Điều đó phù hợp với những cam kết mà Việt Nam đã kí kết trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948: “Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân”;1 “Mọi người đều
Trang 1ThS NguyÔn H¶i Ninh *
1 Quyền được đảm bảo an toàn về
tính mạng, sức khoẻ của người tham gia
tố tụng với tư cách người làm chứng trong
vụ án hình sự
Theo quy định tại Điều 55 BLTTHS:
“Người làm chứng là người biết các tình tiết
liên quan đến vụ án hình sự và được cơ quan
tiến hành tố tụng triệu tập với tư cách người
làm chứng” Như vậy, theo quy định của
pháp luật Việt Nam, một người được xác
định tham gia tố tụng với tư cách người làm
chứng khi họ phải là người biết về các tình
tiết liên quan đến vụ án Họ là người không
tham gia vào vụ việc phạm tội, cũng không
bị người phạm tội gây thiệt hại về tài sản,
tính mạng hay tinh thần Nếu họ bị người
phạm tội gây thiệt hại, tư cách của họ trong
vụ án có thể là người bị hại hoặc nguyên đơn
dân sự Trong trường hợp họ tham gia vào
việc phạm tội nhưng được miễn truy cứu
trách nhiệm hình sự, họ có thể tham gia với
tư cách bị đơn dân sự hoặc người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Việc họ
biết những thông tin hay tình tiết liên quan
đến vụ án hình sự hoàn toàn do khách quan
và không phụ thuộc vào ý chí của họ
Trường hợp một người tham gia tố tụng với
tư cách người bào chữa, họ cũng biết các
thông tin về vụ án hình sự do bị can, bị cáo
mà họ bảo vệ quyền lợi cung cấp, tuy nhiên
theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 55 BLTTHS, họ không thể là người làm chứng Chính những thông tin mà người làm chứng biết là những dấu hiệu về nội dung quyết định họ có thể trở thành người làm chứng
Về mặt thủ tục pháp lí, họ phải được cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập với tư cách người làm chứng (họ phải là người có khả năng nhận thức về các tình tiết của vụ án và có khả năng khai báo đúng đắn)
Các chủ thể khi tham gia tố tụng trong vụ
án hình sự với các tư cách pháp lí khác nhau quan tâm đến sự tham gia của người làm chứng với mục đích khác nhau Đối với các
cơ quan tiến hành tố tụng, nguồn tin có được
từ người làm chứng có ý nghĩa trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án hình sự Các chủ thể như người bị hại, nguyên đơn dân sự cũng cần sự có mặt của người làm chứng để xác định những thiệt hại do người phạm tội gây ra cho họ, làm căn cứ để xác định bồi thường thiệt hại Đối với người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nếu người làm chứng là người biết các thông tin
có thể giúp gỡ tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc hình phạt cho họ thì sự hiện diện của người làm chứng trong quá trình giải
* Giảng viên Khoa pháp luật hình sự
Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2quyết vụ án hình sự sẽ có lợi cho họ Trong
trường hợp này, khả năng người làm chứng
gặp nguy hiểm do người phạm tội gây ra
nhằm che giấu hành vi mình đã thực hiện hầu
như là không có Ngược lại, nếu một người
biết các tình tiết trong vụ án hình sự là những
thông tin có tính chất khẳng định sự việc,
hành vi phạm tội, lỗi, các tình tiết có tính chất
tăng nặng trách nhiệm hình sự… thì khi đó sự
hiện diện của người đó trong quá trình giải
quyết vụ án hình sự đối với người phạm tội là
không có lợi Chính vì vậy, người đã thực
hiện hành vi phạm tội có thể có những hành
vi gây nguy hiểm cho người làm chứng (có
thể trực tiếp với người làm chứng hoặc gây
nguy hiểm cho người khác để tác động đến
người làm chứng)
Vì vậy, Nhà nước phải có các biện pháp
bảo vệ người làm chứng để họ cũng như
những người thân của họ không bị xâm hại
về tính mạng, sức khoẻ hay tài sản Việc Nhà
nước áp dụng các biện pháp đó chính là bảo
vệ các quyền cơ bản của công dân không bị
xâm hại Điều đó phù hợp với những cam
kết mà Việt Nam đã kí kết trong Tuyên ngôn
thế giới về nhân quyền năm 1948: “Mọi
người đều có quyền sống, quyền tự do và an
toàn cá nhân”;(1) “Mọi người đều có quyền
được các toà án quốc gia có thẩm quyền
bảo vệ bằng các biện pháp hữu hiệu để
chống lại những hành vi vi phạm các quyền
cơ bản của họ mà đã được hiến pháp hay
luật pháp quy định”.(2)
Một người tham gia tố tụng với tư cách
người làm chứng khi được các cơ quan tiến
hành tố tụng triệu tập Với tư cách đó, họ
không có quyền và lợi ích pháp lí liên quan đến vụ án hình sự đang được giải quyết Người làm chứng là chủ thể tham gia tố tụng không có sự quan tâm pháp lí về kết cục của
vụ án Lí do tham gia của họ trong vụ án hình sự không phải lợi ích cá nhân của họ
mà là lợi ích chung của xã hội: Làm sáng tỏ
sự thật khách quan của vụ án.(3)
Vì vậy, người làm chứng có những yếu tố tâm lí xã hội riêng, mang tính chất đặc thù(4)
không giống như những người tham gia tố tụng khác Họ có thể hoàn toàn không quan tâm đến vụ án đang được giải quyết do không có lợi ích trực tiếp; họ có thể sợ ảnh hưởng đến
uy tín, danh dự của bản thân do có mối quan
hệ với người phạm tội; họ có thể sợ bị xử lí trước pháp luật do có hành vi liên quan ở mức độ nhất định đến sự việc phạm tội; họ
có thể sợ bị trả thù từ phía người phạm tội hoặc gia đình người phạm tội… Trước pháp luật, việc người đó đứng ra làm chứng là thực hiện trách nhiệm của công dân Không thể cho rằng việc họ làm chứng hay không là quyền tự do của công dân bởi vì bên cạnh
quyền của mỗi cá nhân thì “Mọi người đều
có những nghĩa vụ đối với cộng đồng…”.(5)
Để người làm chứng thực hiện nghĩa vụ công dân thì trong trường hợp này phải giải quyết được yếu tố tâm lí để họ yên tâm hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng Vì vậy cần thiết phải có chương trình bảo vệ người làm chứng nhằm chống lại sự xâm hại hoặc đe doạ xâm hại từ phía người phạm tội
2 Thực trạng pháp luật về bảo vệ người làm chứng
Trong quy định của BLTTHS năm 1988,
Trang 3người làm chứng được xác định là người
tham gia tố tụng theo nghĩa vụ và không có
quy định cụ thể nào nhằm bảo vệ người làm
chứng trước nguy cơ bị đe doạ gây thiệt hại
về tính mạng, sức khoẻ BLTTHS năm 2003
có những thay đổi cơ bản khi quy định về
người làm chứng Các quy phạm xác định
người làm chứng không phải là người thuần
tuý tham gia tố tụng theo nghĩa vụ, thể hiện
trong quy định bổ sung nội dung mới, quan
trọng vào nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức
khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công
dân tại Điều 7 như sau: “Người bị hại, người
làm chứng và người tham gia tố tụng khác
cũng như người thân thích của họ mà bị đe
doạ đến tính mạng, sức khoẻ, bị xâm phạm
danh dự, nhân phẩm, tài sản thì cơ quan có
thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng
những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo
quy định của pháp luật”
Ngoài nội dung có tính chất nguyên tắc
như trên, việc được các cơ quan có thẩm
quyền bảo đảm an toàn còn được xác định là
quyền cơ bản của họ, khoản 3 Điều 55 quy
định: “Người làm chứng còn có quyền: a)
Yêu cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ tính
mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài
sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của
mình khi tham gia tố tụng”
Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm
2004 cũng quy định trách nhiệm của cơ quan
điều tra tại khoản 3 Điều 7 như sau: “Trong
phạm vi trách nhiệm của mình, cơ quan điều
tra phải xem xét, giải quyết tin báo, tố giác
về tội phạm, kiến nghị khởi tố, thông báo kết
quả giải quyết cho cơ quan, tổ chức đã báo
tin, kiến nghị, người đã tố giác tội phạm biết
và phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người đã tố giác tội phạm”
Ngoài các quy định chung nêu trên, Nhà nước cũng đã có những văn bản quy định chi tiết hơn về việc bảo vệ người làm chứng trong điều tra các tội phạm về an ninh quốc gia, tội phạm ma tuý và tội phạm tham nhũng vì trong các lĩnh vực này người làm chứng có khả năng bị đe doạ sự an toàn về tính mạng, sức khoẻ rất cao
Trong lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia, Luật an ninh quốc gia năm 2004 quy định tại
điểm h khoản 1 Điều 24: “Các cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia có trách nhiệm… áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người cộng tác, người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia” Cụ
thể hoá và hướng dẫn thực hiện một số quy định của Luật an ninh quốc gia, Chính phủ
đã ban hành Nghị định số 151/2005/NĐ-CP ngày 14/12/2005 về quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan và cán bộ chuyên trách bảo vệ
an ninh quốc gia, trong đó quy định tương đối chi tiết, cụ thể về công tác bảo vệ người cộng tác, người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia và các vụ án khác do cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia thụ lí Trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống
ma tuý, người tố giác, người làm chứng thường có nguy cơ bị tấn công hoặc bị xâm hại Vì vậy, mặc dù chưa được ghi nhận trong BLTTHS năm 1988 nhưng vấn đề bảo
vệ người làm chứng lần đầu tiên đã được ghi
Trang 4nhận tại điểm e khoản 1 Điều 13 Luật phòng,
chống ma tuý năm 2000 như sau: “Cơ quan
chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma
tuý trong công an nhân dân được tiến hành
một số hoạt động sau… e) Áp dụng các biện
pháp cần thiết để bảo vệ người tố giác,
người làm chứng và người bị hại trong các
vụ án về ma tuý” Sau đó, Chính phủ đã ban
hành Nghị định số 99/2002/NĐ-CP ngày
27/11/2002 quy định điều kiện, thủ tục, thẩm
quyền và trách nhiệm của cơ quan chuyên
trách phòng, chống tội phạm về ma tuý
thuộc công an nhân dân và đã dành riêng
Chương VII để quy định về bảo vệ người tố
giác, người làm chứng, người bị hại Tiếp
đó, Bộ trưởng Bộ công an đã ban hành
Thông tư số 09/2004/TT-BCA(V19) ngày
16/6/2004 hướng dẫn áp dụng một số biện
pháp bảo vệ người tố giác, người làm chứng,
người bị hại trong các vụ án về ma tuý.(6)
Trong Điều 6 Luật phòng, chống tham
nhũng năm 2005 có quy định: “Công dân có
quyền phát hiện, tố cáo hành vi tham nhũng;
có nghĩa vụ hợp tác, giúp đỡ cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc phát
hiện, xử lí người có hành vi tham nhũng”
Để công dân yên tâm tham gia tích cực vào
quá trình đấu tranh chống lại tội phạm mà
người thực hiện là người có chức vụ quyền
hạn có thể gây sức ép, nguy hiểm cho họ,
Điều 65 Luật phòng, chống tham nhũng đề
cập trách nhiệm của người đứng đầu cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền “khi nhận được
tố cáo hành vi tham nhũng phải xem xét và
xử lí theo thẩm quyền, giữ bí mật họ tên, địa
chỉ, bút tích và các thông tin khác theo yêu
cầu của người tố cáo; áp dụng đồng thời các biện pháp cần thiết để bảo vệ người tố cáo khi có biểu hiện đe dọa, trả thù, trù dập người tố cáo hoặc khi người tố cáo yêu cầu; thông báo kết quả giải quyết tố cáo cho người tố cáo khi có yêu cầu”
Ngoài ra, trong Luật công an nhân dân năm 2005, khi quy định về chế độ, chính sách đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, phối hợp, cộng tác, giúp đỡ công an
nhân dân cũng đã quy định: “Nhà nước bảo
vệ, giữ bí mật cho cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, phối hợp, cộng tác, giúp đỡ công
an nhân dân trong bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội” (khoản 1
Điều 13) Tuy nhiên, đây mới chỉ là quy định chung, chưa thể áp dụng được trên thực tiễn
và vì vậy việc bảo vệ người làm chứng cũng chỉ mới dừng lại trên “giấy tờ”
Trong thời gian qua, Nhà nước cũng xây dựng những chương trình và kế hoạch hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền của người làm chứng trong các vụ án hình sự, điều này thể hiện sự nỗ lực của Nhà nước trong việc thực hiện các cam kết quốc tế Cụ thể, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 21/5/2009 về Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020; Kế hoạch xác định Việt Nam sẽ ban hành Luật bảo vệ nhân chứng, người tố giác bao gồm
cả người trong nước và người nước ngoài Việc soạn thảo Luật này được giao cho Bộ công an chủ trì.(7)
Trong lĩnh vực hợp tác quốc tế, ngày 30/6/2009 Việt Nam đã chính thức phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc
về chống tham nhũng Trong Công ước mà
Trang 5Việt Nam đã phê chuẩn có những nội dung
thể hiện thái độ kiên quyết của Nhà nước
trong việc xử lí tội phạm về tham nhũng
thông qua các quy định nhằm mục đích bảo
vệ người làm chứng Điều 32 Công ước quy
định về bảo vệ nhân chứng, chuyên gia và
nạn nhân như sau:
“1 Mỗi quốc gia thành viên áp dụng các
biện pháp thích hợp, căn cứ vào pháp luật
quốc gia và trong khả năng có thể, bảo vệ
trước nguy cơ trả thù hoặc đe doạ có thể xảy
đến với nhân chứng và chuyên gia, những
người đã đưa ra bằng chứng hoặc chứng
thực liên quan đến các tội phạm quy định
theo Công ước này và nếu phù hợp, bảo vệ cả
thân nhân và những người gần gũi với họ
2 Các biện pháp dự liệu trong khoản 1
của Điều này có thể bao gồm, không kể
những biện pháp khác, không phương hại
đến các quyền của bị cáo, kể cả quyền được
xét xử một cách đúng luật:
a) Thiết lập các quy trình bảo vệ an toàn
thân thể những người này, chẳng hạn, trong
phạm vi cần thiết và khả thi, tái định cư họ
và quy định, nếu phù hợp, không tiết lộ hoặc
tiết lộ hạn chế thông tin liên quan đến nhận
dạng hoặc nơi ở của những người này;
b) Đưa ra các quy định về chứng cứ cho
phép nhân chứng và chuyên gia có thể làm
chứng hoặc chứng thực theo cách đảm bảo
an toàn cho họ, chẳng hạn có thể cho phép
việc làm chứng hoặc chứng thực được thực
hiện thông qua các phương tiện thông tin
liên lạc như video hay các phương tiện
thích hợp khác
3 Các quốc gia thành viên xem xét việc
tham gia kí kết hiệp định hoặc thoả thuận với quốc gia khác để tái định cư những người được nhắc đến tại khoản 1 của Điều này
4 Các quy định của Điều này cũng được
áp dụng cho những nạn nhân có vai trò như nhân chứng
5 Mỗi quốc gia thành viên, phụ thuộc vào quy định của pháp luật quốc gia, cho phép những quan điểm và băn khoăn của nạn nhân được trình bày và được xem xét ở giai đoạn nhất định của quá trình tố tụng hình sự, theo cách không phương hại đến các quyền bào chữa”
Như vậy, có thể nhận thấy vấn đề bảo vệ người làm chứng hiện nay được quy định rải rác trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau Các văn bản đó đều xác định người làm chứng có quyền được bảo vệ đồng thời xác định trách nhiệm bảo đảm quyền của người làm chứng thuộc về các cơ quan nhà nước có liên quan Ngoại trừ các quy định trong lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia
và phòng, chống ma túy đã tương đối cụ thể
về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, lực lượng bảo vệ người làm chứng… còn hầu hết các quy định chỉ mới dừng lại ở nguyên tắc, thiếu hướng dẫn cụ thể, nhất là về các biện pháp bảo vệ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền, lực lượng tiến hành bảo vệ, kinh phí để bảo
vệ người làm chứng…
3 Kiến nghị xây dựng và hoàn thiện pháp luật nhằm bảo vệ người làm chứng
3.1 Để có thể bảo vệ một người trước
sự xâm hại của tội phạm khi họ tham gia với tư cách người làm chứng, để đảm bảo thực thi những điều khoản có tính chất quốc
Trang 6tế mà Việt Nam đã kí kết, thể hiện thái độ
cứng rắn trong đấu tranh phòng chống tội
phạm, Nhà nước cần hoàn thành sớm việc
xây dựng và thông qua Luật bảo vệ nhân
chứng, tạo cơ sở pháp lí bảo vệ quyền người
làm chứng trên thực tế
Về việc xây dựng pháp luật, cần ban
hành văn bản quy phạm pháp luật riêng biệt
nhằm bảo vệ người làm chứng cũng như
người tố giác tội phạm Việc bảo vệ người
làm chứng cũng chính là bảo đảm các quyền
cơ bản của công dân được ghi nhận trong
Hiến pháp.(8)
Luật bảo vệ nhân chứng phải
quy định được đầy đủ về đối tượng được bảo
vệ; quyền và nghĩa vụ của họ khi tham gia
chương trình bảo vệ; phạm vi áp dụng; các
biện pháp cụ thể; cơ quan có trách nhiệm
thực thi các biện pháp bảo vệ; kinh phí…
Việc xây dựng các quy định này cần dựa trên
kết quả đánh giá những hình thức gây nguy
hiểm cho người làm chứng cũng như khả
năng thực hiện các biện pháp bảo vệ phù hợp
với điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam
Theo chương trình xây dựng pháp luật thì
Luật bảo vệ nhân chứng đang được tiến hành
soạn thảo, cơ quan chủ trì việc soạn thảo là
Bộ công an Trước đó, Bộ công an cũng đã
được giao chủ trì soạn thảo thông tư liên tịch
hướng dẫn bảo vệ người tố giác tội phạm,
người làm chứng, người bị hại trong các vụ
án hình sự Nhưng cho đến thời điểm hiện tại
các văn bản này vẫn chưa được hoàn thiện,
thông qua để áp dụng bảo vệ người làm
chứng mặc dù việc soạn thảo đã được tiến
hành từ năm 2005 Một trong những nguyên
nhân dẫn đến việc chưa thể có văn bản hướng
dẫn cụ thể là do những khó khăn nhất định về kinh phí để thực hiện việc bảo vệ Bởi vì trong chương trình bảo vệ nhân chứng có một
số biện pháp được đặt ra trong những trường hợp cần thiết như: thay đổi nơi ở, nơi làm việc của người làm chứng kèm theo biện pháp giữ bí mật thông tin cá nhân của người làm chứng và thay đổi giấy tờ tuỳ thân cho họ… Những biện pháp này là những biện pháp vừa đòi hỏi về kinh phí vừa phải được
sự đồng ý của chính người làm chứng vì nó không chỉ ảnh hưởng đến riêng lợi ích cá nhân họ mà có thể ảnh hưởng tới cả những người khác trong gia đình Ngoài ra, việc áp dụng các biện pháp bảo vệ này vẫn phải đảm bảo được quyền của người bị buộc tội, không
vi phạm các nguyên tắc khác trong tố tụng 3.2 Trước mắt, khi chưa xây dựng được Luật bảo vệ nhân chứng, cần phải có những sửa đổi, bổ sung nhất định trong BLTTHS để người làm chứng hoàn toàn có thể yên tâm khi tham gia làm chứng trong các vụ án hình
sự Những sửa đổi này sẽ đề cập những biện pháp khả thi nhất, dễ áp dụng nhất nhưng vẫn có thể mang lại tác dụng bảo vệ cần thiết đối với người làm chứng Trước mắt là những sửa đổi, bổ sung sau đây:
- Bổ sung quy định tại Điều 18 Nguyên tắc xét xử công khai
Điều 18 BLTTHS quy định trường hợp cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong mĩ tục của dân tộc hoặc giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ thì toà án có thể xét xử kín Theo tác giả, nguyên tắc xét
xử công khai nên bổ sung có ngoại lệ xử kín trong trường hợp cần giữ an toàn cho người
Trang 7làm chứng (có thể là cả người bị hại) Vì
theo nội dung nguyên tắc này mọi công dân
từ đủ 16 tuổi trở lên đều có quyền tham dự,
việc xét xử được tiến hành trên nguyên tắc
trực tiếp và bằng lời nói Khi người làm
chứng tham gia phiên toà, việc tiến hành xét
hỏi họ sẽ thực hiện công khai Người làm
chứng trong trường hợp này có hai khả năng
phải lựa chọn: Nếu khai báo đúng có thể bị
nguy hiểm do thông tin mình cung cấp gây
bất lợi cho bị cáo, nếu từ chối khai báo hoặc
khai báo gian dối thì lại đứng trước nguy cơ
phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, thậm
chí là trách nhiệm hình sự
Việc quy định có thể xét xử kín nếu việc
xét xử công khai gây nguy hiểm cho tính
mạng, sức khoẻ… của người làm chứng sẽ
đảm bảo được sự có mặt và hợp tác tích cực
của họ đồng thời vẫn đảm bảo việc thẩm tra
các thông tin tình tiết về vụ án do người làm
chứng cung cấp một cách trực tiếp thông qua
hoạt động động xét hỏi, tạo điều kiện thuận
lợi cho bị cáo và người bào chữa thực hiện
được việc bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho bị
cáo Theo đó, tác giả đề nghị sửa đổi, bổ
sung Điều 18 BLTTHS như sau:
“Điều 18 Xét xử công khai
Việc xét xử của toà án được tiến hành
công khai, mọi người đều có quyền tham dự,
trừ trường hợp do Bộ luật này quy định
Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật
nhà nước, thuần phong mĩ tục của dân tộc
hoặc trường hợp cần bảo vệ an toàn, để giữ
bí mật của đương sự theo yêu cầu chính
đáng của họ thì toà án có thể xét xử kín
nhưng phải tuyên án công khai”
- Bổ sung quy định về quyền của người làm chứng
Để kịp thời ngăn chặn những nguy hiểm gây ra cho người làm chứng, các cơ quan có thẩm quyền cần phải khẳng định sự đe doạ là
có thật hay không Trên thực tế, người thực hiện hành vi phạm tội hoặc người thân của
họ có thể gặp trực tiếp người làm chứng để
đe doạ, khống chế bằng lời nói hoặc sử dụng
vũ lực hoặc thậm chí thủ tiêu luôn người làm chứng Có trường hợp, người làm chứng chưa thực sự bị tác động về thể chất mà mới nhận được thông tin đe doạ qua thư, tin nhắn điện thoại hoặc gọi điện trực tiếp Vì vậy, BLTTHS cần bổ sung quy định có thể thực hiện việc ghi âm các cuộc điện thoại mà người làm chứng nhận được khi có yêu cầu
để một mặt khẳng định việc đe doạ là có thật, mặt khác có thể căn cứ vào đó ngăn chặn kịp thời những nguy hiểm thực sự có thể xảy ra Do đó, Điều 55 BLTTHS có thể được bổ sung như sau:
“Điều 55 Người làm chứng
3 Người làm chứng có quyền: a)… b)… c)… d) Yêu cầu cơ quan điều tra áp dụng biện pháp ghi âm các cuộc điện thoại liên lạc trong trường hợp cần xác nhận có sự đe doạ hoặc hoạt động khác gây nguy hại
- Bổ sung nội dung trong phần quy định của BLTTHS về các hoạt động điều tra Theo quy định của BLTTHS, khi tiến hành hoạt động lấy lời khai người làm chứng,
cơ quan có thẩm quyền phải lập biên bản trong đó có ghi rõ những tình tiết về nhân thân người làm chứng (Điều 135) Theo tác giả, trong trường hợp người làm chứng có yêu cầu do lo ngại bị nguy hiểm về tính
Trang 8mạng, sức khoẻ thì biên bản về hoạt động lấy
lời khai có thể không ghi rõ những thông tin
về nhân thân của họ Vì tuy BLTTHS có quy
định về việc giữ bí mật điều tra tại Điều 124
nhưng chỉ có mỗi quy định đó chưa đủ để bảo
vệ người làm chứng nếu những thông tin này
bị lộ nằm ngoài sự kiểm soát của cơ quan
điều tra Vì vậy có thể bổ sung quy định tại
Điều 125 (Biên bản hoạt động điều tra) như
sau: “Cơ quan điều tra quyết định về việc
không ghi những thông tin về cá nhân của
người làm chứng, quyết định phải được viện
kiểm sát phê chuẩn Trong trường hợp này,
việc lấy lời khai người làm chứng phải có
mặt kiểm sát viên”
- Sửa đổi, bổ sung quy định về thủ tục
xét hỏi tại phiên toà
Để bảo đảm an toàn cho người làm
chứng và những người thân thích của họ,
Điều 211 BLTTHS quy định hội đồng xét xử
phải áp dụng các biện pháp bảo vệ theo quy
định của pháp luật Tuy nhiên, các biện pháp
có thể được áp dụng chưa được quy định cụ
thể, vì vậy cần phải bổ sung vào BLTTHS
một số biện pháp này (những biện pháp
không khó thực hiện nhưng cũng đem lại
hiệu quả bảo vệ nhất định) làm căn cứ pháp
lí để hội đồng xét xử áp dụng Một trong
những biện pháp có thể thực hiện để đảm
bảo an toàn cho người làm chứng khi phiên
toà được tiến hành xét xử công khai là áp
dụng cách thức để những người tham gia tố
tụng và những người tham dự phiên toà
không nhìn thấy người làm chứng Có thể sử
dụng các phương tiện khoa học kĩ thuật nghe
nhìn để hỗ trợ Như vậy vẫn đảm bảo không vi
phạm nguyên tắc xét xử trực tiếp bằng lời nói
đồng thời bảo đảm được quyền của bị cáo cũng như an toàn cho người cung cấp lời khai Nội dung này nên quy định tại Điều 211 Hỏi người làm chứng
“1…
5 Trong trường hợp cần thiết để đảm bảo an toàn cho người làm chứng và những người thân của họ, hội đồng xét xử quyết định lấy lời khai của họ với sự hỗ trợ thông qua các phương tiện nghe nhìn phù hợp”./
(1) Điều 3 Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948
(2) Điều 5 Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948
(3).Xem: Nguyễn Thái Phúc, "Bảo vệ người làm chứng và quyền miễn trừ làm chứng trong tố tụng”,
Tạp chí khoa học pháp lí, số 3 (40)/2007
(4).Xem: Đinh Tuấn Anh, “Một số vấn đề cần chú ý
về yếu tố tâm lí xã hội của người làm chứng”, Tạp chí kiểm sát, số 07/tháng 4/2008
(5) Điều 29 Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948
(6).Xem: Trần Đình Nhã, “Hoàn thiện cơ sở pháp lí về bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong
vụ án hình sự”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp điện tử, www.luatviet.org/ /Hoan-thien-co-so-phap-ly-ve-bao-ve-nguoi-to-giac.aspx -
(7) Sau khi vụ hối lộ của Công ti tư vấn quốc tế Thái Bình Dương (PCI) được phanh phui có liên quan đến
dự án vốn vay ODA của Nhật Bản tại Việt Nam, Nhật Bản và Việt Nam đã ban hành gói giải pháp chống tham nhũng liên quan đến ODA Nhật Bản Việt Nam
sẽ đảm bảo rằng những người báo tin về các vụ việc nghi vấn tham nhũng không bị đối xử bất bình đẳng trong hoạt động kinh doanh của họ Theo cam kết về phòng, chống tham nhũng liên quan đến ODA Nhật Bản, Việt Nam sẽ ban hành luật bảo vệ nhân chứng
tố giác tham nhũng, bao gồm cả người trong nước
và nước ngoài, dự kiến vào tháng 6/2010 Xem http://www.thuvienphapluat.vn/Default.aspx?CT=N W&NID=25280
(8).Xem: Trần Đình Nhã, tlđd