Mì có thể phân loại theo những cách sau: Phân loại theo thành phần muối: Mì muối thường: được làm từ một loại bột đơn giản và nước nhào với 2-8% muối tính theo khối lượng bột Fu, B.. Mứ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM
KHOA ĐÀO TẠO CHẤT LƯỢNG CAO
1 Quách Thị Mỹ Hạnh 18116061
2 Nguyễn Thị Huyền 18116071
4 Phan Thị Ngân Quỳnh 18116105
5 Hoàng Thị Linh Thùy 18116116
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2021
Trang 3Bài Sinh viên thực hiện Nhiệm vụ
Bài 1: Hoàng Thị Linh Thùy
Nguyễn Thị Huyền
Tổng quan, kết quả, kết luận Nguyên liệu, quy trình, kết quả Bài 2:
(cộng 0.5đ)
Trần Kim Ngân Phan Thị Ngân Quỳnh
Tổng quan, kết quả, kết luận Nguyên liệu, quy trình Bài 3
(cộng 1đ)
Hoàng Thị Linh Thùy Phan Thị Ngân Quỳnh
Nguyên liệu, quy trình, kết luận Tổng quan, kết quả
Nguyễn Thị Huyền
Nguyên liệu, quy trình, kết quả Tổng quan
Tổng hợp và chỉnh sửa
Quách Thị Mỹ Hạnh Trần Kim Ngân
Điểm :………
Nhận xét của giảng viên ………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 4BÀI 1 CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT MÌ SỢI 1
1 Tổng quan về mì 1
1.1 Tổng quan về mì 1
1.2 Phân loại mì 2
1.3 Tổng quan về bột mì 4
2 Nguyên liệu - phương pháp nghiên cứu 5
2.1 Nguyên liệu 5
2.2 Các phương pháp nghiên cứu 10
3 Kết quả 14
3.1 Ảnh hưởng của phụ gia đến thời gian nấu của sợi mì tươi 14
3.1 Ảnh hưởng của phụ gia đến độ hút nước của sợi mì tươi 14
4 Kết luận 17
Tài liệu tham khảo 18
PHỤ LỤC 20
Bài 2: CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT BÁNH CANH 24
1 Tổng quan 24
1.1 Tổng quan về bánh canh 24
1.2 Phân loại bánh canh 24
2 Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu 27
2.1 Nguyên liệu 27
2.2 Các phương pháp phân tích 31
3 Kết quả 37
3.1 Ảnh hưởng của phụ gia đến thời gian nấu của sợi bánh canh 37
3.2 Ảnh hưởng của phụ gia đến độ hút nước của sợi bánh canh 39
3.3 Ảnh hưởng của độ thoái hóa đến sợi bánh canh 40
4 Kết luận 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
PHỤ LỤC 45
Trang 5BÀI 3 CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT PASTA 51
1 Tổng quan 51
2 Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu 53
2.1 Nguyên liệu 53
3 Kết quả 61
3.1 Chất lượng nấu của pasta 61
3.2 Độ ẩm của pasta 62
Tài liệu tham khảo 64
PHỤ LỤC 66
Bài 4 CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT BÁNH ƯỚT ĐÔNG LẠNH 68
1 Tổng quan về bánh ướt 68
1.1 Tổng quan bánh ướt 68
2 Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu 69
2.1 Nguyên liệu 69
2.1.1 Bột năng 69
2.1.2 Bột gạo 70
2.1.3 Lá dứa 71
2.1.4 Bột hạnh nhân 72
2.1.5 STPP 73
2.1.6 Nước 73
2.1.7 Muối 73
4 Bàn luận 78
5 Kết luận 79
Tài liệu tham khảo 80
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Bột mì Baker’s Choice số 11 ……… 6
Hình 1.2 Công thức cấu tạo STPP……… 9
Hình 1.3 Công thức cấu CMC………9
Hình 1.4 Quy trình công nghệ sản xuất mì tươi………11
Hình 1.5 Trộn khô các thành phần nguyên liệu………11
Hình 1.6 Ủ lạnh khối bột……… 12
Hình 1.7 Cán khối bột……… 13
Hình 1.8 Cắt lá bột………13
Hình 2.1 Hình ảnh sợi bánh canh……… 21
Hình 2.2 Sợi bánh canh bột lọc……….22
Hình 2.3 Sợi bánh canh bột gạo………22
Hình 2.4 Bánh canh bột xắt……… 23
Hình 2.5 Bánh canh làm theo phương pháp ép đùn……… 23
Hình 2.6 Bánh canh chả cá………24
Hình 2.7 Bánh canh ngọt……… 24
Hình 2.8 Hình bột gạo……… 25
Hình 2.9 Hình bột năng……….26
Hình 2.10 Công thức cấu tạo STPP……… 27
Hình 2.11 Công thức cấu tạo xathan gum……….27
Hình 2.12 Hoa đậu biếc……….28
Hình 2.13 Sơ đồ quy trình sản xuất bánh canh……… 30
Hình 2.14 Nhào bột………31
Hình 2.15 Hồ hóa……… 31
Hình 2.16 Nhào bột………32
Hình 2.17 Bột được cán……….32
Hình 2.18 Bánh canh thành phẩm……… 33
Hình 3.1 Một số hình ảnh pasta……… …… 48
Hình 3.2 Các hình dánh của pasta……….50
Trang 7Hình 3.3 Bột mì semolina………51
Hình 3.4 Quy trình sản xuất pasta bằng phương pháp ép đùn……….53
Hình 3.5 Nguyên liệu được chuẩn bị trước khi phối trộn………54
Hình 3.6 Bột nhào tự động bằng máy làm pasta……… 54
Hình 3.7 Pasta làm bằng phương pháp ép đùn……….55
Hình 3.8 Quy trình sản xuất pasta bằng phương pháp cắt………55
Hình 3.9 Pasta tạo hình bằng phương pháp cán cắt……… 56
Hình 4.1 Bánh ướt……….65
Hình 4.2 Bột năng Taky Food 400g……… 66
Hình 4.3 Bột gạo Taky Food 400g………67
Hình 4.4 Lá dứa……….68
Hình 4.5 Quy trình bánh ướt đông lạnh………70
Hình 4.6 Hình ảnh tất cả các nguyên liệu sau khi được phối trộn………71
Hình 4.7 Nồi tráng bánh………72
Hình 4.8 Hình bánh sau khi hấp………72
Hình 4.9 Đóng hộp để đông lạnh……… 73
Hình 4.10 Bánh ướt thành phẩm……… 74
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng trong 100g bột mì Baker’s Choice số 11…… 7
Bảng 1.2 Chi tiết các thành phần nguyên liệu sử dụng trong bảng khảo sát…… 10
Bảng 1.3 Ảnh hưởng của phụ gia tới thời gian nấu mì tươi……….14
Bảng 2.1 Công thức phối trộn bột bánh canh……… 29
Bảng 2.2 Kết quả khảo sát thời gian nấu bánh canh………34
Bảng 2.3 Kết quả giữa các mẫu………34
Bảng 2.4 Kết quả độ hút nước giữa các mẫu………36
Bảng 2.5 Kết quả độ thoái hóa giữa các mẫu………37
Bảng 3.1 Phân loại pasta……… 49
Bảng 3.2 Chi tiết các thành phần nguyên liệu sử dụng trong bảng khảo sát…… 52
Bảng 3.3 Khảo sát độ hấp thụ nước của hai mẫu pasta………58
Bảng 3.4 Khảo sát độ ẩm của hai mẫu pasta………58
Bảng 4.1 Giá trị dinh dưỡng của 28g hạnh nhân……… 68
Bảng 4.2 Đánh giá cảm quan………74
Trang 9BÀI 1 CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT MÌ SỢI
1 Tổng quan về mì 1.1 Tổng quan về mì
Một trong những nền văn hóa phương Đông nổi bật nhất là việc tiêu thụ gạo, mì và bánh bao làm thực phẩm chính hàng ngày, sử dụng đũa như một công cụ phục vụ chính
Mì châu Á không chỉ được làm từ lúa mì, nhiều loại mì được làm từ gạo, kiều mạch và tinh
bột mà có nguồn gốc từ đậu xanh và khoai tây chẳng hạn (Fu, B X ,2008)
Mì làm từ lúa mì được chế biến chủ yếu từ ba thành phần cơ bản; bột mì, nước và muối Mì Á và mì Ý khác nhau về nguyên liệu và cách chế biến Các sản phẩm mì thường
được làm từ bột mì mịn thông thường bằng quy trình tạo tấm và cắt so với các sản phẩm
mì ống, được chế biến từ bột báng thô xay từ lúa mì cứng bằng cách ép đùn (Fu, B X
,2008)
Ai là người phát minh ra mì đang là một chủ đề tranh cãi sôi nổi - với cả người Trung Quốc, Ý và Ả Rập đều đưa ra yêu sách Nhưng khám phá của Lu et al (2005) về
một nồi mì mỏng được bảo quản 4000 năm ở khe sông Hoàng Hà có thể đã nghiêng về
phía Trung Quốc Nó cho thấy rằng mọi người đã ăn mì sớm hơn ít nhất 1000 năm so với
suy nghĩ trước đây, và nhiều thế kỷ trước khi những món ăn như vậy được ghi nhận ở châu
Âu Sợi mì mỏng, màu vàng, dài khoảng 50 cm và giống La-Mian, một loại mì truyền
thống của Trung Quốc, được làm bằng cách nghiền lúa mì để tạo thành bột và sau đó kéo
và kéo bột nhiều lần bằng tay (Fu, B X ,2008)
Mì làm thủ công của Trung Quốc và công nghệ chế biến của nó đã du nhập vào Nhật Bản khoảng 1200 năm trước (Nagao, 1996) Bốn loại mì muối thông thường ở Nhật Bản
(So-men, Hiya-mugi, Udon và Hira-men) được phát triển dựa trên kỹ thuật chế biến mì thủ
công của Trung Quốc đã được cải tiến để đáp ứng thị hiếu của người dân địa phương Việc
sản xuất mì được người Nhật cách mạng hóa với sự phát triển của máy móc chạy bằng
năng lượng vào năm 1884 Vào đầu thế kỷ 20, mì muối kiềm đã được những người Hoa di
cư ở thành phố Yokahama dần dần phổ biến khắp Nhật Bản Mì ăn liền đầu tiên, được gọi
là ramen gà, được sản xuất bởi Nissin Foods của Nhật Bản vào năm 1958 Mì ăn liền ngay
Trang 10lập tức trở thành một thực phẩm chính thống và người tiêu dùng của họ không chỉ ở châu
Á mà trên toàn thế giới (Fu, B X ,2008)
Phần lớn mì ngày nay được sản xuất bằng máy Mặc dù quy trình thực tế để sản xuất một loại mì cụ thể có thể khác nhau giữa các quốc gia để đáp ứng nhu cầu địa phương,
nhưng các nguyên tắc cơ bản liên quan trên thực tế là giống nhau Nhiều nguyên tắc trong
số này bắt nguồn từ những nguyên tắc được sử dụng trong sản xuất mì thủ công cổ đại
Mặc dù năng suất thấp theo tiêu chuẩn ngày nay, mì làm bằng tay vẫn tiếp tục tồn tại và
vẫn rất phổ biến ở Trung Quốc và Nhật Bản Mì làm bằng tay được đánh giá cao vì chất
lượng ăn ngon của chúng, có lẽ là do phương thức hình thành gluten Những phát triển
trong công nghệ chế biến mì trong những năm 1990, chẳng hạn như trộn chân không, trục
lăn vẫy và tấm phủ nhiều lớp, dựa trên các nguyên tắc phát triển gluten trong mì làm thủ
công (Fu, B X ,2008)
1.2 Phân loại mì
Việc người Trung Quốc phát minh ra nhiều công thức và kỹ thuật chế biến mì, cùng với công nghệ tiên tiến của người Nhật đã đưa mì Châu Á trở thành một sản phẩm thực
phẩm quốc tế Mặc dù có nguồn gốc xa xưa, mì đã trải qua quá trình phát triển và lan truyền
đáng kể, khi các sản phẩm ngày càng trở nên toàn cầu hóa (Hatcher, 2001; Hou, 2001)
Việc thay đổi công thức và chế biến là cần thiết do thói quen ăn uống của từng vùng, sở
thích khẩu vị và những tiến bộ trong công nghệ Sự độc đáo của địa phương trong công
thức và chế biến đã tạo ra nhiều hệ thống phân loại mì cụ thể cho từng quốc gia Có sự
khác biệt lớn trong danh pháp mì giữa các quốc gia Những khác biệt này thường gây ra
nhầm lẫn Ví dụ, Ramen chủ yếu đề cập đến mì kiềm vàng tươi ở Nhật Bản, nhưng chủ yếu
là mì ăn liền ở Hàn Quốc (Fu, B X ,2008)
Mì có thể phân loại theo những cách sau:
Phân loại theo thành phần muối:
Mì muối thường: được làm từ một loại bột đơn giản và nước nhào với 2-8% muối tính theo khối lượng bột (Fu, B X ,2008) Bề ngoài của mì muối thông thường phải sáng,
có màu sạch từ trắng đến trắng kem, và bề mặt bóng, mịn sau khi luộc (Nagao, 1991)
Trang 11Mì muối kiềm: các muối kiềm phổ biến nhất được sử dụng ngày nay là natri cacbonat hoặc kali cacbonat, hoặc hỗn hợp của cả hai Sự kết hợp của các muối kiềm làm
cho mì có giá trị pH dao động từ khoảng 9 đến 11 tùy thuộc vào muối được sử dụng và
cường độ ion của chúng (Miskelly, 1996) Sợi mì kiềm có mùi thơm và vị đặc trưng, màu
vàng và kết cấu chắc, đàn hồi (Fu, B X ,2008)
Phân loại theo phương pháp chế biến
Mì tươi: là loại mì sống, ướt Không có quy trình chế biến nào được áp dụng trong
nhà máy sau khi bột cán mỏng được cắt thành sợi mì có chiều dài và chiều rộng mong
muốn Sợi mì thường được phủ một lớp tinh bột hoặc bột mì mịn ngay sau khi cắt để tránh
dính vào nhau trong quá trình xử lý và vận chuyển Độ ẩm của mì tươi từ 32% đến 40%
Nhược điểm chính của mì tươi là thời hạn sử dụng tương đối ngắn, từ một ngày đến vài
ngày, tùy thuộc vào bao bì và điều kiện bảo quản (Fu, B X ,2008)
Mì khô: là loại mì thô được sản xuất bằng cách sấy khô có kiểm soát các sợi mì ướt
chưa nấu chín Độ ẩm cuối cùng của mì khô thường nhỏ hơn 14% Sau khi sợi mì được
hình thành, chúng được cắt có chiều dài từ 2-4m và treo trên que để làm khô Trong các
nhà máy tự động lớn, mì được làm khô trong một phòng lớn, nơi quá trình sấy được kiểm
soát thông qua quy trình ba giai đoạn Mì cũng có thể được làm khô trong một buồng có
thể điều chỉnh nhiệt độ, độ ẩm tương đối và thông gió Ở những nơi có khí hậu cho phép,
một số sợi mì, đặc biệt là mì được duỗi bằng tay, vẫn được phơi dưới ánh nắng mặt trời
Vì độ ẩm thấp nên mì khô có thời gian bảo quản lâu dài từ 1–2 năm (Fu, B X , 2008)
Mì hấp: được làm chín một phần bằng cách xử lý mì tươi với hơi bão hòa hoặc chưa
bão hòa trước khi bán ra thị trường Trong công nghiệp hiện đại, quá trình hấp được tự
động hóa hoàn toàn bằng cách xếp mì tươi trên băng chuyền lưới đi qua lò hấp đường hầm
Độ ẩm của sản phẩm cuối cùng thường thay đổi từ 28% đến 65% Sợi mì có độ ẩm nhỏ
hơn 32% được làm khô một phần sau khi hấp Các loại mì hấp có độ ẩm thấp này dễ xử lý
hơn vì độ dính bề mặt thấp và thời hạn sử dụng lâu hơn Mì hấp có độ ẩm cao có bề mặt
dính và phải được tráng dầu trước khi đóng gói để phân phối (Fu, B X , 2008)
Mì luộc: những loại mì này thường được chia thành hai nhóm; mì luộc một phần và
Trang 12sôi Mì được cắt và tách thành các trọng lượng định trước cũng có thể được đưa vào giỏ
trên dây đai di chuyển qua bể đun sôi Sau khi luộc, mì phải được ngâm ngay vào nước
lạnh Các sợi mì sau đó được tráng một lớp dầu để chúng không bị dính vào nhau (Fu, B
X , 2008)
Mì luộc đông lạnh và mì luộc tiệt trùng: Kết cấu của mì sau khi luộc sẽ xấu đi rất
nhanh sau khi nấu Bằng cách áp dụng công nghệ làm lạnh và cấp đông nhanh, chất lượng
tươi của mì luộc có thể được kéo dài trong một khoảng thời gian hợp lý Mì luộc cũng có
thể được axit hóa và thanh trùng bằng xử lý nhiệt trước khi đóng gói Loại mì luộc được
đóng gói và tiệt trùng này thường có hạn sử dụng trong vòng ba tháng, và thường được gọi
là mì dài hạn (Fu, B X , 2008)
Mì gói hấp và chiên giòn: Mì hấp và mì chiên ngập dầu được làm chín một phần bằng cách hấp và làm chín thêm và khử nước bằng quá trình chiên giòn (Kim, 1996) Khi
mì ra khỏi nồi chiên, nhiệt độ của chúng có thể cao tới 160ºC Chúng cần được làm mát
ngay lập tức để tránh bị oxy hóa dầu nhanh chóng (Fu, B X , 2008)
Mì sấy khô bằng hơi nóng: được sản xuất trong dây chuyền hoàn toàn tự động tương
tự như loại mì dùng để hấp và chiên giòn, chỉ khác là buồng sấy liên tục thay thế cho nồi
chiên ngập dầu, sử dụng không khí nóng làm môi trường sấy Nhiệt độ sấy trên 80ºC, cao
hơn nhiều so với nhiệt độ sấy mì thông thường Thời gian sấy từ 30 phút đến 1 giờ ngắn
hơn nhiều so với các loại mì khô thông thường có cùng kích cỡ Độ ẩm của thành phẩm
nhỏ hơn 12% Sản phẩm đã nấu chín một phần này có thời hạn sử dụng khoảng một năm
ở độ ẩm này, nếu vật liệu đóng gói thích hợp đã được sử dụng (Fu, B X , 2008)
Trang 13Protit của bột mì: Hàm lượng protit trong các loại bột mì khác nhau thì không giống nhau Hàm lượng protit tăng dần tử bột hạng cao đến bột hạng thấp, nhưng về mặt dinh
dưỡng thì protit trong bột hạng cao giá trị hơn Protit trong bột mì cũng gồm tử 4 loại:
Anbumin (hòa tan trong nước)
Globulin (hoà tan trong dung dịch muối trung tính)
Prolamin (hoà tan trong dung dịch rượu 60 - 80%), còn có tên gọi là gliadin
Glutelin (hoả tan trong dung dịch kiềm yếu 0,2%), còn có tên gọi là glutenin Trong
4 loại protit nói trên, hàm lượng anbumin và globulin chiếm khoảng 20%, còn 80% là
prolamin và glutelin Tỷ lệ gliadin và glutenín trong bột mì tương đương nhau Khi đem
bột mì nhào với nước và để yên một thời gian sẽ tạo thành gluten (Bùi Đức Hợi, 2009)
Mạng gluten giúp tạo nên cấu trúc độ dai và đàn hồi cho sợi mì
2 Nguyên liệu - phương pháp nghiên cứu 2.1 Nguyên liệu
2.1.1 Bột mì
Bột mì là nguyên liệu chính trong công nghệ sản xuất các dạng mì sợi Tùy vào yêu cầu sản phẩm mì sợi mà bột mì sử dụng có các chỉ tiêu chất lượng khác nhau Mức độ và
thành phần của protein trong bột mì là tầm quan trọng lớn đối với chất lượng khi nấu và ăn
của các sản phẩm mì (Fu 2008; Hou 2010) Gluten protein bao gồm glutenin và gliadin
Hai protein này tạo thành một mạng gluten mạnh khi tiếp xúc với nước, điều này rất điển
dai, đàn hồi tốt, ngược lại nếu hàm lượng gluten thấp, độ giãn dài ít thì sợi mì sẽ mềm, dễ
bị nát Trong quá trình sản xuất mì sợi có một số yếu tố làm ảnh hưởng tới tính chất lý học
Trang 14của gluten như nhiệt độ nước, nồng độ muối, tốc độ trộn, cường độ trộn bột nhào, thời gian
trộn, cán (Biesiekierski J R, 2017)
Trong bài thực tập, nhóm sử dụng bột Bakers’ Choice số 11 (bột mì đa dụng) của công ty Interflour Việt Nam – là loại bột mì cao cấp chuyên dùng để làm bánh mì tươi, mì
khô, mì trứng, mì hoành thánh và các loại bánh bao hấp, mantau, há cảo, bánh nướng Trung
Quốc Thành phần trong bột mì Bakers Choice số 11 chứa hàm lượng protein dao động
trong khoảng từ 9.5 – 11% Dùng bột mì số 11 để bột nhào tạo ra có kết cấu vừa dai, vừa
chắc cho sợi mì (Guoquan Hou And Mark Kruk, 1979)
Hình 1.1 Bột mì Baker's Choice số 11
Trang 15Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng dinh dưỡng trong 100 gram bột mì Baker’s
Choice số 11
Trứng được chia làm hai thành phần chính:
- Lòng trắng trứng (Albumin): nước chiếm 86%, protein chiếm 12%, còn lại là các chất khác
- Lòng đỏ trứng: nước chiếm 49%, protein chiếm 17%, chất béo chiếm 32%, còn lại
là các chất khác (Vũ, 2019)
Trứng không chỉ được thêm vào các sản phẩm thực phẩm để tăng giá trị dinh dưỡng
mà còn cải thiện màu sắc, hương vị và để tăng cường các sản phẩm nhũ hóa, đánh bông
hoặc tạo bọt, hoặc các đặc tính đông tụ hay keo hóa (Mine, 2002)
Trong bài thí nghiệm này, chỉ sử dụng 15g trứng – một lượng trứng vừa phải, để tạo
ra màu sắc vàng và mùi thơm cho sợi mì Không cho nhiều trứng hơn để không gây ra vị
tanh cho sợi mì khi dùng Đây cũng là một lưu ý khi bổ sung trứng vào công thức làm ra
mì tươi
2.1.3 Nước
Nước là một thành phần thiết yếu để chế biến mì Không có nước, các protein gluten trong bột không biểu hiện được tính chất nhớt Nước cung cấp môi trường cần thiết cho tất
cả các phản ứng hóa lý và sinh hóa làm cơ sở cho sư biến đổi nguyên liệu thô (Fu, B X.,
2008) Cần có một lượng nước vừa đủ để hydrat hóa bột và phát triển một tấm bột đồng
nhất Nếu lượng nước ít, khối bột nhào khô, khi cán se không đều Nếu lượng nước quá
nhiều thì khối bột nhào dính khó cán hay cắt thành sợi (Bùi Đức Hợi, 2009)
Trang 162.1.4 Muối ăn
Bổ sung 1-3% muối vào bột mì không chỉ tạo hương vị mì mà còn mang lại một số lợi ích khác cho chất lượng mì như tăng cường và thắt chặt cấu trúc gluten để cải thiện độ
dẻo, độ nhớt và tăng hấp thu nước trong quá trình nấu bằng cách tăng tính thấm ướt Nên
bổ sung khoảng 2% hàm lượng muối vì đây là mức có ảnh hưởng tốt nhất đến các đặc tính
của bột, nếu thêm một lượng muối cao hơn, chất lượng bột bị suy giảm khi không cho thêm
nước (Guoquan Hou, 2001)
2.1.5 Muối kiềm
Việc bổ sung muối kiềm (kan sui, hỗn hợp natri và kali cacbonat) trong một số loại
mì Trung Quốc mang lại cho chúng màu vàng và kết cấu đàn hồi, cứng hơn (Gur Ranhotra,
1998)
Người ta tin rằng việc bổ sung natri clorua làm giảm sự hấp thụ nước nhưng nó làm tăng thời gian phát triển bột tối ưu Đã có các nghiên cứu báo cáo rằng sự hiện diện của
2% muối trong bột dẫn đến cấu trúc gluten mịn hơn và đồng đều hơn so với quan sát thấy
đối với bột không ướp muối (Wu, J., Beta, T., & Corke, H., 2006)
Muối kiềm (kansui) dùng cho các loại mì sợi có thể ở dạng lỏng hoặc rắn Hầu hết các loại mì sợi kiềm sử dụng các hỗn hợp của Na2CO3 và K2CO3, Na2CO3 và NaHCO3,
Na2CO3 và NaOH hoặc một mình NaOH, các tỷ lệ này rất khác nhau, nhưng độ pH của các
dung dịch này nằm trong khoảng từ 8,5-12 Hàm lượng muối kiềm bằng khoảng 0,5-1%
khối lượng bột Dung dịch kiềm sẽ tạo màu vàng cho mì sợi bằng cách tách flavones khỏi
polysaccharides Cần lưu ý rằng màu vàng sẽ càng đậm khi pH càng cao Khi sử dụng
hydroxit hoặc cacbonat, màu vàng được hình thành sẽ không tươi và hấp dẫn như trong
trường hợp dùng hỗn hợp hydroxit và cacbonat Ở pH cao, thậm chí cao như pH 12, kansui
có thể làm ức chế hoạt động của enzyme (Guoquan Hou, 2001)
Trang 17trình nhào trộn nhằm mục đích tăng cường mạng lưới gluten, ổn định độ nhớt, độ ổn định
khi trộn của bột mì, chất lượng của mì nấu chín (Min Chen, 2019)
Hình 1.2 Công thức cấu tạo STPP
2.1.7 CMC – Carboxymethyl cellulose
CMC (carboxymethylcellulose) là chế phẩm dạng bột trắng thu được do tác dụng của Cacboxymethylnatri (-CH2-COONa) với các nhóm hydroxyl của cellulose, có phân tử
lượng từ 40.000 dến 200.000 CMC dễ phân tán trong nước lạnh, nước nóng và trong rượu,
muối natri cảu CMC cũng là chất tạo đông, nó có khả năng tạo đông thành khối vững chắc
với độ ẩm rất cao (tới 98%) Người ta thường dùng CMC như tác nhân tạo gel, làm dày,
làm phồng, làm ổn định, làm chậm sự kết tinh đường trong sản xuất các sản phẩm bích
quy, sữa, thịt, đồ hộp, mì ăn liền Trong sản phẩm mì khô, nó giúp cải thiện tính chất bột
nhào cũng như làm mềm khối bột nhào, giữ ẩm, kéo dài thời gian bảo quản, làm sản phẩm
dễ trở lại trạng thái ban đầu, chống dính (Đàm Mai Sao và cộng sự, 2010)
Hình 1.3 Công thức cấu tạo CMC
2.1.8 Bột bí đỏ
Trang 18Bột bí đỏ là một loại bột khô được tạo ra từ những quả bí đỏ chín Khi chúng đạt độ chín cao nhất, bí đỏ được rửa sạch, cắt lát và loại bỏ nước Là loại thực phẩm rất giàu dinh
dưỡng, đặc biệt tốt cho sức khỏe Mặc dù rất giàu vitamin và khoáng chất nhưng chứa rất
ít calo Trong bí đỏ rất giàu chất chống oxy hóa Beta-carotene Bên cạnh đó bí đỏ còn là
một nguồn giàu chất khoáng như đồng, canxi, K, P, chất xơ và các axit quý như linolenic,
acid glutamic, acid ascorbin Thay thế một phần bột mì số 11 bằng bột bí đỏ nhằm tăng giá
trị dinh dưỡng và giá trị cảm quan cho sợi mì
2.2 Các phương pháp nghiên cứu 2.2.1 Công thức phối trộn
Bảng 1.1 Chi tiết các thành phần nguyên liệu được sử dụng trong bài khảo sát
Mẫu 1: Mẫu khảo sát không thêm thêm phụ gia Mẫu 2: Mẫu mì bổ sung STTP
Mẫu 3: Mẫu mì bổ sung muối Kansui Mẫu 4: Mẫu mì bổ sung CMC
bột mì số 11 (g)
Trang 19Mẫu 5: Mẫu mì bổ sung thêm tất cả các phụ gia (STTP, CMC, muối Kansui) Mẫu 6: Mẫu mì thay thế 10g bột mì bằng 10g bột bí đỏ và bổ sung thêm phụ gia là CMC
2.2.2 Quy trình công nghệ
Hình 1.4 Quy trình công nghệ sản xuất mì tươi
Thuyết minh quy trình
Trộn khô
Tất cả các nguyên liệu khô cho vào âu trộn dùng phới lồng trộn đều Quá trình này
nhằm giúp tất cả các nguyên liệu phân bố đồng đều
Trang 20Hình 1.5 Trộn khô các thành phần nguyên liệu
Nhào bột
Sau khi trộn khô, nước được cho vào và tiến hành nhào trộn cho đến khi được khối bột dai và mịn Quá trình này giúp cho các thành phần hòa quyện với nhau, tạo mạng gluten
cho sợi mì Sau khi nhào, cho bột nghỉ trong tủ lạnh khoảng 30 phút để phân phối độ ẩm
đồng đều, tăng cường liên kết disulfua, hình thành liên kết giữa gluten và lipid, ổn định
mạng gluten để tiến hành các công đoạn cán, cắt tạo hình
Ủ lạnh
Bọc kín mẫu bột sau khi nhào và cho vào ủ trong ngăn dưới tủ lạnh trong thời gian
60 phút
Hình 1.6 Ủ lạnh khối bột
Trang 21Cán
Cán bột thành những tấm mỏng đều nhau, trơn láng và không rách mép lần lượt với đường kính nhỏ dần (mỗi lần giảm 30% bề dày) giúp ngăn ngừa phá vỡ mạng gluten Quá
trình cán lặp đi lặp lại nhiều lần đến khi đạt được bề dày sợi mì mong muốn Quá trình này
giúp tạo hình sợi mì được dễ dàng hơn
Hình 1.7 Cán khối bột
Cắt
Cắt lá bột thành những sợi đều nhau khoảng 1mm
Trang 222.2.3 Phương pháp đánh giá tính chất và chất lượng mì
- Khả năng hút nước của sợi mì (ml/g):
Sợi mì sau khi hồ hóa hoàn toàn được để ráo cho hết nước rỉ xuống Xác định khối lượng M2 của sợi mì Khả năng hấp thụ nước được xác định bằng số ml nước được sợi mì hấp thụ trong quá trình nấu trên 1 đơn vị khối lượng mì (thông qua sự chênh lệch khối lượng giữa mẫu mì trước và sau khi hồ hóa)
Hấp mì ở 100oC trong 5 phút, tiến hành so sánh độ dai của các mẫu bằng phương pháp so hàng
Phương pháp xử lý số liệu Mỗi thí nghiệm phân tích ảnh hưởng của phụ gia đến tính chất thời gian nấu mì và
khả năng hút nước đều được thực hiện lặp lại 3 lần Số liệu được xử lý ANOVA một yếu
tố bằng phần mềm SPSS 22 với kiểm định đa khoảng Ducan (p≤0,05) để phân tích sự khác
biệt có ý nghĩa giữa các giá trị trung bình Kết quả xử lý được trình bày dưới dạng: giá trị
trung bình ± độ lệch chuẩn (n=3)
3 Kết quả 3.1 Ảnh hưởng của phụ gia đến thời gian nấu của sợi mì tươi
Trang 23Bảng 1.2 Ảnh hưởng của phụ gia đến thời gian nấu của mì tươi
*Các giá trị trong bảng biểu thị giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn
*Các giá trị (a-c) trong cùng một cột khác nhau biểu thị sự khác biẹt có ý nghĩa
về mặt thống kê (p < 0.05)
Nhận xét kết quả thí nghiệm Kết quả khảo sát các phụ gia lên tính chất của sợi mì được thực hiện ở bảng 1.1
Thời gian nấu là một trong những chỉ tiêu quan trọng trong việc xác định chất lượng nấu của sợi mì Theo kết quả thí nghiệm cho thấy, việc bổ sung các phụ gia như STPP,
kansui đã làm thay đổi thời gian nấu mì so với mẫu mì tươi không dùng phụ gia
Mẫu 1: đây là mẫu chuẩn có thời gian nấu nhanh hơn so với mẫu 2 ( sử dụng STPP)
vì không sử dụng phụ gia nên khả năng ổn định cấu trúc của sợ mì kém, mạng gluten không
ổn định và có xu hướng dễ hút nước hơn
Mẫu 2 có thời gian nấu lâu nhất: được bổ sung phụ gia STPP (Sodium tripolyphosphates) có khả năng biến tính tinh bột, tạo ra những liên kết nội và ngoại phân
tử giữa các hạt tinh bột với nhau (A Korma, 2016) Đặc tính của nhóm tinh bột biến tính
có chứa liên kết ngang này, các ether hoặc ester nối liên kết với các nhóm hydroxyl trên
phân tử làm tính chất của sợi mì sẽ dai hơn, tuy nhiên cũng là một tác nhân gây cản trở
nước di chuyển vào hạt tinh bột (David AV Đeny PhD, 2001) Đó chính là lý do tại sao
mẫu 2 có thời gian nấu lâu nhất vì thời gian hồ hoá để sợi mì chín cần nhiều thời gian hơn
các mẫu còn lại STPP cũng cải thiện hiệu quả trong xử lý bột nhào và làm chậm sự đổi
màu của mì tươi, làm cho mì có màu sắc hơn và vàng hơn (Niu, 2014)
Mẫu 3 bổ sung kansui, bao gồm K2CO3, Na2CO3, STPP Mẫu 2 và mẫu 3 không có
sự khác biệt về thời gian nấu.Với muối kiềm sẽ cho sợi mì vàng hơn, sáng hơn và giảm
Trang 24khả năng mất màu theo thời gian của sợi mì Ngoài ra, muối kiềm cũng tăng khả năng hấp
thụ nước của mì tốt hơn (Fu, 2008; G Hou et al., 1998)
Mẫu 4 có thời gian nấu nhanh nhất, khi mẫu mì tươi này được bổ sung CMC là một trong những hydrocolloid, các liên kết hydro nhanh chóng bị phá vỡ cho phép các phân tử
nước xâm nhập vào hạt, các hạt tinh bột sẽ trương nở ra và hấp thụ nước nhanh hơn (David
AV Đeny PhD, 2001)
3.2 Ảnh hưởng của phụ gia đến khả năng hút nước cùa mì
Bảng 1.3 Ảnh hưởng của phụ gia đến khả năng nấu của sợi mì tươi
tăng cường mạng lưới gluten, ổn định độ nhớt, độ ổn định khi trộn của bột mì, giúp giữ
nước cho sơi mì và chất lượng của mì nấu chín (Min Chen, 2019) Vì thế nó có khả năng
hút nước cao hơn mẫu 1 không bổ sung phụ gia
Trang 25Đối với mẫu 3, bổ sung Kansui làm tăng khả năng hấp thụ nước cao hơn mẫu 1 và
2 Kansui thúc đẩy quá trình hồ hóa tinh bột và tăng tổn thất khi nấu Kiềm làm tăng độ
nhớt của tinh bột và cấu trúc protein Kiềm tạo ra nhiều protein kết tụ hơn trong quá trình
nấu và trong muối kansui có chứa 2 ion kim loại háo nước là Na+ và K+ nên khả năng hấp
thụ nước của mẫu có kansui khá tốt Vì thế nên khi thêm muối kansui vào sẽ làm tăng khả
năng hấp thụ nước của sợi mì (Rombouts và cộng sự, 2014)
Đối với mẫu 4 là mẫu có khả năng hấp thụ nước cao nhất trong 4 mẫu, mẫu này bổ sung CMC một trong những chức năng quan trọng nhất của các hợp chất Hydrocolloid nói
chúng hay của CMC là khả năng tăng giữ nước (Karolina Boruvkova, Jakub Wiener, 2011),
tăng cường lượng nước xâm nhập vào bên trong và làm tăng độ hấp thụ nước của sợi mì
CMC tạo điều kiện cho hồ hóa tinh bột trong quá trình nấu và giữ nước nhiều hơn trong
mì CMC rất ưa nước và có khả năng liên kết nước cao Bổ sung một lượng nhỏ CMC (0,2–
0,5%) có thể cải thiện đặc tính bù nước của mì trong quá trình nấu, đồng thời thay đổi cấu
trúc của thành phẩm (Bin, 2007)
4 Kết luận
Mì sợi là món ăn phổ biến ở Việt Nam bởi sự tiện lợi- nhanh- rẻ của nó Mì làm từ lúa mì được chế biến chủ yếu từ ba thành phần cơ bản; bột mì, nước và muối Mì Á và mì
Ý khác nhau về nguyên liệu và cách chế biến Chất lượng của sợi mì được đánh giá qua độ
dai và khả năng hấp thụ nước của chúng Ở quy mô công nghiệp, sản xuất với số lượng
lớn, đòi hỏi sử dụng phụ gia Qua bài khảo sát trên, cho thấy có rất nhiều phụ gia có thể sử
dụng nhằm tạo độ dai, chất lượng cho mì như STPP, CMC, kansui Mỗi phụ gia là một tính
chất, đặc tính khác nhau nhưng đều được sử dụng nhằm chung một mục đích Qua bài báo
cáo này, một phần giúp chúng tôi hiểu rõ hơn về công nghệ sản xuất mì sợ, cũng nhưng
kiến thức về phụ gia
Trang 26TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bùi Đức Hợi (2009), Kĩ thuật chế biến lương thực, Nhà xuất bản Khoa học và Kĩ
thuật
2 Đàm Mai Sao, Nguyễn Thị Hoàng Yến, Bùi Đặng Khuê 2012 Phụ gia thực
phẩm NXB Đại học Quốc gia TP.HCM 430 trang
3 Fu, B X, 2008, Asian noodles: History, classification, raw materials, and
processing, Food Research International, 41(9), 888 – 902
4 Guoquan Hou và Mark Kruk, 1979, Asian noodle technology
5 Hou, G., 2001, Oriental noodles Advances in Food and Nutrition Research,
pages141–193
6 Biesiekierski, J R (2017) What is gluten? Journal of Gastroenterology and Hepatology, 32, 78–81
7 Min Chen, L W (2019) The effects of phosphate salts on the pasting, mixing and
noodle-making performance of wheat flour Food Chemistry, 283, 353–358
8 Wu, J., Beta, T., & Corke, H., 2006, Effects of Salt and Alkaline Reagents on
Dynamic Rheological Properties of Raw Oriental Wheat Noodles Cereal
Chemistry Journal
9 DH.Whiffen và DH.Hey (1991) The Royal Society of Chemistry
10 Miskelly, D M (1996) The use of alkali for noodle processing In J E Kruger, R
B Matsuo, & J W Dick (Eds.), Pasta and noodle technology (pp 227–273) St
Paul, MN: American Association of Cereal Chemists
11 Nagao, S (1991) Noodles and pasta in Japan In D J Martin & C W Wrigley
(Eds.), Cereals international (pp 22–25) Brisbane, Australia: Royal Aust Chem
Inst
12 Nagao, S (1996) Processing technology of noodle products in Japan In J E
Kruger, R B Matsuo, & J W Dick (Eds.), Pasta and noodle technology (pp 169–
194) St Paul, MN: American Association of Cereal Chemists
13 A.Korma, S 2016 Chemically Modified Starch and Utilization in Food Stuffs
International Journal of Nutrition and Food Sciences
Trang 2714 David AV Đeny PhD, 2001 Cereals and cereal products chemistry and
technology
15 Niu và cộng sự, 2014 Effects of Inorganic Phosphates on the Thermodynamic,
Pasting, and Asian Noodle-Making Properties of Whole Wheat Flour Creal
Chemistry Journal
Trang 28Upper Bound Mẫu số
Test of Homogeneity of Variances
Thời gian nấu mì
Levene Statistic df1 df2 Sig
ANOVA
Thời gian nấu mì
Sum of Squares df
Mean
Trang 30e Lower Bound Upper Bound
Trang 31Means for groups in homogeneous subsets are displayed
a Uses Harmonic Mean Sample Size = 3.000
Trang 32Bài 2: CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT BÁNH CANH
1 Tổng quan
1.1 Tổng quan về bánh canh
Bánh canh là món ăn truyền thống của Việt Nam Được làm từ những nguyên liệu quen thuộc và gần gũi như bột gạo, bột năng hay còn gọi là tinh bột khoai mì,… qua các
công đoạn nhào, phối trộn các nguyên liệu theo công thức và tỉ lệ thích hợp và cán, cắt tạo
thành những sợi bánh canh có màu trắng Bánh canh có nhiều loại bánh canh bột gạo, bánh
canh bột lọc, bánh canh bột xắt… được ăn kèm với nước dung Tùy vào khẩu vị từng vùng
miền nước dùng và đồ ăn kèm khác nhau như là nước hầm xương, tôm, cua, ghẹ hoặc cá
lóc rút xương,…Ở Việt Nam bánh canh là đặc sản của nhiều vùng miền tạo nên những dấu
ấn đặc trưng riêng của từng địa phương như bánh canh Trảng Bàng, bánh canh chả cá Nha
Trang, bánh canh Long Hương,…
Hình 2.1 Hình ảnh sợi bánh canh
1.2 Phân loại bánh canh
Phân loại theo nguyên liệu
Bánh canh bột lọc: Được làm từ tinh bột sắn hay còn gọi là bột năng và bột gạo Sợi bánh canh bột lọc thường trong và có độ dai tự nhiên nhất định Độ dai của bánh canh tùy
theo công thức và kỹ thuật nhào bột Bánh canh bột lọc thường được làm các mòn ăn như
bánh canh cua, bánh canh ghẹ, bánh canh tôm… có nước dung đặc sánh
Trang 33Hình 2.2 Sợi bánh canh bột lọc
Bánh canh bột gạo: Được làm từ bột gạo không trộn với bột lọc Bánh canh bột gạo thường có sợi trắng, không trong như sợi bánh canh bột lọc Muốn sợi bánh canh ngon phải
chọn loại gạo ngon để chế biến, gạo phải vo với nước nhiều lần cho đến khi nước vo gạo
trong vắt, đem gạo đi xay thành bột mịn Sau đó nhồi bột thật đều cho đến khi thành 1 khối
bột dẻo, rồi cho vào khuôn ép để cho ra những sợi dài Bánh canh bột gạo được làm món
bánh canh chả cá Sợi bánh canh bột gạo dễ dính nên được phủ 1 lớp bột áo
Hình 2.3 Sợi bánh canh bột gạo Phân loại theo công nghệ
Phương pháp cán cắt (bánh canh bột xắt): Bánh canh bột xắt được làm tự bột gạo sạch, ngâm mềm, đem xay thành bột nước, rồi cho vào túi vải cho thật ráo nước Bóp bột
đã đăng ra mâm, dùng nước thật sôi rưới đều lên bột, nhồi bột thật đều tay, sao cho khối
bột không được khô cũng không được nhão Chia từng cục bột nhỏ vừa đủ để có thể cán
Trang 34dẹp và sau đó cắt đứt từng miếng bột gạo thành sợi rồi vào nồi nước đun sôi, chú ý tay xắt
phải thật đều thì sợi bánh mới ngon và đẹp Bánh canh bột xắt phổ biến ở miền Tây Nam
Bộ và được chế biến làm món bánh canh vịt
Hình 2.4 Bánh canh bột xắt ăn với thịt vịt
Phương pháp ép đùn: Sau khi phối trộn các nguyên liệu và nhào sẽ tạo thành những khối bột Sau đó cho những khối bột vào thiết bị ép đùn để tạo ra sợi bánh canh Sợi bánh
canh được sản xuất theo phương pháp ép ép đùn có dạng hình tròn
Hình 2.5 Bánh canh làm theo phương pháp ép đùn Phân loại theo nước dùng
Bánh canh mặn: Nước dung ăn kèm là nước hầm xương hoặc nước luộc tôm, ghẹ, rau củ
Trang 36Bột gạo có màu trắng đục Bột gạo bao gồm khoảng 0.4-0.8% chất béo, 7% protein và 78%
29 carbohydrate và cung cấp lượng vitamin B đáng kể; thiamin, niacin và riboflavin (Ishfaq
Ahmed, 2016)
Một số đặc tính chung của tinh bột gạo lợi thế hơn so với các loại tinh bột khác như:
ít gây dị ứng, chứa carbohydrate dễ tiêu hóa, hàm lượng natri thấp nên vị nhạt, hạt nhỏ,
màu trắng, độ ổn định khi đông - rã đông cao hơn, khả năng chống acid cao hơn (Mitchell,
2009) Quan trọng hơn, bột gạo hoàn toàn không chứa gluten Vì vậy, điều này là hoàn hảo
cho những người bị dị ứng gluten Gạo cũng được dùng để thay thế cho bột mì do tinh bột
gạo không chứa gliadin hoặc gluten gây ra vấn đề dị ứng nên được sử dụng làm nguyên
liệu sản xuất các thực phẩm không chứa gluten (Heo và Lee, 2013) Và cũng chính vì thế,
trong quá trình tiếp xúc với nước, các protein của gạo khó khăn trong việc hình thành liên
kết với nước để tạo một mạng lưới chặt chẽ được, mà lúc này trong hỗn hợp là một mạng
lưới lỏng lẻo với các phần tử rất xa nhau và liên kết 15 rất yếu (Hardeep và Cristina, 2004)
Vì thế ta thường bổ sung bột năng hay một số phụ gia để tăng khả năng kết dính của khối
bột, đồng thời tăng độ dai cho sản phẩm
Hình 2.8 Hình bột gạo
2.1.2 Bột năng
Bột năng, còn gọi là bột sắn (miền Bắc), bột lọc (miền Trung) – là loại tinh bột của
củ khoai mì (sắn).Bột năng góp phần làm cho hỗn hợp đặc sệt lại và có độ kết dính ở các
Trang 37món ăn có nuớc, và hơn thế nữa bột năng còn được sử dụng dể làm một số món bánh đặc
trưng như: bánh da lợn, bánh phu thê, bánh canh, bánh bột lọc,… (Rutenberg and Solarek
,1984)
Thành phần cấu tạo của tinh bột gồm 83% amylopectin và 17% amylose Bột năng
dùng để làm tăng độ trong cho sản phẩm (Silvia và cộng sự, 2007)
Bột năng được bổ sung vào thành phần nguyên liệu của bánh canh giúp tăng thêm
(Caldwell, 2000) Trong các loại muối thì muối natri clorua (NaCl) được sử dụng nhiều
nhất Nó ảnh hưởng đến hương vị và làm tăng độ ngọt cũng như kết cấu của sản phẩm thực
phẩm cuối cùng
Có tác dụng ức chế vi khuẩn và các enzym khác nhau, muối làm chậm quá trình hư hỏng và phản ứng oxy hóa ở độ ẩm và nhiệt độ cao, do đó kéo dài thời gian bảo quản của
sản phẩm (Pu, 2008)
Trang 38hiện tượng thoái hóa của tinh bột trong quá trình bảo quản (Meng Niu, 2014)
Hình 2.10 Công thức cấu tạo STPP
2.1.5 Xathan gum
Xanthan gum là một polysaccharide ngoại bào được tiết ra bởi vi sinh vật Xanthomonas campestris Xanthan gum có thể hòa tan trong nước lạnh và nước nóng
Tính ổn định của xanthan gum ở pH thấp, dung nạp muối, độ nhớt cao ở độ biến dạng cắt
và giả dẻo thấp làm cho nó trở thành một chất làm dày, chất làm đặc và ổn định cho các
sản phẩm (Sworn, 2009) Tính giả dẻo này giúp tăng cường chất lượng cảm quan (giải
phóng hương vị, cảm giác ngon miệng) trong các sản phẩm thực phẩm
Trang 39Hình 2.11 Công thức cấu tạo Xanthan gum
2.1.6 Hoa đậu biếc
Cây hoa đậu biếc còn gọi đậu hoa tím hay bông biếc, tên khoa học Clitoria ternatean, thuộc họ đậu Hoa đậu biếc chứa một este và một chất nhựa glycosid Nó chứa các chất
anthoacyanin, blue proanthocyanidin là một chất chống oxy hóa mạnh
Các anthocyanin chiết từ hoa đậu biếc tạo nên màu xanh rất đẹp (trong môi trường trung
tính), dễ tan trong nước nên thuận tiện cho việc sử dụng làm chất màu thực phẩm Do vậy,
hoa đậu biếc đã được sử dụng lâu đời trong dân gian để tạo màu tím cho thực phẩm (trà
hoa đậu biếc, xôi hoa đậu biếc, …)
Hình 2.12 Hoa đậu biếc
2.2 Các phương pháp phân tích
Trang 40Bảng 2.1 Công thức phối trộn mẫu bánh canh
Nguyên liệu Mẫu 1 Mẫu 2 Mẫu 3 Mẫu 4 Mẫu 5
10 (có thể thay bằng các loại bột thực vật khác) Nước (g/ml) VH2O = MBOT