1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Tạp chí của tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam - Petrovietnam - Số 09 - 2011 pptx

93 499 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giàn khoan tự nâng 90m nước của Petrovietnam - Thành tựu kỹ thuật và chiến lược phát triển ngành dầu khí Việt Nam
Trường học Trường Đại học Bách Khoa Tp Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kỹ thuật dầu khí
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vũng Tàu
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 7,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phùng Đình Thực, với Chiến lược tăng tốc phát triển Ngành Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn xác định 5 nhiệm vụ trọng tâm cốt lõi: tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí, chế biến dầu khí, công ngh

Trang 4

Tiếp cận và làm chủ công nghệ hiện đại

Giàn khoan tự nâng 90m nước là công trình cơ khí

trọng điểm Quốc gia lần đầu tiên được chế tạo tại Việt Nam

do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam làm chủ đầu tư và Công ty CP

Chế tạo Giàn khoan Dầu khí (PV Shipyard) làm tổng thầu

EPC Giàn khoan tự nâng 90m nước với trọng lượng lên tới

gần 12 nghìn tấn, chiều dài chân là 145m; hoạt động ở độ

sâu tới 90m nước và chiều sâu khoan đến 6,1km; có thể

chịu đựng được sức gió tương đương bão cấp 12, trên cấp

12 và chịu đựng được các điều kiện thời tiết khắc nghiệt

Đây là công trình có tổng mức đầu tư 180 triệu USD, đòi

hỏi kỹ thuật cao theo tiêu chuẩn quốc tế được Cơ quan

Đăng kiểm Hàng hải Hoa Kỳ - ABS cấp chứng nhận

Theo TSKH Phùng Đình Thực, với Chiến lược tăng tốc

phát triển Ngành Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn xác định 5

nhiệm vụ trọng tâm cốt lõi: tìm kiếm thăm dò khai thác

dầu khí, chế biến dầu khí, công nghiệp khí, công nghiệp điện, dịch vụ kỹ thuật dầu khí, đặc biệt là các loại hình kỹ thuật dịch vụ có hàm lượng kỹ thuật cao Tập đoàn Dầu khí quyết tâm đẩy mạnh phát triển loại hình dịch vụ này, nâng cao tỷ trọng dịch vụ trong cơ cấu doanh thu toàn Ngành, phấn đấu đạt 40% tổng doanh thu trong những năm tiếp theo Việc hạ thủy giàn khoan di động 90m nước, hoàn thành giàn khai thác khí mỏ Mộc Tinh do Ngành Dầu khí Việt Nam chế tạo là bước đi cụ thể trong việc thực hiện chiến lược tăng tốc đó

Giàn khoan tự nâng 90m nước với khả năng khoan sâu đến 6.000m là dự án thuộc chương trình sản phẩm

cơ khí trọng điểm Quốc gia nhằm mục tiêu phát triển Ngành cơ khí Việt Nam, lần đầu tiên được các nhà khoa học, kỹ sư, công nhân lành nghề Việt Nam chế tạo, lắp đặt Trong 27 tháng nỗ lực thi công trên công trường với những yêu cầu và đòi hỏi khắt khe nhất từ khâu thiết

Petrovietnam h° thÚy thành công giàn khoan tâ nâng 90m nÝåc và giàn khai thác khí mÏ M×c Tinh:

ôánh d³u sâ trÝæng thành cÚa Ngành cã khí D²u khí nÝåc nhà

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cùng lãnh đạo các Bộ, Ban, Ngành thực hiện nghi thức hạ thủy và gắn biển chào mừng kỷ niệm 50 năm Ngày Truyền thống Ngành Dầu khí Việt Nam cho giàn khai thác khí

mỏ Mộc Tinh Ảnh: CTV

Chiều ngày 10/9/2011,

tại Vũng Tàu, Tập đoàn Dầu

khí Quốc gia Việt Nam tổ

chức lễ hạ thủy, gắn biển

công trình chào mừng kỷ

niệm 50 năm Ngày Truyền

thống Ngành Dầu khí Việt

Nam cho giàn khoan tự

nâng 90m nước và giàn

khai thác khí mỏ Mộc Tinh

Phát biểu tại buổi lễ, Chủ

tịch nước Trương Tấn Sang

Trang 5

kế, thi công, lựa chọn các loại vật tư đặc biệt đến việc

hạ thủy thành công công trình với khối lượng khổng lồ

hơn 9.000 tấn - lớn nhất tại Việt Nam - bằng công nghệ

trượt đã khẳng định năng lực thi công cơ khí chính xác

của những người thợ Dầu khí Việt Nam và chứng minh

được khả năng tiềm tàng của đội ngũ khoa học kỹ thuật

và công nhân lành nghề trong nước đã từng bước tiếp

cận và làm chủ những công nghệ hiện đại, phức tạp nhất

trên thế giới

“Công trình giàn khoan di động tự nâng 90m nước

hoàn thành và đưa vào hoạt động có ý nghĩa chính trị -

kinh tế - xã hội quan trọng, không chỉ phù hợp với Chiến

lược phát triển Ngành Dầu khí Việt Nam, tạo cơ sở và thế

chủ động cho xu hướng làm chủ biển lớn của Tập đoàn mà

còn góp phần vào việc giữ vững, khẳng định chủ quyền

biển đảo Tổ quốc, đảm bảo an ninh năng lượng Quốc gia” -

TSKH Phùng Đình Thực khẳng định Dự án đóng mới giàn

khoan đã đưa Ngành công nghiệp cơ khí chế tạo lên một

tầm cao mới, góp phần vào việc sử dụng dịch vụ kỹ thuật

trong nước, thực hiện đúng chủ trương của Bộ Chính trị

“Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam”, giảm nhập siêu, lệ

thuộc vào công nghệ nước ngoài, nguồn nhân lực phải

nhập từ nước ngoài

Đẩy mạnh công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí

Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang

khẳng định: Triển khai thực hiện Chiến lược phát triển

Ngành Dầu khí Việt Nam, tập thể cán bộ công nhân viên

Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã từng bước xây

dựng Ngành công nghiệp Dầu khí không ngừng lớn

mạnh từ việc tìm kiếm, thăm dò, khai thác, vận chuyển

đến chế biến, tàng trữ, phân phối, dịch vụ và xuất nhập

khẩu Tập đoàn đã đạt được kết quả cao góp phần quan

trọng vào việc thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế

- xã hội của đất nước, có đóng góp lớn trong việc đảm

bảo an ninh năng lượng và bảo vệ chủ quyền quốc gia

trên biển

Chủ tịch nước ghi nhận và đánh giá cao thành công

của Tập đoàn, nhiệt liệt biểu dương tinh thần làm việc

hăng say, dám nghĩ, dám làm, năng động, sáng tạo, nắm

bắt kinh nghiệm, học tập công nghệ mới của thế giới áp

dụng vào Việt Nam của cán bộ công nhân viên Ngành Dầu

khí và đặc biệt là những người đã trực tiếp tham gia công

trình hết sức quan trọng này Thành công của dự án đóng

mới giàn khoan tự nâng 90m nước đầu tiên ở Việt Nam và

dự án giàn khai thác khí mỏ Mộc Tinh 1 là mốc đánh dấu

quan trọng sự phát triển, trưởng thành của Ngành cơ khí Dầu khí nước nhà

Chủ tịch nước yêu cầu, phát huy thành quả và kinh nghiệm đã đạt được, trong thời gian tới Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cần tiếp tục nghiên cứu để triển khai các

dự án sửa chữa, đóng mới các giàn khoan tự nâng tiếp theo Đồng thời, phát huy tối đa năng lực tiềm tàng của Ngành, nâng dần tỷ lệ nội địa hóa trong một số loại hình dịch vụ đòi hỏi kỹ thuật và công nghệ cao; góp phần giảm nhập siêu cho nền kinh tế theo đúng quan điểm Chiến lược phát triển nền kinh tế Việt Nam đã được Bộ Chính trị chỉ đạo; góp phần đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, tập trung vào những ngành, những lĩnh vực chính, then chốt… Với niềm tin vào sự phát triển mạnh mẽ của Ngành Dầu khí Việt Nam trong thời gian tới, Chủ tịch nước mong Tập đoàn giữ vững vị trí đơn vị kinh

tế hàng đầu của đất nước trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Cùng ngày, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang; Ủy viên thường vụ Quốc hội - Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Phan Xuân Dũng; Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải Đinh La Thăng; Bộ trưởng

Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Quân; Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Nguyễn Tuấn Minh và các đại biểu

đã tham dự lễ hạ thủy giàn khai thác khí mỏ Mộc Tinh Sau 14 tháng nỗ lực thi công, các đơn vị Công ty Điều hành Dầu khí Biển Đông (Biển Đông POC), Liên doanh Việt - Nga (Vietsovpetro) và Công ty CP Kết cấu Kim loại

và Lắp máy Dầu khí (PVC - MS) đã hoàn thành việc xây dựng giàn khai thác khí mỏ Mộc Tinh 1 phần trên bờ, tạo

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phát biểu tại buổi lễ Ảnh: CTV

Trang 6

cơ sở vững chắc thực hiện mục tiêu khai thác dòng khí

đầu tiên vào cuối năm 2012 Thành công này là cơ sở, nền

tảng vững chắc để Ngành Dầu khí Việt Nam có thể đảm

đương tốt không chỉ các dự án tương tự tiếp theo trong

tương lai mà còn là các dự án với hàm lượng khoa học kỹ

thuật cao

Với vai trò, ý nghĩa quan trọng về chính trị, kinh tế, an

ninh quốc gia và đối với chiến lược phát triển của Tập

đoàn Dầu khí Việt Nam cũng như do tính chất phức tạp

về công nghệ trong công tác thiết kế, chế tạo, giàn khoan

tự nâng 90m nước - công trình cơ khí trọng điểm Quốc gia

và giàn khai thác khí mỏ Mộc Tinh là hai công trình được

Đảng ủy Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam lựa chọn gắn

biển “Công trình chào mừng kỷ niệm 50 năm Ngày Truyền

thống Ngành Dầu khí Việt Nam (27/11/1961 - 27/11/2011)”

Nhân dịp này, Chủ tịch nước và các đại biểu đã chứng kiến

lễ ký chuyển giao kho nổi chứa dầu FSO-5 giữa PTSC và

Vietsovpetro, lễ ký thỏa thuận đóng mới giàn khoan tự

nâng 90m nước số 2 giữa PV Shipyard và Vietsovpetro; lễ

ký hợp đồng cung cấp và cho thuê kho nổi FSO - Dự án Biển Đông 1 giữa PTSC và Biển Đông POC Sự kiện hạ thủy thành công giàn khoan tự nâng 90m nước và giàn khai thác khí mỏ Mộc Tinh là minh chứng sinh động khẳng định Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đang đi đúng hướng, với quyết tâm cao nhất phát triển mạnh mẽ dịch

vụ kỹ thuật dầu khí có hàm lượng công nghệ cao và mang thương hiệu Petrovietnam PVJ

Giàn khoan tự nâng 90m nước Tam Đảo 03 lần đầu tiên được chế tạo tại Việt Nam đã được hạ thủy thành công Ảnh: CTV

Ngày 5/9/2011, giàn khoan tự nâng 90m nước đã được hạ thủy thành công và neo đậu tại Cảng Dịch vụ Dầu khí Theo hợp đồng chế tạo, tháng 5/2012 giàn sẽ được bàn giao, PV Shipyard phấn đấu bàn giao cho chủ đầu tư Tập đoàn Dầu khí Việt Nam trước tiến độ khoảng 2 tháng Sự kiện này khẳng định Việt Nam trở thành một trong ba nước thuộc khu vực châu Á và một trong 10 nước trên thế giới chế tạo giàn khoan tự nâng đạt tiêu chuẩn quốc tế mà trước đây Việt Nam phải nhập khẩu

Việt Hà

Trang 7

Giàn khoan TAD đầu tiên của Việt Nam

Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức cấp Nhà

nước tới Singapore, ngày 26/9, Chủ tịch nước Trương Tấn

Sang và đoàn đại biểu cấp cao đã tới thăm công trình

giàn khoan của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam - Tổng công

ty Khoan và Dịch vụ khoan Dầu khí (PVDrilling) được thi

công tại xưởng đóng tàu của Keppel FELS (Singapore)

Theo TS Đỗ Văn Hậu - Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí

Việt Nam: Đây là dự án lớn với giá trị đầu tư trên 5.000 tỷ đồng, được thiết kế theo công nghệ hiện đại nhất hiện nay và lần đầu tiên được sử dụng tại Việt Nam

PV Drilling V là giàn khoan tiếp trợ nửa nổi nửa chìm (giàn TAD) đầu tiên tại Việt Nam thuộc thế hệ giàn khoan tiếp trợ nửa nổi nửa chìm hiện đại nhất trên thế giới hiện nay với nhiều tính năng vượt trội, có thể khoan các giếng khoan có độ sâu lên đến 30.000 ft (9.100 m) tại các vùng

th·m giàn khoan PV Drilling V

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang

Đoàn công tác của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam do Tổng giám đốc Tập đoàn TS Đỗ Văn Hậu dẫn đầu tháp tùng Chủ tịch nước Trương Tấn Sang bắt đầu chuyến thăm và làm việc tại Singapore, Malaysia từ ngày 26/9 đến 30/9/2011 nhằm đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực dịch vụ kỹ thuật dầu khí.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm giàn khoan PV Drilling V trong chuyến công tác tại Singapore Ảnh: Nguyễn Khang

Trang 8

biển có độ sâu đến 4.000ft (1.200m) trong điều kiện thời

tiết khắc nghiệt Đây cũng là giàn khoan được vận hành

ứng dụng công nghệ cao để khoan các giếng khoan

nhiệt độ, áp suất cao với công suất thiết bị chống phun,

có áp suất làm việc đến 15.000 psi (tương đương 1.024

atm) Theo kế hoạch, giàn khoan PV Drilling V sẽ thực

hiện hợp đồng khoan đầu tiên cho chiến dịch khoan của

Biển Đông POC

Tập đoàn Dầu khí Việt Nam - Tổng công ty CP Khoan

và Dịch vụ khoan Dầu khí (PV Drilling) tổ chức Lễ đặt tên

giàn khoan và gắn biển “Công trình chào mừng kỷ niệm

50 năm Ngày Truyền thống Ngành Dầu khí Việt Nam” cho

giàn khoan PV Drilling V vào ngày 1/10/2010 Việc đưa

giàn khoan PV Drilling V vào hoạt động sẽ tiếp nối cho

những thành công của PV Drilling, góp phần hiện thực

hóa mục tiêu trở thành người dẫn đầu của các nhà thầu

khoan ở Việt Nam và các nước trong khu vực

Cũng trong thời gian ở Singapore, đoàn công tác của

Tập đoàn do Tổng giám đốc Đỗ Văn Hậu dẫn đầu và Lãnh

đạo các đơn vị thành viên (PVEP, PVDrilling, PTSC, PVGAS)

đã tham dự Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam - Singapore

được tổ chức vào tối ngày 26/9/2011 trong khuôn khổ

chuyến thăm của Chủ tịch nước

Hợp tác triển khai dự án FSO Biển Đông 1

Ngày 29/9/2011, trong khuôn khổ chuyến thăm và

làm việc của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại Malaysia,

đoàn công tác của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã tham

dự Diễn đàn Doanh nghiệp Malaysia - Việt Nam, thăm Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Malaysia (Petronas) Chủ tịch nước đánh giá cao sự hợp tác chặt chẽ, hiệu quả và thiết thực giữa Petrovietnam và Petronas trong 20 năm qua, góp phần mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho mỗi nước Chủ tịch nước đề nghị hai Tập đoàn tăng cường hợp tác trong thời gian tới, nhất là trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm

dò và khai thác những mỏ dầu khí mới của Việt Nam và Malaysia Nhân dịp này, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã tiếp nhận khoản tiền 50.000 USD của Petronas dành tặng các nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam

Trước sự chứng kiến của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và lãnh đạo cấp cao hai nước, Tổng công ty CP Dịch

vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) và Tập đoàn Yinson Holdings Berhad (Malaysia) đã ký kết thỏa thuận góp vốn thành lập Công ty liên doanh đầu tư đóng mới và cho thuê kho nổi chứa, xuất dầu (FSO) phục vụ dự án Biển Đông 1 FSO Biển Đông 1 là kho nổi chứa xuất condensate đầu tiên có hệ thống neo và thiết bị ngầm có khả năng tự ngắt và kết nối nhiều lần Dự án FSO Biển Đông 1 do PTSC

tự tổ chức quản lý thực hiện toàn bộ các công đoạn từ thiết kế, đóng mới, cho tới chạy thử, vận chuyển, đấu nối, lắp đặt ngoài khơi và vận hành, bảo dưỡng trong thời gian

dự kiến lên đến 20 năm Tổng giá trị đầu tư của dự án vào khoảng 150 triệu USD

Tiếp nối thành công từ các dự án trước đây trong lĩnh vực đầu tư đóng mới, vận hành và bảo dưỡng Kho nổi chứa, xuất dầu, việc ký kết thỏa thuận này một lần nữa

góp phần khẳng định năng lực cung cấp dịch vụ, uy tín

và thương hiệu PTSC trong nước và trong khu vực, cũng như khẳng định vai trò tiên phong của PTSC trong việc hợp tác, liên doanh, liên kết với các đối tác trong và ngoài nước Đặc biệt là các đối tác

có công nghệ và năng lực tài chính mạnh, tiếp tục phát triển cung cấp dịch vụ và các quan hệ hợp tác ra nước ngoài phù hợp với chiến lược phát triển chung của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam PVJ

 

Ngọc Linh

Lễ ký thỏa thuận góp vốn thành lập Công ty liên doanh đầu tư đóng mới và cho thuê kho nổi chứa,

xuất dầu (FSO) phục vụ dự án Biển Đông 1 giữa PTSC và Tập đoàn Yinson Holdings Berhad Ảnh: CTV

Trang 9

Tại Hà Lan, trong hai ngày 28 và 29/9, Chủ tịch

HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam TSKH Phùng

Đình Thực đã tham gia các hoạt động chính thức, tham dự

cuộc họp bàn tròn giữa lãnh đạo cấp cao của các doanh

nghiệp Hà Lan và Việt Nam, tham dự Diễn đàn Hợp tác

Năng lượng “Energy Cooperation Forum” do Bộ Kinh tế

Đối ngoại, Nông nghiệp và Sáng tạo Hà Lan phối hợp với

Hội Doanh nghiệp Hà Lan - Việt Nam tổ chức Tại Diễn

đàn, Petrovietnam đã tiếp xúc và làm việc song phương

với nhiều công ty/tổ chức lớn của Hà Lan trong lĩnh vực

năng lượng và dầu khí Các bên đã trao đổi kinh nghiệm

áp dụng kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để sử dụng năng

lượng hiệu quả, các nguồn năng lượng mới, năng lượng

sạch và năng lượng tái tạo cũng như cơ hội hợp tác đầu tư

trong các dự án của Petrovietnam

Phát biểu tại diễn đàn, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng

cho biết Việt Nam coi năng lượng là ngành kinh tế mũi

nhọn để thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ,

rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

nước Hiện nay mức tiêu thụ năng lượng thương mại

của Việt Nam khoảng 36 triệu tấn dầu quy đổi, trong đó

nhu cầu xăng dầu vào khoảng 17 triệu tấn Theo dự báo

tổng nhu cầu năng lượng thương mại sẽ tăng trung bình

khoảng trên 7% mỗi năm trong giai đoạn 2010 - 2025

Để đáp ứng nhu cầu năng lượng cho phát triển kinh

tế - xã hội và đảm bảo an ninh năng lượng của đất nước,

trong điều kiện giá dầu mỏ biến động khó lường, Chính

phủ Việt Nam đang rà soát và tích cực thực hiện các giải

pháp khác nhau như có các cơ chế chính sách thích hợp

để thu hút đầu tư trong lĩnh vực năng lượng, nhất là đầu

tư nước ngoài; tạo điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh tiến

độ và triển khai có hiệu quả các dự án năng lượng đang đầu tư… Đồng thời, đa dạng hóa nguồn năng lượng, trong đó ưu tiên phát triển năng lượng tái tạo, điện khí thiên nhiên hoá lỏng, năng lượng nguyên tử; đẩy mạnh chương trình tiết kiệm và sử dụng hiệu quả năng lượng; thực hiện lộ trình giá năng lượng theo cơ chế thị trường nhằm khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào lĩnh vực này

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Kinh tế Đối ngoại, Đổi mới và Sáng tạo Hà Lan Maxime Verhagen cho rằng quan

hệ hợp tác Hà Lan - Việt Nam trong những năm qua có những bước phát triển hết sức mạnh mẽ; hai nước có những điểm tương đồng, có các tiềm năng hợp tác có thể

bổ sung cho nhau trong quá trình phát triển trong đó có lĩnh vực hợp tác về năng lượng Trong thời gian tới, Hà Lan sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với phía Việt Nam trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ, nghiên cứu khoa học, đào tạo trong lĩnh vực dầu khí; khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp hai nước nhất là hỗ trợ về nguồn lực tài chính cho các hoạt động hợp tác đầu tư về năng lượng, dầu khí Việt Nam - Hà Lan

Trong khuôn khổ chuyến thăm, ngày 29/9/2011, tại

La Hay, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng và Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Kinh tế Đối ngoại, Đổi mới và Sáng tạo Hà Lan Maxime Verhagen đã chứng kiến lễ

Đoàn công tác của Tập

đoàn Dầu khí Việt Nam do

phủ bắt đầu chuyến thăm

và làm việc tại Hà Lan,

Uzbekistan, Ukraine từ

ngày 27/9 đến 5/10/2011

nhằm đẩy mạnh hợp tác

trong lĩnh vực năng lượng

và dầu khí. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Kinh tế Đối ngoại, Đổi mới và Sáng tạo Hà

Lan chứng kiến lễ ký văn bản hợp tác chiến lược giữa Tập đoàn Dầu khí Việt Nam với Shell Ảnh: VNA

ô´y m°nh hèp tác trong lËnh vâc n·ng lÝèng và d²u khí

Trang 10

ký kết: Thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực dầu khí giữa

Petrovietnam với Shell; Ý định thư với nhóm các công ty/

tổ chức tham gia chương trình AETIN (Advanced Energy

Technology International) về hợp tác đào tạo, nghiên cứu

khoa học, chuyển giao công nghệ; Biên bản ghi nhớ về

hợp tác đào tạo giữa Đại học Công nghệ Tu Delft và Đại

học Dầu khí Việt Nam; Biên bản ghi nhớ giữa Tập đoàn

Royal Haskoning và Tổng công ty Tư vấn Thiết kế Dầu khí

Ngày 30/9, đoàn công tác của Petrovietnam đã đến

làm việc với Tập đoàn Shell Hai bên đã trao đổi cụ thể các

cơ hội hợp tác trong lĩnh vực tìm kiếm thăm dò, LNG, khoa

học công nghệ và đào tạo Tại trụ sở Shell, Chủ tịch HĐTV

Tập đoàn Dầu khí Việt Nam TSKH Phùng Đình Thực và Phó

Tổng giám đốc toàn cầu về tìm kiếm thăm dò của Shell bà

Ceri Powell đã ký kết thỏa thuận nghiên cứu chung cho

một số lô còn mở thuộc bể trầm tích Ma Lay - Thổ Chu,

ngoài khơi thềm lục địa phía Tây Nam Việt Nam, đặc biệt

là việc áp dụng công nghệ tiên tiến để nghiên cứu các

đối tượng chứa dầu khí tại khu vực này Kết quả nghiên

cứu đạt được sẽ mở ra hướng mới trong tìm kiếm thăm dò

dầu khí cho các đối tượng thuộc trầm tích trước Đệ Tam

Bên cạnh đó, Shell sẽ tăng cường hợp tác đào tạo về kỹ

thuật cho một số cán bộ của Petrovietnam Cùng ngày,

đoàn đã đến thăm Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo của

Shell, nghe giới thiệu một số công nghệ tăng cường thu

hồi dầu, nghiên cứu phương pháp khai thác dầu nặng

Từ ngày 2 - 3/10, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt

Nam đã tham gia cuộc hội đàm giữa đoàn đại biểu cấp cao

của Chính phủ Việt Nam và Uzbekistan Hai bên thảo luận

nhiều biện pháp thúc đẩy hợp tác về thương mại, đầu tư,

trong đó chú trọng tới hợp tác trong lĩnh vực dầu khí Thủ

tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Shavkat Mirziyoyev

đánh giá cao việc Petrovietnam đang tiến hành hiệu quả

hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí tại Uzbekistan

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh, hợp tác dầu khí là lĩnh vực hợp tác mũi nhọn giữa Việt Nam và Uzbekistan Thủ tướng đề nghị phía Uzbekistan sớm hoàn thành thủ tục nội bộ để ký chính thức hợp đồng giữa Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam và Công ty Dầu khí quốc gia Uzbekistan tại khu vực Bukhara Khiva (Uzbekistan), đồng thời khẳng định Chính phủ Việt Nam sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi cho Công ty Dầu khí Quốc gia Uzbekistan tham gia các dự án thăm dò, khai thác dầu khí tại thềm lục địa Việt Nam Thủ tướng Shavkat Mirziyoyev khẳng định Chính phủ Uzbekistan luôn ủng hộ và tạo thuận lợi cho các dự án hợp tác dầu khí với Việt Nam, coi đây là một lĩnh vực hợp tác quan trọng giữa hai nước Nhân dịp này, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đãt đến thăm Văn phòng PVEP Trung Á tại Uzbekistan Ngày 3/10, tại thủ đô Tashkent, đoàn công tác của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã tham dự buổi tọa đàm giữa doanh nghiệp hai nước Việt Nam - Uzbekistan dưới sự chủ trì của Bộ trưởng Bộ Kinh tế Đối ngoại và Đầu tư Uzbekistan Elyor Ganiev và Bộ trưởng Bộ Công Thương Việt Nam Vũ Huy Hoàng Lãnh đạo cấp cao hai nước đã chứng kiến các lễ ký kết: Biên bản ghi nhớ về nghiên cứu chung tiềm năng dầu khí tại Việt Nam - Uzbekistan, đào tạo và chuyển giao công nghệ… giữa Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) và Viện Địa chất và Tìm kiếm các mỏ dầu khí của Uzbekistan (IGRNIGM); Thỏa thuận tư vấn thiết kế giữa PV Engineering và Tổng công ty Thiết kế và Xây dựng các công trình dầu khí thuộc Uzbekneftegaz; Thỏa thuận quản lý rủi ro và tái bảo hiểm giữa Bảo hiểm Dầu khí và Alfa Invest

Từ ngày 4 - 5/10, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã tham gia các hoạt động chính thức, tham dự cuộc họp bàn tròn giữa lãnh đạo cấp cao của các doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam - Ukraine PVJ

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm Văn phòng Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí PVEP Trung Á tại Uzbekistan Ảnh: PVN

Việt Hà

Trang 11

Ngày 21/9/2011, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã tổ

chức Lễ công bố các Quyết định bổ nhiệm Chủ

tịch Hội đồng Thành viên, Thành viên Hội đồng thành viên

và Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tại Trụ sở Tập

đoàn Dầu khí Việt Nam và trực tuyến tại các điểm cầu Tp

HCM, Vũng Tàu, Sóc Trăng, Cà Mau, Quảng Ngãi, Hà Tĩnh

Thay mặt Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính

phủ Hoàng Trung Hải đã trao Quyết định bổ nhiệm của

Thủ tướng Chính phủ cho TSKH Phùng Đình Thực - Thành

viên HĐTV, Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam giữ

chức Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và trao

Quyết định bổ nhiệm TS Đỗ Văn Hậu - Phó Tổng giám đốc

Thường trực Tập đoàn Dầu khí Việt Nam giữ chức Thành

viên HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Cũng tại buổi lễ,

tân Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam - TSKH

Phùng Đình Thực đã trao Quyết định bổ nhiệm TS Đỗ Văn

Hậu giữ chức Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam

Phát biểu chỉ đạo tại buổi lễ, Phó Thủ tướng Hoàng

Trung Hải cho rằng, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam có bước

phát triển lớn mạnh và tiếp tục là một trong những Tập

đoàn dẫn đầu của đất nước, có vai trò hết sức quan trọng

trong việc bảo đảm năng lượng quốc gia Từ việc đảm

bảo dầu khí cho đất nước, Tập đoàn đã mở rộng sang lĩnh

vực năng lượng nói chung Trong thời gian qua, Tập đoàn

đã nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực quản lý của

Ngành, đáp ứng được các mục tiêu mà Chính phủ đã đề

ra Năm 2011, Tập đoàn đóng góp khoảng 22,2% tổng thu ngân sách Nhà nước trong điều kiện nền kinh tế khó khăn như hiện nay, nguồn thu đó là vô cùng quan trọng

Phó Thủ tướng lưu ý, mục tiêu, kế hoạch phát triển giai đoạn 2011 - 2015 đặt ra nhiều thách thức, điều đó, đòi hỏi lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam phải nỗ lực, đoàn kết, tạo ra được đồng tâm hiệp lực, tạo ra sức mạnh tổng thể của toàn Ngành Dầu khí Việt Nam Phó Thủ tướng Chính phủ đồng tình với những định hướng, phương châm mà tân Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã đề ra cho sự phát triển Tập đoàn trong thời gian tới và tin rằng

đó là định hướng và phương châm đúng, cần phải tạo ra

sự đồng thuận, nỗ lực của tất cả các thành viên trong toàn Tập đoàn để đạt được nhiệm vụ đó

Để giữ vững vai trò là đơn vị đầu tàu, đóng góp ngân sách chủ lực cho Nhà nước, trong khi các điều kiện thực hiện nhiệm vụ thời gian tới còn khó khăn hơn nhiều, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải yêu cầu Tập đoàn Dầu khí Việt Nam phải nỗ lực hơn nữa, sáng tạo hơn nữa; chuyên tâm vào công tác đào tạo cán bộ, tiếp tục đưa Ngành Dầu khí phát triển với tốc độ 25%/năm Phó Thủ tướng Chính phủ mong Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tiếp tục đoàn kết, phát huy truyền thống của Ngành, đạt được những mục tiêu, nhiệm vụ mà Lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã giao, hoàn thành sứ mệnh bảo đảm an ninh năng lượng cho đất nước.Thay mặt cán bộ, CNVC-LĐ Ngành Dầu khí, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam TSKH Phùng Đình Thực tiếp thu nghiêm túc ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ; đoàn kết, nhất trí, chung sức chung lòng, phấn đấu thực hiện tốt nhất Chiến lược phát triển, kế hoạch 5 năm 2011 - 2015 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, xây dựng Tập đoàn Dầu khí Việt Nam ổn định và phát triển, đóng góp ngày càng nhiều cho kinh tế đất nước PVJ

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải:

Ngành D²u khí ViÇt Nam nÖ lâc hãn náa, sáng t°o hãn náa

Ngày 16/9/2011, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 1616/QĐ-TTg

về việc bổ nhiệm đồng chí Phùng Đình Thực giữ chức Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Cùng ngày, Văn phòng Chính phủ đã có Công văn số 6472/VPCP-TCCV thông báo ý kiến của Ban Cán sự đảng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về việc đồng ý phê chuẩn để HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam bổ nhiệm Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Ngày 19/9/2011, HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã có Quyết định số 2668/QĐ- HĐTV về việc bổ nhiệm đồng chí Đỗ Văn Hậu, Thành viên HĐTV, Phó Tổng giám đốc Thường trực giữ chức Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.

Việt Hà

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải trao Quyết định bổ nhiệm cho

TSKH Phùng Đình Thực và TS Đỗ Văn Hậu Ảnh: Hoàng Tuấn

Trang 12

Hơm nay tơi và đồ ng chí Đỗ Văn Hậ u vừ a vinh dự ,

đồ ng thờ i nhậ n thấ y rõ trá ch nhiệ m củ a mì nh vớ i Ngà nh

Dầ u khí khi đượ c trao quyế t đị nh giữ chứ c vụ Chủ tị ch

Hộ i đồ ng Thà nh viên và Tổ ng giá m đố c Tậ p đồ n Dầ u khí

Việ t Nam

Trướ c hế t tơi xin bày tỏ lị ng biế t ơn chân thà nh

nhấ t tớ i Ban Cá n sự Đả ng Chí nh phủ , Thủ tướ ng Chí nh

phủ đã tin tưở ng bổ nhiệ m tơi giữ chứ c vụ Chủ tị ch Hộ i

đồ ng Thà nh viên Tậ p đồ n Dầ u khí Việ t Nam Tơi cả m ơn

cá c Ban củ a Đả ng, Văn phị ng Trung ương, Đả ng ủ y Khố i

doanh nghiệ p Trung ương đã cho ý kiế n ủ ng hộ đề nghị

tơi giữ cương vị trên Tơi cả m ơn Bộ Cơng Thương, Bộ Nộ i

vụ , Thườ ng vụ Đả ng ủ y, Hộ i đồ ng Thà nh viên, đồ ng chí Chủ tị ch Hộ i đồ ng Thà nh viên đã tin cậ y, giớ i thiệ u và đề nghị Thủ tướ ng Chí nh phủ về trườ ng hợ p củ a tơi Tơi cả m

ơn tậ p thể cá n bộ chủ chố t Tậ p đồ n, tồ n thể cá n bộ cơng nhân viên Tậ p đồ n Dầ u khí Quố c gia Việ t Nam đã

tí n nhiệ m tơi

Như hơn 2 năm về trướ c, tơi hiể u rằ ng cá c đồ ng chí

bỏ phiế u tí n nhiệ m, giớ i thiệ u tơi khơng vì cá nhân tơi,

mà đã gử i gắ m ở đĩ sự tin tưở ng và ủ y nhiệ m cho tơi thự c hiệ n nhiệ m vụ nà y Qua đây cũ ng là dị p cá c đồ ng chí nhì n

“ơĨ ng tâm hiÇ p lâ c, ơÕ i må i h× i nh¶ p, Phá t triÅ n bà n vá ng” là phÝãng châm hà nh õ× ng,

là trá ch nhiÇ m cÚ a thÄ hÇ chú ng ta

Phát biểu tại Lễ cơng bố các quyết định bổ nhiệm

Chủ tịch Hội đồng Thành viên, Thành viên Hội đồng

thành viên và Tổng giám đốc Tập đồn Dầu khí Việt

Nam ngày 21/9/2011, TSKH Phùng Đình Thực đã đưa ra

chiến lược, phương châm hành động của Tập đồn trong

giai đoạn phát triển mới, đồng thời khẳng định “cơng

tá c tì m kiế m, thăm dị và khai thá c dầ u khí là trọ ng tâm

cố t lõ i nhấ t trong cá c lĩ nh vự c cố t lõ i Chú ng ta phá t hiệ n

đượ c mộ t mỏ mớ i, đưa mộ t mỏ mớ i và o khai thá c là tạ o

đượ c bướ c nhả y vọ t mớ i củ a Tậ p đồ n Dầ u khí Quố c gia

Việ t Nam, nhiề u mỏ mớ i sẽ tạ o ra nhiề u bướ c nhả y vọ t

mớ i, ké o theo cá c lĩ nh vự c khá c cù ng phá t triể n” Tạp

chí Dầu khí xin trân trọng giới thiệu bài phát biểu của

TSKH Phùng Đình Thực - Ủy viên Ban Thường vụ Đảng

ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương, Bí thư Đảng ủy, Chủ

tịch HĐTV Tập đồn Dầu khí Việt Nam tại buổi lễ quan

trọng này.

Kí nh thưa: Đồng chí Hồ ng Trung Hả i, Ủ y viên Trung ương Đả ng, Phĩ Thủ tướ ng Chính phủ,

Thưa cá c đồ ng chí và cá c bạ n cĩ mặ t hơm nay tạ i Hà Nộ i và 7 đầ u cầ u,

Thưa tồ n thể cá n bộ cơng nhân viên Tậ p đồ n Dầu khí Quốc gia Việt Nam!

Trang 13

vị Tổ ng giá m đố c Tậ p đoà n Tôi xin hứ a sẽ cố gắ ng hế t sứ c

không ngạ i khó khăn, không sợ phứ c tạ p, là m hế t sứ c

mì nh, cù ng tậ p thể , dự a và o tậ p thể xây dự ng Tậ p đoà n

Dầ u khí Quố c gia Việ t Nam liên tụ c phá t triể n, không phụ

lò ng tin, sự tí n nhiệ m củ a cá c đồ ng chí , cá c bạ n

Thưa toà n thể cá c đồ ng chí !

Tậ p đoà n Dầ u khí Quố c gia Việ t Nam vớ i truyề n thố ng

50 năm và hơn 36 năm xây dự ng, phá t triể n đế n nay đã trở

thà nh Tậ p đoà n mạ nh củ a cả nướ c Chú ng ta đã xây dự ng

đượ c nề n công nghiệ p dầ u khí hoà n chỉ nh từ khâu tì m

kiế m, thăm dò và khai thá c, chế biế n, lọ c hó a dầ u - khí đế n

tà ng trữ phân phố i sả n phẩ m dầ u khí Chú ng ta khẳ ng

đị nh vai trò tiên phong, đầ u tầ u trong nề n kinh tế củ a cả

nướ c vớ i hà ng năm đang đó ng gó p 30% ngân sá ch Nhà

nướ c Đặ c biệ t nhữ ng năm gầ n đây sả n xuấ t kinh doanh

củ a Tậ p đoà n liên tụ c tăng cao, tăng nhanh

Doanh thu toàn Tậ p đoà n: năm 2009 là 300 nghìn tỷ

đồ ng, năm 2010 vượ t 400 nghìn tỷ đồ ng, năm 2011 kế

hoạ ch 500 nghìn tỷ đồ ng, dự kiế n đạ t 640 nghìn tỷ đồ ng

8 thá ng đầ u năm 2011, trong bố i cả nh kinh tế thế giớ i,

kinh tế Việ t Nam cò n nhiề u khó khăn, Tậ p đoà n Dầ u khí

Việ t Nam đã nỗ lự c hoà n thà nh toà n diệ n cá c chỉ tiêu sả n

xuấ t kinh doanh, sả n xuấ t vượ t mứ c cá c sả n phẩ m dầ u,

khí , điệ n, đạ m Doanh thu, lợ i nhuậ n, nộ p ngân sá ch vượ t

hoạ ch củ a cả năm; bằ ng 2,6 lầ n tấ t cả cá c Tậ p đoà n và

Tổ ng công ty khá c cộ ng lạ i Dự kiế n cả năm Tậ p đoà n sẽ

nộ p ngân sá ch 155 nghìn tỷ đồ ng, vượ t 55 nghìn tỷ đồ ng

(tương đương vượ t 2,7 tỷ USD) so vớ i kế hoạ ch

Tậ p đoà n tí ch cự c đó ng gó p an sinh xã hộ i: năm nay

Tậ p đoà n đăng ký 600 tỷ , dự kiế n thự c hiệ n 715 tỷ đồ ng

Bá o cá o tạ i Đả ng ủ y Khố i doanh nghiệ p Trung ương cho

thấ y đó ng gó p cho an sinh xã hộ i Tậ p đoà n chiế m 95%

(715 tỷ đồ ng/750 tỷ đồ ng) củ a cả khố i kinh tế

Đầ u năm 2011, Chí nh phủ ban hà nh Nghị quyế t 11 về

kiề m chế lạ m phá t, ổ n đị nh kinh tế vĩ mô, đả m bả o an sinh

xã hộ i Vớ i kế t quả trên, chú ng ta tự hà o và có thể khẳ ng

đị nh Tậ p đoà n Dầ u khí Quố c gia Việ t Nam 8 thá ng qua đã

quyế t liệ t đẩ y mạ nh sả n xuấ t kinh doanh, là đơn vị thự c

hiệ n tố t nhấ t Nghị quyế t 11 củ a Chí nh phủ

mạnh - đoàn kết Mỗi người chúng ta tự hào là cán bộ, công nhân của Ngành Dầ u khí Mỗi đơn vị chúng ta tự hào

là thành viên của Tậ p đoà n Dầ u khí Quố c gia Việ t Nam Anh

hù ng Đây chính là thế mạnh, là ưu điểm vượt trội Tôi luôn tâm niệ m rằ ng, có được như vậy là công sức của bao thế

hệ đi trước: những người lãnh đạo vững vàng, năng động, sáng tạo, tập thể cán bộ công nhân trình độ cao, trí tuệ cao Có được như vậy vì được sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Đảng, Nhà nước, sự giúp đỡ của nhân dân cả nước.Các thế hệ tiếp theo, những người như chúng ta trong giai đoạn kế tiếp này (dù ai chăng nữa) kiên quyế t không

tự mã n vớ i kế t quả đạ t đượ c, không được phép làm phai

mờ, làm xấu đi hình ảnh đáng quý đó, mà có trách nhiệm đồng tâm hiệp lực, phát huy thế mạnh, vun đắp thêm, làm sáng lên hình ảnh Dầu khí Việ t Nam, tiếp tục xây dựng Tậ p

đoà n Dầ u khí tiến lên phát triển ổn định và bền vững Tập đoàn ổn định và phát triển bền vững là mục tiêu của chúng ta, là trách nhiệm của chúng ta - những người đi

tiếp trong giai đoạn tới

Thưa toà n thể cá c đồ ng chí !

Nhân dị p nà y, tôi chân thà nh cá m ơn đồ ng chí Đinh

La Thăng - Ủ y viên Trung ương Đả ng, Chủ tị ch Hộ i đồ ng Thà nh viên, Bí thư Đả ng ủ y trong thờ i gian 2006 - 7/2011

Vớ i cương vị ngườ i đứ ng đầ u doanh nghiệ p, đồ ng chí Đinh La Thăng đã cù ng tậ p thể Đả ng ủ y, Hộ i đồ ng Thà nh viên lã nh đạ o Tậ p đoà n Dầ u khí Quố c gia Việ t Nam phá t triể n toà n diệ n

Đồ ng chí Thăng để lạ i tấ m gương sá ng về tinh thầ n quyế t liệ t, năng độ ng, sá ng tạ o, hiệ u quả , tậ n tụ y sâu sá t

vớ i công việ c Đồ ng chí Thăng là con ngườ i hà nh độ ng,

dá m nghĩ , dá m là m, dá m chị u trá ch nhiệ m, là hạ t nhân đoà n kế t trong toà n Tậ p đoà n Xin chân thà nh cả m ơn

đồ ng chí Đinh La Thăng về sự đó ng gó p to lớ n đố i vớ i Tậ p đoà n Dầ u khí Quố c gia Việ t Nam

Chú c đồ ng chí và gia đì nh sứ c khỏ e,Chú c đồ ng chí ở cương vị mớ i, lã nh đạ o Bộ Giao thông Vậ n tả i thu đượ c nhiề u thà nh công mớ i

Thưa cá c đồ ng chí !

Trong hơn 2 năm qua ở cương vị Tổ ng giá m đố c, tôi và

Lã nh đạ o Tậ p đoà n cù ng tậ p thể cá n bộ công nhân viên trong toà n Ngà nh Dầ u khí Việ t Nam đồ ng tâm hiệ p lự c, tổ chứ c thự c hiệ n thắ ng lợ i nhiệ m vụ sả n xuấ t kinh doanh, xây dự ng chiế n lượ c tăng tố c, thự c hiệ n mộ t bướ c lờ i hứ a trướ c tậ p thể cá n bộ công nhân viên toà n Ngà nh

Trang 14

Trong giai đoạ n tiế p theo, ở vị trí mớ i, chú ng tôi nhậ n

rõ nhiệ m vụ trọ ng tâm, xuyên suố t cả nhiệ m kỳ là lã nh

đạ o và tổ chứ c thự c hiệ n thắ ng lợ i giai đoạ n mộ t (đế n

năm 2015) củ a Chiế n lượ c tăng tố c phá t triể n Trong

Chiế n lượ c đó chú ng ta đã xá c đị nh, khẳ ng đị nh rõ 5

nhiệ m vụ cố t lõ i:

Thứ nhấ t: Tì m kiế m, thăm dò và khai thá c dầ u khí

Thứ hai: Lọ c hó a dầ u

Thứ ba: Công nghiệ p khí

Thứ tư: Công nghiệ p điệ n

Thứ năm: Dị ch vụ kỹ thuậ t dầ u khí chấ t lượ ng cao.

Trong đó công tá c tì m kiế m, thăm dò và khai thá c

dầ u khí là trọ ng tâm cố t lõ i nhấ t trong cá c lĩ nh vự c cố t

lõ i Chú ng ta phá t hiệ n đượ c mộ t mỏ mớ i, đưa mộ t mỏ

mớ i và o khai thá c là tạ o đượ c bướ c nhả y vọ t mớ i củ a Tậ p

đoà n Dầ u khí Quố c gia Việ t Nam, nhiề u mỏ mớ i sẽ tạ o

ra nhiề u bướ c nhả y vọ t mớ i, ké o theo cá c lĩ nh vự c khá c

cù ng phá t triể n

Chú ng ta phả i đẩ y mạ nh tì m kiế m thăm dò và khai

thá c dầ u khí , cả trong nướ c và nướ c ngoà i Trong nướ c,

bên cạ nh khu vự c truyề n thố ng, Tậ p đoà n phá t triể n ra

khu vự c mớ i: nướ c sâu xa bờ Ở nướ c ngoà i, chú ng ta xá c

đị nh đị a bà n hoạ t độ ng: Liên bang Nga, cá c nướ c SNG

Uzbekistan, Azerbaizan, Kazakhstan; Khu vự c châu Mỹ La

tinh: vớ i trung tâm Venezuela; Khu vự c châu Phi, Đông

Nam Á Trong đó đị a bà n chí nh là Liên bang Nga và cá c

nướ c SNG Thà nh công vừ a qua tạ i khu vự c Nhenhetxky,

Liên bang Nga chỉ trong vò ng 2 năm chú ng ta đưa 2 mỏ và o khai thá c vớ i

sả n lượ ng năm 2011 đạ t 1,5 triệ u tấ n

đã khẳ ng đị nh điề u đó

Cù ng vớ i việ c đẩ y mạ nh sả n xuấ t

ở nhiề u lĩ nh vự c chí nh, trong thờ i gian

tớ i, chú ng ta tiế p tụ c rà soá t công tá c

đầ u tư, thự c hiệ n tố t nhấ t Nghị quyế t

11 củ a Chí nh phủ ; tiế p tụ c tá i cơ cấ u doanh nghiệ p tậ p trung và o lĩ nh vự c

cố t lõ i, nhằ m nâng cao hiệ u quả sả n xuấ t kinh doanh, nâng cao sứ c cạ nh tranh trong bố i cả nh cạ nh tranh quố c

tế ngà y cà ng quyế t liệ t

Chú ng ta dà nh mộ t phầ n nguồ n

lự c nghiên cứ u đầ u tư năng lượ ng tá i

tạ o, năng lượ ng mớ i, nhậ p khẩ u năng lượ ng thay thế LNG, CNG, chuẩ n bị tiề n

đề cho nhữ ng bướ c xa hơn

Thưa cá c đồ ng chí !

Để thự c hiệ n thắ ng lợ i Chiế n lượ c tăng tố c, trong nhiệ m kỳ nà y, Đả ng ủ y, Hộ i đồ ng Thà nh viên, Ban Tổ ng giá m đố c Tậ p đoà n sẽ nỗ lự c cao nhấ t để thự c hiệ n thà nh công ba giả i phá p độ t phá : Giả i phá p về con ngườ i; giả i phá p về khoa họ c công nghệ (tậ p trung đổ i mớ i, đầ u tư công nghệ hiệ n đạ i Đầ u tư khoa họ c công nghệ để nâng cao năng suấ t lao độ ng, năng lự c cạ nh tranh); giả i phá p

về quả n lý (quả n lý hướ ng tớ i chuyên nghiệ p, quả n lý theo chuẩ n mự c quố c tế )

Trong ba giả i phá p độ t phá , Tậ p đoà n sẽ dà nh nhiề u thờ i gian, nhiề u công sứ c cho giả i phá p xây dự ng độ i ngũ , xây dự ng lự c lượ ng cá n bộ (bao gồ m cả phá t hiệ n,

đà o tạ o và sử dụ ng) Hôm nay, nhân dị p có đầ y đủ cá n

bộ chủ chố t, tôi dà nh thờ i gian trì nh bày về công tá c đà o

tạ o cá n bộ củ a Tậ p đoà n, vì vớ i sự phá t triể n hiệ n nay và

sắ p tớ i lự c lượ ng cá n bộ trì nh độ cao củ a chú ng ta cò n

rấ t mỏ ng và thiế u Chú ng ta nhậ n thứ c rõ Tậ p đoà n phá t triể n mạ nh, bề n vữ ng nhờ yế u tố quyế t đị nh là công tá c

cá n bộ Chăm lo đế n con ngườ i, chí nh là chăm lo đế n

yế u tố quan trọ ng nhấ t củ a công nghiệ p hó a, hiệ n đạ i

hó a Nề n công nghiệ p hiệ n đạ i đang đò i hỏ i nhữ ng con ngườ i, lự c lượ ng phù hợ p

Chú ng ta phả i giả i đồ ng thờ i hai bà i toá n: vừ a đá p

ứ ng nhu cầ u cá n bộ cho giai đoạ n trướ c mắ t, đồ ng thờ i chuẩ n bị xây dự ng lự c lượ ng lâu dà i

Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam - TSKH Phùng Đình Thực trao Quyết định bổ

nhiệm TS Đỗ Văn Hậu giữ chức Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Ảnh: H Tuấn

Trang 15

nhân là nh nghề cho cá c dự á n Trong chương trì nh đà o

tạ o sắ p tớ i chú ng ta đà o tạ o đồ ng bộ cả ba loạ i cá n bộ :

cá n bộ lã nh đạ o, cá n bộ khoa họ c công nghệ đầ u ngà nh

và cá n bộ quả n lý sả n xuấ t kinh doanh

Chú ng ta đà o tạ o để đá p ứ ng ba mụ c tiêu: Hướ ng tớ i

hiệ n đạ i, chuyên nghiệ p - Hướ ng ra thế giớ i - Hướ ng tớ i

tương lai Thự c hiệ n thậ t tố t cả ba khâu: tì m kiế m phá t

hiệ n, đà o tạ o bồ i dưỡ ng, bố trí sử dụ ng

Về tì m kiế m phá t hiệ n: Chú ng ta tuyể n chọ n nhữ ng

họ c sinh sinh viên xuấ t sắ c trong cả nướ c; đồ ng thờ i lự a

chọ n cá n bộ xuấ t sắ c thông qua thự c tiễ n cơ sở

Về đà o tạ o bồ i dưỡ ng: Chú ng ta đà o tạ o cơ bả n, đà o

tạ o chuyên sâu, chuyên gia và tiế n sỹ Đà o tạ o cả nướ c

ngoà i và cả trong nướ c (Trườ ng Đạ i họ c Dầ u khí ra đờ i

năm 2011 là nhằ m mụ c tiêu đó ) Hì nh thứ c đà o tạ o thông

qua trườ ng lớ p, kế t hợ p đà o tạ o tạ i chỗ

Về bố trí , sử dụ ng cá n bộ : Chú ng ta xây dự ng cơ chế

để bố trí đú ng ngườ i, đú ng việ c, đồ ng thờ i xây dự ng và

thự c hiệ n tố t chí nh sá ch sử dụ ng, đã i ngộ , tôn vinh ngườ i

tà i Vớ i chí nh sá ch tố t chú ng ta sẽ thu hú t đượ c nhân lự c

trì nh độ cao kể cả chuyên gia đang là m việ c ở nướ c ngoà i

Ngườ i tà i phả i đượ c phá t hiệ n, ươm trồ ng, bồ i dưỡ ng,

trọ ng dụ ng vì sự phá t triể n bề n vữ ng củ a Tậ p đoà n Dầ u

khí Quố c gia Việ t Nam

Thưa toà n thể cá c đồ ng chí !

Đồ ng thờ i đẩ y mạ nh sả n xuấ t kinh doanh, trong

thờ i gian tớ i chú ng ta tiế p tụ c và kiên trì xây dự ng nề n

tả ng Văn hó a Dầ u khí : vừa đậm đà bản sắc dân tộc vừa

mang màu sắc dầu khí Văn hó a Petrovietnam mà chú ng

Vì Tổ quố c Việ t Nam phồ n vinh

Đây là mộ t nhiệm vụ ưu tiên, lâu dài nhưng phải làm

Dài thì chia làm từng bước, kiên trì , kiên quyế t thự c hiệ n

Chú ng ta xây dự ng Văn hó a Dầ u khí , ở đấy Tập đoàn

có trách nhiệm chăm lo đến mọi thành viên của Tập đoàn

và mỗi người có trách nhiệm vì Tập đoàn

công nhân viên trong ngành hiểu sâu sắc rằng: Ngành Dầu khí không phải của riêng ai, mà của cả Tập đoàn và không chỉ của Tập đoàn, mà của cả nước Chúng ta vinh

dự được Đả ng và Nhà nước giao cho làm việc đó Vì cả nước, nên chúng ta có trách nhiệm tạo điều kiện, hỗ trợ, hợp tác với các ngành, các địa phương vì sự nghiệp chung Chú ng ta cù ng xây dự ng nề n Văn hó a Dầ u khí trên cơ

sở phá t huy né t đẹ p truyề n thố ng, tiế p thu văn minh hiệ n

đạ i, đồ ng thờ i loạ i bỏ thó i văn hó a xấ u, đạ o đứ c xấ u trong

đờ i số ng, trong kinh doanh, xây dự ng đạ o đứ c lố i số ng,

đạ o đứ c kinh doanh củ a mộ t xã hộ i tiên tiế n, văn minh Chúng ta xây dựng nền Văn hóa Dầu khí, để tất cả cán

bộ công nhân viên nhận thức đầy đủ rằng phát triển kinh

tế là nhiệm vụ hàng đầu của Tập đoàn, nhưng không đơn thuần về kinh tế , mà nhiệm vụ của chúng ta gắn chính trị, gắn với ngoại giao, gắn với chủ quyền - quốc phòng - an ninh Chúng ta phát triển kinh tế để góp phần ổn định chính trị Trong quá trình làm việc với đối tác nước ngoài, chúng ta quán triệt sâu sắc: Chính sách đa phương hóa trong quan hệ, làm bạn với tất cả các nước Để góp phần bảo vệ chủ quyền quốc gia chúng ta thực hiện triệt để Nghị quyết Trung ương về chiến lược biển: vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế biển vừa góp phần tạo môi trường hòa bình để phát triển Chú ng ta yêu hò a bì nh, mong hò a bì nh

để hợ p tá c, phá t triể n Hòa bình, hữu nghị nhưng kiên quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia

Trang 16

phứ c tạ p là :

Cá c dự á n củ a chú ng ta nhiề u (có dự á n khó , có nhiề u

dự á n lớ n) Cá c dự á n thăm dò khai thá c dầ u khí khu vự c

nướ c sâu, cá c dự á n lọ c hó a dầ u mớ i, cá c dự á n nhiệ t điệ n

than, dự á n khai thá c dầ u khí tạ i Venezuela là nhữ ng dự á n

lớ n, phứ c tạ p Dự á n nhiề u trong khi cá n bộ chú ng ta, đặ c

biệ t cá n bộ trì nh độ cao đang mỏ ng, đang thiế u

Nhu cầ u vố n tăng cao trong giai đoạ n năm năm tớ i

Trong bố i cả nh suy thoá i kinh tế thế giớ i chưa phụ c hồ i

tiế p tụ c ả nh hưở ng đế n Việ t Nam, đế n Tậ p đoà n Dầ u khí

Việ t Nam, chắ c chắ n việ c thu xế p vố n sẽ gặ p nhiề u khó

khăn, đò i hỏ i cù ng nhau tì m giả i phá p kị p thờ i

Nguồ n tà i nguyên dầ u khí , đặ c biệ t cá c mỏ lớ n, ngà y

cà ng khan hiế m; chú ng ta phả i tì m nơi xa hơn, nướ c sâu

hơn, điề u kiệ n đị a chấ t phứ c tạ p Điề u kiệ n đó đò hỏ i Tậ p

đoà n tổ chứ c nghiên cứ u, triể n khai chuyên nghiệ p hơn,

vớ i chi phí tố n ké m hơn Ngoà i ra trong quá trì nh triể n

khai nhiệ m vụ tạ i thề m lụ c đị a Việ t Nam chú ng ta cò n vấ p

phả i sự cả n phá củ a cá c lự c lượ ng nướ c ngoà i vi phạ m chủ

quyề n Việ t Nam Chú ng ta đầ u tư ra nướ c ngoà i vớ i quy

mô lớ n hơn trong điề u kiệ n canh tranh quố c tế quyế t liệ t

Có khó khăn, có phứ c tạ p, tuy nhiên thuậ n lợ i là cơ

bả n Là Tậ p đoà n có tiề m lự c mạ nh vớ i truyề n thố ng 50

năm, đơn vị Anh hù ng; bên trên, Tậ p đoà n đượ c Đả ng -

Chí nh phủ tin tưở ng; bên ngoà i, Tậ p đoà n đượ c nhân

dân cả nướ c giú p đỡ ; bên trong, nế u chú ng ta chung sứ c

chung lò ng, chắ c chắ n mọ i khó khăn sẽ vượ t qua, Tậ p

đoà n Dầ u khí Quố c gia Việ t Nam tiế p tụ c phá t triể n

Chú ng ta sẽ hà nh độ ng vớ i phương châm là : Đồ ng

tâm hiệ p lự c - Đổ i mớ i hộ i nhậ p - Phá t triể n bề n vữ ng

Trong đó “Đồ ng tâm hiệ p

lự c” là tiề n đề , “Đổ i mớ i hộ i nhậ p” là phương tiệ n, “Phá t triể n bề n vữ ng” là mụ c tiêu

Mụ c tiêu và trá ch nhiệ m

củ a thế hệ nà y phả i là m (không khá c đượ c) là xây

dự ng Tậ p đoà n ổ n đị nh và phá t triể n bề n vữ ng

Nó i cá ch khá c “Ổn đị nh

và phá t triể n bề n vữ ng” là

bấ t biế n Đứ ng trướ c nhữ ng phứ c tạ p nhiề u biế n, Bá c Hồ

đã dạ y “lấ y bấ t biế n ứ ng vạ n

phứ c tạ p, hoạ t độ ng trên đị a bà n lớ n cả trên đấ t liề n và ngoà i khơi, cả trong nướ c và nướ c ngoà i chắ c chắ n sẽ gặ p nhiề u vấ n đề nả y sinh Tậ p đoà n chú ng ta lấ y ổ n đị nh và phá t triể n là bấ t biế n để ứ ng phó vớ i cá c tì nh huố ng mớ i phứ c tạ p có thể xả y ra

Hà ng ngà y, khi giả i quyế t công việ c lã nh đạ o Tậ p đoà n thử hỏ i: việ c là m đó , giả i phá p đó có đả m bả o Tậ p đoà n ổ n đị nh, phá t triể n? Nế u ổ n đị nh phá t triể n thì là m,

nế u không ổ n đị nh, mà rố i lên; không phá t triể n, mà cả n trở phá t triể n, kiên quyế t không là m

Lã nh đạ o Tậ p đoà n cam kế t là m như vậ y và yêu cầ u

cá c ban, cá c đơn vị trong Ngà nh cũ ng phả i ứ ng xử như

vậ y Đây chí nh là phương thứ c hà nh độ ng củ a toà n Tậ p đoà n Dầ u khí Quố c gia Việ t Nam trong giai đoạ n tớ i

Thưa các đồng chí!

Nhiệm vụ sắp tới của chúng ta, như đã được trình bày ở trên rất to lớn và nặng nề Về phần mình tiếp thu nghiêm túc ý kiến chỉ đạo của đồng chí Phó Thủ tướ ng Chí nh phủ , cá c đồ ng chí Lã nh đạ o Đả ng, Nhà nướ c, tôi xin hứa với Đảng, Chính phủ, với các đồng chí: Ban Lã nh đạ o

mớ i củ a Tậ p đoà n kế thừ a nhữ ng kinh nghiệ m quý bá u, truyề n thố ng tố t đẹ p củ a cá c thế hệ lã nh đạ o tiề n nhiệ m,

sẽ tậ p trung sứ c lự c thự c hiệ n đồ ng bộ cá c chương trì nh công tá c và nhữ ng giả i phá p nêu trên, đú ng phá p luậ t

và kỷ cương Nhà nướ c Ban Lã nh đạ o mớ i quyế t tâm xây

dự ng mộ t tậ p thể lã nh đạ o đoà n kế t, phá t huy tố t nhấ t vai trò tậ p thể củ a Đả ng ủ y, Hộ i đồ ng thà nh viên, đề cao vai trò , trá ch nhiệ m ngườ i đứ ng đầ u và mỗ i thà nh viên Ban lã nh đạ o, hà nh độ ng kiên quyế t, kiên trì và sá ng tạ o,

hợ p tá c, hỗ trợ , cù ng nhau phấ n đấ u hoà n thà nh tố t nhấ t nhiệ m vụ

Tuy nhiên với nhiệm vụ lớn như vậy một cá nhân hay chỉ mộ t bộ phậ n Lã nh đạ o, dù giỏi đến mấy, cũng không làm nổi Vì vậy tôi kêu gọi ở các đồng chí: toàn thể CBCNV Ngành Dầu khí hãy đồng tâm hiệp lực, chung sức chung lòng vì sự phát triển của Ngành Dầu khí Việt Nam Tôi tin tưởng ở bản lĩnh vững vàng, trí tuệ tầm cao đã được thử thách của tập thể Ngành Dầu khí Tôi tin tưởng vững chắc, tin tưởng mạnh mẽ rằng một tập thể Anh hù ng với bề dầy truyền thống, có tiềm lực mạnh lấy đồng tâm hiệp lực làm tiền đề, lấ y đổ i mớ i mọ i mặ t và xây dự ng lự c lượ ng, độ i ngũ chuyên nghiệ p, đầ u tư kỹ thuậ t mạ nh là m phương tiệ n, chắc chắn sự nghiệp chung của chúng ta, ngôi nhà Dầu khí của chúng ta sẽ phát triển vững bền

Xin cả m ơn cá c đồ ng chí

Trang 17

Khai thác hiệu quả dầu trong

móng nứt nẻ

Tại kỳ họp lần này, Tiểu

ban Thăm dò Khai thác Dầu khí

đã nghe Liên doanh Việt - Nga

(Vietsovpetro) trình bày hiện

trạng khai thác móng nứt nẻ mỏ

Bạch Hổ so với trữ lượng, sơ đồ

công nghệ khai thác được phê

duyệt Theo thống kê, sản lượng

Hổ đến nay đạt hơn 166 triệu

tấn dầu Móng chứa dầu là đối

tượng khai thác chưa có tiền lệ

trong Ngành công nghiệp Dầu

khí nên việc đánh giá và điều chỉnh quá trình khai thác gặp

rất nhiều khó khăn Thiết kế khai thác mỏ tầng móng được

tiến hành một cách thận trọng theo giai đoạn, hoàn thiện

dần dần, dựa vào kết quả nghiên cứu cấu trúc địa chất, đặc

tính đá chứa: khai thác chế độ năng lượng tự nhiên, khai

thác có bơm ép nước vào vùng đáy thân dầu, triển khai

hệ thống bơm ép theo đới Vietsovpetro đề xuất các biện

pháp nhằm tăng cường công tác quản lý mỏ và khai thác

hiệu quả dầu khí: kiểm soát chặt chẽ động thái áp suất vỉa

và áp suất bão hòa, phân bổ lượng khai thác và bơm ép,

đan dày mạng lưới giếng tại khu vực rìa/cánh của cấu tạo,

dần thay thế từ chế độ bơm ép nước bằng chế độ rót nước

vào giếng, tăng cường xử lý axit, xử lý lắng đọng muối

trong ống khai thác và cận đáy Cần chú trọng thường

xuyên công tác nghiên cứu mỏ - chính xác hóa cấu trúc

địa chất tầng chứa, các thông số và thường xuyên theo dõi

phân tích, đánh giá, điều chỉnh kịp thời quá trình khai thác

Theo thống kế của Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP), trữ lượng dầu tại chỗ, thu hồi, sản lượng dầu khai thác của tầng móng granite nứt nẻ của tất cả các mỏ đều giảm so với phê duyệt sau khi đưa mỏ vào khai thác; quy mô và cơ cấu trữ lượng dầu tại chỗ đưa vào thiết kế khai thác mỏ cho tầng móng chưa thật phù hợp Trên cơ sở kết quả tìm kiếm, thăm dò khai thác dầu khí tầng móng granite nứt nẻ bể Cửu Long (trừ mỏ Bạch Hổ), PVEP đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng đánh giá và khai thác dầu khí tầng móng: sử dụng mật độ trữ lượng của các mỏ lân cận để kiểm soát kết quả tính theo phương pháp thể tích, tiệm cận dần với thực trạng biểu hiện và bản chất khai thác của từng mỏ, lựa chọn vị trí giếng khai thác, đánh giá nguồn năng lượng vỉa trước khi khoan giếng bơm ép, dựa vào tính chất và điều kiện vỉa tương đồng để hỗ trợ xác định hệ số thu hồi, sử dụng phương pháp suy giảm cho dự án ngắn hạn… PVEP kiến

Kỳ họp lần II Tiểu ban Thăm dò Khai thác Dầu khí:

T¶p trung phát triÅn nguÓn nhân lâc E&P

Ngày 15 - 16/9/2011, Tiểu ban Thăm dò Khai thác Dầu khí thuộc Hội đồng Khoa học và Công nghệ Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã tiến hành kỳ họp lần thứ 2 nhằm tập trung thảo luận về các bước triển khai tìm kiếm thăm dò vùng nước sâu,

xa bờ; kinh nghiệm, giải pháp nhằm khai thác hiệu quả dầu trong đá móng granite nứt nẻ và công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực “xương sống” của Ngành Dầu khí Việt Nam.

TS Nguyễn Quốc Thập - Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam phát biểu chỉ đạo tại

Kỳ họp lần 2 của Tiểu ban Thăm dò Khai thác Dầu khí Ảnh: Ngọc Linh

Trang 18

nghị cần hoàn thiện quy chế, quy trình về cơ cấu và quy

mô trữ lượng dầu khí tại chỗ làm cơ sở cho thiết kế và dự

báo khai thác; bổ sung quy chế quản lý khai thác đặc thù

cho tầng móng nứt nẻ; tăng cường đầu tư thu thập tài

liệu nghiên cứu tầng móng để nâng cao hiệu quả các mỏ

đang và sẽ đưa vào khai thác; cần xây dựng chiến lược

phù hợp về thẩm lượng và khai thác mỏ nhằm thu thập

được các thông tin cần thiết trước khi phát triển tổng thể

toàn mỏ…

Tiểu ban Thăm dò Khai thác Dầu khí tại kỳ họp lần

này cũng tập trung đưa ra các giải pháp tìm kiếm, thăm

dò, khai thác dầu khí vùng nước sâu, xa bờ trên thềm lục

địa Việt Nam Các đại biểu đều nhất trí cho rằng, quá trình

này đòi hỏi công nghệ hiện đại, nguồn vốn lớn, có nhiều

rủi ro nên vừa phải tập trung nội lực đồng thời tăng cường

thu hút đầu tư nước ngoài để đẩy nhanh các phương án

thu nổ địa chấn và khoan tìm kiếm thăm dò Các đơn vị

nghiên cứu khoa học khẩn trương thực hiện công tác xử

lý, minh giải, tổng hợp các tài liệu địa chất, địa vật lý để

xây dựng bản đồ địa chất, làm rõ hệ thống dầu khí, xác

định và đánh giá tiềm năng dầu khí các cấu trúc có triển

vọng một cách thống nhất, làm cơ sở cho việc triển khai

các công việc khoan tìm kiếm thăm dò trong giai đoạn

tiếp theo; đẩy mạnh công tác đào tạo chuyên sâu phù

hợp, đáp ứng được yêu cầu và điều kiện khó khăn vùng

nước sâu, xa bờ

Tập trung đào tạo chuyên sâu và chuyên gia

Tại kỳ họp lần này, Tiểu ban Thăm dò Khai thác Dầu

khí đã rà soát, đánh giá lại hiện trạng

nhân lực của lĩnh vực thăm dò, khai thác

dầu khí của Tập đoàn Trên cơ sở đó, các

thành viên của Tiểu ban và các đại biểu

đã đề ra những giải pháp, kiến nghị bồi

dưỡng, đào tạo và phát triển nhân lực cho

lĩnh vực này nhằm đáp ứng nhu cầu phát

triển của Tập đoàn Trên thực tế, thăm dò

khai thác dầu khí là lĩnh vực cần tích lũy

kinh nghiệm qua thực tế công tác, bên

cạnh kiến thức lý thuyết được đào tạo

Trong khi đó, hoạt động thăm dò khai

thác của Tập đoàn ngày càng mở rộng

sang các đối tượng/lĩnh vực mới luôn đòi

hỏi kiến thức, tư duy mới Ông Trần Văn

Hòa - Trưởng Ban Đào tạo và Phát triển

nguồn nhân lực - Tập đoàn Dầu khí Việt

Nam cho biết: Định hướng đào tạo và

phát triển nhân lực lĩnh vực thăm dò khai thác dầu khí là phải xây dựng đội ngũ cán bộ thăm dò khai thác đầu đàn, chuyên gia; đủ về số lượng và đảm bảo về chất lượng Trưởng Ban Đào tạo và Phát triển nguồn nhân lực Petrovietnam đưa ra 9 giải pháp để phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực cốt lõi của Ngành Dầu khí Việt Nam Điều quan trọng đó là vận dụng linh loạt các giải pháp ngắn hạn, dài hạn trong việc phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại các dự án thăm dò khai thác dầu khí Đồng thời, cần phải tập trung đào tạo dài hạn, đào tạo chuyên sâu cho cán bộ lĩnh vực thăm dò khai thác; phát huy nội lực trong công tác đào tạo bằng đội ngũ giảng viên nội bộ Tập đoàn để truyền đạt hiệu quả kiến thức ứng dụng thực tế, kinh nghiệm tích lũy Mở rộng hợp tác với các cơ sở đào tạo có chuyên ngành về dầu khí trong và ngoài nước tạo nguồn nhân lực lâu dài; tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế, nhà thầu dầu khí (JOGMEC, General Electrics, Fugro Robertson, UPTEC…) trong công tác đào tạo và phát triển nhân lực…

Giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực này mà Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP) đưa ra đó là phải xây dựng hệ thống quản trị nhân lực theo chuẩn mực quốc tế bằng việc áp dụng hệ thống tiêu chuẩn chức danh, hệ thống bản đồ năng lực, lộ trình phát triển nghề nghiệp… Bên cạnh đó, PVEP triệt để đổi mới công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, lấy hệ thống tiêu chuẩn chức danh làm nền tảng trong công tác đào tạo phát triển kiến thức chuyên môn kỹ thuật thăm

dò khai thác dầu khí, tăng cường hình thức đào tạo hướng

Khóa đào tạo phân tích mẫu lõi do Viện Dầu khí Việt Nam tổ chức Ảnh: CTV

Trang 19

nghiệp, xây dựng các chương

trình đào tạo theo dự án, đẩy

mạnh công tác quản lý nguồn

nhân lực thăm dò khai thác do

các JOC tuyển trực tiếp, tiến

tới đưa nguồn nhân lực này

vào đội ngũ cán bộ biệt phái

của PVEP tại các JOC PVEP

tiếp tục duy trì và phát triển

e-Learning - hình thức đào tạo

hiện đại có tính phổ cập cao,

với nội dung phong phú, rèn

luyện kỹ năng tự đào tạo, tự

nghiên cứu cho đội ngũ kỹ sư

thăm dò khai thác dầu khí…

Theo TS Phan Ngọc Trung

- Viện trưởng Viện Dầu khí Việt

Nam (VPI), nhân lực trong lĩnh

vực thăm dò khai thác của VPI

chiếm 25% nguồn nhân lực

toàn Viện và nghiên cứu phục vụ công tác thăm dò khai

thác dầu khí luôn được xác định là lĩnh vực trọng tâm Bên

cạnh công tác nghiên cứu khoa học và dịch vụ khoa học

công nghệ, từ năm 2009 đến nay, VPI đã tổ chức hiệu quả

các khóa đào tạo chuyên sâu về thăm dò khai thác dầu

khí cho hơn 1.175 lượt cán bộ trong toàn Tập đoàn Tuy

nhiên, việc đào tạo chuyên sâu chưa có chương trình bài

bản cho từng lĩnh vực, ít có sự luân chuyển hoặc trao đổi

cán bộ nghiên cứu khoa học và cán bộ tham gia sản xuất

thực tế… cũng gây khó khăn cho công tác đào tạo, chưa

phát huy được sức mạnh của đơn vị nghiên cứu khoa học

đầu ngành Viện trưởng Viện Dầu khí Việt Nam đưa ra giải

pháp luân chuyển cán bộ nghiên cứu khoa học thăm dò

khai thác với các đơn vị, nhà thầu dầu khí; khuyến khích

các cán bộ có kinh nghiệm tại các đơn vị, nhà thầu dầu khí

say mê với công tác nghiên cứu khoa học về làm việc tại

Viện Bên cạnh đó, nâng cao chất lượng các yếu tố quyết

định hiệu quả đào tạo trong đó huy động chuyên gia giỏi,

cán bộ nghiên cứu khoa học đầu đàn trong lĩnh vực E&P

của toàn Ngành, gắn chương trình đào tạo với thực tiễn

để giải quyết các vấn đề đang đặt ra đối với sự phát triển

của Tập đoàn

Theo TS Nguyễn Quốc Thập - Phó Tổng giám đốc Tập

đoàn Dầu khí Việt Nam: Lĩnh vực thăm dò khai thác dầu khí

là lĩnh vực cốt lõi, xương sống của Tập đoàn Dầu khí Việt

Nam Nâng cao chất lượng nhân lực trong lĩnh vực thăm

dò khai thác dầu khí cần phải xây dựng và áp dụng tiêu

chí, mục tiêu về nhân sự, đánh giá hiện trạng, số lượng lao động trong nước và nước ngoài đang làm việc trong lĩnh vực E&P ở Việt Nam Từ đó, xây dựng chính sách, giải pháp đột phá, lộ trình thực hiện, để gia tăng tỷ lệ lao động Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Việc luân chuyển cán bộ, điều phối vĩ mô phải dựa trên môi trường làm việc, thay đổi tư duy và xây dựng cơ chế chính sách phù hợp Đồng thời, phải nâng cao năng lực của các trung tâm nghiên cứu, tăng hàm lượng chất xám, xây dựng và hình thành đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ có trình độ chuyên môn cao đủ khả năng tổ chức nghiên cứu các nhiệm vụ khoa học công nghệ, khả năng triển khai ứng dụng, tiếp thu, làm chủ công nghệ hiện đại/tiên tiến ở trình độ khu vực và quốc tế; phấn đấu làm chủ công nghệ khai thác dầu trong thân móng nứt nẻ PGS.TS Nguyễn Trọng Tín - Phó Viện trưởng Viện Dầu khí Việt Nam, Trưởng Tiểu ban Thăm dò Khai thác Dầu khí cho biết: Trong kỳ họp tới, Tiểu ban E&P sẽ tiếp tục thảo luận về hiện trạng khai thác từ đá móng nứt nẻ so với trữ lượng, sơ đồ công nghệ khai thác được phê duyệt - bài học kinh nghiệm và kiến nghị; thảo luận về kết quả hoạt động thăm dò khai thác năm 2011 và kế hoạch 2012; ưu tiên các vấn đề nghiên cứu mang tính cấp thiết nhằm phục vụ kịp thời cho hoạt động thăm dò khai thác dầu khí của Tập đoàn ở trong và ngoài nước PVJ

Việt Hà

Lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Hội Dầu khí Việt Nam và các đơn vị thành viên tham dự

Kỳ họp lần 2 của Tiểu ban Thăm dò Khai thác Dầu khí Ảnh: Ngọc Linh

Trang 20

Ngày 12 - 14/9/2011, tại Đà Lạt, Chương trình quốc

tế về quản lý dầu khí của Nauy (Petrad), Ủy ban

điều phối các chương trình khoa học địa chất khu vực

Đông và Đông Nam Á (CCOP), Tập đoàn Dầu khí Việt Nam,

Liên doanh Việt - Nga (Vietsovpetro) đã phối hợp tổ chức

thành công Hội thảo về thăm dò, khai thác dầu khí khu

vực nước sâu

Tham dự phiên khai mạc Hội thảo có bà Larissa

Falkenberg Kosanovic - Bí thư thứ nhất Đại sứ quán Vương

quốc Na Uy tại Việt Nam; TS Oystein Berg - Giám đốc điều

hành Petrad; GS.TS He Qing Cheng - Giám đốc Ban Thư ký

kỹ thuật CCOP; TS Đỗ Văn Hậu - Phó Tổng giám đốc thường

trực Tập đoàn Dầu khí Việt Nam; TS Nguyễn Văn Minh -

Hàm Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Phó

Trưởng đại diện thường trực Việt Nam tại CCOP Tham dự

Hội thảo còn có trên 100 đại biểu từ Vụ Kinh tế Ngành/Văn

phòng Chính phủ, Tổng cục Biển và Hải đảo (VASI), Viện

Khoa học Công nghệ Việt Nam, Hội Dầu khí Việt Nam, các

ban của Tập đoàn và các đơn vị thành viên có chuyên môn

liên quan, các JOC Đặc biệt có cả các đại biểu đến từ

các nước thành viên CCOP/ASCOPE (Papua New Guinea,

Maylaysia, Thái Lan ) theo thông lệ của CCOP

Tại Hội thảo, ngoài phần trình bày có tính chất giới

thiệu hoạt động dầu khí tại Việt Nam của Ban Tìm kiếm

Thăm dò, các diễn giả do Petrad mời đã giới thiệu các kỹ

thuật, công nghệ tiên tiến, hiện đại sử dụng trong hoạt

động thăm dò, khai thác dầu khí ở những khu vực nước

sâu Đại diện đến từ Petronas cũng chia sẻ những kinh

nghiệm hết sức quý báu về một trường hợp nước sâu cụ

thể ở Tây Sulawesi

Theo nghiên cứu của Rigzone, trong giai đoạn

2006 - 2009, mỗi năm trên thế giới sản lượng dầu khai

thác ở vùng nước sâu hơn 200m chiếm khoảng 43 - 54%

Chỉ riêng trong năm 2008, sản lượng khai thác dầu ở vùng nước sâu đã tạo thêm được 13,7 tỷ BOE cho lượng dầu dự trữ toàn cầu Khả năng sản xuất dầu ở những vùng nước sâu 600m lớn hơn gấp 3 lần kể từ năm 2000 Nghiên cứu của IHS CERA cho thấy, lượng dầu khai thác từ khu vực này tăng từ 1,5 triệu thùng/ngày trong năm 2000 tới hơn 5 triệu thùng/ngày trong năm 2009 Theo dự báo, khả năng khai thác ở vùng nước sâu có thể lên tới 10 triệu thùng/ngày vào năm 2015 Trung bình, sản lượng dầu khí khai thác ở vùng nước sâu (200m hoặc lớn hơn) trong năm

2009 vào khoảng 150 triệu BOE so với lượng khai thác trung bình ở trên bờ khoảng 25 triệu thùng Những con

số thống kê cho thấy, năm 2004 có 67% số mỏ vùng nước sâu khi thăm dò có phát hiện dầu khí, đạt tỷ lệ cao Trong giai đoạn 2005 - 2009, các mỏ dầu khí lớn trên thế giới đều được phát hiện ra ở vùng nước sâu và cực sâu, đưa tổng trữ lượng phát hiện từ vùng biển sâu và cực sâu chiếm 50% tổng trữ lượng dầu khí phát hiện trên toàn thế giới Việc đẩy mạnh các hoạt động dầu khí ra khu vực nước sâu là mục tiêu chiến lược của Ngành Dầu khí Việt Nam song chúng ta đang còn ít kinh nghiệm Hội thảo lần này góp phần vào việc trang bị thêm những kiến thức, cả về lý thuyết và kinh nghiệm thực tế, bên cạnh những khâu chuẩn

bị khác để Tập đoàn Dầu khí Việt Nam vươn ra biển lớn.CCOP hiện nay đang điều phối và chủ trì nhiều đề án, chương trình khoa học địa chất về khoáng sản, năng lượng, môi trường, thiên tai biến đổi khí hậu… tại các nước trong khu vực Đông và Đông Nam Á; là cầu nối giữa các nước thành viên, các nước và tổ chức hợp tác, chung sức phấn đấu vì mục tiêu là phát triển, khai thác các nguồn tài nguyên địa chất một cách bền vững vì sự phát triển của mỗi nước và toàn cộng đồng Đây là lần thứ 2 trong năm 2011 CCOP/Petrad hỗ trợ Petrovietnam tổ chức các hội thảo kỹ thuật trên cơ sở đề nghị của Tiểu ban CCOP Việt Nam PVJ

H×i th®o kì thu¶t và th·m dò, khai thác d²u khí khu vâc nÝåc sâu

Hội thảo kỹ thuật quốc tế về dầu khí khu vực nước sâu Ảnh: Việt Hà

Các đại biểu tham gia chuyến thực địa Ảnh: Việt Hà

Ngọc Linh

Trang 21

I GIỚI THIỆU

Sự biến đổi từ khoáng vật smectite sang illite trong

quá trình thành đá lần đầu tiên được ghi nhận bằng

các nghiên cứu về vùng Gulf Coast (Burst, 1959; John

Hower, 1976) Các nhà nghiên cứu sau đó đã chứng

minh rằng khoáng vật smectite có thể biến đổi sang

illite thông qua khoáng vật trung gian illite/smectite

(I/S) khi nhiệt độ chôn vùi tăng lên Với sự có mặt của

chất Kali trong dung dịch, phản ứng này có thể bắt đầu tại nhiệt độ khoảng 800C và nó có thể bị biến đổi hoàn toàn thành illite khi đặt trong điều kiện nhiệt độ lớn hơn 2000C (Huang, 1993; S.Hillier, 1995) Trong quá trình thăm dò dầu khí, sự illite hóa đã thu hút nhiều nghiên cứu do mức độ illite hóa được sử dụng giống như một dấu hiệu để đánh giá địa nhiệt độ chôn vùi và trên cơ

sở đó xây dựng mô hình lịch sử biến đổi nhiệt độ của

ïŮtròĺngthànhcĦaîágŪcsinhdŗutuŬiOligocen trong būn trħng Cńu Long: Ňng dĨng sņ biŠn îŬi smectite-illitetrongnghiêncłuquátrìnhdiagenesis

ThS Vũ Thế Anh, ThS Trần Văn Nhuận

Viện Dầu khí Việt Nam

Trang 22

các thành tạo trầm tích Hơn nữa, trong quá trình biến

đổi từ smectite sang illite một lượng đáng kể chất silica

có thể được giải phóng ra môi trường; theo đó khoáng

vật thạch anh thứ sinh có thể được hình thành và làm

thay đổi tính chất vật lý của đá trầm tích Bởi các lý do

trên, chất lượng của đá chứa có thể bị giảm đi nếu các

khoáng vật thứ sinh bao phủ trên bề mặt của các hạt

vụn trầm tích hoặc lấp đầy lỗ rỗng Ngược lại, quá trình

đó có thể làm tăng khả năng chắn dầu khí của các trầm

tích hạt mịn như bột kết hoặc sét kết

Rechard M.P (1993) đã chứng minh rằng các pha

hình thành dầu khí thì liên quan chặt chẽ tới loại khoáng

vật trung gian thứ sinh illite/smectite (chỉ số Reichweite),

cái mà có thể xác định bằng phân tích nhiễu xạ tia X của

các khoáng vật sét (XRD) Sau đó đã có rất nhiều nhà

nghiên cứu nỗ lực để xây dựng phương trình động học

của phản ứng biến đổi smectite-illite và sử dụng nó cho

việc tính toán nhiệt độ chôn vùi địa chất Tuy nhiên do

sự đa dạng của môi trường địa chất, hiện chưa có một

phương trình duy nhất có thể ứng dụng cho tất cả các

trường hợp Hai mô hình động học thường xuyên được

ứng dụng là: mô hình của S.Hillier (1995) và mô hình của

Huang (1993) Bằng việc lựa chọn khoảng năng lượng

tác động và xác định xác suất phân bổ cho mỗi giá trị

trong khoảng đó, Suranne Gier (2006) đã mô hình hóa

thành công lịch sử nhiệt độ cho các thành tạo cát kết

Miocen của bồn trũng Vienna, Áo Theo các nghiên cứu

sau đó của J Sordon (2002), tỷ lệ K/Ar trong khoáng vật

illite đã được sử dụng thành công để xác định tuổi của

các khoáng vật sét thứ sinh Mặc dù đã có rất nhiều phát

minh về sự biến đổi smectite-illite như trên, còn rất nhiều

khía cạnh của phương trình động học này vẫn chưa được

hiểu một cách kỹ lưỡng (Duglas K.M, 2008) Chính vì thế

phương trình động học đã không được sử dụng rộng rãi

trong việc giải đoán lịch sử nhiệt độ địa chất ở một số

vùng như bồn trũng Cửu Long Một lý do khác có thể bắt

nguồn từ việc phức tạp trong giải đoán kết quả phân tích

nhiễu xạ tia X của các mẫu sét gồm nhiều loại khoáng vật

khác nhau

Nằm tại ngoài khơi phía Nam Việt Nam, bồn trũng

Cửu Long là một bồn trũng rift tiêu biểu, nơi các thành

tạo trầm tích nằm trên bề mặt phong hóa của đá móng

granite có tuổi Mesozoi Các tập trầm tích bao gồm các

thành tạo đồng rift tuổi Paleogen phân biệt với các thành

tạo sau rift tuổi Neogen bằng bề mặt bất chỉnh hợp

thành tạo ở giai đoạn Oligocen muộn đến Miocen sớm

Các thành tạo đồng rift được cấu thành bởi lacustrine giống như một loại đá sinh dầu chủ yếu trong bồn trũng (Lee và những người khác, 1996) Trong đó mỏ Bạch Hổ

là một trong những mỏ lớn nhất với trữ lượng khoảng 1,0 - 1,4 tỷ barel dầu Hiện nay, rất nhiều hoạt động thăm

dò đang được tiến hành ở phía Tây của mỏ Bạch Hổ Đây

là một điều kiện tốt để đánh giá mối liên hệ giữa mức

độ illite hóa với lịch sử nhiệt độ của bồn trũng cũng như các tác động lên tính chất chứa hoặc chắn của trầm tích Các nghiên cứu cũng có thể cung cấp thêm thông tin cho việc đánh giá các triển vọng của các phát hiện dầu khí một cách tốt hơn

Trong bài báo này, chúng tôi trình bày một nghiên cứu về sự biến đổi smectite-illite của một tập trầm tích Đệ tam lấy từ giếng khoan thăm dò trong lô 16-1

bể Cửu Long, Việt Nam Các mẫu được sử dụng trong nghiên cứu này là mẫu cutting từ độ sâu 2160 - 3500m Thông qua sự lựa chọn một phương pháp phù hợp để đánh giá một cách chính xác thành phần phần trăm của khoáng vật illite trong khoáng vật trung gian illite/smectite, phương trình động học bậc I lần đầu tiên đã được ứng dụng để xác định nhiệt độ chôn vùi của các thành tạo trầm tích trong bể Cửu Long Sự biến đổi của các khoáng vật sét khác cũng được thảo luận trong mối quan hệ với sự hình thành xi măng thạch anh thứ sinh,

sự thay đổi tính chất của đá cũng như sự biến đổi môi trường trầm tích

II PHƯƠNG PHÁP

1 Nhiễu xạ tia X (XRD)

Mười ba mẫu đá trầm tích từ giếng khoan thăm dò trong bể Cửu Long đã được thu thập tới độ sâu 3490m Tất cả các mẫu trên đã được phân tích bằng phương pháp nhiễu xạ tia X để xác định thành phần khoáng vật (mẫu toàn bộ) và xác định khoáng vật sét (<0,2μm), sử dụng máy nhiễu xạ tia X Philip X`Pert (Cu Kα, 40kV và 30mA)

1.1 Mẫu toàn bộ

Để phân tích bán định lượng mẫu toàn bộ, phương pháp RIRs (Moore và Reynolds, 1997; S.Hillier, 2003) đã được sử dụng Theo đó, bột nghiền mịn của các mẫu được trộn đều với 50% corundum (Al

2O

3) trước khi phân tích nhiễu xạ tia X Việc phân tích bán định lượng được dựa trên hệ số RIRcor cho từng khoáng vật riêng biệt, được tham khảo từ các tài liệu và được liệt kê trong Bảng 1

Trang 23

1.2 Thành phần khoáng vật sét

1.2.1 Phương pháp tách và xử lý

Trước khi phân tích bằng phương pháp nhiễu xạ tia

X, các mẫu cutting được nghiền thành hạt mịn, loại bỏ

hợp chất hữu cơ bằng chất hydrogen peroxide và phân

tán bằng máy ultrasonicator Các hạt có kích thước

nhỏ hơn 0,2μm đã được thu bằng cách để sa lắng sau

đó là bằng máy ly tâm, thời gian ly tâm được xác định

tuân theo định luật Stoke Huyền phù chứa sét sau đó

được xử lý bằng dung dịch 0,1M CaCl

2 trước khi được tích hợp lên trên tấm kính nhỏ Việc phân tích nhiễu

xạ tia X cho đường sét được tiến hành trong các điều

kiện khác nhau gồm phơi khô trong không khí và bão

hòa bằng ethylene glycol ở nhiệt độ 600C trong vòng

4 giờ Việc xử lý bằng dung dịch CaCl

2 là rất cần thiết

do các khoáng vật sét trong trạng thái tự nhiên thường

hấp phụ các cation khác nhau và giữ chúng ở trong

nội lớp của khoáng vật sét (interlayer sheets) Hơn thế

nữa, d-spacing, yếu tố quy định tính chất biểu đồ XRD

của các khoáng vật sét có thể trương nở như smectite

hay I/S thì phụ thuộc vào loại cation được hấp phụ

Do đó việc xử lý bằng dung dịch Ca2+ (thí nghiệm trao

đổi cation) là việc cần thiết để đảm bảo trong nội lớp

khoáng vật smectite chỉ chứa một loại cation, theo đó

đảm bảo tính chính xác khi phân tích biểu đồ XRD để

xác định các khoáng vật sét

Thí nghiệm trao đổi Ca2+ cho các cation kim loại trong

khoáng vật sét được tiến hành tương đối đơn giản, bằng

các thí nghiệm trong phòng chúng tôi đã chứng minh

rằng các cation trong nội lớp smectite đã được thay thế

đồng đều sau hai lần xử lý bằng 0,1M dung dịch CaCl2

và rửa sạch bằng nước cất Kết quả phân tích XRD của các khoáng vật sét đã chỉ ra rằng khoáng vật smectite

đã được xử lý là rất đồng đều Do đó các điều kiện thí nghiệm như trên được lặp lại cho toàn bộ các mẫu trong nghiên cứu này

1 2 2 Phương pháp xác định và phân tích định lượng

Các loại khoáng vật sét được xác định theo phương pháp của Moore và Renolds (1997) Để phân loại khoáng vật trung gian illite/smectite (I/S) chúng tôi sử dụng thuật ngữ bậc sắp xếp (stacking order) dựa trên sự khác nhau về chỉ số Reichweit (R) Theo đó khoáng vật R0 I/S gồm các lớp smectite (S) sắp xếp hỗn độn với các lớp illite (I), R1 I/S là khoáng vật gồm sự lặp lại của lớp cơ

sở gồm một lớp smectite xem kẽ với một lớp illite và R3 I/S là sự lặp lại của lớp cơ sở gồm một lớp smectite xen kẽ với ba lớp illite Chỉ số R (R1, R2 hay R3) được xác định theo vị trí của peak 001/002 trên biểu đồ XRD của khoáng vật trung gian illite/semctite Trong đó góc phản

xạ tại vị trí 50 2q chỉ định cho khoáng vật I/S dạng hỗn độn (Ro I/S) và một phản xạ tại vị trí gần 6,50 2q đại diện cho dạng khoáng vật R1 I/S và các đỉnh phản xạ trong khoảng 6,50 2q đến 8,50 2q đại diện cho khoáng vật R3 I/S Chỉ số R tương ứng với xác suất bắt gặp các lớp illite trong khoáng vật I/S theo đó đại diện cho mức độ bị illite hóa của khoáng vật smectite Tỷ lệ phần trăm của các lớp illite trong khoáng vật I/S được xác định theo phương pháp D2q kết hợp với phần mềm NEWMOD (Moore and Rynolds, 1984) Đây chính là dữ liệu đầu vào cho việc đánh giá nhiệt độ chôn vùi tối đa theo phương pháp bán định lượng (Rechard M.R et al., 1993) và theo phương trình động học (Huang et al., 1993; S Hillier, 1995)

Để đánh giá sự biến đổi thành phần khoáng vật sét theo chiều sâu giếng khoan và trong các giếng khoan khác nhau, phương pháp XRD bán định lượng (Chung, 1974; Synder, 1992) đã được sử dụng để xác định tỷ lệ phầm trăm của các khoáng vật sét Hệ số đã được sử dụng trong tính toán cho các khoáng vật smectie 001, illite 001; chlorite 002 và kaolinite 001 tương ứng là 4, 2

và 2 Do đỉnh phản xạ 001 (peak 001) của kaolinite trùng với đỉnh phản xạ 001 của chlorite, tỷ lệ kaolinite/chlorite được xác định theo tỷ lệ Kao(002)/Chl (003) Trong đó Kao(002) là cường độ của phản xạ tia X tại mặt 002 trong cấu trúc tinh thể kaolinite, Chl(003) tương ứng với cường độ phản xạ tia X tại mặt (003) trong cấu trúc tinh

thể chlorite

Bảng 1 Hệ số tham khảo (RIRs) được sử dụng cho phân tích bán

định lượng (theo S.Hillier, 2003)

Trang 24

Bảng 2 Thành phần khoáng vật của hạt vụn trầm tích xác định bằng phương pháp XRD bán định lượng

2 Kính hiển vi điện tử quét (SEM)

Tương ứng với các mẫu đã được phân tích bằng

phương pháp nhiễu xạ tia X, phần còn lại được xác

định bằng kính hiển vi điện tử quét (SEM) Việc quan

sát tính chất bề mặt và mối quan hệ không gian của

các hạt khoáng vật gặp nhiều khó khăn do bị phá hủy

trong quá trình lấy mẫu cutting, nên trong báo cáo

này chúng tôi sử dụng kết hợp hai loại ảnh SEM là:

SEIs (Secondary electron images) và BEIs (Backscattered

electron images) Vì các ảnh SEIs mang những thông tin

về tính chất bề mặt, còn các ảnh BEIs có thể phản ánh

sự khác nhau về thành phần hóa học của các khoáng

vật thông qua độ xám Các mẫu cutting được nhúng

vào trong nhựa epoxy trong môi trường chân không,

sau đó cắt, đánh bóng và mạ vàng trước khi chụp các

ảnh BEIs bằng máy Jeol 5610 SEM Để có thể thu được

các ảnh BEIs có chất lượng tốt, hiệu điện thế tăng tốc

(acceleration voltage) được điều chỉnh tới 30kV Tuy

nhiên để xác định thành phần nguyên tố của khoáng

vật, các phân tích EDS thì được tiến hành ở hiệu điện

thế 20kV, khoảng cách (walking distance) từ mẫu tới

vật kính là 20cm

III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

1 Thành phần hạt vụn

Thành khoáng vật vụn của các thành tạo trầm tích

bể Cửu Long cùng địa tầng thạch học đã được trình bày

chi tiết trong các nghiên cứu trước đó của Lee (1996)

và T.V Nhuận (2009) Báo cáo này chỉ xác định lại thành phần của các hạt vụn theo phương pháp nhiễu xạ tia

X và SEM làm cơ sở cho việc đánh giá sự biến đổi phần khoáng vật sét Theo kết quả phân tích XRD bán định lượng, các khoáng vật chủ yếu trong các mẫu được nghiên cứu là thạch anh, plagioclase, K-feldspar và một lượng ít khoáng vật calcite và các khoáng vật sét khác lấp đầy lỗ hổng (Hình 1) Trong đó khoáng vật có hàm lượng cao nhất trong tất cả các mẫu là thạch anh (33 - 58,7%), tiếp theo là plagioclase (4,9 - 27,6%), K-feldspar (7,6 - 21,3%) và calcite (0 - 15,4%) Thành phần khoáng vật sét xác định bằng phương pháp XRD liên quan chặt chẽ đến kích thước hạt trầm tích xác định bằng các ảnh SEM, theo đó các đá có độ hạt càng mịn thì tỷ lệ khoáng vật sét càng cao Sự tăng lên của tổng thành phần sét cùng với sự giảm đi của kích thước hạt có thể do một phần sét được vận chuyển và lắng đọng cùng các hạt vụn trầm tích khác Việc lắng đọng của các khoáng vật sét thường có kích thước nhỏ với các hạt vụn có kích thước lớn hơn nhiều phản ánh môi trường trầm tích biển nơi có độ mặn cao làm các hạt sét lơ lửng trong nước biển bị kết bông (flocculated) thành hạt có kích thước lớn hơn sau đó lắng đọng Một nguồn gốc khác của các khoáng vật sét có thể từ sự hòa tan của các hạt vụn và hình thành nên các khoáng vật sét thứ sinh lấp đầy lỗ hổng hay phủ trên bề mặt các hạn vụn

Trang 25

Kết quả của bảng trên chỉ thể hiện hàm lượng của các

khoáng vật chính với hàm lượng tương đối cao (quartz,

plagioclase, K-feldspar, calcite), thành phần riêng biệt cho

từng khoáng vật sét và các hợp chất hữu cơ đã không

được xác định do chúng có hàm lượng tương đối thấp

Tỷ lệ phần trăm của các khoáng vật chính như thạch

anh, feldspar, plagioclase, calcite sau đó được tính theo

phương pháp bình quân của Chung (1974) trước khi được

biểu diễn như một hàm theo độ sâu (Hình 2) Về cơ bản

không có sự thay đổi đáng kể về thành phần khoáng vật

vụn từ độ sâu 2160 - 2900m Tuy nhiên một sự thay đổi

đáng kể đã quan sát được từ các mẫu có độ sâu lớn hơn

2900m, đánh dấu bởi sự tăng lên đáng kể của hàm lượng

khoáng vật calcite Các quan sát này trùng hợp với kết quả

nghiên cứu của T.V Nhuận ở hai giếng khoan khác cùng

khu vực Nguồn gốc của các khoáng vật calcite hiện chưa

được kết luận, tuy nhiên đó có thể là dấu hiện của môi

trường trầm tích biển nông (T.V Nhuận, 2009)

2 Sự biến đổi của khoáng vật sét theo chiều sâu

Theo kết quả phân tích nhiễu xạ tia X, thành phần khoáng vật sét thứ sinh chiếm ưu thế bởi sự kết hợp của các khoáng vật chlorite, kaolinite, illite, smectite và khoáng vật trung gian illite/smectite (IS) và một lượng nhỏ khoáng vật thạch anh Thành phần của các khoáng vật đó được xác định trong Bảng 3

Ngoài khoáng vật smectite, sự biến đổi về hàm lượng của các khoáng vật còn lại theo chiều sâu là không rõ ràng Sự khác biệt về thành phần khoáng vật sét trong các mẫu có thể do thành phần hạt vụn trầm tích khác nhau, nên không thể đánh giá mức độ thành đá nếu chỉ dựa vào

tỷ lệ phần trăm của toàn bộ các khoáng vật sét Trong khi

đó rất nhiều nghiên cứu trước đây đã chứng minh rằng khoáng vật trung gian illite/smectite là một dấu hiệu tin cậy để đánh giá mức độ khác nhau của sự thành đá, do đó

nó được thảo luận kỹ hơn trong bài báo này Các khoáng

Hình 1 Sự thay đổi thành phần khoáng vật theo chiều sâu giếng khoan Sự thay đổi của môi trường trầm tích đánh dấu bằng sự tăng lên

của hàm lượng calcite (màu hồng) Đường màu đen không phải là ranh giới của các tập trầm tích tuổi Đệ tam

Trang 26

Bảng 3 Thành phần khoáng vật sét được xác định bằng phương pháp XRD

vật sét khác như kaolinite và chlorite

thì ít được đề cập mặc dù chúng cũng

có tác động mạnh mẽ đến tính chất

của đá trầm tích

Sự vắng mặt của các khoáng vật

smectite và illite/smectite tại các độ

sâu lớn hơn 2965m là một dấu hiệu

rõ ràng cho sự biến đổi từ khoáng vật

smectite sang khoáng vật illite với sự

tăng lên của độ sâu Do hàm lượng

sét cao nên rất khó có thể quan sát

được mối quan hệ không gian của

các khoáng vật khi sử dụng các ảnh

SEIs, ngược lại các ảnh BEIs cho thông

tin tốt hơn trong trường hợp này vì

các tia backscattered electron mang

năng lượng lớn hơn và có thể xuyên

qua lớp sét mỏng Kết quả phân tích

ảnh BEIs và EDS (Hình 3) chỉ ra thành

phần hạt vụn chủ yếu là K-feldspar,

albite, quartz Lỗ rỗng nguyên sinh

được lấp đầy bởi các khoáng vật thứ

sinh Ở độ phóng đại lớn hơn, Hình 4B chỉ ra các khoáng

vật thạch anh thứ sinh riêng lẻ có kích thước khoảng 2 -

5μm nằm trong nền các khoáng vật sét Điều đó chứng

tỏ rằng một lượng đáng kể chất silica đã được giải phóng

ra môi trường do phản ứng biến đổi từ illite-smectite Sự

giải phóng chất silica trong quá trình illite hóa smectite

là do sự thay thế của Al cho Si trong cấu trúc tinh thể smectite (Hower et al., 1976) Theo đó khả năng chắn của các đá giàu smectite như bộ kết, sét kết sẽ bị giảm

đi đáng kể do sự hòa tan một phần của các hạt vụn

Hình 2 Biểu đồ XRD của thành phần sét đã được bão hòa bằng ethylene glycol lấy của hai

độ sâu khác nhau (từ khóa: khoáng vật hỗn độn illite/smectite (Ro I/S); kaolinite (kao); illite (il); quartz (Q))

Trang 27

K-feldspar làm tăng độ rỗng của đá Tuy nhiên cùng với

sự hòa tan của các hạt vụn, sự hình thành các khoáng

vật sét và thạch anh thứ sinh giống như sản phẩm của

quá trình hòa tan có thể làm giảm độ lỗ rỗng Hơn nữa,

các tinh thể illite thường có kích thước lớn hơn và độ

trương nở kém hơn so với khoáng vật smectite do đó

quá trình rắn chắc của đá sẽ diễn ra nhanh hơn (Chreser

et al., 2008)

3 Lịch sử phát triển nhiệt độ chôn vùi

Kết quả phân tích XRD cho khoáng vật I/S đã chỉ

ra rằng tỷ lệ phần trăm của các lớp illite trong khoáng

vật trung gian illite/smectite (I/S) giảm đi một cách đều

đặn cùng với sự tăng lên của độ sâu (Hình 4A) Bắt đầu

từ khoảng 20% là các lớp illite tại độ sâu 2160m sau đó

tăng lên trên 90% ở độ sâu lớn hơn 2900m Kết quả này

chứng minh rằng khoáng vật trung gian illite/smectite

(I/S) là tiền thân của khoáng vật tại sinh illite, tỷ lệ phần

trăm các lớp illite tương ứng với mức độ illite hóa của khoáng vật mẹ smectite Theo các kết quả nghiên cứu trước đây gồm cả các thí nghiệm trong phòng cũng như các quan sát từ thực tế (Huang et al., 1993; S Hillier 1995; Reynolds et al., 1984, Hower et al., 1976), yếu

tố chủ đạo khống chế phản ứng illite hóa là nhiệt độ, nồng độ chất kali trong môi trường cùng với thời gian địa chất Do đó các khoáng vật I/S đang được sử dụng như một chỉ thị để đánh giá mức độ trưởng thành của các đá có thể sinh dầu Dựa vào chỉ số Reichweit (R) của khoáng vật illite/smectite được xác định trên biểu đồ XRD cho đường sét, tập trầm tích trong giếng khoan nghiên cứu được chia làm ba đới tương ứng với mức độ trưởng thành khác nhau là Ro, R1 và R3 (Hình 4B) Trong

đó đới Ro được xác định ở độ sâu nhỏ hơn 2850m, đới R1 từ độ sâu 2850 - 2965m và đới R3 nằm ở độ sâu lớn hơn 2965m Khả năng sinh dầu khí của các đá trầm tích

bể Cửu Long trên cơ sở lý thuyết của Rechard (1993)

Hình 3 Ảnh BEIs và kết quả phân tích thành phần hóa học (EDS) của mẫu lấy từ độ sâu 2160m (A) Kiến trúc và thành phần vụn của đá

gồm thạch anh (Q), albite (Al) và K-feldspar (B) Các vi tinh thạch anh (Q) nằm trên nền các khoáng vật sét (Cl)

A

B

Trang 28

được chia ra trong Hình 4B Theo đó các đá nằm trong

đới R1 được cho là có khả năng sinh dầu cao nhất, các

đá phía trên (đới Ro) được xác định dưới ngưỡng trưởng

thành, chỉ một phần nhỏ chất hữu cơ lỏng được giải

phóng ra khỏi đá mẹ

Tuy nhiên như đã đề cập ở trên, sự biến đổi từ

smectite sang illite không chỉ phụ thuộc vào nhiệt độ mà

còn phụ thuộc vào một vài yếu tố khác như tốc độ chôn

vùi, thời gian, tỷ lệ nồng độ Na/K, năng lượng kích thích

(activation energy) và tỷ lệ các lớp illite đã được hình

thành trong I/S trước đó (Huang et al., 1993; S.Hillier,

1995) Các yếu tố đó cũng là các yếu tố phản ánh môi

trường địa chất Cũng như các phản ứng hóa học khác, tỷ

lệ các chất phản ứng và sản phẩm có liên hệ chặt chẽ với

nhiệt độ, áp suất và thời gian thông qua phương trình

động học (kinetic equation) Dưới đây trình bày ứng dụng

của phương trình động học của phản ứng

smectite-to-illite để dự đoán sự thay đổi nhiệt độ chôn vùi của trầm

tích bể Cửu Long Phản ứng biến đổi smectite sang illite

được đơn giản hóa như sau:

Smectite + AL3+ + K+ J illite + SiO2 (1)

(theo Eberl vaf Hower, 1976)

Chất AL cần cho quá trình phản ứng (1) được lấy từ

sự phá hủy của một số khoáng vật smectite, trong khi đó

lượng Kali (K) được cung cấp từ quá trình hòa tan một phân các hạt vụn K-feldspar Phản ứng này được áp dụng

vì nó phù hợp với các hiện tượng xảy ra trong vùng nghiên cứu đã được xác định bằng XRD và SEM như ở trên Hầu như tất cả các mẫu nghiên cứu điều chứa một lượng đáng

kể khoáng vật K-feldspar (7,6 - 21,3%), sự hình thành của khoáng vật thạch anh thứ sinh trên nền khoáng vật sét Theo đó phương trình động học của phản ứng (1) được xác định như sau:

-dS/dt = k[K+]S2 (Huang et al., 1993)Trong đó S là hàm lượng lớp smectite trong khoáng vật illte/smectite tính theo (%); [K+] là hàm lượng chất Kali trong môi trường trầm tích; k là hằng số tốc độ phục thuộc vào năng lượng kích thích

Trên cơ sở phương trình động học của Huang (1993), phương trình động học của bồn trũng Cửu Long được xác định bằng việc thay đổi các thông số: nồng độ chất Kali, gradient địa nhiệt và tốc độ trầm tích cho đến khi đường cong lý thuyết gần nhất với kết quả phân tích thực tế của khoáng vật I/S (Hình 5)

Hình 4 (A) Sự biến đổi tỷ lệ % của các lớp illite trong khoáng vật illite/smectite theo chiều sâu Ro, R1 và R3 là chỉ số Reichweit của khoáng

vật I/S xác định trên biểu đồ XRD theo phương pháp của Reynolds (1997) (B) mối liên hệ giữa sự illite hóa khoáng vật smectite và sự thành tạo dầu khí theo Rechard M.R (1993)

A

B

Trang 29

Kết quả mô hình hóa phương trình động học của phản

ứng smectite-illite đã chỉ ra, đường cong lý thuyết tiến gần

nhất tới kết quả phân tích thực nghiệm (chấm hình vuông,

Hình 5) khi tỷ lệ phần trăm ban đầu của các lớp illite là 15%,

gradient địa nhiệt là khoảng 330C/km và tốc độ chôn vùi là

250m/Ma Theo đó nhiệt độ chôn vùi tối đa của trầm tích

trong lỗ khoan nghiên cứu được xác định vào khoảng 1100C,

thấp hơn kết quả xác định bằng chỉ số Reichweit (R) Kết quả

phân tích XRD bán định lượng chỉ rằng các tỷ lệ các lớp illite

trong khoáng vật trung gian illite/smectite từ độ sâu lớn hơn

2900m tăng lên rất nhanh, điều đó có thể là do gradient địa

nhiệt ở độ sâu này cao hơn so với đới nằm trên nó Theo kết

quả mô hình hóa phương trình động học, gradient địa nhiệt

ở độ sâu lớn hơn 2900m là khoảng 3,60C/km Kết quả này

cũng phù hợp với các kết quả của các nghiên cứu trước đó -

càng xuống sâu và gần vào khối trung tâm gradient địa nhiệt

càng cao (Nguyễn Hiệp et al., 2005) Tuy nhiên với số lượng

dữ liệu có hạn, việc xác định tuổi cho thành phần sét nhỏ

hơn 0,2μm chưa được tiến hành, kết quả trên có thể chưa

đảm bảo độ chính xác cao để việc đánh giá một cách chính

xác hơn, việc phân tích tuổi K/Ar và việc tiến hành trên mộ số

lượng mẫu lớn là việc làm cần thiết trong tương lai

IV KẾT LUẬN

1 Kết quả phân tích nhiễu xạ tia X (XRD) thấy rằng

các khoáng vật sét chủ yếu là smectite, illite, kaolinite và

chlorite Tỷ lệ phần trăm của khoáng vật smectite giảm

dần theo chiều sâu chôn vùi, điều đó chứng tỏ smectite

không bền vững với sự tăng lên của nhiệt độ và bị biến đổi sang khoáng vật illite

2 Sự hình thành của các khoáng vật thạch anh thứ sinh trong xi măng có liên quan chặt chẽ tới quá trình illite hóa smectite và sự hòa tan các hạt vụn feldspar kali Quá trình này có thể làm tăng tính rắn chắc và giảm độ rỗng của đá trầm tích

3 Kết quả phân tích loại khoáng vật trung gian illite

và mô hình hóa phương trình động học illite/smectite chỉ

ra sự biến đổi của gradient địa nhiệt theo chiều sâu, nhiệt

độ chôn vùi của các đá trầm tích trong lỗ khoan nghiên cứu được xác định vào khoảng 110 - 1400C Theo đó trầm tích tuổi Oligocen ở độ sâu lớn hơn 2900m đã đạt tới ngưỡng trưởng thành và có khả năng sinh dầu cao PVJ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Christer Peltomen, 2008 Clay mineral diagenesis

and quartz cementation in mudstones: The eff ects of smectite to illite reaction on rock properties Marine and

Petroleum Geology 1 - 12

2 Burst Jr et al., 1959 Post diagenesis clay

mineral-environmental relationships in the Gulf Coast Eocene Clay &

Clay minerals 6, 327 - 341

3 In the Gulf Coast Eocene: Clay & Clay minerals

6,327 - 341 Douglas N.M et al., 2008 Early clay diagensis

in Gulf Coast sediments: New insights from XRD profi le modeling Clays and Clayminerals, 56 - 3, 359 - 379.

4 Gwang Lee et al., 1996 Geologic evolution of

the Cuu Long and Nam Con Son basins off shore Southern Vietnam AAPG Bulletin, 85 - 6, 1055 - 1082.

5 Huang et al., 1993 An experimentally derived kinetic

model for smectite-to-illite conversation and its use as a geothermometer Clays and Clayminerals, 41 - 2, 162 - 177.

6 J.M McKinley, 2003 Clay mineral cements in

sandstones Special publication number 34 of the

International Association Sedimentologists P 109 - 128

7 Jonh Hower et al., 1976 Mechanism of burial

metamorphism of argillaceous sediment: 1 Mineralogical and chemical evidence: Geological Society of America Bulletin 87, 725 - 737.

8 Moore and Reynolds, 1997 X-ray diff raction and

the identifi cation and analysis of clayminerals Oxford

University Press, New York

Hình 5 Kết quả mô hình hóa phản ứng biến đổi smectite-illite cho

lỗ khoan nghiên cứu, bể Cửu Long Chấm hình vuông thể hiện kết

quả phân tích I/S thực tế, đường màu hồng thể hiện kết quả mô

hình hóa theo phương trình động học bậc 2 của Huang (1993)

Trang 30

9 Michael B.W Fyhn et al., 2009 Geological

development of the Central and South Vietnamese margin:

Implications for the establishment of the Eastern Sea,

Indochinese escape tectonics and Cenozoic volcanism

Tectonophysics Tecto-12686

10 Nguyễn Hiệp và nnk, 2005 Địa chất và tài nguyên

dầu khí Việt Nam Hà Nội

11 Rechard M.P et al., 1993 Considerations and

applications of the illite/smectite geothermometer in

hydrocarbon-bearing rocks of Miocene to Mississipian age:

Clays & Clayminerals 41 - 2, 119 - 133.

12 Rechard M.P et al., 1993 Considerations and

applications of the illite/smectite geothermometer in

hydrocarbon-bearing rocks of Miocene to Mississipian age:

Clays & Clayminerals 41 - 2, 119 - 133.

13 S Hillier et al., 1995 Illite/smectite diagenesis

and its variable correlation with vitrinite refl ection in the

Pannonian Basin Clays and Clayminerals 43 - 2, 174 - 183.

14 S Hillier et al., 2000 Accurate quantitative of clay

and other minerals in sandstones by XRD: Comparison of a

Rietveld and reference intensity ratio (RIR) mehod, and the importance of sample reparation.

15 Sorodon et al., 2002 Quantitative mineralogy

of sedimentary rocks with emphasis on clay and with applications to K-Ar dating Mineralogical Magazine, 66 - 5,

677 - 687

16 Sorodon et al., 2002 Interpretation of K-Ar dates of

illitic clays from sedimentary rocks

17 Susanne Gier et al., 2008 Diagenesis and reservoir

quality of Miocen sandstone in the Vienna basin Autria

Marrine and Petroleum Geology, 1 - 15

18 Trần Văn Nhuận, 2008 Đặc điểm trầm tích Miocen

lô 16-1- bể Cửu Long - Mối liên quan của chúng đến đặc tính chứa Luận văn thạc sĩ địa chất Trường Đại học Mỏ - Địa

chất, Hà Nội

19 Trần Văn Nhuận, Đỗ Văn Nhuận Đặc điểm trầm

tích Miocen phần Tây bể Cửu Long Tạp chí Dầu khí số

8/2009

Núi đá vôi Hoành Bồ - Quảng Ninh Ảnh: TG

Trang 31

1 Mở đầu

Đá trầm tích nói chung, đá hạt vụn nói riêng là kết

quả của sự tích tụ các sản phẩm vỡ vụn từ các đá có trước

do phong hóa, tác động cơ học, kết tủa hóa học, hoạt

động của sinh vật được vận chuyển đến nơi lắng đọng

Cách thành tạo như vậy làm cho đá hạt vụn thường có độ

rỗng cao Theo Yves Guéguen et al (1994), các đá hạt vụn

khi có độ chọn lựa tốt, như các đá cát gần bờ hay lòng

sông có độ rỗng khoảng 0,40 - 0,45 Độ rỗng của đá hạt

vụn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: kiểu sắp xếp, kích thước

hình dáng hạt vụn, phân bố của thành phần độ hạt Làm

sáng tỏ và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đó lên đặc điểm

thấm chứa của đá trầm tích là nội dung nghiên cứu của

bài viết này

Nhiều năm sau đề xuất của Archie G.E (1942), bài

toán tham số vật lý thạch học của đá có lỗ rỗng vẫn đang

được phát triển phong phú Gần đây những nghiên cứu

này thiên về mô phỏng các mô hình số để giải quyết bài

toán minh giải tài liệu đo của phương pháp điện dòng

một chiều nhằm đánh giá các thông số colectơ của tầng

chứa Theo chúng tôi, vấn đề cơ bản của bài toán này là

xây dựng một mô hình cấu trúc của pha rắn (gắn kết của

các hạt vụn) trong đá trầm tích, sau đó mới đến các vấn

đề phức tạp khác như lớp điện kép, màng hấp phụ bao

quanh hạt vụn, thành phần dẫn điện điện tử trong pha

rắn Xem vi cấu trúc của không gian rỗng trong đá hạt vụn như một fractal tự nhiên (Nguyễn Văn Phơn, 2007 - I

và II) đưa đến một phép tính toán tham số của môi trường nghiên cứu sát với trường hợp của đá trầm tích hơn Người đầu tiên mô tả mô hình fractal của đá trầm tích có lẽ là A.S Semenov (1948), mặc dù cách đây hơn 60 năm hình học fractal chưa phát triển như bây giờ Mô hình của Semenov

mô tả đá trầm tích hạt vụn như là một khối tập hợp gắn kết từ nhiều các hạt hình cầu có kích thước khác nhau; các hạt nhỏ bám xung quanh hạt lớn Từ mô hình này, yếu tố thành hệ F (Semenov gọi là tham số độ rỗng Pπ) được tính:

Trong đó V0 là hệ số lấp đầy không gian rỗng, hay tỷ phần thể tích của hạt có kích thước lớn nhất (loại một) Tỷ phần thể tích của các hạt loại hai sẽ là (1-V0).V0; loại ba (1-V

và đưa ra kết quả tính điện trở suất và độ thấm của đá trầm tích Vào năm 2008 E Toumelin et al và Casper Olsen et al Dựa vào các phương trình dẫn xuất của Archie đã xây dựng

CŖutrúcFractalcĦaîáhĀtvĨnvàîŐcîiŢm thŖmchłacĦachúng

PGS.TS Nguyễn Văn Phơn

Đại học Mỏ - Địa chất

KS Nguyễn Văn Hoàng

Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí

Tóm tắt

Nghiên cứu các tham số vật lý thạch học của đá trầm tích luôn là vấn đề hấp dẫn Xây dựng một mô hình cấu trúc của pha rắn của đá có lỗ rỗng là bước quan trọng nhất khi giải bài toán này, sau đó mới đến các vấn đề phức tạp khác Cấu trúc fractal được xây dựng trong công trình này là mô hình phù hợp để nghiên cứu đá trầm tích hạt vụn.

Bài báo nghiên cứu các ảnh hưởng của môi trường lên cấu kiến trúc hạt vụn, khả năng thấm chứa của đá, đồng thời đề xuất phương pháp tính bề mặt riêng và tính độ thấm theo chiều fractal của môi trường có lỗ rỗng.

Các kết quả này phù hợp để nghiên cứu các đá chứa bở rời đang trong giai đoạn thành đá sớm.

(1)

Trang 32

mô hình toán học để nghiên cứu quy luật dòng thấm hai

pha và đánh giá độ rỗng trong đá có lỗ rỗng

Nhằm góp phần nghiên cứu đá chứa hạt vụn, trong

bài viết này chúng tôi sẽ phân tích các yếu tố môi trường

ảnh hưởng lên khả năng thấm chứa, xây dựng mô hình

phân bố sắp xếp các hạt vụn sát với thực tế hơn nhằm

đưa đến khả năng tính toán độ thấm của đá theo kiến

trúc của đá trầm tích hạt vụn, chiều fractal và bề mặt

riêng của chúng

2 Kiến trúc của đá hạt vụn

2.1 Kiểu sắp xếp các hạt trong đá trầm tích

Lắng đọng trong môi trường nước, các hạt vụn có xu

hướng lắng xuống theo trọng lực, nhưng do dòng chảy

và sóng nước làm cho các hạt vụn sắp xếp lên nhau thành

một hệ chặt chẽ có thế “chân kiềng” như các viên bi sắp

xếp thành hình tháp (Hình 1)

Khi các hạt vụn đã được lắng đọng sắp xếp chặt chẽ

thì giữa bốn hạt liền kề có lỗ rỗng gọi là huyệt (site), giữa

các huyệt thông nối với nhau qua các mạch (bond, throat)

tạo thành ô mạng (network) có cấu trúc như một fractal tự

nhiên (Nguyễn Văn Phơn, 2007)

2.2 Ảnh hưởng của hình dáng kích thước hạt lên độ rỗng

của đá

Các kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của hình dáng hạt vụn lên độ rỗng cho thấy: đá gắn kết từ các hạt không tròn cạnh có độ rỗng cao hơn các đá có hạt tròn cạnh (Bảng 1) Điều đó được giải thích như sau: các hạt tròn cạnh dễ xếp chặt chẽ hơn các hạt có góc cạnh Trong tự nhiên, các hình khối có thể tích bằng nhau thì hình cầu có diện tích bề mặt nhỏ hơn các hình khác Các đá hạt vụn có độ mài tròn tốt thì có bề mặt riêng và độ rỗng nhỏ hơn (Hình 2)

Bề mặt riêng của đá thấp đồng nghĩa đá có độ thấm cao hơn theo định luật Kozeny mà ta sẽ đề cập ở phần sau của bài viết này

2.3 Ảnh hưởng của độ chọn lựa lên độ rỗng của đá

Độ chọn lựa của đá trầm tích chỉ mức độ lựa chọn theo cấp độ hạt của nó Đá có độ chọn lựa tốt là đá gồm toàn những hạt vụn cùng kích thước Lắng đọng trong môi trường nước, vị trí để hạt vụn lắng đọng phụ thuộc vào mức độ vận động của nước hay gọi là năng lượng (của môi trường) trầm tích Nơi có năng lượng cao chỉ cho các hạt thô trầm lắng, năng lượng thấp thì các hạt mịn hơn sẽ lắng đọng nhiều hơn Nhưng trong môi trường lắng đọng năng lượng trầm tích cũng thay đổi có chu kỳ hoặc không chu kỳ, nên các đá trầm tích hạt vụn thường có độ chọn lựa không cao

Trong tự nhiên rất ít gặp các đá trầm tích có độ chọn lựa tốt hoàn toàn, mà thường chúng gồm các loại kích thước hạt khác nhau (Hình 3) Nếu đá có thành phần độ hạt thô càng cao thì sẽ có bề mặt riêng càng thấp và có khả năng thấm tốt hơn các đá có tỷ phần hạt mịn cao

Hình 1 Thế sắp xếp vững chắc các hạt vụn

Bảng 1 (theo Wyllie M.R.J et al 1955)

Hình 2 Quan hệ giữa độ rỗng và kích thước hạt của các tập hợp các

hạt có hình dạng cùng loại (theo Leva M.M et al (1951))

Đường kính (μm)

Rounded grains Anguiar grains

Limit of the uncompacted random packinh

Trang 33

2.4 Cấu trúc fractal của đá hạt vụn

Trong thực tế ta thường gặp các thành hệ đá chứa có

độ chọn lựa từ trung bình đến kém Cũng như ta không có

một lớp đá trong lát cắt lục nguyên toàn là cát mà không

có sét, ngược lại cũng không gặp lớp sét mà không có

thành phần hạt cát trong đó Khi đá có độ chọn lựa càng

kém thì hệ mạng thông nối không gian rỗng giữa hạt hay

cấu trúc fractal của nó càng phức tạp Đá càng có nhiều

cấp độ hạt thì độ rỗng cũng càng nhỏ

Thử xét mô hình là một tứ diện đều cạnh a (Hình 4)

chưa một hình cầu nối tiếp có bán kính Thể tích

của khối tứ diện , còn thể tích hình cầu nội tiếp

Tỷ phần pha rắn trong tứ diện , từ đó

độ rỗng Φ được tính:

Gọi quả cầu r

1 là cấp độ hạt thứ nhất (lớn nhất) có trong hộp tứ diện Ở các đỉnh A, B, C, D trong khối tứ diện

có 4 quả cầu nội tiếp cấp độ hạt thứ hai Và

cứ tiếp tục như thế, các quả cầu ở cấp độ hạt thứ n có bán kính , số quả cầu có cấp độ hạt thứ n sẽ là 4n-1.Tổng thể tích của các quả cầu nội tiếp từ cấp 1 đến cấp n trong khối tứ diện được tính:

Điều đó chứng tỏ phân bố độ hạt của đá càng nhiều cấp hạt thì độ rỗng càng thấp Nói cách khác các đá có độ chọn lựa tốt (hạt có kích thước trung bình đều nhau) thì có

độ rỗng cao hơn đá có độ chọn lựa kém

Tuy nhiên trong thực tế không có trường hợp nào mà

đá hạt vụn, kể cả ở giai đoạn thành đá muộn, lại không

có độ rỗng Đó là vì: Thứ nhất, dù kích thước nhỏ đến đâu thì giữa các hạt vụn chồng xếp theo mô hình như Hình

1 cũng vẫn có khoảng rỗng giữa chúng, có chăng hạt càng mịn thì khoảng trống (site) càng bé và lỗ rỗng trở nên không hiệu dụng Thứ hai, thể tích của hạt hình cầu

tỷ lệ với r3, còn diện tích mặt ngoài của nó tỷ lệ với r2 Khi kích thước hạt giảm còn một nửa thì thể tích nhỏ đi lần, trong khi diện tích mặt ngoài của hạt chỉ giảm đi lần Nghĩa là các hạt mịn có bề mặt riêng lớn hơn các hạt thô, cũng vì thế hạt mịn có ma sát bề mặt cao hơn, chúng không dễ dàng lấp nhét vào các khoảng trống giữa các hạt lớn Trong lát cắt lục nguyên ta hay gặp các lớp sét xen kẹp giữa các lớp cát có tổng chiều dày lớn Trong trường hợp đó nếu sét có TOC cao, gặp các điều kiện hóa lý thuận lợi thì tầng đá này vừa là tầng sinh vừa là tầng chứa và có thấm không đẳng hướng

Mô hình sắp xếp phân bố các hạt hình cầu có kích thước nhỏ dần lấp đầy trong khối hộp tứ diện đều được

Hình 3 Hình ảnh ba chiều của kiến trúc đá hạt vụn

(theo Emmanuel T et al (2008))

Hình 4 Mô hình cấu trúc fractal của đá hạt vụn

Trang 34

mô tả như trên là một mô hình fractal Trong mô hình đó

đặc tính hình học của hạt lớn và hạt nhỏ là như nhau: nội

tiếp trong các tứ diện đều Trong tứ diện lớn chứa các tứ

diện nhỏ và mỗi tứ diện nhỏ đều chứa một hình cầu tương

ứng Trong hộp lớn có những hộp nhỏ có thuộc tính như

hộp lớn, trong mỗi cái nhỏ đều có những tính chất như cái

lớn Đặc điểm đó gọi là “tính tự đồng dạng” của cấu trúc -

một tính chất quan trọng nhất của fractal

2.5 Ảnh hưởng quá trình chôn vùi

Khi chiều dày tầng trầm tích tăng, các lớp bên dưới có

chiều sâu chôn vùi lớn, lực nén ép tăng dần làm cho thể

tích đá giảm, các hạt bị biến dạng, mật độ khối (ρ g/cm3)

tăng, kết quả là độ rỗng giảm, bề mặt riêng cũng thay đổi

Theo các nghiên cứu, ở vỏ quả đất đến chiều sâu 10km, có

điều kiện địa nhiệt bình thường thì độ rỗng của đá trầm

tích theo chiều sâu giảm theo quy luật hàm mũ, độ rỗng

Φ(z) ở chiều sâu z được tính:

Trong đó Φ0 là độ rỗng của lớp đá trên cùng; z - là

chiều sâu tính từ mặt đất; a là hệ số phụ thuộc vào thành

phần đất đá và tốc độ trầm tích

Hình 5 trình bày kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả

ở VPI và PVEP năm 2002 Các số liệu này cho thấy độ rỗng

giảm theo chiều sâu, nhưng không đủ để xử lý tính toán

Diện tích mặt ngoài của mỗi hạt cấp n đúng bằng 1/4 diện tích mặt ngoài của hạt cấp n-1 Nhưng cứ mỗi hình cầu cấp hạt n-1 thì lại có 4 hạt hình cầu cấp n nên diện tích mặt ngoài của mọi cấp độ hạt đều bằng nhau Như vậy nếu trong khối hộp chứa đầy các hạt

có kích thước từ r1 đến rn thì tổng diện tích bề mặt của chúng bằng:

Và bề mặt riêng của cấu trúc đó được tính:

Nghĩa là bề mặt riêng của đá tăng khi nó chứa nhiều cấp độ hạt

Nếu biết kích thước trung bình của các hạt vụn trong

đá ta có thể tính toán được bề mặt riêng của đá Trong

chứa 5 cấp độ hạt, ta tính bề mặt riêng của đá theo (8): S

sp = 22,214879cm-1 tương đương 0,22.10-2m2/cm3 Nếu đá chứa tất cả các hạt cấp 10, r

10 = 0,0004cm = 4μm thì Ssp = 20,1 m2/cm3

2.7 Chiều fractal hay hệ số gắn kết xi măng m của đá trầm tích

Từ định luật Archie tính hệ số gắn kết hay chiều fractal (Nguyễn Văn Phơn, 2007):

Trong đó F là yếu tố thành hệ (formation factor); R0

và Rw lần lượt là điện trở suất của đá bão hòa nước và điện trở suất của nước bão hòa; Φ là độ rỗng của đá Hệ

số m là một tham số vật lý thạch học và cũng là tham

số của vi cấu trúc lỗ rỗng trong đá, nó thể hiện độ cong thông nối các không gian rỗng, mức độ "nhàu rối" của

bề mặt thành lỗ rỗng, độ nhám ráp ở bề mặt của nứt nẻ trong đá

(6)

Hình 5 Thay đổi độ rỗng theo chiều sâu trong một số giếng

khoan ở bể Nam Côn Sơn (theo Vũ Ngọc An et al., 2002)

(7)

(8)

(9)

Trang 35

2.8 Đánh giá độ thấm k theo chiều fractal m

Casper Olsen et al (2008) đưa ra nhận xét: thật ra

trong đá đa khoáng và có độ chọn lựa kém, độ rỗng Φ

không trực tiếp ảnh hưởng lên hệ số m Có cùng độ rỗng

nhưng có vi cấu trúc không gian lỗ rỗng trong đá khác

nhau thì khả năng thông nối của lỗ rỗng khác nhau Ví dụ

các mẫu cát kết và sét kết nếu có độ rỗng bằng nhau thì

R0 của mẫu sét kết thường nhỏ hơn của cát kết, vì ngoài

khả năng dẫn điện trong nước bão hòa trong lỗ rỗng sét

kết còn có thêm khả năng dẫn điện bề mặt Tác giả trên

đã đưa ra một kết quả xác định mối quan hệ giữa m và bề

mặt riêng hiệu dụng S (Hình 6):

Có quan hệ chặt chẽ giữa m và S, hãy tìm quan hệ giữa m và độ thấm k Vận dụng định luật Kozeny tính độ thấm k:

Thay S từ (11) vào (10) ta có quan hệ giữa m và k:

Từ (12) ta dễ dàng có:

Trong đá cát vôi có độ rỗng trong khoảng 0,08 - 0,29 thì chọn a = 0,09; b = 1,98 và c = 0,25

2.9 Đối chiếu với kết quả phân tích mẫu lõi

Biểu thức (13) được áp dụng để đánh giá độ thấm k của phần lát cắt cacbonat ở giếng khoan 1 DH, đoạn từ

2071 - 2112m (Hình 7) Kết quả tính toán đem đối chiếu với kết quả đo mẫu lõi trình bày ở cột 7 cho thấy việc xác định

độ thấm của tầng chứa từ tài liệu địa vật lý giếng khoan theo lý thuyết đề xuất trên đây là khá phù hợp với thực tế

Trang 36

3 Kết luận

Đặc điểm thấm chứa của đá trầm tích hạt vụn phụ

thuộc nhiều yếu tố như lịch sử phát triển môi trường

trầm tích, cấu kiến trúc của đá Kiến trúc quyết định mạng

mạch lỗ rỗng và bề mặt riêng, hình thành fractal của đá

Trong quá trình lắng đọng sự mài tròn, sắp xếp chọn lựa,

phân bố các thành phần độ hạt của đá phụ thuộc vào

năng lượng trầm tích Ở giai đoạn đầu của quá trình thành

đá, tại các chiều sâu không lớn, độ rỗng nguyên sinh, bề

mặt riêng của đá trầm tích thay đổi do quá trình chôn vùi

Nghiên cứu đánh giá khả năng thấm chứa của đá trầm

tích hạt vụn cần xây dựng mô hình vi cấu trúc của pha rắn

Mô hình cấu trúc fractal trong công trình này là mô hình

sát với thực tế cho đá trầm tích hạt vụn hơn Tìm mối quan

hệ phụ thuộc giữa chiều fractal, hay hệ số gắn kết, m với

độ thấm k của đá trầm tích là rất phức tạp và khó khăn

Việc này chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở phân tích

số đo của một tập hợp lớn các mẫu lõi ở các phòng thí

nghiệm có trang thiết bị tốt Ở đây chúng tôi đề xuất cách

tính bề mặt riêng Ssp của đá và dựa vào kết quả xác định

quan hệ giữa m và Ssp của Casper Olsen (2008) để tính độ

thấm của đá có độ rỗng Φ

So sánh kết quả tính toán theo công thức (13) ở tiểu

mục 8 với các giá trị đo mẫu lõi ở giếng 1 DH cho thấy có

sự phù hợp giữa lý thuyết và thực tế, chứng tỏ đề xuất trên

đây có thể sử dụng trong phân tích tài liệu địa vật lý giếng

khoan để đánh giá khả năng thấm chứa của đá trầm tích

hạt vụn

Các tác giả cảm ơn những ý kiến đóng góp của các

đồng nghiệp đang có quan tâm đến vấn đề nghiên cứu

đặc điểm thấm chứa của đá có lỗ rỗng Mọi ý kiến đóng

góp xin gửi về địa chỉ email: vanphonmdc@yahoo.com

hoặc hoangnv@pvep.com.vn Xin chân thành cảm ơn!

Tài liệu tham khảo

1 Nguyễn Văn Phơn, 2007

a Hình học fractal trong

nghiên cứu các đá chứa sản phẩm dầu khí (I) Tạp chí Dầu

khí số 1/2007; trang 30-34

2 Nguyễn Văn Phơn, 2007b. Hình học fractal trong

nghiên cứu các đá chứa sản phẩm dầu khí (II) Tạp chí Dầu

khí số 2/2007; trang 21-29

3 Casper Olsen, Thanong Hongdul and Ida Lykke

Fabricius, 2008 Prediction of Archie’s cementation factor

from porosity and permeability through specifi c surface

Geophysics 73.2.E81-87

4 Emmanuel Toumelin and Carlos Torres-Verdin,

2008 Object-oriented approach for the pore-scale simulation

of DC electrical conductivity of two-phase saturated porous media Geophysics 73.2.E67-80.

5 Kormiltsev V V., 1995 Các hiện tượng điện động học trong môi trường đá có lỗ rỗng AN.SSSR, Sverdlovsk 192-

B59 (tiếng Nga)

6 Leva M., M Weintraub et al., 1951 Fluid fl ow

through packed and fl uidized systems US Bureau of Mines

Bull No504

7 Latushova M G., 1962 Cẩm nang các phương pháp

trong phòng thí nghiệm vật lý đá Gostoptehizdat, Moscow

(tiếng Nga)

8 Smenov A S., 1948 Ảnh hưởng của vi cấu trúc lên

điện trở suất của đá Geophysika 12 Gosgeoltehizdat,

Leningrad 40-46 (tiếng Nga)

9 Wyllie M.R.J and A.R Gregory, 1955 Fluid fl ow

through unconsolidated perous aggregates Industrial and

Engineering Chem 47: 1379-88

10 Yves Guéguen and Victor Palciauskas, 1994

Introduction to the physics of rocks Princeton University

Press

11 Zadorozhnaya V., 2007 Fractal model of sediments

- Useful model for calculating of Petrophysical Parameters

EGM 2007 International Workshop Capri, Italy, April 18

15-12 Vũ Ngọc An, Nguyễn Quốc Quân (PVEP), Trần

Huyền (VPI), 1999 Tổng hợp nghiên cứu xu thế biến thiên

các thông số của đá chứa và lưu thể vỉa phục vụ đánh giá trữ lượng dầu khí ở bể Cửu Long và Nam Côn Sơn Báo cáo KHKT

cấp ngành - 91 trang

Trang 37

1 Mở đầu

Bể trầm tích Cửu

Long là một trong các bể

chứa dầu khí quan trọng

của Việt Nam Tại đây, sản

Ohm.m) theo tài liệu khảo sát ĐVLGK và có độ tương phản

thấp so với các vỉa chứa nước (Bảng 1, Hình 1) Kết quả

thử vỉa đã cho dòng dầu lớn, không có nước tại những vỉa

này Chính lý do này đã gây nên khó khăn rất lớn trong

việc xác định độ bão hòa dầu, đồng nghĩa với độ tin tưởng

thấp trong việc xác định độ dày hiệu dụng và trữ lượng

dầu khí tại chỗ Vì vậy, việc tìm hiểu các nguyên nhân gây

điện trở suất thấp trong các vỉa chứa dầu khí nhằm xác

định các phương pháp phân tích tài liệu cho phù hợp là

rất cần thiết

ïánhgiánguyênnhângâyîiŤntrĺsuŖtthŖp choîáchładŗuMiocenhĀ,bŢCńuLong

KS Đỗ Quang Đối, ThS Trần Thị Thanh Thúy

KS Phạm Thị Hồng, KS Nguyễn Hoàng Anh

Viện Dầu khí Việt Nam

Tóm tắt

Dựa trên các kết quả phân tích, tổng hợp nhiều yếu tố địa chất, đặc trưng vật lý của đá, điều kiện thi công, khảo sát địa vật lý giếng khoan (ĐVLGK) và đặc biệt so sánh các yếu tố này giữa các khu vực có điện trở suất thấp với khu vực hoặc địa tầng không có hiện tượng này, nghiên cứu đã chỉ ra các nguyên nhân chính có ảnh hưởng gây nên điện trở suất thấp đo được tại những vỉa chứa dầu trong Miocen hạ của bể trầm tích Cửu Long Nguyên nhân trực tiếp là nồng độ khoáng hóa cao của nước vỉa Có nhiều nguyên nhân với ảnh hưởng thứ yếu hoặc không có vai trò làm giảm điện trở suất và một số nguyên nhân có ảnh hưởng chưa rõ, cần được nghiên cứu thêm khi có tài liệu bổ sung

Bảng 1 Thống kê các vỉa chứa dầu và nước trong khu vực nghiên cứu

Hình 1 Phân bố điện trở suất của vỉa chứa nước và vỉa chứa dầu

trong khu vực nghiên cứu

Trang 38

2 Đánh giá nguyên nhân gây điện trở suất thấp trong

đá chứa dầu Miocen hạ bể Cửu Long

Điện trở suất của đá khảo sát trong giếng khoan nói

chung bị tác động bởi hàng loạt các nguyên nhân như:

thành phần đá, cấu trúc không gian rỗng, nồng độ khoáng

hóa của nước vỉa, độ bão hòa chất lưu, dung dịch khoan,

thời gian khảo sát tính từ lúc dừng tuần hoàn… Đối với

điện trở suất của đá chứa dầu Miocen hạ ở bể trầm tích

Cửu Long thì ảnh hưởng của các nguyên nhân này ở mức

độ thế nào, yếu tố nào là quan trọng là câu hỏi được đặt ra

và cần được làm sáng tỏ Để đánh giá chi tiết, có hệ thống,

các nguyên nhân này có thể được chia thành 3 nhóm: bản

chất đá, chất lưu và yếu tố kỹ thuật

2.1 Bản chất đá

2.1.1 Hàm lượng sét

Trong khu vực nghiên cứu, hàm lượng sét của các vỉa

chứa dầu có điện trở suất thấp và các vỉa chứa dầu không

có điện trở suất thấp đã được thống kê (Bảng 2, Hình 2)

Số liệu này cho thấy tại khu vực có điện trở suất thấp thì điện trở suất thay đổi trong dải hẹp với sự thay đổi lớn của Vsh, trong khi tại khu vực không có điện trở suất thấp, vỉa chứa vẫn có Vsh cao Điều này nói lên hàm lượng sét của các vỉa dầu không có quan hệ rõ ràng với điện trở suất

2.1.2 Khoáng vật sét

Về lý thuyết, sự có mặt của các loại khoáng vật sét (smectite, illite, kaolinite…) trong đá chứa cát kết sẽ làm tăng thêm độ dẫn điện do sự trao đổi cation diễn ra dọc theo bề mặt của sét Sét có diện tích bề mặt riêng càng lớn, khả năng trao đổi cation càng cao, càng làm giảm điện trở suất của vỉa chứa Ví dụ, khoáng vật smectite có bề mặt riêng từ 700 - 900m2/g lớn gấp 20 - 45 lần bề mặt riêng của khoáng vật kaolinite (15 - 45m2/g); khả năng trao đổi cation của smectite từ 80 - 150meq/100g lớn gấp 25 lần khả năng trao đổi cation của kaolinite (3 - 6meq/100g) Tương tự, Illite có bề mặt riêng là 90 - 120m2/g và khả năng trao đổi cation là 10 - 40meq/100g, lớn hơn bề mặt riêng và khả năng trao đổi cation của kaolinite từ 3 - 6 lần Như vậy, smectite là khoáng vật sét đáng quan tâm nhất Hơn nữa, trong mạng tinh thể của khoáng vật smectite luôn có một màng chứa nước dày tới 6,8 Vì vậy mà smectite luôn luôn ngậm nước nhiều hơn các khoáng vật sét khác Các đá cát sét chứa nhiều smectite sẽ có độ bão hòa nước dư cao, khả năng dẫn điện tốt hơn nên điện trở

sẽ thấp hơn

Trong khu vực nghiên cứu, hàm lượng smectite tập trung cao ở khu vực Rồng (chiếm từ 30 - 80%), lớn hơn so với các khu vực khác (Hình 3)

Dựa trên tài liệu thu thập được chúng tôi đã tiến hành xây dựng mối quan hệ giữa hàm lượng smectite với điện trở suất (Hình 4) Nếu xét trong từng lô ta thấy được phần

Bảng 2 Kết quả tính hàm lượng sét (Vsh) cho những vỉa chứa dầu

Hình 2 Mối quan hệ giữa điện trở suất và hàm lượng sét

Hình 3 Hàm lượng smectite trong đá chứa Miocen hạ tại khu vực

nghiên cứu

Trang 39

nào xu hướng ảnh hưởng của smectite lên điện trở suất

Tuy nhiên, xét trong toàn khu vực nghiên cứu thì không

có xu hướng về mối quan hệ giữa hàm lượng smectite và

điện trở suất (Rt) Điều đó chứng tỏ hàm lượng smectite

không phải là yếu tố chính có ảnh hưởng tới điện trở suất

thấp của vỉa chứa dầu

2.1.3 Độ rỗng

Đối với tầng Miocen hạ mỏ Bạch Hổ - nơi không có

hiện tượng điện trở suất thấp thì độ rỗng chủ yếu dưới

15% và điện trở thay đổi từ hơn 5 - 15 Ohm.m Trong khi đó

tại khu vực có hiện tượng điện trở suất thấp (< 5 Ohm.m)

độ rỗng khá cao, tập trung nhiều từ 20 - 27% (Hình 5)

Điều này chứng tỏ độ rỗng có thể là một trong các nguyên

nhân góp phần gây điện trở suất thấp trong tầng chứa dầu

Miocen hạ bể Cửu Long.

2.1.4 Khoáng vật pyrite

Pyrite là khoáng vật nặng, tự sinh, tồn tại trong môi trường khử Pyrite thường có xu hướng tích tụ thành những màng mỏng trong đá dưới các chuỗi tinh thể nhỏ hoặc xuất hiện theo những chùm, cụm với số lượng nhỏ Khác với phần lớn các khoáng vật tạo đá khác, pyrite có khả năng dẫn điện rất tốt và có bản chất dẫn điện điện tử Khi hàm lượng pyrite càng cao, càng làm tăng độ dẫn

và giảm giá trị điện trở suất của vỉa Tuy nhiên, trong khu vực nghiên cứu pyrite thường vắng mặt hoặc xuất hiện thành những cụm nhỏ với hàm lượng thấp, chủ yếu nhỏ hơn 2% (từ 0,2 - 2,6%) (Hình 6, 7 và 8 ), vì vậy ít có khả năng gây ảnh hưởng đến điện trở suất Như vậy, ở bể Cửu Long,

sự có mặt của pyrite không phải là nguyên nhân gây nên điện trở suất thấp của các tầng chứa dầu Miocen hạ

Hình 4 Mối quan hệ giữa hàm lượng smectite và điện trở suất (Rt)

Hình 5 Mối quan hệ giữa độ rỗng và điện trở suất

Điện trở suất _Rt (Ohm.m)

Hình 6 Sự có mặt của Pyrite (Py) trong mẫu cutting của giếng khoan

15-1-SD-6X, 1770 - 1780m

Hình 7 Sự có mặt của Pyrite (P) trong mẫu cutting của giếng khoan

01-Topaz-1X, 2205 - 2210m

Trang 40

2.1.5 Hệ số m và n

Từ kết quả phân tích mẫu lõi trong khu vực nghiên

cứu, các giá trị của m và n được xác định như trong Bảng 3

Theo số liệu trên, ta thấy hầu như không có sự thay

đổi nhiều về giá trị m và n giữa các khu vực Theo lý thuyết,

khi m và n giảm dẫn tới Rt giảm, song ở đây thậm chí m

và n tăng thì Rt vẫn giảm (Bảng 4) Điều này có thể lý giải

hoặc tại khu vực nghiên cứu, Rt phụ thuộc chủ yếu vào

các nguyên nhân khác hoặc giá trị m xác định theo mẫu

lõi chỉ là giá trị trung bình, chưa thực sự phản ánh bản

chất vỉa ở từng độ sâu nhất định

2.1.6 Phân lớp mỏng

Các vỉa trầm tích có chiều dày từ 5 - 60cm được coi

là vỉa mỏng (Glossary of Geology) Thông thường, chiều dày của các vỉa đó còn nhỏ hơn độ phân giải thẳng đứng của các thiết bị đo ĐVLGK (khoảng từ 45 - 210cm) Các vỉa quá mỏng có chiều dày < 5cm được gọi là phân lớp mỏng Trong các tập vỉa mỏng đó, các lớp sét hay các lớp

đá rắn chắc có vai trò là những tầng chắn làm cho dầu khí tích tụ lại thành tầng sản phẩm có giá trị thương mại Tuy nhiên, các thành tạo kiểu này đã gây khó khăn trong việc xác định điện trở suất của vỉa chứa, thường thì giá trị điện trở suất đo được ở các trường hợp vỉa mỏng và phân lớp mỏng đều bị sai khác với giá trị điện trở suất thực của phần vỉa chứa dầu

Đối với thành hệ cát sét phân tán mô hình điện trở là:

Rt = Rshale* p + Rsand*(1-p) (p: là tỷ lệ của sét)Giả thiết với Rshale = 2,5 Ohm.m, Rsand = 6 Ohm.m,

p = 40%

DRt = 0,4*2,5 + 6*0,6 = 4,6 Ohm.mCòn đối với thành hệ cát sét phân lớp, mô hình điện trở là:

Trong 1m chiều dày (Hình 9) hầu như không có sự biến đổi trên đường cong GR để xác định các vỉa cát, bột xen kẽ, song theo mô tả mẫu lõi có thể nhận thấy chúng thay đổi rất nhanh (thay đổi tướng), các lớp mỏng nằm

Hình 8 Sự có mặt của Pyrite (Py) trong mẫu cutting của giếng khoan

01-Opal-1X, 1675,5m

Miocen hạ Khu vực

Bảng 3 Giá trị m, n xác định từ mẫu lõi của từng lô và mỏ trong

khu vực nghiên cứu

Bảng 4 Giá trị Rt và m, n ở khu vực nghiên cứu

Ngày đăng: 15/03/2014, 15:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 5) khi tỷ lệ phần trăm ban đầu của các lớp illite là 15%, - Tạp chí của tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam - Petrovietnam - Số 09 - 2011 pptx
Hình 5 khi tỷ lệ phần trăm ban đầu của các lớp illite là 15%, (Trang 29)
Hình 1. Thế sắp xếp vững chắc các hạt vụn - Tạp chí của tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam - Petrovietnam - Số 09 - 2011 pptx
Hình 1. Thế sắp xếp vững chắc các hạt vụn (Trang 32)
Hình 5 trình bày kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả - Tạp chí của tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam - Petrovietnam - Số 09 - 2011 pptx
Hình 5 trình bày kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả (Trang 34)
Hình 14. Ảnh hưởng của dung dịch khoan lên điện trở suất (Rt) - Tạp chí của tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam - Petrovietnam - Số 09 - 2011 pptx
Hình 14. Ảnh hưởng của dung dịch khoan lên điện trở suất (Rt) (Trang 44)
Hình 7. Dị thường ảnh vệ tinh SAR thể hiện vùng có tiềm năng  khí - Tạp chí của tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam - Petrovietnam - Số 09 - 2011 pptx
Hình 7. Dị thường ảnh vệ tinh SAR thể hiện vùng có tiềm năng khí (Trang 49)
Hình 9. Thuộc tính địa chấn thể hiện phân bố các thân cát kênh - Tạp chí của tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam - Petrovietnam - Số 09 - 2011 pptx
Hình 9. Thuộc tính địa chấn thể hiện phân bố các thân cát kênh (Trang 49)
Hình 10. Số lượng mẫu rắn (a) và lưu thể (b) thu thập và phân tích  trong giai đoạn 2000 - 2010 - Tạp chí của tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam - Petrovietnam - Số 09 - 2011 pptx
Hình 10. Số lượng mẫu rắn (a) và lưu thể (b) thu thập và phân tích trong giai đoạn 2000 - 2010 (Trang 49)
Hình 13. Thời gian không hữu ích trung bình khi thi công - Tạp chí của tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam - Petrovietnam - Số 09 - 2011 pptx
Hình 13. Thời gian không hữu ích trung bình khi thi công (Trang 50)
Hình 18. Phát hiện dầu khí trong cát kết chặt xít tập F mỏ Sư Tử Trắng - Tạp chí của tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam - Petrovietnam - Số 09 - 2011 pptx
Hình 18. Phát hiện dầu khí trong cát kết chặt xít tập F mỏ Sư Tử Trắng (Trang 52)
Hình 2. Hiệu quả hòa tan cặn lắng đọng hữu cơ của các loại dung môi (kg/m 3 ) - Tạp chí của tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam - Petrovietnam - Số 09 - 2011 pptx
Hình 2. Hiệu quả hòa tan cặn lắng đọng hữu cơ của các loại dung môi (kg/m 3 ) (Trang 58)
Hình 2.  Ảnh chụp vi khuẩn trong nước bằng kính hiển vi  huỳnh quang - Tạp chí của tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam - Petrovietnam - Số 09 - 2011 pptx
Hình 2. Ảnh chụp vi khuẩn trong nước bằng kính hiển vi huỳnh quang (Trang 63)
Hình 3. Kết quả thử nghiệm cho thấy tia UV diệt khuẩn trong nước với tốc độ xử lý lên tới - Tạp chí của tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam - Petrovietnam - Số 09 - 2011 pptx
Hình 3. Kết quả thử nghiệm cho thấy tia UV diệt khuẩn trong nước với tốc độ xử lý lên tới (Trang 65)
Hình 2. Biodiesel từ dầu tảo - Tạp chí của tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam - Petrovietnam - Số 09 - 2011 pptx
Hình 2. Biodiesel từ dầu tảo (Trang 68)
Hình 3. Một số loại tảo có thể sử dụng để sản xuất nhiên liệu sinh học - Tạp chí của tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam - Petrovietnam - Số 09 - 2011 pptx
Hình 3. Một số loại tảo có thể sử dụng để sản xuất nhiên liệu sinh học (Trang 70)
Hình 3. Dự báo nhu cầu dầu thô thế giới giai đoạn 2011 - 2012  (nguồn: WM, EIA-8/2011) - Tạp chí của tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam - Petrovietnam - Số 09 - 2011 pptx
Hình 3. Dự báo nhu cầu dầu thô thế giới giai đoạn 2011 - 2012 (nguồn: WM, EIA-8/2011) (Trang 90)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm