chắc, mịn (xem Hình 7.4)
6 Chậu
Có 109 hiện vật, trong đó có 1 hiện vật đủ dáng, 77 mảnh miệng, 26 mảnh thân và 5 mảnh đáy.Chậu có đặc điểm chung là miệng loe, thân loe cong, chân đế tạo cao hoặc cắt bằng Loại chân đế cắt bằng có 2 kiểu đó là thành ngoài chân đế cắt vát loe và thành ngoài chân tiện (có từ 2 - 3 gờ nổi), kích thước trung bình đường kính miệng 22cm - 42cm, chiều cao (còn lại) 4,5cm - 10,9cm; đường kính đáy 14cm - 20cm Trong nhóm chậu men trắng, có 1 hiện vật đủ dáng rất đặc sắc, thuộc loại quý hiếm được tìm thấy tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long Đó là chiếc chậu men trắng đục, có hoa văn trang trí ở chân đế bằng kỹ thuật trổ thủng khá tinh xảo Chân đế chậu rất cao, có tỷ lệ bằng 1/3 so với chiều cao của thân, phần giáp thân tạo nổi văn cánh sen kép, giữa chân đế trổ thủng văn dây lá cuốn khá mềm mại và rất đặc trưng của nghệ thuật thời Lý (xem Hình 9)
1 Chân đế trong là thuật ngữ kỹ thuật tạo chân đế bằng cách tạo đáy bằng và khoét phôi gốm bên trong đáy để tạo vành chân đế ở bên ngoài Đây là
một truyền thống kỹ thuật rất đặc trưng của gốm Việt Nam và thường phổ biến đối với loại hình âu, ang hoặc chậu.
Trang 14Hình 7 Đĩa mài thảo dược (1), âu (2,3), ang (4), gốm men trắng
Nguồn: Viện Nghiên cứu Kinh thành
1
2
3
4
Trang 16Hình 11 Nắp liễn gốm men trắng Nguồn: Viện Nghiên cứu Kinh thành
Trang 177 Liễn
Có 326 hiện vật gồm 164 thân liễn và 162 nắp liễn
7.1 Thân liễn: Có 164 hiện vật, gồm 44 mảnh miệng, 98 mảnh thân và 22 mảnh đáy
Liễn men trắng có số lượng không nhiều, không thấy hiện vật đủ dáng Kỹ thuật tạo miệng liễn khá thống nhất, nhưng chân đế lại rất khác nhau, được phân thành 3 loại cơ bản Trong đó đặc sắc nhất là loại 3,
có hình dáng giống thạp gốm hoa nâu nhưng kích thước nhỏ, thân hình trụ, chân tiện, diện tiếp xúc cắt vát trong, đáy lồi nhẹ Thân sát đáy tạo nổi dải băng cánh sen kép, thành chân đế trổ thủng 8 bông hoa, mỗi bông
có 2 cánh ngang, đầu cánh hoa nhọn, giữa có nhụy tròn Chân đế ngoài và đáy không phủ men, men bóng rạn, phủ không đều Xương gốm khá dày, nặng, chắc màu trắng đục (xem Hình 10)
7.2 Nắp liễn: Có 162 hiện vật, gồm 1 hiện vật đủ dáng, 81 mảnh miệng và 80 mảnh thân Nắp có núm,
kích thước trung bình: đường kính miệng 3,0cm - 5,9cm; chiều cao 2,3cm - 4,4cm Nắp khá đa dạng về hình dáng từ hình chóp cụt đến hình đĩa tròn dẹt (xem Hình 11)
8 Bình hoa
Có 17 hiện vật, trong đó có 1 hiện vật phục chế, 12 mảnh thân và 4 mảnh đáy
Bình hoa hình ống, miệng loe, thân cao, giữa hơi phình nhẹ, quanh thân tạo gờ nổi kiểu con tiện, khoảng cách giữa các gờ trung bình 1,5cm - 1,8cm Chân đế bình thấp, loe, mép tạo gần nhọn, cắt vát trong, thành trong chân đế và đáy không phủ men, đáy lồi nhẹ Toàn thân bình hoa tạo các đường chỉ nổi (8 đường)
có khoảng cách đều nhau, trung bình 1,5cm Thân sát đáy tạo nổi dải băng cánh sen kép hoặc có kiểu 1 dải băng còn 1 dải băng khác tạo ở thành ngoài chân đế, hai dải ngược chiều nhau Men phủ mỏng, mịn, chất lượng cao Xương gốm trắng đục, chắc, khá mịn (xem Hình 12)
9 Vò
Có 104 hiện vật, gồm 31 mảnh miệng, 62 mảnh thân và 11 mảnh đáy
Đặc điểm chung của vò men trắng thời Lý là thân cao, cổ ngắn, miệng khum hoặc loe nhưng phổ biến
là miệng khum, kích thước trung bình, thậm chí khá nhỏ so với các thời kỳ khác, kích thước trung bình đường kính miệng từ 7,8cm - 8,4cm Vò có men phủ dày vừa phải, bóng, rạn kính hoặc mịn nhẵn; xương gốm mỏng, đanh chắc và có màu trắng hoặc trắng đục (xem Hình 13.1-2)
10 Lọ
Có 50 hiện vật, gồm 34 mảnh miệng, 1 mảnh thân và 15 mảnh đáy
Lọ men trắng có kích thước nhỏ, trung bình đường kính miệng từ 2,9cm - 4,3cm (xem Hình 14.1) Nhóm lọ men trắng đa dạng về hình dáng, kiểu miệng và motif trang trí với đồ án chủ đạo là trang trí hoa sen Men có trắng đục, trong bóng và bề mặt có rạn kính Xương gốm mỏng, đanh chắc, mịn và có màu trắng sứ hoặc trắng đục Trong số này, lọ loại 2 có những đặc trưng nổi bật như trên vai tạo nổi băng cánh sen kép, xung quanh và bề mặt mỗi cánh sen đều khắc tia, trung bình 4 tia Lọ loại 3 có miệng khum nhẹ, thân hình cầu, có chân Thân đều tạo nổi 3 tầng cánh sen (tầng trên cùng là cánh sen kép, 2 tầng dưới là cánh sen đơn)
11 Ống nhổ
Có 139 hiện vật, gồm 1 hiện vật phục chế, 6 mảnh miệng, 76 mảnh thân và 56 mảnh đáy
Ống nhổ men trắng thời Lý được tìm thấy phần lớn là mảnh thân và mảnh đáy Kiểu dáng không phong phú, khá thống nhất về hình dáng: miệng loe, cổ cao, thân hình cầu dẹt Thân sát đáy có tạo 1 gờ nổi, chân đế thẳng, mép cắt vát trong, thành trong chân đế và đáy không phủ men (xem Hình 13.3)
12 Bình rượu
Bình rượu men trắng có 90 hiện vật, gồm có 5 nắp bình, 1 thân bình được sử dụng trong đời sống sinh hoạt và 84 bình rượu mini (đồ mô phỏng)