Nguyễn Phúc Lương Đề cương ôn tập Tiêu chuẩn lao động quốc tế 1a Phân tích 1 nhận định hay quan điểm liên quan đến Tiêu chuẩn lao động quốc tế Nhận định cần phân tích “Các tiêu chuẩn quốc tế về QHLĐ l.
Trang 1Nguyễn Phúc Lương
Đề cương ôn tập Tiêu chuẩn lao động quốc tế
1a Phân tích 1 nhận định hay quan điểm liên quan đến Tiêu chuẩn lao động quốc tế
Nhận định cần phân tích: “Các tiêu chuẩn quốc tế về QHLĐ là những tiêu chuẩn cần phải dành sự quan tâm thích đáng vì nó tạo ra những lợi ích không nhỏ, nhưng cũng đặt ra những thách thức lớn đối với cả hệ thống QHLĐ trong nước”
Tiêu chuẩn lao động quốc tế tạo ra nhiều lợi ích cho Việt Nam Đầu tiên, tiêu chuẩn lao động quốc tế giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên trong quan hệ lao động, đóng vai trò
bổ sung cho luật pháp sở tại Việc nội luật hóa các tiêu chuẩn quốc tế về quan hệ lao động góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý và chính sách về lao động tại Việt Nam, tác động lớn đến công tác lập pháp và triển khai Đây là cơ sở cho người lao động, người sử dụng lao động và nhà nước thực hiện quyền và nghĩa vụ của từng bên Thứ hai, tiêu chuẩn lao động quốc tế là nền tảng
để Việt Nam gia nhập các Hiệp định thương mại, thu hút và nâng cao tính cạnh tranh trên trường quốc tế Nhằm bảo đảm môi trường cạnh tranh công bằng giữa các bên trong quan hệ thương mại, các bên tham gia đều phải tuân thủ các cam kết về lao động Vì thế, Việt Nam đang từng bước nội luật hóa các tiêu chuẩn lao động quốc tế để phù hợp với các cam kết về lao động Việc phê chuẩn, thực hiện các Công ước hay Khuyến nghị sẽ thiết lập thỏa thuận quốc tế về các quyền lao động cơ bản; đặt ra nền tảng tối thiểu cho cạnh tranh công bằng ở cấp quốc gia và quốc tế; tạo một khuôn khổ quốc tế nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế toàn cầu mang lại lợi ích cho tất cả mọi người; bảo đảm sức khỏe, phúc lợi và tiếng nói của người lao động, tạo điều kiện để người lao động đòi hỏi các nhu cầu chính đáng khác
Tuy nhiên, các tiêu chuẩn lao động quốc tế cũng đặt ra nhiều thách thức lớn với hệ thống quan hệ lao động tại Việt Nam Thứ nhất, dù nhìn chung, Việt Nam đã xây dựng khung pháp lý tiệm cận với tiêu chuẩn chung của lao động quốc tế, vẫn còn tồn tại một số điểm chưa tương thích so với các tiêu chuẩn lao động quốc tế Đơn cử như độ tuổi lao động tối thiểu được quy định tại Công ước 138 là không dưới 15 hoặc không được dưới độ tuổi kết thúc chương trình giáo dục bắt buộc, nhưng tại Mục 35 Phụ lục III, Thông tư số 09/2020 quy định về các công việc trên tàu đi biển không cụ thể về phạm vi công việc Điều này có thể tạo điều kiện cho NSDLĐ lợi dụng sự không rõ ràng trong quy định để bóc lột lao động chưa thành niên Điểm thứ hai, theo Cố vấn trưởng của Dự án Khuôn khổ lao động mới của ILO, Việt Nam hiện chưa có hệ thống giám sát các tiêu chuẩn lao động quốc tế ở cấp quốc gia và việc phối kết hợp giữa các đối tác ba bên trong áp dụng và báo cáo tình hình áp dụng các tiêu chuẩn lao động quốc tế vẫn còn mang tính hình thức Điều này cho thấy để tuân thủ các tiêu chuẩn lao động quốc tế, Việt Nam vẫn phải thực hiện nhiều biện pháp để hoàn thiện luật pháp và đẩy mạnh công tác triển khai, giám sát tuân thủ thực tế
2a Phân tích tình hình tuân thủ các công ước cơ bản về lao động của ILO ở Việt Nam
Trang 2Việc chính thức thông qua tám công ước cơ bản của ILO là một nỗ lực đáng ghi nhận của
hệ thống pháp luật Việt Nam trong việc xây dựng hành lang pháp lý, cải tiến các quy định, tiêu chuẩn hiện hành về lao động với mục đích nâng cao năng lực bảo vệ quyền và nghĩa vụ hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ lao động Tuy vậy, trên thực tế, dù đã đạt được rất nhiều thành tựu
và bước tiến lớn, việc tuân thủ các tiêu chuẩn lao động của ILO tại Việt Nam vẫn còn hạn chế, bất cập và thiếu cơ chế giám sát để đảm bảo mức độ tuân thủ cao
Đối với cặp Công ước 87 (Tự do hiệp hội và bảo vệ tổ chức năm 1948) và Công ước 98 (Quyền tổ chức và thương lượng tập thể năm 1949), Việt Nam mới chỉ phê chuẩn Công ước 98 Theo kế hoạch, việc phê chuẩn Công ước 87 dự kiến được thực hiện vào năm 2023 Để công ước này được phê chuẩn, mỗi tổ chức đại diện Người lao động (NLĐ) phải chứng minh rằng các hoạt động trong tổ chức hay liên hội là hợp pháp và đảm bảo thực hiện bảo vệ các quyền và lợi ích của NLĐ, nhưng việc chứng minh này tại Việt Nam vẫn chưa được hiệu quả và rõ ràng để công ước có thể được phê chuẩn và đưa vào thực tiễn Đối với Công ước 98, Bộ Luật Lao động 1995
đã trao cho công đoàn cơ sở quyền đại diện người lao động tiến hành thương lượng các thỏa ước lao động tập thể ở cấp độ doanh nghiệp, đồng thời đã chú trọng hơn tới việc thực hiện thương lượng tập thể tự nguyện, một công cụ cần thiết đối với một nền kinh tế thị trường hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong tiến trình hội nhập toàn cầu sâu rộng Nội dung thay đổi quan trọng nhất trong Bộ Luật Lao động sửa đổi lần này là khả năng người lao động tại doanh nghiệp được quyền thành lập hay tham gia một tổ chức đại diện do họ lựa chọn, không nhất thiết phải là thành viên của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Bên cạnh đó, trên thực tế, một số thỏa ước lao động tập thể cấp ngành và nhóm doanh nghiệp đã được thương lượng và ký kết như Dệt may, Cao su hoặc Du lịch tại một số địa phương (Hạ Long, Đà Nẵng) Vào năm 2018, theo số liệu trong Báo cáo Quan hệ Lao động 2019 của ILO, tỷ lệ bao phủ của thỏa ước lao động tập thể đạt 32.9%, dù chưa cao nhưng đã thể hiện mức độ thực hiện tương đối hoàn thiện và tiệm cận được yêu cầu của tiêu chuẩn lao động quốc tế
Đối với cặp Công ước 29 (Xóa bỏ lao động cưỡng bức năm 1930) và Công ước 105 (Xóa
bỏ lao động cưỡng bức năm 1957), Việt Nam đã thông qua và phê chuẩn cả hai công ước này, lần lượt vào năm 2007 và 2020 Dù chưa có một bộ luật riêng về cưỡng bức lao động nhưng các quy định liên quan đã được ghi nhận ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau, bao gồm cả Bộ Luật Lao động 2019 Trong đó, pháp luật nước ta quy định nạn nhân bị mua bán người là những đối tượng bị LĐCB và hiện tượng này cần được xóa bỏ Bộ luật Hình sự 2015 thể hiện tinh thần của Nhà nước trong vấn đề hạn chế, ngăn chặn loại tội phạm liên quan đến lao động cưỡng bức Bên cạnh đó, các công việc liên quan đến nghĩa vụ quân sự hoặc do quyết định của tòa án, được tiến hành dưới sự giám sát của người có thẩm quyền hoặc bắt buộc phải thực hiện vì trường hợp khẩn cấp, bất khả kháng đều được quy định rõ ràng, rải rác trong các luật chuyên ngành của Việt Nam, đồng thời, không thuộc phạm vi điều chỉnh của hai Công ước trên Trên thực tế, hiện tượng LĐCB còn tồn tại ở Việt Nam dưới các hình thức khác nhau trong tuyển dụng lao động, nạn buôn người, lao động trong các trung tâm cai nghiện, tù nhân, v.v Đối với lao động trong các doanh nghiệp, theo Tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản, việc thu giữ giấy tờ tùy thân của NLĐ là một hành vi vi phạm Tuy nhiên, ở Việt Nam, theo Báo cáo số 146/BC của BLĐTBXH ngày 31/12/2017, khoảng 24.28% NLĐ phải nộp các giấy tờ tùy thân của họ cho người sử dụng lao
Trang 3động Ngoài ra, thời gian thử việc thực tế của NLĐ tại một số doanh nghiệp dài hơn so với luật, với mức lương thử việc bằng mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định Vì vậy, NSDLĐ đã buộc NLĐ làm thử việc trong thời gian dài với mức lương thấp, là biểu hiện của LĐCB Bên cạnh đó, trong báo cáo thường niên về Tình trạng buôn người thế giới 2018 được Bộ Ngoại giao
Mỹ công bố, Việt Nam xếp Bậc 2, tức các quốc gia có vấn đề trong địa hạt buôn người Các công
ty xuất khẩu lao động Việt Nam và các cá nhân môi giới lao động trung gian không giấy phép đã bắt NLĐ phải đóng những khoản phí vượt mức quy định của pháp luật để đi xuất khẩu lao động Kết quả, NLĐ Việt Nam phải gánh chịu những khoản nợ cao nhất trong số những lao động người châu Á, và họ rất dễ rơi vào hoàn cảnh bị cưỡng ép lao động, bao gồm việc phải làm công trừ nợ Các điểm trên thể hiện tình hình tuân thủ hai Công ước về LĐCB tại Việt Nam vẫn còn hạn chế
Đối với Công ước 100 (Trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ năm 1951)
và Công ước 111 (Chống phân biệt đối xử trong công việc năm 1958), Việt Nam đều phê chuẩn
cả hai công ước này vào năm 1997 Hiện nay, tại Việt Nam, loại hình PBĐX chủ yếu được nhắc đến là phân biệt về giới tính Một tín hiệu đáng mừng là PBĐX dựa trên giới tính tại nơi làm việc
bị nghiêm cấm thông qua các văn bản quy phạm pháp luật Bộ Luật Lao động 2019 yêu cầu NSDLĐ phải bảo đảm thực hiện bình đẳng giới và các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương và các chế độ khác Ngoài ra, Việt Nam cũng riêng Luật Bình đẳng giới để đảm bảo quyền lợi của lao động nữ
Dù luật pháp đã đưa ra một khuôn khổ pháp lý khá đầy đủ để bảo vệ NLĐ không bị phân biệt đối
xử dựa trên giới tính, trên thực tế, hiện tượng này vẫn xảy ra Cụ thể, theo báo cáo của ILO và Navigos Search về Bình đẳng giới trong thực tiễn, tuyển dụng và thăng tiến tại Việt Nam năm
2015, có tới 74% chủ lao động tin rằng phụ nữ “nhiều khả năng hơn phải gánh vác những nghĩa
vụ với gia đình liên quan đến hôn nhân, trông trẻ, và/hoặc chăm sóc người già, làm hạn chế sự đóng góp của họ đối với các mục tiêu của công ty” Phụ nữ có thể bị phân biệt đối xử nếu NSDLĐ coi họ như “những quyết định đầu tư rủi ro” do nghĩ rằng họ phải nhận phần nhiều trách nhiệm gia đình, từ đó không cân nhắc và đào tạo họ cho các vị trí cao hơn, ảnh hưởng không tốt đến sự nghiệp của họ Bên cạnh đó, các quảng cáo việc làm nên tránh đề cập đến giới tính bởi đó
là hình thức trực tiếp của phân biệt giới tính nhưng đây là một thực tế phổ biến ở Việt Nam Trong số các việc làm đăng tuyển có yếu tố giới, 70% yêu cầu chỉ tuyển nam giới, còn lại chỉ có 30% mong muốn ứng viên nữ nộp hồ sơ Thêm vào đó, một phần năm các công ty thừa nhận rằng nữ giới thường tập trung ở một số loại hình công việc nhất định, bao gồm kế toán, nhân viên văn phòng, hành chính, và nhân sự Thông qua việc công khai yêu cầu về giới khi đăng tuyển việc làm, việc tiếp cận của phụ nữ và ngay cả nam giới đối với một số loại hình công việc nhất định bị hạn chế về cơ hội tiếp cận, đồng thời doanh nghiệp khó có thể hưởng lợi tối đa từ tài năng của người lao động Các thực tế trên thể hiện mức độ tuân thủ hai công ước về bình đẳng chưa thật sự cao
Đối với Công ước 138 (Độ tuổi tối thiểu năm 1973) và Công ước 182 (Xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất năm 1999), Chính phủ Việt Nam đã phê chuẩn cả hai Công ước này lần lượt vào năm 2003 và 2000 Việt Nam đã thể hiện sự cam kết mạnh mẽ tham gia phòng ngừa lao động trẻ em thông qua việc ban hành hệ thống luật pháp và chính sách liên quan như
Bộ Luật lao động năm 2019 và Luật trẻ em năm 2016 Dù vậy, một số điểm trong luật pháp của
Trang 4Việt Nam vẫn chưa có sự nhất quán với nội dung về độ tuổi tối thiểu Cụ thể, độ tuổi lao động tối thiểu được quy định tại Công ước 138 là không dưới 15 hoặc không được dưới độ tuổi kết thúc chương trình giáo dục bắt buộc, nhưng tại Mục 35 Phụ lục III, Thông tư số 09/2020 quy định về các công việc trên tàu đi biển không cụ thể về phạm vi công việc Điều này có thể tạo điều kiện cho NSDLĐ lợi dụng sự không rõ ràng trong quy định để bóc lột lao động chưa thành niên Việc quy định về độ tuổi tối thiểu của trẻ em được làm việc của Việt Nam phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, tuy nhiên chưa có sự cụ thể hóa đối với những loại hình công việc được phép sử dụng lao động trẻ em và cấm sử dụng lao động trẻ em theo tiêu chuẩn của ILO Trên thực tế, một hiện trạng đáng buồn là trẻ em Việt Nam tại các vùng nông thôn dễ bị bóc lột tình dục vì mục đích thương mại Tài liệu của Bộ LĐTBXH chuẩn bị cho việc phê chuẩn Công ước 105 nêu rõ phần lớn đối tượng là những bé gái 16 tuổi, hầu hết có hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, không có nghề nghiệp (53,3%) Phần lớn các em mới chỉ tốt nghiệp tiểu học, chủ yếu từ nông thôn ra thành phố,
để hoạt động mại dâm (chiếm 55,6%), hoặc phải đi bán hàng rong, ăn xin, làm việc tại các quán
ăn, nhà hàng Một số trẻ em Việt Nam là nạn nhân bị cưỡng ép lao động hoặc phải làm công trừ
nợ tại các nhà xưởng của các gia đình ở đô thị hoặc tại các mỏ khai thác vàng của tư nhân ở vùng nông thôn Có thể thấy, Việt Nam đã thực hiện tuân thủ hai công ước này về mặt lập pháp và thực tế khá tốt nhưng vẫn còn nhiều điểm cần cải thiện
Tài liệu tham khảo:
https://baochinhphu.vn/print/tung-buoc-noi-luat-hoa-cac-tieu-chuan-lao-dong-quoc-te-102261880.htm
https://www.ilo.org/wcmsp5/groups/public/ -asia/ -ro-bangkok/ -ilo-hanoi/documents/
publication/wcms_831337.pdf
https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/phap-luat-viet-nam-ve-xoa-bo-lao-dong-cuong-buc-78817.htm
https://www.ilo.org/wcmsp5/groups/public/ -asia/ -ro-bangkok/ -ilo-hanoi/documents/
publication/wcms_349673.pdf
https://www.vksndtc.gov.vn/tin-tuc/cong-tac-kiem-sat/hoan-thien-phap-luat-ve-su-dung-lao-dong-tre-em-o d10-t10259.html