Đã khảo sát 115 nghìn km tuyến địa chấn, trong đó có 71 nghìn km tuyến địa chấn 3D; Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng: Với truyền thống của đơn vị hai lần được trao tặng danh hiệu An
Trang 4Khai thác trên 193 triệu tấn dầu thô
Tổng kết chặng đường 30 năm xây dựng và phát triển
cũng như ghi nhận đóng góp quan trọng của tập thể lao
động quốc tế đối với Ngành Dầu khí Việt Nam - Liên bang
Nga, ngày 15/7/2011, Liên doanh Việt - Nga “Vietsovpetro”
đã tổ chức kỷ niệm 30 năm ngày ký Hiệp định Liên Chính
phủ giữa Cộng hòa XHCN Việt Nam và Liên bang Cộng
hòa XHCN Xô Viết về thành lập Vietsovpetro (19/6/1981 -
19/6/2011) và 25 năm khai thác tấn dầu thô đầu tiên tại
thềm lục địa Việt Nam (26/6/1986 - 26/6/2011) Thủ tướng
Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng cùng đại diện các Bộ, Ban,
Ngành Trung ương, địa phương; Bộ Năng lượng Liên bang
Nga, Thống đốc Khu tự trị Nhennheski, Đại sứ đặc mệnh
toàn quyền Liên bang Nga tại Việt Nam; lãnh đạo OAO
Zarubezhneft; lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, lãnh
đạo Vietsovpetro qua các thời kỳ; đại diện cho hơn 7.000
cán bộ, kỹ sư, công nhân Việt Nam - Liên bang Nga… đã
tham dự Lễ kỷ niệm quan trọng này Tổng Bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng; Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết; Thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang; Bộ trưởng
Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh; Nguyên Tổng Bí thư:
Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh; Nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An; Nguyên Chủ tịch nước: Lê Đức Anh, Trần Đức Lương… đã gửi lẵng hoa chúc mừng Có thể nói, sự kiện này đánh dấu sự hợp tác có hiệu quả giữa hai nước Việt Nam và Liên bang Nga trong lĩnh vực hợp tác thăm dò khai thác dầu khí; là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử 50 năm xây dựng và phát triển Ngành công nghiệp Dầu khí Việt Nam
Ông Nguyễn Hữu Tuyến - Tổng giám đốc Vietsovpetro cho biết: Trong 30 năm qua, Liên doanh đã thực hiện một khối lượng rất lớn công tác thăm dò địa chất dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam Đã khảo sát 115 nghìn km tuyến địa chấn, trong đó có 71 nghìn km tuyến địa chấn 3D;
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng:
Với truyền thống của đơn
vị hai lần được trao tặng danh
hiệu Anh hùng Lao động;
Huân chương Hồ chí Minh,
Huân chương Sao Vàng, trong
30 năm xây dựng và phát
triển, tập thể lao động quốc tế
Vietsovpetro đã và đang tự tin
bước vào giai đoạn phát triển
mới với khát vọng tìm kiếm,
thăm dò và khai thác ngày
càng nhiều dầu khí cho đất
nước, tăng cường sự đoàn kết,
hữu nghị giữa nhân dân hai
nước Việt Nam và Liên bang
Nga, giữ vững vị trí, vai trò của
đơn vị chủ lực, đầu tàu kinh tế
của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia
Việt Nam. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất cho 6 cá nhân và Huân chương Lao động hạng Nhì cho 6 cá nhân tại Lễ kỷ niệm Ảnh: Nhật Bắc
Trang 5hoàn thành thi công 71 giếng khoan thăm dò và 327
giếng khai thác với tổng cộng 1.629km khoan, gần bằng
khoảng cách đường bộ từ Hà Nội đến Tp HCM Đã phát
hiện 3 mỏ dầu có trữ lượng công nghiệp Bạch Hổ, Rồng
và Đại Hùng Kết quả công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí
của Vietsovpetro có ý nghĩa quyết định mở ra một giai
đoạn phát triển mới của ngành công nghiệp dầu khí nước
nhà, góp phần đưa Việt Nam trở thành nước khai thác dầu
đứng thứ ba ở Đông Nam Á Vietsovpetro đã xây dựng
một tổ hợp tương đối hoàn chỉnh các công trình bờ, kho
cảng đảm bảo cung ứng dịch vụ cho các hoạt động thăm
dò khai thác vận chuyển dầu khí Đã hoàn thành khảo sát,
thiết kế, xây lắp và đưa vào hoạt động trên mỏ Bạch Hổ
và mỏ Rồng hệ thống công nghệ liên hoàn để duy trì khai
thác dầu, khí bao gồm 14 giàn khai thác cố định, 17 giàn
nhẹ, 2 giàn công nghệ trung tâm, 2 giàn nén khí, 2 giàn
bơm ép nước duy trì áp suất vỉa, 4 trạm rót dầu trên biển
và 520km đường ống ngầm nội bộ mỏ Phát hiện và đưa
vào khai thác 165 triệu tấn dầu trong đá móng granite nứt
nẻ mỏ Bạch Hổ với trữ lượng lớn, Vietsovpetro có công
đầu tìm ra và khẳng định một loại thân dầu mới phi truyền
thống trong công nghiệp dầu khí thế giới, làm thay đổi
quan điểm tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí ở Việt
Nam và trong khu vực
Tính đến nay, Vietsovpetro đã khai thác trên 193 triệu
tấn dầu thô, chiếm tỷ trọng 76% sản lượng khai thác toàn
ngành Tổng doanh thu bán dầu thô đạt 54,3 tỷ USD, nộ p
ngân sá ch Nhà nước và lợi nhuận của phía Việt Nam gần
34,4 tỷ USD, lợi nhuận phía Nga đạt 8,8 tỷ USD Bên cạnh
đó, Vietsovpetro đã cung cấp vào bờ không thu tiền trên
23 tỷ m3 khí đồng hành (tương đương trên 4 tỷ USD) cho
phía tham gia Việt Nam, góp phần bảo đảm an ninh năng
lượng, an ninh lương thực, tạo điều kiện ổn định và phát
triển kinh tế xã hội của đất nước Thông qua hoạt động
thực tiễn, Vietsovpetro đã đào tạo được một đội ngũ
đông đảo các cán bộ quản lý, kỹ sư có trình độ cao và
công nhân lành nghề trong nhiều lĩnh vực như tìm kiếm
thăm dò, thiết kế xây dựng, vận hành khai thác dầu khí
Vietsovpetro là đơn vị tiên phong trong Ngành Dầu khí
về áp dụng rộng rãi nhiều giải pháp kỹ thuật - công nghệ
tiên tiến, sử dụng thiết bị công nghệ hiện đại vào sản xuất
như khoan ngang, khoan xiên… đạt hiệu quả kinh tế cao
Đặc biệt, bằng biện pháp bơm ép nước để bảo tồn áp suất
vỉa đã tăng hệ số thu hồi dầu khí từ 18% lên trên 40% đối
với tầng móng Bên cạnh đó, Vietsovpetro đẩy mạnh cung
cấp dịch vụ kỹ thuật dầu khí, tích cực tham gia vào công
tác bảo vệ chủ quyền và an ninh trên biển, tích cực tham
gia công tác an sinh xã hội, đóng góp cho các địa phương
trong cả nước xây dựng cơ sở hạ tầng trên 35 triệu USD; thực hiện công tác từ thiện xã hội xấp xỉ 4,5 triệu USD
Tiềm năng để phát triển mạnh mẽ hơn nữa
Phát biểu tại Lễ kỷ niệm, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đánh giá: Trải qua 30 năm thực hiện Hiệp định liên Chính phủ năm 1981 và các Hiệp định Việt - Xô và Việt - Nga về liên doanh dầu khí, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Đảng và Chính phủ Việt Nam, sự giúp đỡ và phối hợp có hiệu quả của Chính phủ Liên Xô và Liên bang Nga, với sự hỗ trợ tích cực của các Bộ, Ngành Trung ương, của chính quyền và nhân dân địa phương, tập thể cán bộ
và công nhân viên Ngành Dầu khí Việt Nam đã hợp tác có hiệu quả với các đồng nghiệp Liên Xô và Liên bang Nga, đã chung sức đồng lòng xây dựng và phát triển Vietsovpetro thành một cơ sở công nghiệp khai thác dầu khí hàng đầu Việt Nam Kết quả hoạt động của Vietsovpetro có tác động mạnh mẽ, mở ra một giai đoạn phát triển mới của ngành công nghiệp dầu khí của đất nước
“Chặng đường 30 năm xây dựng và phát triển mà Liên doanh Vietsovpetro đã đi qua là rất đáng tự hào, nhưng những mục tiêu nhiệm vụ nặng nề với nhiều khó khăn, thách thức trong chặng đường phát triển sắp tới còn đang
ở phía trước” - Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh Đất nước Việt Nam đang bước sang một giai đoạn phát triển mới, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Để góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, hoàn thành các nhiệm vụ phát triển kinh
tế - xã hội năm 2011 mà trọng tâm là tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, phấn đấu thực hiện với quyết tâm cao nhất các mục tiêu nhiệm vụ của năm 2011, tạo đà cho các năm tiếp theo Đồng thời, để phấn đấu đạt và vượt các chỉ tiêu đã đề
ra trong Chiến lược phát triển Ngành Dầu khí Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2025 đã được phê duyệt, Thủ tướng Chính phủ đề nghị Tập đoàn Dầu khí Việt Nam nói chung và Liên doanh Vietsovpetro nói riêng tập trung đẩy mạnh công tác tìm kiếm, thăm dò để gia tăng trữ lượng dầu khí, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, đẩy mạnh xuất khẩu và tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Trong đó, hướng phát triển chủ yếu
là thềm lục địa Việt Nam, ưu tiên tìm kiếm, thăm dò ở các vùng nước sâu, xa bờ; tích cực nghiên cứu, tìm kiếm cơ hội để mở rộng vùng hoạt động tìm kiếm - thăm dò - khai thác ở Liên bang Nga, các nước cộng hòa thuộc Liên Xô trước đây và các nước thứ ba
Trang 6Bên cạnh đó, tiếp tục đầu tư nghiên cứu áp dụng
công nghệ tiên tiến để khai thác một cách an toàn và hiệu
quả hệ thống công nghệ hiện có, tận thu tối đa nguồn
tài nguyên dầu khí tại mỏ Bạch Hổ và mỏ Rồng; nhanh
chóng nghiên cứu, ứng dụng công nghệ và xây dựng hệ
thống thiết bị phù hợp để khai thác khí và condensate tại
những vùng mỏ nước sâu Phát huy năng lực tiềm tàng
của Liên doanh Vietsovpetro về cán bộ, về khả năng khoa
học, công nghệ và cơ sở vật chất để mở rộng vùng hoạt
động của Liên doanh cả ở Việt Nam và ở nước ngoài, cả
bên trong và bên ngoài Vietsovpetro nhằm tiết kiệm chi
phí và gia tăng lợi nhuận Tiếp tục nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, đồng thời không ngừng cải thiện đời
sống vật chất và tinh thần cho cán bộ, công nhân viên,
bảo đảm cho người lao động có cuộc sống ổn định, gắn
bó và làm việc lâu dài tại Vietsovpetro và Ngành Dầu khí
Việt Nam
Thủ tướng Chính phủ tin tưởng rằng Vietsovpetro có
đủ điều điều kiện và tiềm năng để phát triển mạnh mẽ
hơn nữa, đội ngũ cán bộ, công nhân viên của Vietsovpetro
và của Ngành Dầu khí Việt Nam có đủ trí tuệ và quyết tâm
để phát huy truyền thống tốt đẹp và những thành tích to
lớn đã đạt được, ra sức phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn
thách thức, tiếp tục lao động cần cù, sáng tạo, đóng góp
nhiều hơn nữa, thiết thực hơn nữa cho sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; góp phần giữ gìn và
bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc, đồng
thời tăng cường mối quan hệ đối tác chiến lược, củng cố
tình hữu nghị anh em và mối quan hệ truyền thống tốt
đẹp lâu đời Việt - Nga ngày càng bền vững
Phát huy vai trò đội quân chủ lực
Xuất phát từ lợi ích của hai nước, từ tình hữu nghị
giữa hai dân tộc và căn cứ vào tiềm năng phát triển đầy
triển vọng của XNLD Vietsovpetro, ngày 27/12/2010, đại
diện hai Chính phủ Việt Nam và Liên bang Nga đã ký kết
Hiệp định về việc tiếp tục hợp tác trong lĩnh vực thăm
dò địa chất và khai thác dầu khí trong khuôn khổ Liên
doanh Việt - Nga Vietsovpetro tại Hà Nội, mở ra giai đoạn
hoạt động phát triển mới của Vietsovpetro đến năm 2030
Việc kéo dài hoạt động của XNLD Vietsovpetro thêm 20
năm nữa đồng nghĩa với việc góp phần gìn giữ và củng cố
quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác kinh tế hai bên
cùng có lợi cho cả hai nước Việt Nam và Liên bang Nga Từ
năm 2011, Vietsovpetro phấn đấu đạt tăng trưởng trở lại
sản lượng khai thác dầu; từ năm 2014, cùng với dầu thô, sẽ
khai thác khí tự nhiên tại mỏ Thiên Ưng trên lô 04-3 để giữ
sản lượng khai thác hàng năm ở mức trên 7 triệu tấn dầu quy đổi từ sau năm 2015 Để đảm bảo cơ sở trữ lượng để phát triển lâu dài, Vietsovpetro tập trung tận thăm dò các
mỏ lô 09-1, đẩy mạnh thăm dò các lô 04-3, 04-1, lô 16-2
và tham gia đấu thầu thăm dò tại các lô mới trên thềm lục địa Việt Nam Tích cực nghiên cứu để tìm cơ hội đầu tư mở rộng vùng hoạt động của Vietsovpetro ở nước ngoài mà
ưu tiên ở Liên bang Nga Đồng thời, nhanh chóng đầu tư
và đổi mới phương tiện và thiết bị, đảm bảo khai thác an toàn, hiệu quả các mỏ hiện có và vươn ra các vùng nước sâu, xa bờ
Về nhiệm vụ trong nhữ ng năm tiế p theo, TSKH Phùng Đình Thực - Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cho rằng: Vietsovpetro cần phát huy vai trò đội quân chủ lực trong lĩnh vực trọng yếu nhất, cốt lõi nhất đó là tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí, Vietsovpetro hã y đi tiên phong trong triể n khai Chiế n lượ c tăng tố c củ a Tậ p đoà n: Trướ c hế t, đẩy mạnh tìm kiếm, thăm dò và khai thác tại các
lô 09-1, 04-3 và 04-1 khẩn trương đưa nhanh các mỏ dầu
và khí mới phát hiện vào khai thác; chủ động và tích cực tham gia đầu tư ra các lô khác, đặc biệt là vùng nước sâu,
xa bờ Đẩy mạnh các dự án đầu tư ở nước ngoài, trong đó
ưu tiên tham gia các dự án ở Liên bang Nga; đảm bảo sản lượng khai thác dầu quy đổi sau năm 2010 không thấp hơn 7 triệu tấn/năm và tăng trưởng nhanh Vietsovpetro tiếp tục khẳng định rõ vai trò đầu tầu trong toàn Tập đoàn, tạo mọi điều kiện thuận lợi trong việc phối hợp với các đơn vị trong ngành, cá c địa phương phát huy nội lực cùng hội nhập, cù ng phát triển, đặc biệt là trong lĩnh vực dịch
vụ kỹ thuật dầu khí; tiếp tục làm tốt công tác an sinh xã hội, giúp đỡ các địa phương, nhất là các tỉnh, cá c huyệ n nghèo trong cả nướ c Tiếp tục đổi mới toàn diện và quyết liệt từ tư duy đến hành động trong công tác điều hành quản lý, cải cách hành chính, phát huy những thế mạnh
về vốn, nghiên cứu khoa học dầu khí, công nghệ thăm dò khai thác và trình độ sản xuất hiện có, xây dựng và đảm bảo Liên doanh Việ t - Nga “Vietsovpetro” là doanh nghiệp kiểu mẫu của Tập đoàn về hiệ u quả sả n xuấ t kinh doanh,
về hợ p tá c quố c tế , về văn hó a doanh nghiệ p
Với phương châm hà nh độ ng: “Đồ ng tâm hiệ p lự c, đi đầu vượt khó, chủ động sáng tạo, quyết liệt đổi mới”, tập thể lao động quốc tế Việt - Nga trong Liên doanh Vietsovpetro sẽ hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong giai đoạ n mớ i, đặc biệt là tìm ra và khai thác được các mỏ dầu khí mới, xứng đáng là đơn vị đầu tàu, chủ lực của Tậ p đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam PVJ
Việt Hà
Trang 7Nhà bảo hiểm công nghiệp hàng đầu Việt Nam
Ngày 18/7/2011, tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế, Chủ
tịch nước Nguyễn Minh Triết đã trao tặng danh hiệu Anh
hùng Lao động cho Tổng công ty CP Bảo hiểm Dầu khí
Việt Nam (PVI) vì “đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong
lao động, sáng tạo, góp phần vào sự nghiệp xây dựng
Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc” Tới dự còn có đồng
chí Tô Huy Rứa - Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Trung ương
Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương; đồng chí Nguyễn
Xuân Phúc - Ủy viên Bộ chính trị, Bộ trưởng - Chủ nhiệm
Văn phòng Chính phủ; đại diện lãnh đạo Chính phủ, các
Bộ, Ban, Ngành Trung ương; lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí
Việt Nam…
Hiện nay, PVI là doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân
thọ có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, có quy mô vốn,
tổng tài sản lớn nhất thị trường bảo hiểm Việt Nam; là
nhà bảo hiểm công nghiệp đứng đầu thị trường, dẫn đầu
trong các lĩnh vực bảo hiểm trọng yếu: Bảo hiểm năng
lượng (thị phần tuyệt đối), bảo hiểm kỹ thuật và tài sản
(40%); bảo hiểm hàng hải (30%) Trong suốt 15 năm qua,
PVI hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quản lý rủi ro và thu
xếp chương trình bảo hiểm an toàn cho các công trình dầu khí (bao gồm cả các công trình tại các vùng chồng lấn) và cho các công trình trọng điểm quốc gia khác Qua
đó, PVI đóng góp quan trọng vào việc đảm bảo an ninh năng lượng và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, đồng thời tận thu cho đất nước 50 triệu USD/năm PVI là doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam duy nhất có quan hệ trực tiếp với thị trường bảo hiểm London thông qua hợp đồng tái bảo hiểm về năng lượng PVI giành được hầu hết các hợp đồng cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho các doanh nghiệp dầu khí nước ngoài tại thị trường Việt Nam Không chỉ thu ngoại tệ về cho đất nước, hoạt động này của PVI còn góp phần tích cực vào việc quản lý hoạt động của các nhà thầu dầu khí nước ngoài tại Việt Nam
Bên cạnh đó, PVI là đơn vị tiên phong ”xuất khẩu” sản phẩm bảo hiểm ra thị trường thế giới; mang lại lợi ích to lớn
về kinh tế, thu được nhiều ngoại tệ cho đất nước (hơn 20 triệu USD/năm) Khẳng định thương hiệu trên thị trường bảo hiểm trong nước và quốc tế, PVI là doanh nghiệp bảo hiểm đầu tiên tại Việt Nam liên tục trong 2 năm (2009 - 2010) được A.M Best xếp hạng năng lực tài chính ở mức B+ (Tốt); được Tạp chí Tài chính Thế giới (World Finance)
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết:
Đảm bảo an toàn cho hoạt động, tài sản
Chỉ trong vòng 15 năm, Tổng công
ty CP Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam
(PVI) đã bước những bước đi thần
tốc, từ một công ty bảo hiểm non trẻ
trên thị trường đến một Tổng công ty
bảo hiểm hàng đầu Việt Nam và trở
thành một định chế tài chính - bảo
hiểm có thương hiệu trong nước và
quốc tế, góp phần thiết thực vào công
tác đảm bảo an ninh năng lượng, bảo
vệ chủ quyền Quốc gia và công tác an
sinh xã hội Trao tặng danh hiệu Anh
hùng Lao động cho PVI, Chủ tịch nước
Nguyễn Minh Triết nhấn mạnh, trong
thời gian tới, nhiệm vụ trọng tâm của
PVI vẫn phải là đảm bảo an toàn cho
hoạt động, tài sản của Petrovietnam. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động cho Tổng công ty CP Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam Ảnh: Thu Hà
Trang 8bình chọn là “Doanh nghiệp Bảo hiểm tiêu biểu Việt Nam -
năm 2010” Là một trong những đơn vị dẫn đầu thị trường
bảo hiểm trong việc đổi mới công nghệ, có nhiều thành
tích trong việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào hoạt động
kinh doanh, PVI là đơn vị tiên phong và đã thành công
trong việc tự xây dựng hệ thống phần mềm nghiệp vụ bảo
hiểm phi nhân thọ Việc xây dựng phần mềm này đã tiết
kiệm được chi phí đầu tư từ 3 - 5 triệu USD so với phương
án mua phần mềm từ nước ngoài, đồng thời đảm bảo sự
chủ động cao trong quá trình quản trị doanh nghiệp
Tái cấu trúc để phát triển bền vững
Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết
đã biểu dương tập thể Lãnh đạo và cán bộ nhân viên PVI
“bằng tất cả trí tuệ, tâm huyết, sự quyết tâm, lòng nhiệt
tình, không ngại khó, ngại khổ, cố gắng nêu cao tinh thần
trách nhiệm, đoàn kết, sáng tạo” đã đưa PVI “trở thành nhà
bảo hiểm công nghiệp hàng đầu Việt Nam… Luôn hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ quản lý rủi ro và thu xếp chương
trình bảo hiểm an toàn cho các công trình dầu khí, bao
gồm cả các công trình tại các vùng chồng lấn và các công
trình trọng điểm quốc gia khác, đây chính là đóng góp
thiết thực của PVI cho công tác đảm bảo an ninh năng
lượng và bảo vệ chủ quyền quốc gia Bên cạnh đó, PVI
đã lồng ghép hiệu quả mục tiêu thực hiện an sinh xã hội
trong hoạt động kinh doanh của mình: trong đó chương
trình bảo hiểm An nông Việt (mà người được bảo hiểm là
bà con nông dân) vừa được PVI triển khai thực hiện là điển
hình trong việc cụ thể hóa chính sách tam nông, chương
trình an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước” Chủ tịch nước
căn dặn: “Trong thời gian tới, nhiệm vụ trọng tâm của PVI
vẫn phải là đảm bảo an toàn cho hoạt động, tài sản của
Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam”
Theo ông Nguyễn Anh Tuấn - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐQT PVI: Danh hiệu cao quý ngày hôm nay là thành quả của chặng đường 15 năm liên tục đổi mới và phát triển, của không ngừng phấn đấu và chấp nhận thách thức PVI
đã chọn lối đi khác biệt trên một con đường gian nan nhưng đầy sáng tạo, chông gai nhưng cháy bỏng niềm tin Hiện nay, PVI đãng thực hiện Chiến lược tăng tốc phát triển giai đoạn 2011- 2015 trong đó nổi bật là việc triển khai tái cấu trúc PVI theo mô hình công ty mẹ - con trên cơ
sở các chuẩn mực quốc tế Ông Bùi Vạn Thuận - Tổng giám đốc PVI cho biết: Công ty mẹ sẽ thực hiện việc quản trị các công ty con thông qua vốn, chiến lược phát triển, thương hiệu, thị trường và công nghệ; các công ty con thực hiện các chức năng kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ, kinh doanh tái bảo hiểm, quản lý quỹ, quản
lý tài sản, đầu tư dự án… và các dịch vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật Việc ra đời PVI Holdings và 2 đơn vị thành viên (Tổng công ty Bảo hiểm PVI hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ và Công
ty Tái bảo hiểm PVI hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tái bảo hiểm) là bước đi “tiên phong” trong công tác đổi mới mô hình quản trị của một doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam và là sự thay đổi về chất của PVI theo xu hướng hội nhập quốc tế PVJ
Tính đến hết Quý I/2011, vốn điều lệ của PVI đạt 1.600 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu đạt 3.702 tỷ đồng và tổng tài sản đạt hơn 6.890 tỷ đồng PVI cũng là doanh nghiệp có lợi nhuận lớn nhất thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam với tốc độ tăng trưởng doanh thu bình quân là 39% năm (tốc độ tăng trưởng chung của thị trường bảo hiểm Việt Nam bình quân là 24% năm) Tăng trưởng về lợi nhuận gấp 73 lần sau 15 năm (năm 1996: 4,6 tỷ đồng; năm 2010: 336 tỷ đồng) Tổng nộp ngân sách trong 15 năm đạt trên 1.200 tỷ đồng.
Thu Hà
Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải và lãnh đạo Tập đoàn chúc mừng Ban lãnh đạo PVI Holdings tại Lễ ra mắt Ảnh: Thu Hà.
Trang 9Đòn bẩy gia tăng giá trị tài nguyên
Trong chương trình khảo sát và làm việc với Bộ
Công Thương về tình hình hoạt động KHCN, sáng ngày
29/6/2011, Đoàn công tác của Chính phủ do Phó Thủ
tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân dẫn đầu đã đến
thăm và làm việc với Viện Dầu khí Việt Nam Cùng đi với
Phó Thủ tướng có đại diện các Bộ: Bộ Công Thương, Bộ Kế
hoạch Đầu tư, Bộ Nội vụ, Bộ Khoa học Công nghệ, Bộ Tài
chính, Vụ KHCN - Ban Tuyên giáo Trung ương Phó Thủ
tướng Nguyễn Thiện Nhân cùng đoàn công tác của Chính
phủ đã tham quan cơ sở vật chất, quy trình làm việc của
Phòng Thí nghiệm chống ăn mòn, Trung tâm Ứng dụng
và Chuyển giao Công nghệ; Phòng Thí nghiệm công nghệ
mỏ, Phòng Thí nghiệm Địa hóa, Trung tâm Nghiên cứu
Tìm kiếm Thăm dò và Khai thác Dầu khí; Trung tâm Lưu
trữ Dầu khí Qua trao đổi với cán bộ trực tiếp làm công
tác nghiên cứu khoa học của Viện Dầu khí Việt Nam, Phó
Thủ tướng đánh giá cao năng lực trình độ của cán bộ làm
công tác nghiên cứu khoa học tại Viện Dầu khí Việt Nam đối với sự phát triển của Ngành Dầu khí Việt Nam và của đất nước, đặc biệt là một số lĩnh vực đã đạt được sự tin cậy của đối tác quốc tế
Tại buổi làm việc, TSKH Phùng Đình Thực - Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã báo cáo với Phó Thủ tướng Chính phủ cùng đoàn công tác kết quả sản xuất kinh doanh Tập đoàn đã đạt được trong 6 tháng đầu năm
2011 Tập đoàn đã hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu cơ bản, góp phần cùng Chính phủ triển khai Nghị quyết số 11/NQ-CP, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế
vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội Giới thiệu với Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân “Chiến lược tăng tốc phát triển Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đến 2015, định hướng đến 2025”, TSKH Phùng Đình Thực nhấn mạnh: Quan điểm chiến lược là xây dựng Petrovietnam thành tập đoàn kinh tế năng động, có năng lực cạnh tranh ở trong nước và quốc tế, đạt hiệu quả kinh doanh cao, bằng
Tại buổi làm việc với Viện
Dầu khí Việt Nam, Phó Thủ
đoàn Dầu khí Quốc gia Việt
Nam tăng tốc phát triển bền
vững, Viện Dầu khí Việt Nam
cần tiếp tục nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực, đẩy
mạnh công tác nghiên cứu
khoa học, xứng đáng là “bộ
não” của Tập đoàn, để sản
phẩm trí tuệ của Viện không
chỉ cung cấp cho nội bộ Tập
đoàn, mà sẽ vươn ra cung cấp
cho các đối tác trên thế giới.
Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân:
Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân nghe giới thiệu về cơ sở vật chất của Trung tâm Ứng dụng và Chuyển giao Công nghệ - Viện Dầu khí Việt Nam Ảnh: Hồng Văn
Trang 10cách đẩy mạnh hoạt động và tập trung đầu tư vào 5 lĩnh
vực kinh doanh cốt lõi đó là: tìm kiếm thăm dò và khai
thác dầu khí, lọc hóa dầu, công nghiệp khí, công nghiệp
điện và dịch vụ kỹ thuật dầu khí, gia tăng giá trị tài nguyên
dầu khí trong nước, gia tăng nguồn tài nguyên dầu khí từ
nước ngoài Để triển khai mục tiêu này, Tập đoàn chỉ đạo,
triển khai tổ chức thực hiện quyết liệt đồng bộ hệ thống
các giải pháp, trong đó tập trung cao độ thực hiện 3 nhóm
giải pháp đột phá: giải pháp phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao; giải pháp trong lĩnh vực KHCN; giải pháp
trong lĩnh vực quản lý, tiếp cận phương pháp quản lý theo
chuẩn mực quốc tế
Đối với giải pháp đột phá trong lĩnh vực KHCN, TSKH
Phùng Đình Thực nhấn mạnh, điều quan trọng là phải đổi
mới tư duy và nhận thức đúng vai trò, tầm quan trọng của
KHCN Có nhận thức đúng mới ra vốn, ra chính sách, ra
con người và thiết bị Tiếp theo là nâng cao năng lực cơ
sở nghiên cứu khoa học, trong đó tập trung đầu tư con
người và thiết bị, công nghệ hiện đại Đối với các cơ sở
sản xuất, phải áp dụng công nghệ hiện đại nhất để tạo ra
sản phẩm tốt nhất, mang tính cạnh tranh cao Về quan hệ
nghiên cứu và sản xuất thì khâu thiết kế cũng được coi là
đột phá trong công tác NCKH, nếu không làm được điều
này chúng ta sẽ không thực hiện được hợp đồng EPC
Sau thiết kế là chế tạo cơ khí, thiết bị, phương tiện, đặc
biệt là giàn khoan Trong khâu chế tạo, Tập đoàn đang
phối hợp với các đơn vị trong và ngoài nước, phát huy
sức mạnh nội lực Từ NCKH, thiết kế, chế tạo và đưa vào
thực tiễn sản xuất có mối quan hệ rất chặt chẽ, dựa trên
cơ sở nghiên cứu khoa học Để làm được điều này, Tập
đoàn xây dựng chính sách phát triển KHCN để giải phóng
sức sáng tạo KHCN, hình thành Quỹ phát triển KHCN để
ứng dụng công nghệ mới; tăng cường hợp tác quốc tế;
gắn công tác nghiên cứu khoa học với thực tiễn sản xuất,
giải quyết những vấn đề đang đặt ra và sẽ đặt ra trong
tương lai
Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cho biết,
về chất lượng tăng trưởng trong lĩnh vực KHCN, bên cạnh
số lượng đề tài, Tập đoàn đánh giá chất lượng của Viện
Dầu khí căn cứ vào đề tài được áp dụng trong thực tế; sau
khi áp dụng, chất lượng sản phẩm được phản hồi lại như
thế nào, có ra được kết quả gì cụ thể hay không Trong
giai đoạn tới, Tập đoàn quyết tâm đưa Viện Dầu khí Việt
Nam hoạt động theo mô hình Nghị định 115, tiếp tục đổi
mới trang thiết bị, tập trung vào lĩnh vực cốt lõi là tìm
kiếm thăm dò khai thác dầu khí, lọc hóa dầu, chống ăn
mòn, an toàn môi trường, trong đó tập trung hoàn thành
đề án quan trọng “Đánh giá tiềm năng dầu khí trên vùng biển và thềm lục địa Việt Nam” Bên cạnh đó, Viện Dầu khí Việt Nam triển khai những vấn đề nghiên cứu dài hơi hơn như: gas hydrate, khai thác mỏ cận biên, mỏ khí chứa CO2, dầu nặng…
Khẳng định quan điểm chỉ đạo thống nhất và xuyên suốt về vai trò của KHCN đối với sự phát triển của Ngành Dầu khí Việt Nam, đồng chí Đinh La Thăng - Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cho biết: Đối với Tập đoàn Dầu khí, KHCN là một công cụ rất quan trọng, đầu tư cho KHCN là nhu cầu thực sự bởi đó là một trong ba giải pháp đột phá
để Tập đoàn tăng tốc phát triển Trong chiến lược phát triển, Tập đoàn sẽ thành lập Học viện Dầu khí Việt Nam trong đó có viện nghiên cứu khoa học, trường đại học, trường cao đẳng nghề Tập đoàn xác định Viện Dầu khí Việt Nam là “bộ não” tư vấn cho lãnh đạo Tập đoàn trong việc ra các quyết sách quan trọng nhất, chiến lược, cũng như kế hoạch cụ thể để nâng cao hiệu quả, cũng như gia tăng chất lượng tăng trưởng… Để thực hiện nhiệm vụ
đó, Viện Dầu khí Việt Nam cần có chính sách thu hút nhân tài, tiếp tục nâng cao đời sống cho các cán bộ làm công tác nghiên cứu khoa học “Hiệu quả của Viện Dầu khí Việt Nam chính là hiệu quả từ hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị thành viên, hiệu quả từ các công trình dự
án của Tập đoàn” - đồng chí Đinh La Thăng nhấn mạnh
Vươn lên làm chủ khoa học công nghệ
TS Phan Ngọc Trung - Viện trưởng Viện Dầu khí Việt Nam cho biết: Sau gần ba năm hoạt động theo mô hình
tổ chức khoa học và công nghệ tự trang trải kinh phí theo Nghị định 115, hoạt động NCKH và triển khai dịch vụ KHCN của Viện đã có những chuyển biến đáng kể, tăng cả
về lượng và chất Các kết quả NCKH của Viện phục vụ trực tiếp cho sản xuất kinh doanh của Tập đoàn, là cơ sở khoa học tư vấn cho Nhà nước, Bộ, Ngành trong mọi hoạt động dầu khí Chất lượng dịch vụ KHCN đã đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của khách hàng, phục vụ hiệu quả cho hoạt động thực tiễn sản xuất kinh doanh của các công ty/nhà thầu Từ đầu năm 2011 đến nay, Viện đã có 2 đơn đăng ký sáng chế được Cục Sở hữu Trí tuệ - Bộ KHCN chấp nhận và đang tiến hành thẩm định là: Chế phẩm dùng để tăng cường thu hồi dầu từ các mỏ dầu; Thiết bị xác định khả năng thu hồi dầu của dung dịch được sử dụng trong tăng cường thu hồi dầu ở các mỏ dầu
Đối với lĩnh vực tìm kiếm thăm dò và khai thác, hoạt động KHCN tập trung chủ yếu vào xử lý, minh giải tài
Trang 11liệu địa chất, địa vật lý đã góp phần làm sáng tỏ các cấu
trúc địa chất, đánh giá tiềm năng dầu khí các bể trầm
tích trên đất liền và thềm lục địa Việt Nam cũng như ở
nước ngoài - nơi có hoạt động dầu khí của Tập đoàn như:
Algeria, Malaysia, Iraq ; góp phần vào việc phát hiện
dầu khí trong đá móng trước Kainozoi, chú trọng nghiên
cứu xây dựng các mô hình địa chất, mô phỏng mỏ dầu
khí làm cơ sở tối ưu hoá công tác khoan, khai thác, bơm
ép nước, gia tăng trữ lượng, nâng cao hệ số thu hồi dầu;
đồng hành cùng Tập đoàn và các đơn vị thành viên thực
hiện công tác thăm dò, khai thác mỏ ở nước ngoài; bắt
đầu triển khai nghiên cứu, xác định nguồn tài nguyên
dầu khí phi truyền thống
Các nghiên cứu khoa học ở khâu sau như lập cơ sở dữ
liệu về tính chất dầu thô, khí, condensat Việt Nam, nghiên
cứu định hướng và lựa chọn sơ đồ công nghệ, bản quyền
công nghệ, đánh giá lựa chọn xúc tác, đánh giá lựa chọn
nguyên liệu cho các nhà máy chế biến dầu khí ở Việt Nam
đã góp phần đáng kể cho việc xây dựng chiến lược, quy
hoạch phát triển lĩnh vực chế biến dầu khí của Nhà nước
và Tập đoàn, thúc đẩy quá trình đưa các nhà máy lọc hóa
dầu đi vào hoạt động và nâng cao hiệu quả hoạt động của
các nhà máy
Các nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực an toàn và
môi trường như khảo sát, đánh giá, quan trắc tác động
môi trường, môi trường lao động, nghiên cứu lựa chọn
hóa chất thân thiện với môi trường, xây dựng kế hoạch
ứng cứu tràn dầu góp phần đảm bảo an toàn cho mọi
hoạt động dầu khí Nghiên cứu chống ăn mòn các công
trình dầu khí (các đường ống khí, các nhà máy điện, nhà
máy đạm) cũng được đẩy mạnh và ứng dụng thực tiễn
Các nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh lực kinh tế và quản lý
như quy hoạch phát triển công nghiệp khí; chiến lược, quy
hoạch hệ thống dự trữ dầu mỏ quốc gia; nghiên cứu thị
trường công nghệ, đánh giá các hoạt động đầu tư và quản
lý, thẩm định dự án, báo cáo đầu tư tuy chưa nhiều nhưng
đã bước đầu góp phần hoàn thiện Chiến lược phát triển
Ngành Dầu khí Việt Nam và góp phần xây dựng hoàn thiện
cơ chế quản lý của Tập đoàn
Nền tảng cho sự phát triển bền vững
Phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc, Phó Thủ tướng
Nguyễn Thiện Nhân đánh giá cao Tập đoàn Dầu khí Việt
Nam đầu tư cơ sở hạ tầng hiện đại, máy móc thiết bị đồng
bộ góp phần tăng năng lực nghiên cứu khoa học, đưa
Viện Dầu khí Việt Nam có những bước phát triển vượt bậc,
trở thành đơn vị nghiên cứu có uy tín trong và ngoài nước Đặc biệt, Phó Thủ tướng Chính phủ đồng tình với quan điểm của lãnh đạo Tập đoàn về vai trò của KHCN, sử dụng KHCN như một công cụ đắc lực cho sự phát triển của Tập đoàn Việc lãnh đạo Tập đoàn coi Viện Dầu khí Việt Nam như “bộ não” của Tập đoàn, là “Ngọn lửa Trí tuệ Dầu khí Việt Nam”, theo Phó Thủ tướng thì đó là một cách gửi gắm niềm tin nơi các nhà khoa học và mong rằng Viện Dầu khí Việt Nam sẽ phát triển xứng đáng với danh hiệu ấy.Phó Thủ tướng khẳng định: KHCN cùng với nguồn nhân lực là nền tảng cho đất nước phát triển bền vững, hiệu quả; là một trong 3 khâu đột phá trong giai đoạn
10 năm tới Để đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, cần huy động
và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước, trong
đó có vai trò đặc biệt quan trọng của KHCN và nguồn nhân lực chất lượng cao Đặc biệt quan tâm tới các kiến nghị của Tập đoàn, Viện trong việc hoàn thiện cơ chế chính sách để phát triển KHCN trong thời gian tới, Phó Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam phải tăng tốc bằng chất lượng tăng trưởng thì mới phát triển bền vững Viện Dầu khí Việt Nam cần tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, xứng đáng là “bộ não” của Tập đoàn, để sản phẩm trí tuệ của Viện không chỉ cung cấp cho nội bộ Tập đoàn, mà sẽ vươn ra cung cấp cho các đối tác trên thế giới.Tiếp thu chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ, lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Viện Dầu khí Việt Nam khẳng định sẽ tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và dịch vụ KHCN, thực hiện bằng được Chiến lược phát triển trở thành viện nghiên cứu chuyên sâu, hoàn chỉnh, đồng bộ với trang thiết bị hiện đại, đảm bảo giải quyết tất cả các vấn đề nghiên cứu và triển khai công nghệ, tư vấn có luận
cứ khoa học và thực sự là bộ não tham mưu cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn Đồng thời, Viện Dầu khí Việt Nam tiếp tục nâng cao toàn diện năng lực nghiên cứu và trình độ công nghệ, tập trung vào nghiên cứu ứng dụng, có chú ý đúng mức đến nghiên cứu cơ bản phục vụ cho sản xuất kinh doanh và cho khoa học dầu khí; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; ưu tiên phát huy nội lực, tăng cường hợp tác quốc tế, chủ động hội nhập; phấn đấu đạt trình độ tiên tiến của khu vực vào năm 2015 và trình độ tiên tiến của thế giới trong một số lĩnh vực quan trọng từ sau năm 2025 PVJ
Quỳnh Hoa
Trang 12Khai thác 7,23 triệu tấn
dầu thô
Theo ông Vũ Quang
Nam - Phó Tổng giám đốc
Tập đoàn Dầu khí Việt Nam,
trong 6 tháng đầu năm, các
chỉ tiêu về sản phẩm sản
xuất: khai thác dầu khí; sản
xuất điện, đạm đạt vượt mức
so với kế hoạch đề ra Các
chỉ tiêu tài chính (doanh thu,
nộp ngân sách Nhà nước,
thu ngoại tệ) đạt vượt mức
so với kế hoạch đề ra và tăng
trưởng cao so với cùng kỳ
năm 2010 Công tác hợp tác,
thu hút đầu tư vào các dự
án của Tập đoàn và mở rộng
hợp tác đầu tư ra nước ngoài
thu được nhiều kết quả tốt
Công tác bảo vệ chủ quyền
và biên giới Quốc gia được
triển khai tích cực, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền
và toàn vẹn lãnh thổ Quốc gia trên biển Cụ thể, tổng
doanh thu toàn Tập đoàn đạt 340 nghìn tỷ đồng, bằng
121% kế hoạch 6 tháng và 68% kế hoạch năm, tăng 45%
so với cùng kỳ năm 2010 Nộp ngân sách Nhà nước đạt
75 nghìn tỷ đồng, bằng 126% so với kế hoạch 6 tháng và
bằng 73% kế hoạch năm, tăng 31% so với cùng kỳ năm
2010 Lợi nhuận trước thuế toàn Tập đoàn đạt 49,9 nghìn
tỷ đồng, bằng 134% kế hoạch 6 tháng, bằng 68% kế hoạch
năm, tăng 44% so với cùng kỳ
Trong lĩnh vực tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí, Tập đoàn đã thu nổ trên 7.041km địa chấn 2D và 1.328km2
địa chấn 3D; triển khai khoan thăm dò thẩm lượng 13 giếng; có 2 phát hiện dầu khí mới; gia tăng trữ lượng dầu khí đạt 10,2 triệu tấn thu hồi Tổng sản lượng khai thác quy dầu đạt 11,91 triệu tấn, bằng 104% kế hoạch 6 tháng
và 51,3% kế hoạch năm 2011, trong đó: sản lượng khai thác dầu thô đạt 7,23 triệu tấn, bằng 102% kế hoạch 6 tháng và 48,2% kế hoạch năm 2011; sản lượng khai thác khí đạt 4,68 tỷ m3, bằng 107,6% kế hoạch 6 tháng và 57,0% kế hoạch năm 2011 Trong nửa đầu năm nay, Tập
Doanh thu 6 tháng đầu năm bằng 25% GDP cả nước
Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam:
Ngày 5/7/2011, TSKH Phùng Đình Thực - Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam chủ trì cuộc họp báo trực tuyến công bố kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh 6 tháng đầu năm, nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2011 tại 4 điểm cầu Hà Nội, Quảng Ngãi, Tp HCM và Vũng Tàu Theo đó, tổng doanh thu toàn Tập đoàn 6 tháng đầu năm 2011 đạt 340 nghìn tỷ đồng, bằng 68% kế hoạch năm, tăng 45% so với cùng kỳ năm 2010, tương đương 25% GDP của cả nước.
TSKH Phùng Đình Thực - Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam chủ trì cuộc họp báo công bố kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh 6 tháng đầu năm, nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2011 Ảnh: Ngọc Linh
Trang 13đoàn đã cung cấp cho các hộ tiêu thụ trong nước 4,64 tỷ
m3 khí khô, 30 nghìn tấn condensate, 128 nghìn tấn LPG;
cung cấp cho lưới điện quốc gia 7,11 tỷ KWh; sản xuất 360
nghìn tấn phân urê, nhập khẩu trên 76 nghìn tấn phân
bón các loại Sản phẩm sản xuất từ Nhà máy Lọc dầu
Dung Quất đạt 2,97 triệu tấn, bằng 96% kế hoạch 6 tháng
và 57,4% kế hoạch năm, trong đó: LPG là 179 nghìn tấn,
xăng A92 là 800,1 nghìn tấn, xăng A95 là 314,0 nghìn tấn,
xăng Jet A1 là 53,2 nghìn tấn, dầu diesel là 1530,7 nghìn
tấn, dầu FO là 36,4 nghìn tấn và polypropylen 60 nghìn
tấn Sản phẩm xăng dầu từ Nhà máy condensate Phú Mỹ
đạt 258,4 nghìn tấn, tính chung sản phẩm xăng dầu các
loại toàn Tập đoàn 6 tháng đạt gần 3 triệu tấn, bằng 96%
kế hoạch 6 tháng, 53,4% kế hoạch cả năm và tăng 25,3%
so với cùng kỳ năm 2010 Sản lượng kinh doanh xăng
dầu đạt 2,23 triệu tấn, bằng 100% kế hoạch 6 tháng, tăng
20,2% so với cùng kỳ năm 2010, trong đó từ nguồn nhập
khẩu là 809 nghìn tấn Hoạt động dịch vụ dầu khí tiếp
tục được đẩy mạnh, doanh thu dịch vụ dầu khí 6 tháng
đạt 94 nghìn tỷ đồng, bằng 116% kế hoạch 6 tháng, 51%
kế hoạch cả năm và tăng 38% so với cùng kỳ năm 2010,
chiếm 27,6% tổng doanh thu toàn Tập đoàn
Quyết liệt thực hiện Nghị quyết 11/NQ-CP
Ý thức đầy đủ về trách nhiệm của tập đoàn kinh tế
hàng đầu của đất nước, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã xây
dựng và triển khai chương trình hành động cụ thể nhằm
thực hiện thắng lợi Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ
về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát,
ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội Tập đoàn
đã tập trung tối đa mọi nguồn lực để đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh; các đơn vị PV GAS, PV OIL, PETEC, PVFCCo… đã chủ động nguồn cung các sản phẩm thiết yếu (xăng dầu, đạm, khí hoá lỏng) để tham gia cùng Chính phủ bình ổn thị trường Tập đoàn cũng tổ chức làm việc thường xuyên để đôn đốc, hỗ trợ Liên doanh Việt - Nga “Vietsovpetro”, PVEP, Rusvietpetro
và các nhà thầu dầu khí thực hiện đúng chương trình công tác và ngân sách đã phê duyệt Triển khai thực hiện các dự án đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị để chủ động triển khai công tác khảo sát, điều tra cơ bản và tìm kiếm thăm dò dầu khí trên biển Đông Tiếp tục kêu gọi các công ty dầu khí lớn trên thế giới đầu tư tìm kiếm thăm dò dầu khí ở trong nước, đồng thời tìm kiếm các cơ hội tốt để đầu tư ra nước ngoài Xây dựng giải pháp cụ thể và kế hoạch khai thác dầu khí chi tiết theo tuần đối với từng mỏ để làm cơ sở đôn đốc, giám sát và hỗ trợ các đơn vị bảo đảm hoàn thành kế hoạch sản lượng khai thác năm 2011 đã đề ra Tập đoàn chỉ đạo các đơn vị vận hành
an toàn và tối ưu hệ thống các đường ống dẫn khí Làm tốt công tác chuẩn bị để bảo dưỡng các hệ thống đường ống dẫn khí trong năm 2011 Đẩy nhanh tiến độ triển khai phương án nhập khẩu khí bảo đảm nguồn cung cấp khí lâu dài, ổn định cho các hộ tiêu thụ trong nước góp phần bảo đảm an ninh năng lượng… Tổ chức kiểm tra công tác vận hành, điều kiện kỹ thuật, tình hình dự trữ vật tư, phụ tùng, kế hoạch thực hiện bảo dưỡng các nhà máy điện, Nhà máy Đạm Phú Mỹ, NMLD Dung Quất, bảo đảm vận hành an toàn và tối ưu công suất Tổ chức thực hiện công tác dự báo theo từng tuần, từng tháng để đánh giá mức
độ ảnh hưởng, tác động của biến động tỷ giá, giá dầu thô,
giá xăng dầu và các nguyên liệu cơ bản đầu vào của sản xuất…
Đồng thời, Tập đoàn cũng chỉ đạo PV OIL điều phối công tác xuất - nhập khẩu dầu thô, đảm bảo đạt hiệu quả cao nhất về nguồn thu ngoại
tệ và cung cấp kịp thời, đầy đủ và an toàn dầu thô cho NMLD Dung Quất Các đơn vị đầu mối tiêu thụ xăng dầu của Tập đoàn (PV OIL, PETEC) đã phối hợp chặt chẽ với các đầu mối tiêu thụ xăng dầu trong nước trong việc tiêu thụ hết các sản phẩm xăng dầu của NMLD Dung Quất, cùng với việc chủ động nguồn xăng dầu nhập khẩu để luôn đáp ứng đủ nhu cầu cho thị trường
Mỏ Rạng Đông Ảnh: CTV
Trang 14Các đơn vị đã tăng cường giám sát, củng cố phát triển
các kênh phân phối, bảo đảm cung cấp nhanh chóng sản
phẩm, hàng hoá, dịch vụ đến người tiêu dùng với giá cả
hợp lý; triển khai các giải pháp bảo đảm cân đối cung - cầu
các loại hàng hóa thiết yếu của Tập đoàn phục vụ nhu cầu
tiêu dùng trong nước như: xăng, dầu, đạm, khí hoá lỏng
theo từng tháng/quý; triển khai phát triển thị trường tiêu
thụ cho 3 sản phẩm mới của Tập đoàn trong năm 2011
là: xăng E5, phân đạm hạt đục và xơ sợi polyester Tăng
cường công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ các kênh phân
phối, các đại lý, các điểm bán hàng để chống hàng giả,
hàng nhái, hàng kém chất lượng; kịp thời và chủ động có
các phương án, giải pháp để tham gia bình ổn thị trường
trong nước
Bên cạnh đó, Tập đoàn chỉ đạo các đơn vị tích cực ứng
dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, chú trọng đào tạo
và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm nâng
cao năng suất lao động, chất lượng các sản phẩm, dịch vụ
phục vụ trong Ngành, làm chủ các công nghệ vận hành,
bảo dưỡng sữa chữa các nhà máy, phương tiện… của Tập
đoàn; đồng thời từng bước nâng cao khả năng cung ứng,
cạnh tranh về giá cả và chất lượng dịch vụ; củng cố và mở
rộng thị trường dịch vụ kỹ thuật Dầu khí ở trong nước,
tiếp tục mở rộng cung ứng dịch vụ ra thị trường nước
ngoài, đặc biệt là triển khai cung cấp dịch vụ cho các dự
án tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí của Tập đoàn
ở nước ngoài (Nga, Algieria, Uzerbekistan, Venezuela…)
và các nhà thầu dầu khí hoạt động trong khu vực Tập
trung mọi nguồn lực hoàn thành đúng tiến độ đầu tư các
dự án; tiến hành rà soát, sắp xếp lại toàn bộ danh mục,
tiến độ các dự án đầu tư, tập trung vốn cho các dự án
đầu tư thuộc lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính của Tập
đoàn và có khả năng hoàn thành trong năm 2011 - 2012,
kết quả rà soát đã đình hoãn 12 dự án, giãn tiến độ 44
dự án đầu tư với tổng giá trị đình hoãn, giãn tiến độ các
dự án là trên 7,25 nghìn tỷ đồng Đẩy mạnh công tác xúc
tiến đầu tư thu hút các nhà đầu tư nước ngoài tham gia
góp vốn vào các dự án trong điểm; thực hiện huy động
và quản lý sử dụng vốn linh hoạt; rà soát, cân đối thu - chi
ngoại tệ để chủ động phối hợp với các Ngân hàng đảm
bảo ngoại tệ phục vụ cho sản xuất kinh doanh, đầu tư
của Tập đoàn và các đơn vị; lựa chọn sử dụng hiệu quả
các nguồn vốn vay, giảm thiểu rủi ro về tỷ giá… Chỉ đạo
các đơn vị kiểm soát chặt chẽ giá thành, giá vốn các sản
phẩm hàng hóa và dịch vụ kết hợp với đổi mới quản trị
doanh nghiệp bảo đảm chất lượng và giá sản phẩm hàng
hoá, dịch vụ ở mức cạnh tranh hợp lý Tập đoàn tích cực
thực hiện công tác đổi mới và tái cấu trúc doanh nghiệp, triệt để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (6 tháng đầu năm toàn Tập đoàn tiết kiệm được 2.500 tỷ đồng, bằng 75% kế hoạch cả năm), đẩy mạnh thực hiện công tác an sinh xã hội (6 tháng đạt gần 340 tỷ đồng, bằng 56% so với
kế hoạch cam kết)…
Đưa 5 mỏ dầu khí mới vào khai thác
Trong 6 tháng cuối năm 2011, Tập đoàn triển khai đồng bộ các giải pháp để hoàn thành vượt mức kế hoạch, trong đó khai thác 7,8 triệu tấn dầu thô; 3,5 tỷ m3 khí, sản xuất 410 nghìn tấn phân đạm, 12,3 tỷ Kwh điện, 5.600 tấn xăng dầu các loại… Doanh thu cả năm 2011 ước đạt 640 nghìn tỷ đồng, nộp ngân sách Nhà nước ước đạt 138,4 nghìn tỷ đồng Một trong những nhiệm vụ quan trọng
là Tập đoàn đôn đốc, chỉ đạo các nhà thầu khai thác dầu khí đưa ra các giải pháp nhằm đảm bảo an toàn, tuân thủ đúng sơ đồ công nghệ và kế hoạch sản lượng khai thác
đã được phê duyệt; đưa 5 mỏ dầu khí mới vào khai thác là: mỏ Visovoi - Nhennhexky (Liên bang Nga), mỏ Tê giác Trắng, mỏ Đại Hùng giai đoạn II, mỏ Chim Sáo và mỏ Dana
lô SK305 - Malaysia
Trao đổi với báo chí, Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, TSKH Phùng Đình Thực khẳng định: Tập đoàn kiên trì thực hiện các hoạt động tìm kiếm thăm dò dầu khí trên vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam theo Công ước Luật biển quốc tế năm 1982 Từ nay đến cuối năm
2011, Tập đoàn sẽ đưa ra thị trường 3 sản phẩm mới, đó là
sơ xợi polyester, giàn khoan 90m nước lần đầu tiên được đóng tại Việt Nam và sản phẩm nhiên liệu sinh học ethanol Đồng thời, Tập đoàn sẽ thực hiện tốt chủ trương
“Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” của Bộ Chính trị và Chỉ thị số của Thủ tướng Chính phủ về sử dụng vật tư, hàng hoá sản xuất trong nước trong công tác đấu thầu các dự án đầu tư sử dụng vốn Nhà nước; nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh của các đơn vị cung cấp dịch vụ trong ngành để tiếp tục phát huy nội lực, tăng cường ưu tiên sử dụng dịch vụ/hàng hoá trong ngành, trong nước phục vụ các hoạt động dầu khí Đối với công tác bảo dưỡng tổng thể NMLD Dung Quất, Tổng giám đốc Tập đoàn nhấn mạnh: “Chúng tôi đang phát động đợt thi đua đặc biệt trong đội ngũ cán bộ, kỹ sư, công nhân Nhà máy nhằm bảo đảm NMLD Dung Quất sẽ hoạt động trở lại sau 62 ngày bảo dưỡng Toàn thể cán bộ, kỹ sư, công nhân viên Ngành Dầu khí đều thấu hiểu, nếu để Nhà máy chậm hoạt động trở lại một ngày, là một ngày đất nước bị giảm nguồn thu ngoại tệ” PVJ
Việt Hà
Trang 15Kể từ Đại hội IV Công đoàn Dầu khí Việt Nam đến
nay, thấm thoắt đã nửa nhiệm kỳ, đó cũng là giai
đoạn gắn liền với sự phát triển đồng bộ, toàn diện, vượt
bậc của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam Giai đoạn
này, Đại hội Đảng bộ Tập đoàn lần thứ I đã thống nhất nhận
định: “Thương hiệu và hình ảnh của Tập đoàn Dầu khí Quốc
gia Việt Nam được nâng lên tầm cao mới cả ở trong nước và
quốc tế; khẳng định vai trò của tập đoàn kinh tế mạnh, giữ
vị trí đầu tàu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô, duy trì phát triển
sản xuất kinh doanh tăng trưởng cao, tạo nguồn thu lớn cho
ngân sách quốc gia, quy mô vốn sở hữu của Tập đoàn tăng
vượt trội, tích cực thực hiện công tác an sinh xã hội, đảm bảo
an ninh năng lượng, an ninh lương thực và chủ động tham
gia bảo vệ, giữ vững chủ quyền, an ninh quốc gia trên biển
Gắn kết giữa nghiên cứu, triển khai, ứng dụng khoa học -
công nghệ, đào tạo và sản xuất, kinh doanh; quy mô phát
triển không chỉ ở trong nước mà ngày càng vươn xa ra ngoài
nước, góp phần quan trọng vào việc tạo dựng hình ảnh Việt
Nam trong khu vực và trên thế giới, đóng góp thiết thực cho
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa Tập đoàn đã chuyển đổi thành công, hoàn thiện tổ
chức và hoạt động theo mô hình tập đoàn kinh tế Nhà nước,
kiện toàn hệ thống chính trị và triển khai sâu rộng Cuộc vận
động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
đã làm tăng sức mạnh, vai trò, vị trí, năng lực và sức chiến
đấu của Đảng bộ Từ những kết quả, thành tích đã đạt được,
Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam vinh dự được Đảng,
Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động và Huân
chương cao quý nhất: Huân chương Sao Vàng” Những kết
quả to lớn ấy, bảng vàng thành tích ấy do những người lao động Dầu khí chung tay, góp sức, miệt mài cống hiến, vượt qua gian khó, bất kể hiểm nguy tạo dựng nên Dưới
sự lãnh đạo của Đảng bộ, sự chỉ đạo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, các cấp công đoàn trong toàn Ngành
đã đồng hành với người lao động trên chặng đường gian khó nhưng đầy vinh quang ấy
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đáng phấn khởi trên thì điều đáng quan ngại là sự bất cập trong hoạt động công đoàn chưa theo kịp với sự phát triển, lớn mạnh của đội ngũ người lao động và phong trào công nhân trong toàn Tập đoàn, chưa tận dụng hết ưu thế của tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí hàng đầu, trụ cột của nền kinh tế đất nước
Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã nêu rõ: “Quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng phát triển giai cấp công nhân cả
về số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình
độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động” Liên hệ với Công đoàn Dầu khí Việt Nam, cần nhấn mạnh lại một số nội dung chúng tôi đã có dịp trao đổi tại Đại hội IV Công đoàn Dầu khí Việt Nam đó là:
Thứ nhất, cần mạnh dạn đổi mới nội dung, phương hướng hoạt động, chỉ đạo, hướng dẫn các tổ chức công đoàn cơ sở, tránh máy móc, đơn điệu, thụ động Chủ động tháo gỡ khó khăn trong các công ty cổ phần, công ty liên doanh…
Thứ hai, hoạt động của công đoàn cần gắn chặt với mục tiêu chiến lược Tăng tốc phát triển; tạo môi trường để
được phong trào công nhân lao động vững mạnh
Đinh La Thăng
Ủy viên BCH Trung ương Đảng
Bí thư Đảng ủy - Chủ tịch Hội đồng Thành viên Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị Công đoàn Dầu khí Việt Nam giữa nhiệm kỳ VI (2008 - 2013), đồng chí Đinh La Thăng - Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam nhấn mạnh: Công đoàn phải đưa ra được những tiêu chí cụ thể và thực hiện bằng được bộ tiêu chuẩn chất lượng cán bộ công nhân viên chức Dầu khí, xứng tầm là chủ nhân của một đơn vị đầu tàu Tạp chí Dầu khí xin trân trọng giới thiệu với độc giả bài phát biểu của đồng chí Đinh La Thăng tại Hội nghị.
Trang 16công đoàn viên rèn luyện, phấn đấu, tạo động lực, thúc
đẩy phát triển ở từng đơn vị và toàn Tập đoàn Loại bỏ
những hoạt động mang tính thời vụ, bề nổi, kém hiệu
quả, “hình thức chủ nghĩa” Công đoàn cần sát cánh với
người lao động, động viên thi đua lao động sản xuất, phát
huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, đẩy mạnh phong trào thi
đua trên các công trình, dự án trọng điểm Nhà nước và
của Ngành
Thứ ba, thực hiện tốt vai trò cầu nối, hiệp thương của
công đoàn giữa người sử dụng lao động và người lao
động, đảm bảo quyền lợi chính đáng của người lao động,
tạo không khí làm việc, tinh thần đoàn kết, thân ái, sẻ chia
là những yếu tố quan trọng nhất làm nên sức mạnh tập
thể thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của từng đơn vị
Thứ tư, tăng cường việc tham gia của tổ chức công
đoàn vào công tác quản lý doanh nghiệp Từ chức năng,
nhiệm vụ của tổ chức đã được quy định trong điều lệ, cần
xác định nội hàm của việc tham gia quản lý, qua đó làm tốt
vai trò của việc tham mưu cho cấp ủy và lãnh đạo đơn vị
Đó là cách thức khẳng định vị thế tổ chức công đoàn các
cấp Trước mắt, Công đoàn Ngành cần chủ động tích cực
triển khai, giám sát việc thực hiện nghị quyết của Đảng ủy
Tập đoàn về nhà ở cho công nhân, chế độ chính sách cho
cán bộ công đoàn, công tác cán bộ nữ và phát triển đảng
viên mới cũng như các vấn đề liên quan đến tiền lương,
lao động, việc làm…
Thứ năm, chúng ta phải khẳng định tiềm năng, nhu
cầu hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao ở các
đơn vị rất lớn Tuy nhiên cần xây dựng thành phong trào
chung của toàn Ngành thông qua vai trò tổ chức, duy trì
của Công đoàn Ngành Đặc biệt Công đoàn Ngành cần
xác định rõ trách nhiệm trong việc xây dựng phong cách,
nét đẹp văn hóa của Ngành Dầu khí; tuyên truyền, động
viên người lao động Dầu khí bồi đắp tinh thần Dầu khí:
“Nhân ái, quyết liệt, chuyên nghiệp”
Và cuối cùng Công đoàn cần quan tâm và có nhiều
hoạt động thiết thực trong thời gian tới, là tìm mọi cách
chăm lo cho từng gia đình người lao động Chăm lo toàn
diện, theo chiều sâu, không chỉ dừng lại ở khía cạnh vật
chất, mà phải lo toan cùng với lo toan của người lao động,
chia sẻ những tâm trạng bất an của người lao động; không
chỉ quan tâm đến cá nhân người lao động, mà phải quan
tâm đến gia đình, bố mẹ, vợ con người lao động, chung lo
với những nỗi lo về giáo dục con cái với người lao động
Không ai có thể làm thay hoặc làm tốt hơn tổ chức Công
đoàn trong những việc như vậy Tất cả chúng ta đều phải
nhận lấy trách nhiệm ấy Công đoàn phải trở thành chỗ
dựa tin cậy của mỗi người lao động Dầu khí
Chúng ta vẫn tự hào mình là đầu tầu của nền kinh tế đất nước Mọi người đều thừa nhận vai trò đó của chúng
ta Nhưng bản thân chúng ta thì cần phải nhận thức rõ tính chất đầu tầu không phải chỉ ở quy mô tài sản mà chúng ta tạo ra hoặc đang nắm giữ Đó chỉ là khía cạnh hình thức Điều quan trọng hơn chính là chất lượng con người, thứ tài sản không thể quy được ra tiền Theo tinh thần đó, trong thời gian tới Công đoàn phải đưa ra được những tiêu chí cụ thể và thực hiện bằng được bộ tiêu chuẩn chất lượng cán bộ công nhân viên chức Dầu khí, xứng tầm là chủ nhân của một đơn vị đầu tàu Chuẩn đó phải có những yếu
tố đặc biệt, những đòi hỏi đặc biệt, khác với chuẩn thông thường, theo hướng đầu tầu về kinh tế thì cũng phải đầu tầu về tinh thần lao động, đầu tầu về nhân cách, đầu tầu trong lối sống… Những tiêu chí đưa ra phải cụ thể, mang đặc thù của Ngành, tiên phong về tính gương mẫu Một vấn đề nữa cũng hết sức quan trọng đó là phải đảm bảo môi trường làm việc sạch sẽ, an toàn cho người lao động, nếu không làm được điều này thì thực tế doanh nghiệp là người đã ăn bớt, ăn chặn của người lao động
Đảng ủy và lãnh đạo Tập đoàn bên cạnh việc trực tiếp lãnh đạo sát sao với hoạt động của Công đoàn Ngành, đã chỉ đạo các cấp ủy và lãnh đạo đơn vị trong Ngành phối hợp, tạo điều kiện tối đa để tổ chức công đoàn hoạt động tốt nhất, làm tốt vai trò, vị trí, chức năng của mình Tuy nhiên đội ngũ cán bộ công đoàn trong toàn Ngành mà trước hết
là Thường trực, Ban Thường vụ Công đoàn Dầu khí Việt Nam cần chủ động hơn nữa, đoàn kết, sáng tạo hơn nữa, quyết liệt và mạnh mẽ hơn nữa trong việc củng cố, tăng cường sức mạnh, sức chiến đấu, khả năng vận động, thuyết phục người lao động của tổ chức Công đoàn trong toàn Tập đoàn Chăm lo cho người lao động và tạo điều kiện cho hoạt động công đoàn vừa là mục tiêu vừa là động lực để phát triển Ngành Dầu khí ngày càng lớn mạnh, là đầu tàu kinh tế của cả nước cũng như trong hoạt động công đoàn
và phong trào công nhân lao động Việt Nam
Những ngày này, toàn thể cán bộ, đảng viên công nhân viên chức và người lao động Dầu khí đã nỗ lực thi đua, thiết thực hướng tới kỷ niệm 50 năm Ngày Truyền thống Ngành Dầu khí (27/11/1961 - 27/11/2011) và kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Công đoàn Dầu khí Việt Nam (16/12/1981 - 16/12/2011), tôi xin kính chúc Công đoàn Ngành cùng toàn thể anh chị em cán bộ, công nhân viên người lao động Dầu khí dồi dào sức khoẻ, năng động sáng tạo, tiếp tục phấn đấu, chung sức, chung lòng vượt qua thử thách, hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lớn lao “xây dựng ngành công nghiệp dầu khí mạnh”, “xây dựng nước Việt Nam hùng cường” như mong ước của Bác Hồ muôn vàn kính yêu của chúng ta PVJ
Trang 17Xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ,
hiệu quả
Sáng ngày 8/7/2011, Tập đoàn
Dầu khí Việt Nam đã tổ chức Hội nghị
“Công nghiệp khí Việt Nam - Định
hướng phát triển đến năm 2025”
dưới sự chủ trì của TSKH Phùng
Đình Thực - Tổng giám đốc Tập đoàn
Dầu khí Việt Nam, TS Đỗ Văn Hậu -
Phó Tổng giám đốc thường trực Tập
đoàn, ông Đỗ Đông Nguyên - Trưởng
Ban khí Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
Tham dự Hội nghị có đại diện các
Vụ, Cục thuộc Văn phòng Chính phủ,
Văn phòng Ban chỉ đạo Nhà nước
các công trình trọng điểm về dầu
khí; đại diện các Bộ: Công Thương,
Kế hoạch Đầu tư, Tài chính; đại diện
các tỉnh/thành phố: Cần Thơ, Cà Mau,
Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Thuận, Quảng
Trị…; Lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Hội Dầu khí
Việt Nam, đại diện các Ban thuộc Tập đoàn và các đơn vị
thành viên Với chủ đề “Công nghiệp khí Việt Nam - Định
hướng phát triển đến năm 2025”, Hội nghị được tổ chức
nhằm thảo luận đánh giá tình hình và triển vọng của
Ngành công nghiệp khí Việt Nam, đề xuất các giải pháp
cụ thể để thực hiện thành công Quy hoạch tổng thể phát
triển công nghiệp khí Việt Nam đã được Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt Đánh giá hiện trạng, định hướng và chiến
lược phát triển công nghiệp khí Việt Nam; phân tích đánh
giá cập nhật tiềm năng trữ lượng khả năng cung cấp khí
trong nước và khu vực; đánh giá và dự báo thị trường khí
Việt Nam nhằm phát triển hạ tầng công nghiệp khí cho
phù hợp, thảo luận lộ trình cơ chế giá thúc đẩy sự đa dạng
hóa thị trường tiêu thụ khí, đánh giá vai trò, sự cần thiết,
khó khăn và thách thức nhập khẩu khí…
Được xác định là một trong 5 lĩnh vực mũi nhọn trong Chiến lược tăng tốc phát triển của Tập đoàn, trong những năm qua, Ngành công nghiệp khí Việt Nam đã đạt những bước phát triển vượt bậc, sản lượng khai thác khí trong nước liên tục tăng với tỷ lệ 22%/năm trong giai đoạn 2004 - 2010, riêng năm 2010 đã đạt mức 9,4 tỷ m3
khí khô, cao gấp 7,6 lần so với năm 2001, góp phần xứng đáng vào việc hoàn thành nhiệm vụ của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam Hiện nay, ba hệ thống đường ống dẫn khí đang cung cấp nguồn nguyên, nhiên liệu khí đầu vào để sản xuất ra 36 tỷ Kwh điện/năm, tương ứng 40% sản lượng điện quốc gia; gần 800.000 tấn đạm/năm, tương ứng 40% sản lượng đạm cả nước; 100.000 tấn xăng/năm, tương ứng 5% sản lượng xăng sản xuất trong nước và cung cấp khoảng 250.000 tấn LPG/năm Ngành Dầu khí Việt Nam đã biến tiềm năng tự nhiên của lòng đất thành sản phẩm phục vụ nền kinh tế quốc dân, tiếp
Đảm bảo nguồn cung cấp khí ổn định, lâu dài Hội nghị Công nghiệp khí Việt Nam - Định hướng phát triển đến năm 2025:
Trên cơ sở “Quy hoạch tổng thể phát triển Ngành công nghiệp khí Việt Nam đến 2015, định hướng 2025” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 30/3/2011 (Quy hoạch do Viện Dầu khí Việt Nam thực hiện dưới sự chỉ đạo của Bộ Công Thương), Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam TSKH Phùng Đình Thực cho biết: Petrovietnam xác định con đường phát triển ngành công nghiệp khí theo hướng tăng tốc, đột phá, đảm bảo an toàn, chất lượng, hiệu quả; góp phần đảm bảo
an ninh năng lượng và đảm bảo nguồn cung cấp khí ổn định, lâu dài
TSKH Phùng Đình Thực - Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam phát biểu tại Hội nghị
"Công nghiệp khí Việt Nam - Định hướng phát triển đến năm 2025" Ảnh: Ngọc Linh
Trang 18tục chế biến nâng cao giá trị sản phẩm khí, tiết kiệm hàng
tỷ USD để thay thế dầu nhập khẩu
Ông Đỗ Đông Nguyên - Trưởng Ban Khí của Tập đoàn
Dầu khí Việt Nam cho biết, theo Quy hoạch phát triển, Tập
đoàn sẽ xây dựng 43 dự án đường ống dẫn khí trên bờ
và ngoài khơi (trong đó Nam Bộ 31 dự án, Trung Bộ 5 dự
án, Bắc Bộ 7 dự án); xây dựng 5 nhà máy xử lý khí (trong
đó Nam Bộ 2 dự án, Trung Bộ 2 dự án, Bắc Bộ 1 dự án);
xây dựng 16 kho chứa LNG và LPG Đối với khu vực Nam
bộ, việc hoàn thành và đưa vào vận hành 2 dự án khí Lô
B-Ô Môn, Nam Côn Sơn 2 và Nhà máy xử lý khí Cà Mau về
cơ bản đã hoàn chỉnh hạ tầng công nghiệp khí này trong
giai đoạn 2010 - 2015 Trong giai đoạn 2015 - 2025, Tập
đoàn sẽ tập trung phát triển các dự án kho chứa LNG nhập
khẩu và đường ống kết nối Đông - Tây Việc khai thác và
phát triển đưa khí về bờ từ các mỏ Thái Bình, Hàm Rồng
thuộc Lô 102-106 và Hồng Long, Bạch Long thuộc các Lô
103-107 là xương sống để phát triển hạ tầng công nghiệp
khí khu vực miền Bắc giai đoạn 2010 - 2015, làm tiền đề
để đẩy mạnh đầu tư, phát triển các dự án khí khu vực phía
Bắc trong giai đoạn 2015 - 2025
Trong số các ý kiến tham luận tại Hội nghị, các đại biểu
tập trung đưa ra các giải pháp phát triển triển Ngành công
nghiệp khí Việt Nam như: chính sách giá khí, mô hình thị
trường khí, chính sách khuyến khích đầu tư, phát triển tự
lực, phát triển khoa học công nghệ, phát triển nhân lực;
định hướng, giải pháp phát triển công nghiệp khí miền
Bắc, miền Trung… Nhận thức rõ trách nhiệm và vai trò chủ
đạo của Ngành công nghiệp khí Việt Nam đối với vấn đề
an ninh năng lượng, phát triển kinh tế đất nước, PV GAS
đã đề ra những định hướng và giải pháp đột phát như:
tiếp tục thu gom hiệu quả mỏ khí hiện có, tăng cường thu
gom mở rộng các mỏ khí mới thuộc bể Cửu Long, Nam
Côn Sơn, Malay - Thổ Chu; đồng bộ hóa toàn bộ hệ thống
cơ sở hạ tầng công nghiệp khí Việt Nam, tập trung mọi
nguồn lực để hoàn thành các dự án khí trọng điểm lô B - Ô
Môn, Nam Côn Sơn 2, Mạng kết nối Đông - Tây (đây là dự
án rất quan trọng phục vụ điều tiết khí giữa miền Đông và
miền Tây Nam Bộ)… áp dụng các giải pháp công nghệ mới
để tăng khả năng thu gom khí và đưa vào khai thác các
mỏ khí có hàm lượng CO2 cao, đẩy mạnh tìm kiếm nguồn
khí mới thông qua nhập khẩu (dự án nhập LNG)…, nghiên
cứu và áp dụng công nghệ chế biến sâu để thu hồi tối đa,
đa dạng hóa và gia tăng giá trị sản phẩm khí (Ethane, PE,
PP, Methanol, DMR, GTL ), tích cực sử dụng sản phẩm khí
trong giao thông vận tải, khu đô thị, khu dân cư Trong
đó, dự án nhập khẩu LNG là dự án cung cấp nguồn năng
lượng mới đặc biệt quan trọng cho đất nước, dự kiến năm
2013 hoàn thành giai đoạn Fast-track, sẽ giải quyết được tình trạng thiếu hụt khí trong nước Liên doanh Dầu khí Vietsovpetro đưa ra các giải pháp để đẩy mạnh công tác thu gom khí đồng hành bể Cửu Long; định hướng và giải pháp phát triển các dự án khí của Vietsovpetro giai đoạn
2011 - 2025 Các tham luận về tiềm năng, trữ lượng và khả năng khai thác các mỏ dầu/khí trong nước; hiện trạng và tiềm năng khai thác khí than tại miền Võng Hà Nội; vai trò của đường ống khí Nam Côn Sơn 2 và Block B-Ô Môn trong việc thực hiện mục tiêu, chiến lược công nghiệp khí Việt Nam… cũng được các đại biểu hết sức quan tâm
Phát triển theo hướng tăng tốc, đột phá
Tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Dương Quang khẳng định: Khí đang và sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng không chỉ trong việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, mà còn trong việc thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp thiết yếu khác Bộ Công Thương luôn đánh giá cao chủ trương, quyết sách mạnh
mẽ và đúng đắn của lãnh đạo Petrovietnam trong việc duy trì và đẩy mạnh phát triển Ngành công nghiệp khí Việt Nam Để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, giữ vững vai trò là trụ cột đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, Thứ trưởng Bộ Công Thương nhấn mạnh: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tổng công ty Khí Việt Nam và các đơn vị liên quan cần khẳng định quyết tâm, thống nhất trong công tác chỉ đạo, tìm ra các biện pháp hữu hiệu, nhằm phát huy tối đa năng lực hiện có, khai thác tốt mọi tiềm năng, thế mạnh, phối hợp với các cơ quan hữu quan xử lý mọi khó khăn vướng mắc, thực hiện tốt Quy hoạch khí đến năm
2025 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt, sớm có các phát hiện khí mới, đưa các dự án khí vào hoạt động đúng tiến
độ, đặc biệt là các dự án khí Lô B-Ô Môn, Hải Thạch - Mộc Tinh, Nam Côn Sơn, dự án nhập khẩu LNG và dự án thu gom khí khu vực Thái Bình - Bắc Bộ
Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam TSKH Phùng Đình Thực khẳng định: Phát triển khí khác với khai thác dầu, khai thác dầu có thể khai thác, xuất khẩu trong khi chưa cần chế biến, trong khi đó phát triển khí
là một quá trình thống nhất, không tách rời, từ khai thác, thu gom, vận chuyển, chế biến, tiêu thụ Đầu tư cho giai đoạn đầu nhiều hơn và tất cả các khâu phải được chuẩn
bị một cách đồng bộ, đây là một đặc trưng của phát triển khí mà chúng ta phải tính đến trong quá trình triển khai, thực hiện Quy hoạch khí đến năm 2025 Quy hoạch tổng thể phát triển Ngành công nghiệp khí Việt Nam đến
2015, định hướng 2025” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 30/3/2011 chính là con đường phát triển
Trang 19đó, Petrovietnam xác định con đường phát triển ngành
công nghiệp khí theo hướng tăng tốc, đột phá, đảm bảo
an toàn, chất lượng, hiệu quả; góp phần đảm bảo an ninh
năng lượng và đảm bảo nguồn cung cấp khí ổn định, lâu
dài Cụ thể, đến năm 2015, sản lượng khí cung cấp hàng
năm đạt mức 15 tỷ m3 khí và dự kiến đạt 20 tỷ m3 khí vào
năm 2020 Với mục tiêu cung cấp cho thị trường khí trong
nước đến năm 2025 đạt 22 - 29 tỷ m3 khí/năm (gồm khai
thác khí trong nước và nhập khẩu khí), với nhiệm vụ đẩy
mạnh cả ba khâu thăm dò khai thác dầu khí, vận chuyển,
xử lý, chế biến dầu khí và tiêu thụ khí, phát triển công
nghiệp khí ở cả 3 vùng: Nam Bộ, Bắc Bộ, Trung Bộ
Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đang tích cực triển khai
đồng bộ các dự án từ thượng nguồn, trung nguồn tới hạ
nguồn tại khu vực Nam Bộ, trong đó phải kể tới dự án
khai thác khí ngoài khơi như Lô B&52, Hải Thạch - Mộc
Tinh, Thiên Ưng - Mãng Cầu; dự án đường ống dẫn khí Lô
B - Ô Môn, Nam Côn Sơn 2; dự án nhà máy chế biến khí
tại Cà Mau và Phú Mỹ cùng các dự án thu gom khí Hải Sư
Đen - Hải Sư Trắng, Tê Giác Trắng Việc triển khai xây dựng
hệ thống đường ống chính Nam Côn Sơn 2 và Lô B - Ô Môn
là một bước quan trọng trong quá trình hoàn thiện cơ sở
hạ tầng khí khu vực Nam Bộ, góp phần đảm bảo nguồn
cung cấp khí cho nhu cầu trong nước và sẵn sàng cho kết
nối mạng các đường ống trong nước và khu vực Đồng
thời với việc phát triển các nguồn khí truyền thống trong
nước, Petrovietnam đang nhanh chóng triển khai dự án
nhập khẩu khí LNG (Fast-track) dự kiến từ cuối năm 2013,
nghiên cứu khả năng mua khí thông qua đường ống dẫn
khí xuyên Đông Nam Á TAGP (Trans-ASEAN Gas Pipeline)
từ các nước lân cận như: Indonesia, Thái Lan, Malaysia
cũng như lập phương án phát triển, nghiên cứu khai thác
các mỏ cận biên, mỏ khó, các nguồn khí phi truyền thống
như khí than (CBM), khí hydrate cho tương lai Song song
với việc hoàn thiện cơ sở hạ tầng khí khu vực Nam Bộ,
thị trường khí miền Bắc và miền Trung cũng đang được
Tập đoàn Dầu khí Việt Nam xem xét, lên kế hoạch triển
khai, trước mắt là hệ thống thu gom khí từ các lô 102/106,
103/107 tại khu vực Bắc Bộ và Lô 112-113, 117-118-119 tại
khu vực miền Trung
TSKH Phùng Đình Thực cho hay, để triển khai thực hiện
thành công Quy hoạch phát triển Ngành công nghiệp khí
Việt Nam đến năm 2025, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tiếp
tục thực hiện 3 giải pháp đột phá về con người, khoa học
công nghệ và quản lý: “Chúng ta không thực hiện được
Quy hoạch nếu không có kế hoạch phát triển nguồn nhân
lực cao, đồng bộ từ thiết kế, chế tạo, vận hành, bảo dưỡng
Chúng ta không triển khai được Quy hoạch nếu không áp
dụng công nghệ hiện đại, chế biến sâu, nâng cao được giá trị, sức cạnh tranh của sản phẩm và tiếp tục nâng cao trình
độ quản lý theo chuẩn mực quốc tế”
Qua Hội nghị này, nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, thảo luận, làm rõ trong nhiều cuộc hội thảo chi tiết hơn, cụ thể hơn trong giai đoạn tiếp theo, đặc biệt là những vấn đề khai thác dầu khí, phát triển khí trong giai đoạn sau 2015; các giải pháp về kỹ thuật, đề xuất các chính sách cụ thể sau Quy hoạch bao gồm chính sách đầu
tư, chính sách giá khí, xây dựng lộ trình giá khí tiếp cận giá khí thị trường… Theo chỉ đạo của Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, sau Hội nghị “Công nghiệp khí Việt Nam - Định hướng phát triển đến năm 2025”, Ban Khí Tập đoàn Dầu khí Việt Nam là đầu mối, Tổng công Khí Việt Nam là đơn vị tiên phong phối hợp chặt chẽ với đơn vị khác: Vietsovpetro, PVEP, VPI, PV Engineering… tiếp thu các ý kiến đóng góp tại Hội nghị, xây dựng các giải pháp hết sức cụ thể về tổ chức, kỹ thuật, kinh tế và chính sách nhằm triển khai thành công Quy hoạch phát triển Ngành công nghiệp khí Việt Nam đến năm 2025, góp phần phát triển Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam nhanh, mạnh, vững chắc; góp phần xây dựng đất nước Việt Nam công nghiệp và hiện đại PVJ
Việt Hà
Mục tiêu phát triển Ngành công nghiệp khí Việt Nam đến 2015, định hướng 2025 theo Quy hoạch Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Về tìm kiếm thăm dò, khai thác khí trong nước: đẩy mạnh tìm kiếm thăm
dò, thẩm lượng nhằm chính xác hóa tiềm năng, trữ lượng khí thiên nhiên để sớm đưa các phát hiện khí thương mại vào khai thác; phấn đấu đạt sản lượng khai thác khí thiên nhiên trong nước đạt trên 14 tỷ m 3 /năm vào năm 2015 và đạt 15 - 19 tỷ m 3 /năm vào giai đoạn năm 2016 - 2025.
Về nhập khẩu khí: khẩn trương xúc tiến các hoạt động đàm phán và chuẩn bị đầu tư cơ sở hạ tầng cho nhập khẩu LNG nhằm đảm bảo cân đối cung cầu khí trong nước; ưu tiên triển khai dự án nhập khẩu LNG đầu tiên tại miền Nam để đảm bảo đủ nguồn cung, duy trì và phát triển thị trường khí tại miền Nam; nghiên cứu, triển khai các dự án nhập khẩu LNG tại miền Bắc và miền Trung.
Về phát triển cơ sở hạ tầng công nghiệp khí trong nước: hoàn thành hạ tầng công nghiệp khí khu vực miền Nam, hình thành và phát triển hạ tầng công nghiệp khí khu vực miền Bắc và miền Trung, từng bước triển khai xây dựng hệ thống mạng nối đường ống dẫn khí liên vùng, liên khu vực; đẩy mạnh đầu tư các dự án xây dựng nhà máy chế biến và xử lý (GPP) nhằm chế biến sâu khí thiên nhiên khai thác trong nước (tách ethane, LPG, condensate…)
để nâng cao hiệu quả sử dụng khí và thực hiện tiết kiệm trong sử dụng tài nguyên.
Về phát triển công nghiệp LPG: đầu tư phát triển các dự án sản xuất LPG trong nước (từ các nhà máy xử lý khí và nhà máy lọc dầu), nhằm giảm tỷ trọng
và dần thay thế lượng LPG nhập khẩu, mở rộng công suất các kho hiện có kết hợp với triển khai xây dựng các dự án mới để đáp ứng nhu cầu trong nước với quy mô khoảng 1,6 - 2,2 triệu tấn/năm vào năm 2015 và đạt quy mô khoảng 2,5 - 4,6 triệu tấn/năm vào năm 2025 Đảm bảo đáp ứng yêu cầu dự trữ tối thiểu đạt trên 15 ngày cung cấp trong giai đoạn đến năm 2015.
Về phát triển thị trường tiêu thụ khí: tiếp tục phát triển thị trường điện là thị trường trọng tâm tiêu thụ khí (bao gồm LNG) với tỷ trọng khoảng 70% - 85% tổng sản lượng khí, đáp ứng nguồn nhiên liệu khí đầu vào để sản xuất điện, đẩy mạnh sử dụng khí và sản phẩm khí trong sản xuất hóa dầu, sinh hoạt đô thị và giao thông vận tải nhằm góp phần bảo đảm môi trường và nâng cao giá trị gia tăng của khí Phấn đấu phát triển thị trường khí với quy mô 17 - 21 tỷ m 3 / năm vào năm 2015 và 22 - 29 tỷ m 3 /năm vào giai đoạn 2016 - 2025.
Trang 20GIỚI THIỆU CHUNG
Trong suốt thời kỳ Miocen và Pliocen - Đệ tứ, một số
bể trầm tích Kainozoi tại khu vực Đông Nam Á xuất hiện
phổ biến các loại trầm tích cacbonat biển nông Sự phát
triển của chúng bị ảnh hưởng chi phối mạnh mẽ của hình
thái cấu trúc cấu tạo riêng biệt liên quan tới quá trình
phát triển kiến tạo và biến đổi môi trường ở mức độ phức tạp khác nhau (Fulthorpe và Schlenger, 1989) Đặc biệt, cacbonat thềm phát triển rộng khắp tại phần Nam bể Sông Hồng, Tây bể Phú Khánh và Đông bể Nam Côn Sơn hay trong các cụm bể khác trên thềm lục địa Việt Nam Trên cơ sở tài liệu địa chấn 2D của BP (lô 117, 118, 119) thu
Quá‱trình‱phát‱tri n‱và‱thoái‱hóa‱c a‱₫á‱cacbonat‱
tu i‱Miocen‱trên‱₫ i‱nâng‱Tri‱Tôn‱ph n‱Nam‱b ‱tr m‱ tích‱Sông‱H ng
ThS Vũ Ngọc Diệp, TS Hoàng Ngọc Đang, ThS Trần Mạnh Cường
Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
PGS TS Nguyễn Trọng Tín
Viện Dầu khí Việt Nam
TÓM TẮT
Dựa trên kết quả minh giải tài liệu địa chấn và tài liệu giếng khoan, có thể chia thành hệ cacbonat thềm khu vực
lô 117 - 120 ra thành ba tập Với các đặc trưng khác biệt về đặc điểm tướng địa chấn, thạch học và kết hợp với bối cảnh cấu trúc kiến tạo khu vực, các tác giả xây dựng quá trình phát triển của cacbonat bao gồm: giai đoạn ban đầu (start up); phát triển chồng lấn, mở rộng (progradation); phát triển kiểu giật lùi (backstepping) thu hẹp diện tích và giai đoạn cuối cùng bị thoái hóa (drowning).
Sự thay đổi của mực nước biển tương đối vào thời kỳ Miocen giữa - muộn đã tạo ra đặc điểm phát triển giật lùi phổ biến không chỉ ở Nam bể trầm tích Sông Hồng mà còn ở khu vực khác ở Đông Nam Á (như Tây Natuna) So sánh các bản đồ đẳng dày thời kỳ Miocen sớm và giữa nhận biết được sự thu hẹp về diện tích của nền cacbonat này (~7.500km 2 ) trong khoảng thời gian từ 24 - 16 triệu năm trước (trntr), tương ứng với thời kỳ thành tạo phần dưới trầm tích Miocen giữa trong khoảng 16 - 13 trntr (~6.000 km 2 ) và cuối cùng còn lại khoảng 1.000km 2 vào thời kỳ 12 - 10 trntr.
Quá trình sụt lún khu vực xảy ra trong khoảng 10-6 trntr đan xen với sự nâng lên cục bộ mạnh mẽ cũng trong giai đoạn Miocen giữa - muộn đã chấm dứt sự phát triển của thành hệ cacbonat Tri Tôn và cuối cùng chúng bị chôn vùi bởi các thành hệ trầm tích Quảng Ngãi, biển Đông trẻ hơn có thành phần cát kết, bột kết và sét kết xen kẹp tuổi Miocen muộn tới Pliocen, Đệ tứ.
Trang 21nổ năm 1989-1991 cũng như BHP (lô 120, 121) năm
1991-1993 khu vực Nam bể Sông Hồng, bản đồ các tầng cấu
trúc từ mặt móng tới nóc Oligocen, Miocen và Pliocen- Đệ
tứ đã được xây dựng Dựa theo kết quả minh giải này, BP
và BHP đã khoan 6 giếng khoan TKTD trên đới nâng Tri
Tôn với mục đích TKTD dầu khí trong các đối tượng khác
nhau 4 giếng khoan trong số đó đã gặp các thành tạo
cacbonat chứa khí như 117-STB, 118-CVX, 119-CH và
120-CS Tổng hợp các tài liệu địa chất, địa vật lý theo các tính
chất vật lý, thạch học cũng như phân tích tướng địa chấn,
hình thái cấu trúc của toàn bộ chu kỳ thành tạo xác định
nền cacbonat (carbonate platform) thuộc hệ tầng Sông
Hương, Tri Tôn có tuổi Miocen (Hình 1, 2 và 6)
Bài viết tập trung nghiên cứu nền cacbonat phân
bố chủ yếu trên đới nâng Tri Tôn có diện tích khoảng 7.500km2, chứa phức hệ đá vôi sinh vật dày nhất tới 800
- 1000m phát triển trong thời kỳ Miocen sớm - giữa Liên quan tới chúng xác định được các thể đá vôi dạng khối xây cacbonat (build up), ám tiêu (reef), rìa ám tiêu (back reef)… Các thành tạo này phát triển trong điều kiện môi trường biển từ nước nông tới dốc sườn thềm trong phần Nam bể trầm tích Kainozoi Sông Hồng (BSH)
I CẢNH QUAN ĐỊA CHẤT
1 Vị trí kiến tạo
Như đã được đề cập trong nhiều văn liệu, phần Nam bể trầm tích Sông Hồng bao gồm các đơn vị cấu kiến tạo bậc 2 như đới nâng Tri Tôn, địa hào Quảng Ngãi, trũng Đông Tri Tôn (Hình 2)… và chịu ảnh hưởng của các yếu tố kiến tạo chung của bể liên quan các đứt gãy lớn như Sông Hồng, Sông
Mã, Rào Nậy Hơn nữa, khu vực còn bị chi phối bởi các hoạt động địa phương khác mang tính cục bộ để tạo nên các thành tạo cacbonat lớn
và duy nhất trong bể trầm tích Sông Hồng
Đới nâng Tri Tôn (từ phần móng) về mặt bản chất địa chất là một địa lũy nằm xen kẹp giữa địa hào
và trũng lớn có phương á Tây Bắc - Đông Nam Lịch
sử phát triển của Nam bể Sông Hồng có các đặc thù riêng được xác định qua các tài liệu thực tế và còn nhiều quan niệm khác nhau Nhưng theo phân tích của nhiều tác giả cho rằng đới nâng này bị tách ra một
Hình 2 Sơ đồ phân vùng cấu trúc (trái) và cột địa tầng tổng hợp Nam bể Sông Hồng (phải)
Hình 1 Mặt cắt địa chấn minh họa phân tầng cấu trúc và địa tầng Nam bể Sông Hồng
Trang 22Hình 3 Mặt cắt địa chấn ngang qua lô 119 (BP89-2990b) theo hướng Tây - Đông
phần từ khối Bắc Trung Bộ vào thời kỳ Eocen - Oligocen
(khoảng 35 - 26 triệu năm trước- trntr)
2 Thành phần thạch học
Cacbonat phân bố trên nâng Tri Tôn được thành tạo
từ các tập nền cacbonat tuổi Miocen sớm, giữa thuộc hệ
tầng tương ứng Sông Hương và Tri Tôn Bề dày của cả hai
hệ tầng này thay đổi từ 0 đến 800 - 1000m và sơ bộ phân
chia thành phụ tầng đá vôi ở bên trên và dolomit ở dưới
theo tài liệu địa chấn và khoan thăm dò
Trên cơ sở tổng hợp các kết quả phân tích mẫu cổ sinh,
thạch học, địa vật lý giếng khoan có thể nhận biết được
thành phần thạch học của hai hệ tầng trên gồm những
sinh vật tạo vôi liên quan tới các đá có đặc điểm sau:
+ San hô, trùng lỗ bám đáy, rhodolit - boundstone
+ Tảo đỏ, skeletal, equinoderm packstone -
Toàn bộ tướng thạch học kể trên được đặc
trưng cho cả môi trường biển nông (reef, l ood
margin, inner platform) tới sườn dốc thềm bể
trầm tích (slope to shelf basin) và do đó có thể
nhận biết được đá vôi trên đới nâng Tri Tôn có
nguồn gốc từ các động thực vật tạo vôi kể trên,
được thành tạo trong thời kỳ Miocen sớm, giữa
Độ rỗng trung bình của hệ tầng này được
xác định theo tài liệu log từ 25 - 28% (theo tài
liệu GK lô 118 và 119) và 24 - 26% tại GK 120-CS
Các loại độ rỗng xác định theo tài liệu thạch học
bao gồm chủ yếu dạng thứ sinh (moldic) được
thành tạo do quá trình hòa tan rửa trôi các hợp
phần khung xương aragonite có trong san hô
và tảo đỏ Các kết quả nghiên cứu sinh địa tầng
ở đây đã được sử dụng rất hiệu quả trong việc
liên kết các mặt ranh giới giữa các hệ tầng Sông
Hương, Tri Tôn và Quảng Ngãi
II XÁC ĐỊNH CÁC TẬP TRẦM TÍCH VÀ MÔ TẢ
TƯỚNG ĐỊA CHẤN
Thành tạo cacbonat Tri Tôn được chia
thành ba tập chính trên cơ sở minh giải các đặc trưng chủ yếu về tướng địa chấn có liên kết sử dụng với kết quả phân tích khác Ranh giới tập trầm tích được liên kết theo phương pháp địa chấn địa tầng Trên cơ sở kết quả phân tích tướng địa chấn có liên kết sử dụng với kết quả phân tích các tài liệu khác có thể phân chia thành tạo cacbonat Tri Tôn thành ba tập chính Ranh giới các tập được xác định dựa trên các tiêu chí địa chấn địa tầng: nhận dạng và liên kết các dấu hiệu kết thúc phản xạ như downlap, onlap, toplap Các đặc trưng này được đánh giá xem xét để xác định các ranh giới tập trầm tích và các mút phản xạ bên trong từng tập Các đầu mút phản xạ trong mỗi tập như vậy với ranh giới bên trên và dưới mỗi tập có các đặc điểm riêng đã được mô tả chi tiết kết hợp với việc nhận biết hình thái phản xạ trong mỗi tập trầm tích (Hình 3)
Hình 4 Sơ đồ minh họa các loại tướng địa chấn trong đá cacbonat tuổi Miocen
Trang 23Với cách tiệm cận như vậy, 05 đới tướng địa chấn hệ
tầng cacbonat Sông Hương và Tri Tôn đã được xác định
dưới đây theo thứ tự sắp xếp giảm dần với dự báo thay
đổi độ rỗng thấp dần: dạng gò đồi (mounded); chồng lấn
biển tiến (progradation); hỗn độn (chaotic); dạng song
song (tại nhiều vị trí khác biệt tại nền cacbonat); dạng
nghiêng, dốc (incline và slope) như Hình 4 và 5 Đối với
các tướng song song trong thềm cacbonat có thể chia
phụ đới tướng chi tiết nhỏ hơn phụ thuộc địa hình tại vị
trí thành tạo ở vị trí cao, thấp hay phân dị tương đối (tuyến
BP89-2990b)
1 Tướng địa chấn dạng gò đồi (mounded)
Tướng địa chấn này có đặc trưng hai đầu mút phản
xạ có dạng downlap Các phản xạ nhìn chung có thể song
song với ranh giới tập trầm tích bên trên trong khi đó các
hình dạng phản xạ bên trong như bát úp (convex-up) lồi
lên trên và điển hình như dạng gò, nâng kích thước nhỏ Sự
tăng độ dày thực tế trong mỗi tập trầm tích này phù hợp
với các vị trí xuất hiện tướng địa chấn kể trên Tuy nhiên
cũng có tài liệu giải thích dạng tướng địa chấn dạng gò
đồi liên quan tới sự chuyển tiếp sang tướng địa chấn dạng
hỗn độn Trên mặt cắt địa chấn tướng này đặc trưng cho sự
xuất hiện của cacbonat thềm, ám tiêu nội thềm Đặc trưng
cho tướng địa chấn này là giá trị độ rỗng, độ thấm khá
lớn do thành phần của chúng là grainstone, boundstone
thành tạo từ tảo và san hô Độ rỗng thứ sinh ở đây được
thành tạo cho thành phần khung xương aragonite của
sinh vật bị hòa tan hoặc do quá trình dolomit hóa tại vị trí
rìa thềm (Hình 4a)
2 Tướng địa chấn dạng chồng lấn (progradation)
Loại tướng này được xác định bằng các mút phản xạ
toplap ở phần nóc ranh giới tập và downlap lên trên bề
mặt ngập lụt cực đại hoặc liên quan tới đáy ranh giới tập
Phần phía trong dạng tướng này các đường phản xạ có
hình dạng sigma hay xiên chéo dạng bậc Đặc điểm của
tướng chồng lấn có thể được suy luận điển hình cho chiều
vận chuyển vật liệu trầm tích Quan sát trên mặt cắt địa
chấn chứng minh tướng này đặc trưng cho cacbonat dạng
boundstone đi kèm với tướng rìa nền, ám tiêu dạng tấm
hay cacbonat nền phát triển từ rìa thềm hay đường bờ
cục bộ Hình dạng chồng lấn có thể phân biệt theo nhiều
dạng khác nhau nhưng thực chất tướng địa chấn chồng
lấn được xác định khi chúng có hình dạng đủ lớn quan sát
được (vài trăm mét trở lên) lấn về phía trung tâm bể trầm
tích từ rìa thềm có hình dạng chồng lấn mờ và nhỏ trong
thành tạo nền có thể xác định được khi các thành tạo lấn
ra ngoài thể bên trong thành tạo nền hoặc trong từng
ám tiêu Điều chủ yếu là hình dạng chồng lấn đặc trưng cho cacbonat phát triển trong giai đoạn mực nước biển mức cao (relative highstand sea level) Đặc biệt cơ bản của tướng này được dự báo là độ rỗng rất cao (tới 30%) do độ rỗng dạng khuôn (moldic) trong đá grainstone tạo thành
do các khoảng khung xương sinh vật aragonite bị hòa tan (Hình 4b)
3 Tướng địa chấn dạng hỗn độn (chaotic)
Tướng địa chấn dạng hỗn độn được xác định theo hình thái các phản xạ sắp xếp không theo quy luật và theo các phương chiều khác nhau với mức độ đặc thù rất hỗn tạp, lộn xộn Trên mặt cắt địa chấn dạng tướng này xuất hiện tại các vị trí các thể đặc biệt có dạng tuyến tại rìa thềm cacbonat nhưng cũng có khi chúng có dạng hình elip nổi bật bên trong thềm cacbonat Đôi khi đặc trưng khác của tướng địa chấn này làm trung gian chuyển tiếp tới tướng địa chấn dạng gò đồi
Quá trình minh giải loại tướng này đôi khi gặp khó khăn bởi một số quá trình địa chất khác nhau lại đặc trưng bởi tướng địa chấn hỗn độn Trước hết, tướng địa chấn này có thể đặc thù cho các đặc điểm rìa thềm hay suy luận cho rằng đó là các ám tiêu bên trong thềm vì chúng cũng chung tính chất phản xạ rối loạn và các mút phản xạ kết thúc một cách không có quy luật Thứ hai, có thể giải thích một số nơi có phản xạ hỗn độn do đặc thù không tạo các mặt phản xạ rõ rệt trong các bề mặt cactơ rõ ràng hay trong phạm vi bị ảnh hưởng mạnh mẽ của đứt gãy Tính chất chứa của thành tạo cacbonat này dự báo thay đổi trong phạm vi khá rộng do nguyên nhân xuất phát điểm của chúng có thể là nguồn gốc gây phản xạ lặp hay liên quan tới tướng địa chấn dạng gò đồi mà có thể xuất hiện khả năng tăng độ thấm của đới tướng cụ thể do quá trình cactơ hóa hay nứt nẻ thứ sinh Ngoài ra, kết quả minh giải lại một số nơi cho thấy loại phản xạ này đặc trưng cho vùng trắng (không có số liệu) hay nơi có hoạt động đứt gãy tương đối mạnh mẽ (Hình 4c)
4 Tướng địa chấn dạng song song tại các vị trí khác nhau trong nền cacbonat (paralell)
- Loại tướng địa chấn song song đặc trưng cho các quan hệ hình thái phản xạ song song và gần song song tương đối (concordant) với các mặt phản xạ giữa các tập nhỏ Các phản xạ này có đặc tính liên tục, bán liên tục,
Trang 24Hình 5 Sơ đồ minh họa phân vùng tướng địa chấn trên đới nâng Tri Tôn
chúng song song với ranh giới tập hay tạo hình sin với
ranh giới tập Tướng địa chấn dạng này thường được chia
nhỏ hơn theo đặc điểm các phụ tướng các hình thái địa
hình bề mặt phản xạ chính như trong dạng địa hình chỗ
ranh giới tập cacbonat nâng cao, không bị phân dị hay hạ
thấp xuống tại Hình 5
Trong mặt cắt địa chấn, tướng địa chấn có dạng song
song thường xuất hiện bên trong nội nền và đặc trưng
cho sự biến thiên rộng rãi của các đá cacbonat có thành
phần độ hạt từ dạng thô đến mịn Tập địa chấn dạng song
song tại vị trí nâng cao kể trên có tính chất chứa khá tốt
do sự hòa tan rửa trôi các thành phần dễ hòa tan trong
điều kiện mực nước biển tương đối ở vị trí thấp Ngược
lại, tại các vị trí hạ thấp ranh giới mặt địa hình phân dị bị
ảnh hưởng lấp đầy bởi các vật liệu cacbonat vụn hay ưu
thế hạt mịn làm cho khả năng chứa bị giảm đi đáng kể
Còn trong các vị trí không phân dị thì hoặc ưu thế dòng
chảy khá mạnh hay kém hơn còn tùy thuộc điều kiện mực
nước biển tương đối ở vị trí thấp hay vị trí cao hơn địa hình
xung quanh Ngoài ra, khi minh giải tướng địa chấn song
song nội thềm còn thấy quy luật trong trường hợp các
mặt phản xạ song song với biên độ cao có thể tồn tại các
lớp có thành phần thạch học mang quan hệ tuyến tính với
độ rỗng trong nội thềm cacbonat (Hình 4d)
- Đặc trưng tướng địa chấn này hướng về phía trung
tâm thấp hơn hay trũng địa phương ngoài sườn dốc
nghiêng và đặc trưng tướng theo tính chất có mặt phản
xạ song song, có biên độ cao Điểm lưu ý khi minh giải các
tuyến địa chấn khu vực lô 119-120, tướng địa chấn song
song đại diện cho đá chứa có độ rỗng thấp do sự phong
phú các thành phần hạt mịn hay khung xương sinh vật bị
vỡ vụn Tại một số mặt cắt nhận biết được một số dòng
trầm tích tạo thành do trượt trọng lực từ phía sườn thềm cacbonat, tuy nhiên kết quả vẫn là các vật liệu hạt mịn, chặt xít và xen kẹp mỏng hơn so với vật liệu trong khối nền cacbonat (Hình 4f)
5 Tướng địa chấn nghiêng/dốc (incline/slope)
Các mặt phản xạ loại tướng địa chấn có hình thái nghiêng/dốc về lý thuyết thường đặc trưng cho các vị trí
mà thềm hướng vào trung tâm bồn trũng hay hướng về phía đường bờ (lục địa) tại mũi sườn dốc Đặc thù tướng này khá điển hình khi các mặt phản xạ nghiêng đều nhưng giảm mức độ về phía mũi sườn dốc nhưng vẫn duy trì được các mặt phản xạ khá song song với ranh giới tập Trong khi nghiên cứu đặc trưng tướng địa chấn nghiêng/dốc không quan sát thấy các đầu mút phản xạ, downlap hay toplap để phân biệt chúng với tướng địa chấn chồng lấn như ở phần trên Tuy nhiên tại một vài vị trí có tính chất địa phương trên sườn thềm cacbonat, một vài dấu hiệu quan sát được có hình dạng downlap, toplap có thể chứng minh được đây là sự có mặt của các quá trình lấn biển (progradation seismic facies)
Khi minh giải mặt cắt thực tế trên rìa Tây nâng Tri Tôn, đặc trưng chứa trong tướng địa chấn bị nghiêng/dốc cho thấy đá chứa có độ rỗng giảm dần từ vị trí rìa thềm tới mũi dốc nghiêng Kết quả này cũng tương ứng với sự suy giảm
độ rỗng trong đới độ hạt thô khi chuyển sang mịn hơn về phía bể trầm tích cũng như thành phần khung xương bị hòa tan như bị lấp đầy hơn bằng trầm tích hạt mịn tức là
về phía bể trầm tích thành phần khung xương của sinh vật bị giảm đi cùng với sự tăng thêm thành phần hạt mịn không tạo điều kiện thuận lợi cho đá chứa có độ rỗng lớn hơn (Hình 4e)
III QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ THOÁI HÓA CACBONAT TRÊN ĐỚI NÂNG TRI TÔN
Dựa vào các tiến trình phát triển địa chất khu vực, đặc điểm địa tầng cũng như phân tích mặt cắt địa chất địa vật lý có thể xác định được cacbonat thuộc hệ tầng Sông Hương, Tri Tôn đã phát triển qua các giai đoạn sau đây (Hình 6):
+ Giai đoạn khởi đầu (start up) thành tạo cacbonat, giữa Miocen sớm
+ Giai đoạn phát triển (build up) và mở rộng (build out), Miocen sớm - giữa
Trang 25+ Giai đoạn phát triển kiểu giật lùi (back stepping) làm
giảm phạm vi thành tạo, cuối Miocen giữa
+ Cacbonat nền chuyển sang bị thoái hóa (drowning)
nóc Miocen giữa và bị phủ bởi các trầm tích trẻ hơn,
Mio-cen muộn tới hiện tại
1 Giai đoạn 1
Phần móng của đới nâng Tri Tôn ban đầu (trước
Miocen sớm) được tách ra một phần từ khối Nam Trung
bộ gồm các khối nâng nhỏ riêng biệt do sự phân dị đáy
bể mạnh mẽ trong thời gian 35 - 26 trntr kết hợp lại Hình
thái bề mặt nâng Tri Tôn xác định theo các ranh giới địa
chấn tầng móng và nóc tầng cấu trúc Oligocen Kết quả
tổng hợp địa tầng khu vực chứng minh được hệ tầng
Bạch Trĩ lắng đọng trong môi trường đồng bằng ven
biển, đầm hồ với ưu thế trầm tích sét, bột kết dạng hạt
mịn có chứa than
Thành tạo cacbonat nền hệ tầng Sông Hương thời kỳ
Miocen sớm (~24-16 trntr) đã bắt đầu phát triển (start up)
mạnh nhất vào thời điểm 20 trntr trên nâng Tri Tôn kế thừa
từ các khối móng cao độc lập khác nhau hay được ngăn
cách nhau bằng các rãnh biển có chiều sâu thay đổi từ vài
chục đến hàng trăm mét Điểm đặc trưng nhất trong giai
đoạn này là xu thế phát triển thẳng đứng (theo chiều dọc)
chiếm ưu thế Phần rìa Tây và Đông đới nâng, phát triển
các thành tạo tướng địa chấn dạng gò đồi, hỗn độn với
kết quả minh giải như các rìa ám tiêu dốc thoải trên vùng
thềm có mép thềm (rimmed) Nhìn chung, tướng địa chấn
các tập trầm tích hệ tầng Sông Hương phổ biến dạng
hỗn độn, không liên tục với biên độ cao (118-CVX) nhưng tổng bề dày có xu thế mỏng dần từ rìa về phía các phần, khu vực nổi cao hơn Nhưng ngược lại, các dạng tướng địa chấn hỗn độn, biên độ thấp (119-CH) nhưng trong các khu vực thấp tương đối có chiều dày lớn hơn thuộc bên ngoài phạm vi đới nâng Tri Tôn có thể là các tập sét vôi do tái trầm tích Diện tích phần thấp có thể bị sụt kiến tạo cùng thời trong giai đoạn này Tuy nhiên, tầng nóc Miocen
hạ được liên kết với độ tin cậy không cao hơn tương tự như nóc Oligocen tức là hai tầng phản xạ này được liên kết bảo đảm tính khu vực nhưng không có độ tin cậy cao Khi minh giải tướng địa chấn dạng phát triển chồng lấn chứng
tỏ quá trình vận chuyển vật liệu trầm tích ra khỏi đới nâng này Vị trí rìa Đông Bắc thềm cacbonat Tri Tôn (Bắc Lô 115) được xác định phát triển thêm khoảng 30 - 35km nhưng không rõ so với vị trí của rìa thềm thực do chất lượng tài liệu kém tin cậy Ngoài ra, ở khu vực Tây trũng Huế cũng phát triển một tập cacbonat rìa thềm khác dày vài chục mét và diện phân bố hẹp (Hình 6a)
2 Giai đoạn 2
Thành tạo cacbonat nền hệ tầng Tri Tôn phát triển rõ ràng nhất (catch up) và được liên hợp lại mở rộng theo chiều ngang (build out) trong thời kỳ 24 - 13 trntr Trong giai đoạn này liên quan tới qúa trình phát triển cho kích thước lớn nhất tới 7500km2 Trên một số mặt cắt tướng địa chấn điển hình xác định được chủ yếu các dạng tướng song song, biên độ cao chiếm diện tích hầu hết phần rìa Tây thềm cacbonat Sự hợp nhất cacbonat tách biệt thành một thể thống nhất thể hiện bằng sự phát triển chồng lấn
mạnh mẽ về phía Trung tâm nâng Tri Tôn trong suốt thời kỳ (16 - 13 trntr) Tại các phần rìa thềm, kết quả minh giải suy luận thành phần độ hạt thô chiếm ưu thế và được phát triển lấn dần về các hướng Đông và Tây tính từ đới nâng Tri Tôn trở ra.Các rãnh biển trong phạm vi nội nền dần dần bị lấp đầy bằng các vật liệu từ phía trung tâm thềm nhưng chịu chế độ biển mở về phía Đông còn các dạng tướng địa chấn kiểu chồng lấn lấp đầy các kênh ngầm ở cả phía Bắc và Nam nâng Tri Tôn
Điểm đặc biệt về quá trình phát triển chồng lấn qua các địa
Hình 6 Mặt cắt biểu diễn sự phát triển và thoái hóa cacbonat tuổi Miocen sớm - giữa
được mô phỏng theo mặt cắt địa chấn BP89 2990b
Trang 26hào, trũng liền kề đới nâng bị ảnh hưởng của các trầm tích
lục địa bổ sung có nguồn gốc từ cả phía Tây và Đông Bắc
nâng Tri Tôn làm đa dạng thêm địa tầng trầm tích trong
hệ tầng Tri Tôn
Tại một vài nơi, quan sát thấy hoạt động đứt gãy có
ảnh hưởng tới các thành tạo trẻ hơn trong vị trí địa hình
cao nhưng đây cũng chính là giải thích nguyên nhân trầm
tích lục nguyên Miocen sớm bao quanh toàn bộ nâng Tri
Tôn bị ảnh hưởng đáng kể của trầm tích đới cacbonat lân
cận nhưng cùng thời gian thành tạo (Hình 6b)
3 Giai đoạn 3
Đặc trưng kiến tạo đáng kể trong bể Sông Hồng gây
ra lún chìm ổn định khu vực đã tạo cho đới nâng Tri Tôn
dốc dần về phía Bắc (khu vực lô 115, 117) Mặt khác, ảnh
hưởng biển tiến chậm tại các khu vực được thành tạo
trong giai đoạn 2 dẫn đến tại nơi có bề mặt địa hình tương
đối cao hơn sẽ tạo nên loại cacbonat với các tướng địa
chấn riêng ở vị trí nâng cao Điển hình là các thành tạo
phổ biến tại khu vực Tây Nam Tri Tôn trong phần Đông lô
119, 120
Cacbonat nền Tri Tôn phát triển giật lùi (backstepping)
dần dần và bị thu hẹp sự phát triển trong Miocen giữa
(12 - 10 trntr) theo hướng từ Bắc (lô 115) xuống Nam,
Đông Nam Các thành tạo khối xây chủ yếu là phía Đông
Nam trên đới nâng Tri Tôn điển hình tại phần Đông khu
vực cấu tạo lô 119 Rõ ràng nhất cả phần phía Đông lô 119
và Đông Bắc lô 120, do đó diện tích còn lại vào cuối thời
kỳ này khoảng 1000km2 Như vậy, vào thời điểm gần cuối
thời kỳ Miocen giữa, cacbonat nền bị thu hẹp diện tích và
chỉ còn lại trên khu vực có địa hình cục bộ cao hơn được
kế thừa từ giai đoạn 2 tạo nên Đặc biệt khối cacbonat
ở phía Bắc nằm ngoài nền cacbonat chính (cấu tạo
115-A, 117-STB) bị thoái hóa sớm hơn và bị các trầm tích hệ
tầng Quảng Ngãi nằm phủ bất chỉnh hợp lên trên Như
vậy trong khu vực nghiên cứu thì diện tích nền cacbonat
lô 115 sớm bị thoái hóa nhất, sau đó tới lô 117 và tiếp tục
về phía Đông Nam Mặc dù quá trình phát triển giật lùi
chiếm ưu thế trong toàn bộ giai đoạn này nhưng phần rìa
thềm phía Nam tiếp tục phát triển thêm 1 số dạng khối
xây (build up) lấn rộng thêm hàng chục km về phía Đông
Nam, cả Nam lô 120 và tại phần Bắc lô 121 (Hình 6c)
Trong một số tuyến địa chấn đã minh giải, xác định
tướng địa chấn phản xạ kiểu hỗn độn nhưng đứt đoạn
điển hình liên quan hiện tượng sập lở các cấu tạo hang
hốc lõm (karst collapse) trên nóc bề mặt địa hình kém bền
vững Đây cũng có thể là bằng chứng gây sự uốn võng
hay sụt lở của các trầm tích lục nguyên bên trên có tuổi trẻ hơn lấp đầy các khoảng trống castơ nhưng vẫn còn khả năng tồn tại đới có độ rỗng tốt (tuyến BP89 2290, 2310 tại Hình 7)
4 Giai đoạn 4
Cacbonat nền Tri Tôn bị thoái hóa (drowning) dẫn đến diệt vong hoàn toàn vào giai đoạn cuối Miocen giữa khi mực nước biển tăng cao nhanh chóng với phạm vi rộng (10 trntr) hay sụt lún khu vực mạnh mẽ Song song với quá trình này là sự lấp đầy các địa hào lân cận bằng trầm tích vụn xen lẫn các lớp mỏng cacbonat bị phá hủy từ các thành tạo trước đó Cuối cùng toàn bộ khối cacbonat nền trên đới nâng Tri Tôn bị phủ bởi các trầm tích lục nguyên trong môi trường đồng bằng châu thổ đến biển ven bờ, biển sâu như hệ tầng Quảng Ngãi (6 trntr) và biển Đông tới tận ngày nay (Hình 6d)
IV CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN CACBONAT TRI TÔN
Theo các kết quả nghiên cứu từ phần trên thừa nhận các yếu tố chính là các pha sụt lún kiến tạo khác nhau Ngoài ra, sự thay đổi mực nước biển khu vực và toàn cầu, yếu tố môi trường (như hướng gió, dòng chảy biển) đã chi phối làm cho khối cacbonat Tri Tôn có sự phát triển khác biệt với các phân bố kiến trúc địa tầng khác hẳn với quá trình thành tạo các khối cacbonat trong khu vực Đông Nam Á Như vậy, trong các yếu tố kể trên suy ra được yếu
tố thay đổi mực nước biển là một trong những nguyên nhân tác động về thời gian cho một thực thể cacbonat phát sinh sau đó chính sụt lún do các nguyên nhân kiến tạo làm thay đổi tướng nội nền cacbonat như biến tướng, thay đổi bề dày và phân bố theo chiều ngang
1 Yếu tố về cấu trúc tác động tới sự khởi đầu và phát triển cacbonat nền Tri Tôn
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu tiến trình phát triển đới nâng Tri Tôn nói chung, sự thành tạo cacbonat trên đới nâng này nói riêng có thể lập luận được các chuyển động kiến tạo địa phương trong giai đoạn Miocen sớm, giữa đã diễn ra và gây ảnh hưởng như sau:
+ Địa lũy Tri Tôn chính là nhân tố quan trọng nhất đã hình thành cảnh quan ban đầu mà trên nó cacbonat bắt đầu được tạo ra và phát triển dần lên
+ Sự hoạt động không mạnh mẽ của các đứt gãy thuận khống chế địa lũy Tri Tôn trong giai đoạn Miocen sớm là điều kiện tốt cho quá trình phát triển chồng lấn và
Trang 27có thể cả quá trình mở rộng cacbonat thềm Tri Tôn Nhưng
các đứt gãy địa phương đã làm cho sự phân bố tướng
trầm tích trở nên cục bộ phức tạp hơn mà đã đem lại dạng
tướng địa chấn kiểu khác nhau, điển hình là quá trình thu
hẹp diện tích giật lùi về phía Đông Nam nâng Tri Tôn
+ Quá trình sụt lún nhanh chóng thực tế có thể làm
các tập cacbonat riêng lẻ bị thoái hóa ngay hay được
gộp lại thành các tập thể lớn hơn (dạng khối) Tuy nhiên,
quá trình sụt lún khu vực tăng nhanh có thể dẫn tới nền
cacbonat Tri Tôn bị thu hẹp và thoái hóa nhanh hoàn toàn
1.1 Ảnh hưởng của địa lũy Tri Tôn trong thời kỳ Miocen
sớm
Ở nơi phân dị cao thuộc trung tâm địa lũy Tri Tôn đã
xuất hiện sự bắt đầu của các thành tạo cacbonat nền đầu
tiên có lẽ gắn liền tới quá trình mở rộng bể Nam Trung
Hoa Tại vị trí cao nhất trên địa lũy Tri Tôn, mà ở đó có hội
tụ những yếu tố thuận lợi cho cacbonat nền nước nông
bắt đầu phát triển Trong khi đó tại địa hào Quảng Ngãi và
trũng Đông Tri Tôn cũng bắt đầu đón nhận những dòng
trầm tích hạt vụn lục nguyên vận chuyển từ khối Trung Bộ
về phía Tây Bắc và Đảo Hải Nam về phía Đông Nam trong
môi trường đầm hồ và đồng bằng ven biển
Khi xác định biên độ dịch chuyển của các đứt gãy
thuận (Hình 1) cắt ngang qua đới nâng Tri Tôn cho thấy
khoảng cách dịch chuyển trung bình biểu kiến cho các hệ
tầng cacbonat từ 150 - 170m trong thời gian 8 triệu năm
(Miocen sớm 24 - 16 trntr) Với số liệu này chứng tỏ tốc độ
dịch chuyển thẳng đứng đáng kể hơn dịch chyển ngang
và tương ứng thời gian đủ để cacbonat nền Tri Tôn phát
triển chồng lấn và lấp đầy các địa hình thấp, đặc biệt trong
giai đoạn 1 Trên mặt cắt độ sâu quan sát thấy bề dày trầm
tích cacbonat vát mỏng hơn ở đỉnh của đới nâng nhưng
dày hơn tại phần rìa xung quanh Chính vì vậy có thể suy
diễn được các đứt gãy này còn tiếp tục hoạt động trong
thời kỳ này
1.2 Sự ngưng nghỉ của các hoạt động đứt gãy khống
chế sự phát triển chồng lấn và hợp nhất các khối nâng
cacbonat riêng lẻ
Phân tích mặt cắt địa chất địa vật lý trong vùng, nhận
biết xu thế dừng hoạt động của các đứt gãy địa phương
trong các tập địa chấn tập dưới (Hình 3) tức là vào cuối
thời kỳ Miocen muộn, đầu Miocen giữa Điều này đồng
nghĩa với việc phát triển mở rộng và sáp nhập các thể
thành tạo cacbonat riêng lẻ trên đới nâng Tri Tôn trong suốt giai đoạn 2 Minh chứng rõ ràng còn được thể hiện trên mặt cắt địa vật lý BP89 2300 thể hiện ranh giới rìa thềm dịch chuyển khoảng vài km về phía Đông Việc phát triển chồng lấn và lấp đầy các địa hình thấp tương đối ở các vị trí Đông lô 119, Bắc lô 120 cho phép giải thích được
sự hợp nhất của các thể cacbonat độc lập thành một thể cacbonat nền thống nhất
Như vậy, có thể phân tích tổng hợp được các yếu tố thời gian phù hợp với sự không hoạt động tạm thời của các đứt gãy thuận này cùng với quá trình phát triển chồng lấn và thống nhất thành một thể nền độc lập Hay nói khác đi đây cũng là kết quả sự suy giảm không gian tích
tụ trầm tích được tạo thành khi hoạt động của các đứt gãy tạo sụt lún không đóng vai trò lớn
Tuy nhiên quá trình khởi đầu phát triển cacbonat nền kiểu chồng lấn còn bị ảnh hưởng và chi phối bởi các yếu tố khác nữa mà kết quả nghiên cứu chưa chứng minh được như sự tăng nhanh đột ngột của vật liệu trầm tích cacbonat hay sự lấp đầy các địa hình thấp với lượng trầm tích đủ lớn
sẽ tạo lại hệ thống địa hình trũng hơn ở nơi khác
1.3 Quá trình hoạt động đứt gãy chi phối sự phân bố đới tướng và vị trí cacbonat nền phát triển kiểu giật lùi
Xu thế kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam của địa lũy Tri Tôn có ảnh hưởng không nhỏ tới sự xuất hiện kiểu tướng địa chấn song song trong cục bộ các cacbonat nền Theo diễn giải ở phần trên cho thấy loại hình tướng này liên quan tới đặc trưng chứa rất thuận lợi cho hydrocacbon tích tụ Nguyên nhân gây ra khả năng chứa cao này là do kết quả của vị trí địa hình lúc đó ở vị trí tương đối cao hơn so với xung quanh sẽ dễ tạo nên qúa trình hòa tan tạo độ rỗng thứ sinh khi mực nước biển hạ xuống Theo thời gian hàng triệu năm, khu vực phổ biến địa hình cao kể trên (có tướng địa chấn tương ứng) sẽ tạo
ra tầng chứa tốt nằm ở phía Tây Nam của nâng Tri Tôn Một đặc thù khác cần lưu tâm trong khu vực có địa hình cao hơn có thể lại xuất hiện một số hệ thống đứt gãy nhỏ trẻ mới và chúng tiếp tục phát triển nhưng chỉ cục bộ do nguyên nhân trượt trọng lực
Trên bản đồ cấu trúc nóc Miocen giữa chỉ ra một nâng địa phương khác tại phía Đông Bắc giếng khoan 120-CS trong lô 120 thuộc đới nâng Tri Tôn có thể minh chứng cho giai đoạn 3 có cacbonat nền phát triển kiểu giật lùi Điều này cũng lý giải khi mực nước biển tương đối dâng
Trang 28lên, khi đó chỉ tại những nơi có vị trí cao thuận lợi có khả
năng tạo ra những tập cacbonat đáng kể Hình 3 và 6c
chứng minh khối nâng cacbonat nền tập địa chấn nông
nhất trên cùng bị giật lùi trên cacbonat nền Tri Tôn, vào
thời điểm đó cấu tạo nằm trên vị trí cao nhất của nền
và bị phát triển về phía Tây Nam ngược theo hướng gió
(leeward)
2 Quá trình thay đổi mực nước biển và các yếu tố
môi trường liên quan tới các kiến trúc của thành tạo
cacbonat
Không chỉ riêng cacbonat nền thuộc đới nâng Tri
Tôn bị ảnh hưởng bởi quá trình như trên mà các thành
tạo khác cũng bị chi phối tương tự quá trình thay đổi
mực nước biển tương đối (địa phương) và biến đổi về môi
trường cũng như sự lan truyền của hướng gió Khi nghiên
cứu cacbonat hiện đại (trong thời kỳ Holoxen), dòng chảy
biển là các nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới cấu trúc
kiến tạo của đá trầm tích
2.1 Quá trình thay đổi mực nước biển tương đối và sự
phát triển của cactơ hóa
Quá trình này đã quan hệ trực tiếp tới thời gian thành
tạo các tập, bề dày tập và tăng cao sự biến đổi độ rỗng
trong đá Do quá trình hòa tan khung xương sinh vật ban
đầu tại vị trí mực nước biển thấp làm độ rỗng thứ sinh của
đá tăng thêm Ngoài ra, khi mực nước biển xuống thấp nữa
các thành tạo cacbonat sẽ lộ ra và quá trình cactơ cục bộ sẽ
bắt đầu hình thành Trên mặt cắt địa chấn (vị trí mặt phản
xạ bị đứt đoạn bên phải, tuyến BP89 2290 và 2310) tại Hình
7 chỉ ra một số vị trí có nóc ranh giới tập bị ảnh hưởng của
hiện tượng cactơ Đó là kết quả bị sập lở bề mặt trầm tích
sẽ tạo thành các đới có độ rỗng lớn, thuận lợi cho sự tích tụ
dầu khí Đối với một số thành tạo cacbonat cổ hơn như đá
vôi C-P, hiện tượng cactơ khá phổ biến tạo ra các hang hốc
rất lớn (hang Sơn Đoòng, động Phong Nha tại Quảng Bình
hoặc hang Nhị Thanh tại Lạng Sơn)
2.2 Lan truyền của hướng gió
Trong các nghiên cứu trước đây về tiến trình phát triển
của cacbonat nền (Ebeli và Ginsburg, 1989) đã đề cập và
chứng minh ảnh hưởng của sự vận chuyển vật liệu trầm
tích tại các vị trí đầu gió (windward) và khuất gió (leeward)
tới các thành tạo cacbonat là rất đáng kể Trong nghiên
cứu của các tác giả đã chứng minh được trong các dạng
cấu trúc đá có đặc trưng riêng (prograding) khi phát triển
kiểu cacbonat chồng lấn với hướng đối diện với hướng gió sẽ ít nhiều ảnh hưởng tới dòng chảy cổ Có nghiên cứu chứng minh được sự thay đổi của chiều gió theo mùa làm phức tạp thêm các kiến trúc cấu tạo đặc trưng của
đá trầm tích cacbonat Tuy nhiên trong nghiên cứu khu vực chưa nhiều chứng cứ để xác định các đặc điểm mới của đá một cách tuyệt đối mà chỉ đề cập tới thành một ý kiến tham khảo như trong Hình 7 Mặc dù vậy, bước đầu vẫn có thể nhận định hướng gió ảnh hưởng đáng kể nhất tới hình thái, cấu tạo các các thành tạo cacbonat Tri Tôn là hướng tới từ Đông - Đông Nam biển Đông tới, tương tự với hướng tới như hiện nay
KẾT LUẬN
Phân tích đặc điểm mặt cắt địa chất - địa vật lý dọc theo đới nâng Tri Tôn xác định được nhiều thể cacbonat riêng lẻ thành tạo nên toàn bộ khối cacbonat nền rộng lớn trên thềm lục địa miền Trung Việt Nam Ranh giới giữa
Hình 7 Sơ đồ minh họa ảnh hưởng hướng gió (đuôi gió, leeward)
tới sự thành tạo cấu trúc cacbonat (trên hình vẽ chỉ ra hướng gió thổi theo chiều từ phải qua trái)
Trang 29các thể cacbonat độc lập là các kênh rãnh biển ngầm
phân cách các cấu tạo 115-A, 117-STB và khối lớn bao
gồm diện tích còn lại
Quá trình phát triển của các thể cacbonat nền Tri Tôn
tuổi Miocen sớm, giữa được đề cập nghiên cứu trên
phương diện nguồn gốc, sự phát triển và mở rộng, sau đó
tới quá trình phát triển kiểu giật lùi, bị thoái hóa rồi bị vùi
lấp bởi các trầm tích trẻ hơn tuổi Miocen muộn, Pliocen -
Đệ tứ như Hình 8 Tổng hợp các loại số liệu như phân tích
mẫu, địa vật lý giếng khoan và phổ biến là các tài liệu địa
chấn 2D xử lý lại năm 2007, có thể xây dựng được quá
trình hình thành, phát triển của cacbonat Tri Tôn theo
không gian và thời gian về mặt hình thái tới bản chất
thành tạo bên trong cấu thành đá Trên cơ sở các tài liệu
này có thể phác họa và chứng minh được mối quan hệ
tương hỗ từ sụt lún kiến tạo với vai trò các yếu tố môi
trường (hướng gió và dòng chảy biển) ảnh hưởng tới các
cấu trúc bên trong thành tạo cacbonat Tri Tôn Với chất
lượng tài liệu địa chấn 2D phổ biến chỉ ở mức chấp nhận
được cho phép xác định cảnh quan môi trường thành
phần đá cũng như xác định được ảnh hưởng hình thái cấu
trúc trong sự phát triển của thành tạo cacbonat PVJ
LỜI CÁM ƠN
Các tác giả xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Ban Tìm
kiếm Thăm dò Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Viện Dầu khí
Việt Nam đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi để bài viết này
được hoàn chỉnh nhất
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 C.K Morley, 2002 A tectonic model for the Tertiary evolution of strike slip faults and rift basins in SE Asia Tectonophysics 374, pp 189-215
2 Charles S Hutchison, 1996 Geological evolution of Southeast Asia Geological society of Malaysia
3 Chris Sladen, 1997 Exploring the lake basins of East and Southeast Asia Petroleum Geology of Southeast Asia, Geological Society Special Publication No.126, pp 49-76
4 Đỗ Bạt, 2000 Địa tầng và quá trình phát triển trầm tích Đệ tam thềm lục địa Việt Nam Tuyển tập Báo cáo Hội nghị khoa học Dầu khí, trang 92-99
5 Gordon Packham, 1996 Cenozoic SE Asia: Reconstructing its aggregation and reorganization Tectonic Evolution of Southeast Asia, Geological Society Special Publication No 106, pp 123-152
6 Ian M Longley, 1997 The tectonostratigraphic evolution of SE Asia, Petroleum Geology of Southeast Asia Geological Society Special Publication No.126, pp 311-339
7 Metcalfe, 1996 Pre-Cretaceous evolution of SE Asian terranes, Tectonic evolution of Southeast Asia Geological Society Special Publication, No 106, pp 97-122
8 Nguyễn Hiệp và nnk, 2007 Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam Nxb KHKT
9 Nguyễn Văn Phòng, 2008 Cấu trúc địa chất và tiềm năng dầu khí khu vực Hoàng Sa Viện Dầu khí Việt Nam
10 Phan Trung Điền, 2000 Một số biến cố địa chất Mezozoi muộn - Kainozoi và hệ thống dầu khí thềm lục địa Việt Nam Tuyển tập Báo cáo Hội nghị khoa học Dầu khí, trang 131-150
11 Một số tài liệu Hội nghị và Hội thảo khoa học của
BP, BHP 1990-1995 Lô 117-119 và 120-121
12 Nguyễn Bích Hà, 2010 Xác định lượng hydrocacbon đã sinh ra và di thoát khỏi đá mẹ tới các bẫy chứa Bể trầm tích Sông Hồng theo phần mềm SIGMA 2D và BSS Viện Dầu khí Việt Nam
Hình 8 Sơ đồ minh họa mô hình phát triển địa chất của cacbonat trên đới nâng Tri Tôn
Trang 30Lịch sử phát triển địa chất phần Đông Bắc bồn
trũng Cửu Long trong giai đoạn Eocen-Oligocen
gắn chặt với lịch sử phát triển địa chất của cả
bồn trũng Cửu Long trong nguyên đại Kainozoi
Nghiên cứu bồn trũng Cửu Long trong giai đoạn
này, một số nhà địa chất cho rằng: Lịch sử phát
triển kiến tạo Kainozoi của bồn trũng Cửu Long
được chia làm 2 giai đoạn cơ bản, giai đoạn tách
giãn tạo nên các bán địa hào, địa lũy được lấp đầy
bởi các trầm tích lục địa kèm theo phun trào mai c
tuổi Eocen-Oligocen (D2) và giai đoạn lún chìm
nhiệt kèm theo hoạt động phun trào trong thời
kỳ Miocen-Đệ tứ để tạo lớp phủ thềm rìa lục địa
thụ động (D3) [ 2, 3 ]
Trên cơ sở phân tích chi tiết về thành phần
vật chất của mặt cắt Eocen-Oligocen, đặc điểm
uốn nếp, hoạt động đứt gãy, các bề mặt bất chỉnh
hợp trong giai đoạn Eocen-Oligocen (D2), tác giả
bài báo này chia lịch sử phát triển địa chất ở Đông
Bắc bồn trũng Cửu Long trong Eocen-Oligocen
thành 2 phụ giai đoạn: Đó là phụ giai đoạn (s1) - tách
giãn Eocen-Oligocen sớm và phụ giai đoạn s2 -tách giãn
Oligocen muộn Kết thúc mỗi phụ giai đoạn này là kèm
theo 1 pha nén ép, uốn nếp, đứt gãy sau trầm tích, nâng
lên bóc mòn tạo bề mặt bất chỉnh hợp giữa D và E và bất
chỉnh hợp giữa C và B1 (Hình 2)
Các pha tách giãn trong 2 phụ giai đoạn thường kéo dài và xảy ra từ từ tạo nên các bán địa hào và có phương kéo dài Đông Bắc-Tây Nam và Đông-Tây với kích thước lớn Kéo theo chúng là các hoạt động đứt gãy lâu dài có biên độ rất lớn và tạo nên các nếp uốn đồng trầm tích cấp 1 có bề dày trầm tích thay đổi ở vòm và cánh khá lớn Ngoài ra, tướng trầm tích cũng bị biến đổi, hạt thô ở cánh
C cùng với các nếp uốn và đứt gãy sau trầm tích.
Hình 1 Các giai đoạn biến dạng chính của phần Đông Bắc bồn trũng
Cửu Long [2, 3]
Trang 31Hai pha nén ép xảy ra vào cuối Oligocen sớm và cuối
Oligocen muộn có đặc trưng xảy ra nhanh, phá hủy kiến
tạo mạnh tạo nên các nếp uốn sau trầm tích, vì thế bề dày
trầm tích của các cánh và vòm tương đối như nhau, thay
đổi ít Ngoài ra còn có các di chỉ là những đứt gãy kinh
tuyến trượt bằng trái và đứt gãy vĩ tuyến trượt bằng phải
Bên cạnh đó còn có các đứt gãy nghịch phương Đông
Bắc-Tây Nam Loại đứt gãy này rất ít thấy ở vùng Đông Bắc bồn
trũng, nhưng chúng được quan sát khá nhiều ở khu vực
mỏ Bạch Hổ và đóng vai trò phá vỡ các thành tạo đá móng
cho khả năng chứa rất cao
1 Phụ giai đoạn phát triển địa chất trong Eocen-
Oligocen sớm (S1)
Đây là phụ giai đoạn phát triển địa chất từ Eocen?
đến cuối Oligocen sớm Đặc trưng của phụ gia đoạn này là
khu vực bị tách giãn kiểu Rift liên quan đến quá trình tách
giãn tạo biển Đông trẻ Tại khu vực nghiên cứu xảy ra quá
trình đồng trầm tích tập địa chấn E và F? Kết thúc phụ giai
đoạn này, khu vực nghiên cứu xảy ra quá trình nghịch đảo
kiến tạo, các trầm tích được lắng đọng trước đây bị uốn
nếp, vò nhàu, nhiều cấu trúc nghịch đảo kiến tạo được
sinh thành, khu vực nhiều nơi được nâng lên, ngừng nghỉ
lắng đọng trầm tích, bị phong hóa bào mòn tạo nên bất
chỉnh hợp
Vào Eocen, khu vực bồn trũng Cửu Long chịu tác dụng
của pha biến dạng tách giãn D2.1 Pha biến dạng này đã
tạo nên các đứt gãy thuận listric chủ yếu có phương Đông
Bắc-Tây Nam Nhờ đó, trong khu vực này hình thành các
bán địa hào và bán địa lũy có phương trùng với phương Đông Bắc-Tây Nam Lúc này quá trình lắng đọng trầm tích cho các thành tạo của hệ tầng
Cà Cối và Trà Cú (tập F? và E) tại các bán địa hào được diễn ra Nguồn cung cấp vật liệu trầm tích của các thành tạo chủ yếu là các khối móng nâng địa lũy với khoảng cách vận chuyển vật liệu khá gần, năng lượng tích tụ của chúng khá cao Vì vậy thành phần trầm tích của chúng chủ yếu là cát kết, sỏi, cuội kết hạt thô, xen kẽ với bột sét kết có độ mài tròn
và lựa chọn rất kém Đây là giai đoạn đầu của quá trình tạo rift, các bán địa hào chưa được liên thông với nhau nên các đặc điểm trầm tích, thạch học của các tập E và F rất khác nhau giữa các bán địa hào Khu vực nghiên cứu được phân chia thành các đới listric khác nhau: Đới Hải Sư Nâu (HSN)- Agate; đới Hải Sư Đen (HSD)- Hổ Đen (HD); đới Thăng Long và đới Phương Đông-Jade Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng thành phần thạch học của tập E trong đới HSN-Agate có thành phần vật chất mịn hơn so với chúng ở đới listic HSD-HD, đới Thăng Long và đới Phương Đông-Jade Thành phần phun trào trong đới listric HSD-
HD chiếm tỷ trọng cao và phong phú hơn nhiều so với các đới khác Chiều dày của các thành tạo trong các bán địa hào của các đới listric khác nhau thì rất khác nhau, chúng dày hơn ở đới HSN-Agate và mỏng nhất ở đới Thăng Long Nói tóm lại tính phân dị tướng trầm tích, sự biến đổi chiều dày của các thành tạo trong giai đoạn S1
là rất cao liên quan chặt chẽ đến sự phân dị địa hình lớn trong giai đoạn đầu tạo rift
Kế tiếp của quá trình tách giãn là quá trình nén ép của pha biến dạng D2.2 xảy ra vào cuối Oligocen sớm, tác động lên khu vực nghiên cứu mà trực tiếp là các thành tạo tập E/E (các thành tạo của hệ tầng Cà Cối và Trà Cú) và các thành tạo móng trước Kainozoi Lúc này các thành tạo trầm tích bị uốn nếp vò nhàu tạo nên các cấu trúc nghịch đảo kiến tạo, nghĩa là có những thành tạo trầm tích của
Phụ giai đoạn S2
Phụ giai đoạn S1
Hình 2 Các phụ giai đoạn phát triển địa chất trong giai đoạn Eocen-Oligocen
Các di chỉ nhận biết Pha
biến dạng Địa động lực khu vực Địa tầng
Các đứt gãy trượt bằng phương Đông- Tây-Nam- Bắc
Các đứt gãy nghịch phương Đông Bắc-Tây Nam
Các nếp uốn phương Đông Bắc-Tây Nam Các đứt gãy dạng Listric phương Đông Bắc-Tây Nam
Các bán địa hào, bán địa lũy phương Tây Bắc-Đông Nam
Khe nứt tách phương Đông Bắc-Tây Nam lấp đầy bởi các dyke mạch mai c và fel c
Bề mặt san bằng Đông Dương
D2
D2
D2
D2Tách giãn
Tách giãn Nén ép Nén ép
Nghịch đảo nâng lên bóc mòn bề mặt
Trang 32tập E và F trước đây được thành tạo ở các trũng sâu, có
chiều dày lớn, nay dưới tác dụng của ứng suất nén ép
chúng bị đẩy lên cao tạo nên các nếp uốn lồi hay các cấu
trúc khối nâng (Hình 3) Các đứt gãy thuận listric phương
Đông Bắc-Tây Nam được hình thành trong pha biến dạng
tách giãn trước đây (D2.1) nay tái hoạt động trở lại nhưng
với cơ chế dịch chuyển nghịch Các đứt gãy trượt bằng
phải theo phương vĩ tuyến và trượt bằng trái theo phương
kinh tuyến cũng phát sinh trong giai đoạn nén ép này, làm
cho các thành tạo địa chất được hình thành trước đây bị
phân dị và phá hủy mạnh mẽ, đặc biệt là các thành tạo đá
móng trước Kainozoi
Tóm lại, dưới tác động của pha nén ép (D2.2) đầu D
cuối E, khu vực Đông Bắc bể Cửu Long được nâng lên, uốn
nếp, vò nhàu mạnh mẽ, một loạt đứt gãy mới được hình
thành như đứt gãy nghịch phương Đông Bắc-Tây Nam,
trược bằng phải phương vĩ tuyến, trượt bằng trái phương kinh tuyến và một số đứt gãy lớn listric phương Tây Bắc-Đông Nam bị tái hoạt động trở lại, các thành tạo E và cổ hơn bị bào mòn mạnh mẽ tạo nên bề mặt bất chỉnh hợp giữa tập E và tập D (Hình 4)
2 Phụ giai đoạn phát triển địa chất trong Oligocen muộn (S2)
Phụ giai đoạn S2 là giai đoạn phát triển địa chất từ cuối Oligocen sớm đến cuối Oligocen muộn, dưới tác động của 2 pha biến dạng: tách giãn (D2.3) xảy ra trước, nén ép (D2.4) xảy ra sau (Hình 2) Đây là giai đoạn được bắt đầu bởi quá trình tách dãn đồng trầm tích tập D Di chỉ của pha này là các bán địa hào, bán địa lũy kiểu listric kéo dài theo phương Đông-Tây và phương Đông Bắc-Tây Nam (đã được kế thừa từ trước) Kết thúc giai đoạn S2 này xảy
ra quá trình nén ép thuộc pha D2.4 và sụt lún do nhiệt cuối Oligocene muộn để hình thành nên bề mặt bất chỉnh hợp giữa tập D và C và các phức hệ nếp uốn, các
hệ thống đứt gãy
Vào cuối Oligocen sớm, khu vực nghiên cứu trải qua một quá trình nén ép, uốn nếp vò nhàu, đứt gãy, nâng lên bào mòn Kết quả của quá trình này là tạo nên bề mặt bất chỉnh hợp trên nóc tập E hoặc cổ hơn Tiếp theo là quá trình tách giãn của phụ giai đoạn S2 tiếp diễn Lúc này toàn khu vực nghiên cứu chịu tác động của lực tách giãn của pha biến dạng D2.3 Pha này có phương tách giãn Bắc-Nam Dưới tác động
đó, khu vực hình thành nhiều đứt gãy thuận listric có phương Đông Tây tạo nên hàng loạt địa hào có cùng phương Đông Tây Qúa trình lắng đọng trầm tích của tập D xảy ra rộng rãi trong toàn vùng Ngoài sự lún chìm do tác động của tách giãn, khu vực còn chịu ảnh hưởng lún chìm vì nhiệt nên lúc này toàn bộ các bán địa hào được liên thông lại với nhau bởi mực nước hồ, tạo nên trầm tích của tập D được lắng đọng rộng rãi, liên thông và liên tục trong toàn bồn trũng Lúc này các khối móng nâng trong khu vực nghiên cứu hầu hết dần dần được bao phủ bởi trầm tích tập D Vật liệu trầm tích mang tính ổn định hơn, không mang tính địa phương như các đới móng nâng trong giai đoạn S1 mà được đưa từ đất liền ra hồ bởi các dòng sông
và kênh rạch hay trực tiếp từ bờ hồ, ven hồ Với tất cả các yếu tố trên, trầm tích của tập D được phân bố rộng rãi khắp toàn khu vực, thành phần hạt mịn chiếm tỷ phần rất cao (sét kết từ 50 - 80%) Quy luật phân bố khá tương đồng với trầm tích biển, mịn ở phần trung
Hình 3 Cấu trúc nếp uốn lồi nghịch đảo trong E phương Đông
Bắc-Tây Nam tạo cấu tạo Sư Tử Nâu do tác động của lực nén ép pha biến
dạng D2.2
Hình 4 Mô hình lịch sử phát triển địa chất của giai đoạn S1 trong khu
vực nghiên cứu
Trang 33tâm hồ và thô dần về phía rìa của bồn trũng Đặc điểm
tướng biến đổi từ từ, không đột ngột như biến đổi tướng
trong trầm tích của tập E Vì là trầm tích vận chuyển chủ
yếu từ rìa của bồn trũng, không còn là các nguồn trầm
tích địa phương như các đới móng nâng xảy ra trong tập E
hoặc là giai đoạn đầu của quá trình lắng đọng tập D, nên
tướng trầm tích của tập D không còn tùy thuộc nhiều vào
các đới nâng hay các bán địa hào trong tập E Tuy nhiên
bề dày của tập D tại các bán địa hào luôn dày hơn các bán
địa lũy trong khu vực nghiên cứu
Với thành phần hạt mịn chiếm phần chủ yếu, môi
trường lắng đọng trầm tích trong lúc này là môi trường hồ
khép kín Hàm lượng hữu cơ trong trầm tích mịn của tập
D có tính chất sinh dầu rất cao, đóng góp rất lớn cho bồn
trũng Cửu Long Đây là một bồn trũng với một hệ thống
dầu khí hoàn chỉnh và tuyệt vời Mô hình lịch sử phát triển
địa chất trong giai đoạn thành tạo tập D và các thành tạo
trước đó được thể hiện ở Hình 5
Tiếp theo quá trình tách giãn và sụt lún, lắng đọng
trầm tích rộng rãi của tập D là quá trình nén ép của pha
biến dạng D2.4 Bước vào thời kỳ này, dưới tác động của
lực nén ép, các thành tạo của trầm tích tập D và cổ hơn bị
uốn nếp và đứt gãy xảy ra từ từ và lâu dài Nhiều nơi trong
khu vực được nâng lên khỏi mặt nước hồ và trải qua quá
trình ngừng nghỉ lắng đọng trầm tích và bị bào mòn để
tạo nên bề mặt bất chỉnh hợp nóc của tập D Trong khi đó
ở khu vực khác bề mặt trầm tích vẫn dưới bề mặt hồ, quá
trình lắng đọng trầm tích tập C vẫn tiếp tục xảy ra, vì thế
nhiều nơi trong khu vực nghiên cứu trầm tích tập C được
kề áp vào nóc của tập D Khu vực Gió Đông và Hải Sư Nâu
là một ví dụ (Hình 6)
Quá trình thành tạo tập C vẫn được diễn ra song song
với quá trình nén ép của pha biến dạng D2.4, vì thế diện
tích trầm tích của tập C bị thu hẹp dần Thành phần hạt
thô trong thành tạo trầm tích C vì thế mà thô dần theo thời gian và theo trình tự từ dưới lên trên, nói chung theo quy luật trầm tích của biển thoái Và cuối cùng là kết thúc quá trình thành tạo tập C, hình thành bề mặt bất chỉnh hợp giữa tập C và các thành tạo trẻ hơn được lắng đọng, trầm tích trong giai đoạn tiếp theo
Tóm lại, lịch sử phát triển địa chất kiến tạo trong giai
đoạn Eocen-Oligocen của phần Đông Bắc bồn trũng Cửu Long là quá trình thành tạo bồn trũng rift với các trầm tích được lấp đầy các bán địa hào và phủ lên các địa lũy gồm có các tập F?, E, D và C Các thời kỳ tách giãn trong Oligocen sớm và Oligocen muộn kết hợp với quá trình lún chìm vì nhiệt trong Oligocen muộn đã thành tạo nên các thành hệ trầm tích môi trường lục địa Các thành tạo này đặc trưng chủ yếu là hạt thô ở tập E và hạt mịn ở tập D Chúng đóng vai trò tầng sinh và tầng chắn rất tốt Mặt khác, chúng lại được phủ bởi trầm tích hạt thô dần của tập
C được hình thành trong quá trình nén ép xảy ra vào cuối Oligocen muộn Các thời kỳ nén ép xảy ra cuối Oligocen sớm và cuối Oligocen muộn đã tác động lên các thành tạo trầm tích tập E, F, D và C để hình thành nên các cấu trúc nếp uốn, đứt gãy, bất chỉnh hợp mang vai trò vô cùng quan trọng cho hệ thống dầu khí của khu vực nghiên cứu
Tài liệu tham khảo
1 Tạ Trọng Thắng, Lê Văn Mạnh, Chu Văn Ngợi, 2003 Địa chất cấu tạo và đo vẽ bản đồ địa chất
2 Tạ Thị Thu Hoài, 2002 Sơ lược lịch sử phát triển biến dạng khu vực đới Đà Lạt và bồn trũng Cửu Long Địa chất tài nguyên môi trường Nam Việt Nam, tr 100-109 LĐ BĐ ĐC miền Nam
3 Tạ Thị Thu Hoài, Phạm Huy Long, 2009 Các giai đoạn biến dạng ở bồn trũng Cửu Long TC Phát triển Khoa học & Công nghệ, số 12, tr.110-116
Hình 6 Mô hình lịch sử phát triển địa chất đến kết thúc phụ giai
đoạn S2, kết thúc hoàn chỉnh các thành tạo Eocen-Oligocen trong khu vực nghiên cứu
Hình 5 Mô hình lịch sử phát triển địa chất của phụ giai đoạn S2,
kết thúc thành tạo tập D, pha tách giãn D2.3
Trang 34I THỰC NGHIỆM
1 Lựa chọn vật liệu nghiên cứu
Mẫu thép được lựa chọn nghiên cứu dựa trên các tiêu
Thành phần hoá học của 4 loại thép được lựa chọn để nghiên cứu được cho trong Bảng 1
2 Tiến hành đặt mẫu thép tại hiện trường
Nhóm tác giả đã tiến hành khảo sát thực địa tại xã Long Sơn tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu để xác định vị trí đặt mẫu thép trong các môi trường đất, không khí và nước biển.Sau đó cách 3 tháng một lần nhóm tác giả lấy mẫu thép xác định tốc độ ăn mòn
Đánh‱giá‱khả‱năng‱ăn‱mòn‱v t‱li u‱kim‱lo i‱trong‱ các‱môi‱trư ng‱₫ t,‱nư c,‱khí‱quy n‱khu‱v c‱Nhà‱ máy‱l c‱hóa‱d u‱S ‱3‱-‱Giai‱₫o n‱hai
ThS Phan Trọng Hiếu, ThS Phạm Vũ Dũng, ThS Phan Công Thành ThS Nguyễn Xuân Trường, PGS TS Nguyễn Thị Lê Hiền
Viện Dầu khí Việt Nam
TỔNG QUAN
Kiểm soát ăn mòn là một phần không thể thiếu đối với một nhà máy sản xuất công nghiệp Kiểm soát ăn mòn giúp các nhà công nghệ nắm bắt được tác động ăn mòn kim loại đối với thiết bị công nghệ nhà máy, từ đó đưa ra được chương trình kiểm soát ăn mòn kim loại hợp lý, chính xác, hiệu quả và kinh tế Đề tài: “Đánh giá khả năng ăn mòn vật liệu kim loại của môi trường đất, nước, khí quyển ở khu vực Nhà máy lọc dầ u Số 3, Long Sơn - Bà Rịa Vũng Tàu” đã được Tập đoàn Dầu khí Việt Nam giao nhiệm vụ cho Trung tâm Ứng dụng và Chuyển giao Công nghệ, Viện Dầu khí Việt Nam thực hiện Nhóm tác giả đã tiến hành khảo sát, đánh giá ăn mòn bốn loại thép (CT3, JIS 41, SS 400, và API 5L) tại hiện trường và trong phòng thí nghiệm trong thời gian 30 tháng.
Bảng 1 Thành phần hoá học của các loại thép nghiên cứu
Trang 353 Phương pháp đánh giá tốc độ ăn mòn kim loại 3.1 Phương pháp mất khối lượng
Sau thời gian phơi mẫu ngoài hiện trường, các mẫu thép sẽ được lấy về tẩ y rửa sạch, đem cân mẫu với độ chính xác 0,1mg để xác định lượng thép bị hao hụt:
Tốc độ ăn mòn được tính toán theo công thức:
Văn mòn = mm/nămDG: Lượng thép bị hao hụt trước và sau khi thử nghiệm, mg
S: Diện tích mẫu, mm2
t: Thời gian thử nghiệm, hd: Khối lượng riêng của thép, 7,86g/cm3
3.2 Phương pháp điện hóa
Các mẫu thép được đo trong dung dịch nghiên cứu là nước biển vịnh Gành Rái, biển Long Sơn và một số mẫu nước ngọt lấy ở khu vực đảo Long Sơn theo thời gian khác nhau Các phép đo được thực hiện trong điều kiện tĩnh ở nhiệt độ phòng, điện cực
so sánh là điện cực Calomen, điện cực phụ là điện cực kim loại Quá trình đo được thực hiện trên máy Potentiostart Model 273A do hãng EG & G USA sản xuất Toàn bộ quá trình đo và tính toán tốc độ ăn mòn được thực hiện tự động bằng một phần mềm chuyên dụng
Tốc độ ăn mòn được tính theo công thức sau:
Vcor =
Vcor(Văn mòn): Tốc độ ăn mòn,
Icor : Cường độ dòng ăn mònt: Thời gian ăn mòn
d: khối lượng riêng của kim loại bị ăn mòn
II KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1 Tốc độ ăn mòn thép trong môi trường khí quyển
Tốc độ ăn mòn thép trong khí quyển được biểu diễn bằng đồ thị trong Hình 4
Hì nh 2 Vị trí đặ t mẫ u thép trong đấ t
Hì nh 1 Vị trí đặ t mẫ u thép trong không khí
Hì nh 3 Vị trí đặ t mẫ u thép trong nướ c biể n
Trang 36Tốc độ ăn mòn các loại thép trong khí quyển khu vực Long Sơn nhìn chung có xu hướng tăng nhanh trong vòng 6 tháng đầu đặt mẫu; sau đó tốc độ ăn mòn bắt đầu giảm dần trong khoảng thời gian từ tháng thứ 6 cho tới tháng thứ 15 và giữ ổn định đến hết thời gian thử nghiệm (tháng thứ 27).
Trong 4 loại thép thử nghiệm phơi mẫu hiện trường trong khí quyển Long Sơn, trong khoảng 12 tháng đầu phơi mẫu, tốc độ ăn mòn thép dao động trong khoảng 0,015 - 0,025mm/năm và có xu hướng tăng dần theo thứ tự các loại thép thử nghiệm như sau: CT3< SS400 < JIS-41 < API-5L;
Sau đó, tốc độ ăn mòn của các mẫu thép thử nghiệm trong môi trường khí quyển Long Sơn dần ổn định (0,013 - 0,016 mm/năm) Tốc
độ ăn mòn các loại thép thử nghiệm không chênh lệch nhau nhiều (khoảng 0,003mm/năm)
Các mẫu thép thử nghiệm hiện trường được tiến hành chụp ảnh và phân tích kim tương để xác định dạng ăn mòn chủ yếu trên
bề mặt kim loại Kết quả phân tích kim tương
bề mặt thép thử nghiệm hiện trường thể hiện trong các Hình 5 - 6
Quan sát bề mặt mẫu thử nghiệm cho thấy dạng ăn mòn chủ yếu trên các mẫu thép đặt trong khí quyển Long Sơn là ăn mòn đều; các vẩy rỉ xuất hiện đều khắp bề mặt mẫu, phần dưới của các mẫu thép mật độ rỉ dày hơn (phần đọng nước trong điều kiện thử nghiệm).Ảnh hiển vi kim tương mặt cắt mẫu thép cho thấy hình thái chiều dày lớp rỉ bề mặt thép khá bằng phẳng (mức độ mấp mô bề mặt thấp) Điều này khẳng định dạng ăn mòn chủ yếu trong khí quyển Long Sơn là ăn mòn đều Các dạng ăn mòn cục bộ có xuất hiện không nhiều trên bề mặt thép trong khí quyển
2 Tốc độ ăn mòn thép trong môi trường đất
Tương quan ăn mòn giữa các loại thép theo thời gian phơi mẫu tại hiện trường được biểu diễn trên đồ thị Hình 7
Bề mặt thép SS400 sau 27 tháng
Hình 6 Mặt cắt mẫu thép hiện trường SS400 trong khí quyển Long Sơn
Hình 4 Tốc độ ăn mòn thép trong không khí khu vực Long Sơn
Hình 5 Bề mặt ăn mòn thép SS400 trong khí quyển Long Sơn
Mặt cắt thép SS400 sau 27 tháng
Bề mặt thép SS400 sau 21 tháng
Mặt cắt thép SS400 sau 21 tháng
Trang 37Tốc độ ăn mòn các loại thép biến đổi tuần
hoàn theo hai mùa rõ rệt: tăng vào mùa mưa và
giảm vào mùa khô Tốc độ ăn mòn các loại thép
thử nghiệm dao động trong khoảng: 0,042 -
0,109mm/năm Giá trị cực đại tốc độ ăn mòn đạt
được là 0,109mm/năm đối với thép API 5L tại thời
điểm 6 tháng phơi mẫu
Trong thời gian 6 tháng đầu tốc độ ăn mòn
các loại thép thử nghiệm khá cao do lớp oxit hình
thành trên bề mặt thép chưa bao phủ kín toàn bộ
bề mặt, do đó tác động ngăn cản các phản ứng
điện cực và quá trình khuyếch tán các chất tới
bề mặt không đáng kể Theo thời gian tốc độ ăn
mòn có xu hướng giảm do lớp màng oxit trên bề
mặt thép phát huy tác dụng ngăn cản quá trình
ăn mòn
Nhìn chung tốc độ ăn mòn các loại thép thử
nghiệm là gần như nhau do có cùng bản chất và
thành phần hợp kim gần như tương tự nhau
Các mẫu thép thử nghiệm hiện trường được
tiến hành chụp ảnh và phân tích kim tương để
xác định dạng ăn mòn chủ yếu trên bề mặt kim
loại Kết quả phân tích kim tương bề mặt thép thử
nghiệm hiện trường thể hiện trong các Hình 8, 9
Quan sát hình ảnh bề mặt mẫu thép trong đất
sau 21 tháng và 27 tháng, có thể nhận thấy, sản
phẩm quá trình ăn mòn tạo thành các lớp rỉ bao
trùm khắp bề mặt thép Các lớp oxit xếp chồng
lên nhau tạo thành vẩy rỉ dày và xốp dễ bong tróc
Mặt cắt mẫu thép thử nghiệm cho thấy lớp rỉ
trên bề mặt không đồng đều và đã xuất hiện các
dạng ăn mòn lỗ với các kích thước lỗ tăng theo
thời gian phơi mẫu Khác với ăn mòn thép trong
khí quyển, do thành phần chất điện ly trong đất
thay đổi theo và vì vậy ăn mòn galvanic xuất hiện
ngày một nhiều tạo nên ăn mòn cục bộ dạng lỗ
trên bề mặt thép
3 Tốc độ ăn mòn thép trong môi trường nước
ngọt
Tốc độ ăn mòn các mẫu thép trong nước ngọt
khu vực Long Sơn được xác định bằng phương
pháp điện trở phân cực
Hình 7 Tốc độ ăn mòn các loại thép trong đất khu vực Long Sơn
Hình 9 Mặt cắt mẫu thép JIS41 bị ăn mòn trong đất theo thời gian
Hình 8 Bề mặt thép JIS41 bị ăn mòn trong đất theo thời gian
Bề mặt thép JIS 41 sau 21 tháng
Bề mặt thép JIS 41 sau 21 tháng
Bề mặt thép JIS 41 sau 27 tháng
Bề mặt thép JIS 41 sau 27 tháng
Trang 38Các mẫu nước hiện trường được thu thập và khảo
sát tính ăn mòn trên các loại thép thử nghiệm tiêu chuẩn
trong phòng thí nghiệm bằng phương pháp điện trở
phân cực Các kết quả thể hiện trong các Bảng 2 - 5
Tốc độ ăn mòn các loại thép thử nghiệm trong các mẫu
nước lấy tại các vị trí khác nhau nhìn chung chênh lệch nhau
không nhiều ở điều kiện tĩnh trong phòng thí nghiệm
Mức độ ăn mòn thép trong môi trường nước ngọt khu
vực Long Sơn khá ổn định theo thời gian và có giá trị dao động trong khoảng 0,03 - 0,07mm/năm
Tốc độ ăn mòn các loại thép thử nghiệm tăng theo nồng độ oxy hòa tan, độ muối, độ dẫn điện, nồng độ ion
Cl-, SO42- và giảm khi pH môi trường tăng
Tương quan mức độ ăn mòn giữa các loại thép không thật rõ nét
Bảng 2 Tốc độ ăn mòn thép CT3 trong nước ngọt vùng Long Sơn - Bà Rịa Vũng Tàu
Bảng 3 Tốc độ ăn mòn thép JIS-41 trong nước ngọt vùng Long Sơn - Bà Rịa Vũng Tàu
Bảng 4 Tốc độ ăn mòn thép SS-400 trong nước ngọt vùng Long Sơn - Bà Rịa Vũng Tàu
Trang 39Bảng 5 Tốc độ ăn mòn thép API-5L trong nước ngọt vùng Long Sơn - Bà Rịa Vũng Tàu
4 Tốc độ ăn mòn trong môi trường nước biển
Ăn mòn thép trong các môi trường nước biển Long
Sơn được xác định trong hai điều kiện:
+ Trong phòng thí nghiệm bằng phương pháp điện
trở phân cực Ở điều kiện này tác động ăn mòn kim loại
của dung dịch nước biển được tiến hành khảo sát chỉ tính
tới ảnh hưởng của sự biến đổi thành phần nước biển lên
quá trình ăn mòn thép theo thời gian mà không bị tác
động bởi các yếu tố khí hậu tự nhiên
+ Phơi mẫu thép trong môi trường tự nhiên Ở điều
kiện này tác động tổng hợp của tất cả các yếu tố tự nhiên
lên quá trình ăn mòn thép được so sánh với các kết quả
khảo sát trong điều kiện phòng thí nghiệm Từ đó, đánh
giá được ảnh hưởng của từng nhân tố lên quá trình ăn mòn thép trong môi trường nước biển khu vực Long Sơn.Kết quả xác định tốc độ ăn mòn các loại thép nghiên cứu trong các mẫu nước biển khu vực Long Sơn thu được trong phòng thí nghiệm được trình bày trong các Bảng
6 - 7
Nhìn chung, tốc độ ăn mòn các loại thép thử nghiệm trong nước biển ở điều kiện tĩnh trong phòng thí nghiệm được xác định bằng phép đo đường cong phân cực khá
ổn định
Tốc độ ăn mòn các loại thép khảo sát tại các vị trí đặt mẫu ngoài biển và gần bờ gần như tương đương, không thấy có sự khác biệt lớn Điều này cho thấy, nếu không
Bảng 7 Tốc độ ăn mòn thép trong nước biển gần bờ vịnh Gành Rái biển Long Sơn - Bà Rịa Vũng Tàu Bảng 6 Tốc độ ăn mòn thép trong nước biển đặt mẫu vịnh Gành Rái biển Long Sơn - Bà Rịa Vũng Tàu
Trang 40có tác động của các điều kiện môi trường,
thì do thành phần nước biển khá đồng nhất
trong vịnh nên tốc độ ăn mòn thép cũng ít
thay đổi
Tốc độ ăn mòn thép trong nước biển ở
điều kiện tĩnh trong phòng thí nghiệm dao
động trong khoảng: 0,112 - 0,149mm/năm
Kết quả xác định tốc độ ăn mòn các loại
thép trong điều kiện phơi mẫu môi trường
nước biển thể hiện qua các Hình 10, 11
Tốc độ ăn mòn thép vùng ngập nước
trong điều kiện thực tế cho thấy có tăng
hơn so với điều kiện tĩnh trong phòng thí
nghiệm, do các tác động môi trường: nồng
độ oxy hòa tan, dòng chảy, vi sinh vật… tuy
mức độ tăng không nhiều
Tốc độ ăn mòn các loại thép trong vùng
này là gần như nhau trong cùng điều kiện
môi trường thực tế và có giá trị dao động
trong khoảng 0,125 - 0,195mm/năm
Ở vùng thủy triều lên xuống, hay chính
xác hơn là ở vùng “bắn tóe”, nơi bề mặt thép
lúc thì chìm trong nước biển, lúc thì phơi
ngoài không khí và bề mặt luôn có nước
chảy thành màng
Do đặc thù của vùng này luôn chịu tác
động của các yếu tố xúc tiến quá trình ăn
mòn: oxy, nhiệt độ, sóng, gió… nên tốc độ
ăn mòn các loại thép trong vùng này tăng
cao hơn hẳn vùng ngập sâu trong nước và
có giá trị dao động trong khoảng: 0,33 -
0,9mm/năm
Nhìn chung tốc độ ăn mòn các loại thép
thử nghiệm trong môi trường nước biển
Long Sơn khá ổn định và không chênh lệch
nhiều giữa các loại thép thử nghiệm
Tốc độ ăn mòn thép trong vùng này khá
cao trong thời gian đầu (0,8 - 0,9mm/năm),
sau đó giảm dần theo thời gian và đạt tới giá
trị ổn định (0,3 - 0,5mm/năm) tùy từng loại
thép từ tháng thứ 18 trở đi
Các mẫu thép thử nghiệm hiện trường
được tiến hành chụp ảnh và phân tích kim
Hình 11 Tốc độ ăn mòn thép trong vùng mực nước thay đổi biển Long Sơn Hình 10 Tương quan ăn mòn thép trong vùng ngập nước
Hình 12 Bề mặt thép CT3 trong vùng ngập nước biển Long Sơn