Theo Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, các thừa phát lại sẽ thực hiện bốn hoạt động chủ yếu: Tống đạt các giấy tờ theo yêu cầu của toà án hoặc cơ quan thi hành án dân sự; lập vi bằng theo yêu
Trang 1TS Bïi ThÞ HuyÒn *
rên thế giới hiện nay đang tồn tại ba mô
hình thi hành án dân sự: thi hành án
công, thi hành án bán công và thi hành án tư
nhân Ở mô hình thi hành án dân sự tư nhân,
các thừa phát lại được nhà nước bổ nhiệm,
hành nghề tự do, tự chủ trong tổ chức, hoạt
động, tự hạch toán và làm nghĩa vụ tài chính
với nhà nước thừa phát lại hoạt động độc
lập, chịu trách nhiệm cá nhân về hành vi thi
hành án của mình Sự xuất hiện của mô hình
thi hành án tư nhân xuất phát từ quan điểm
xã hội hoá hoạt động thi hành án dân sự
Trên cơ sở quan điểm đổi mới hoạt động
thi hành án dân sự và khắc phục tình trạng
quá tải của các cơ quan thi hành án dân sự,
ngày 24/7/2009, Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 61/2009/NĐ-CP quy định về tổ
chức và hoạt động của thừa phát lại thực
hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh
(gọi tắt là Nghị định số 61/2009/NĐ-CP)
Theo Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, các
thừa phát lại sẽ thực hiện bốn hoạt động chủ
yếu: Tống đạt các giấy tờ theo yêu cầu của
toà án hoặc cơ quan thi hành án dân sự; lập
vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan,
tổ chức; xác minh điều kiện thi hành án theo
yêu cầu của đương sự; tổ chức thi hành án
các bản án, quyết định của toà án theo yêu
cầu của đương sự Theo kế hoạch của Chính
phủ, đến cuối năm 2012, sẽ tổng kết việc thực
hiện thí điểm chế định thừa phát lại ở thành phố Hồ Chí Minh để làm cơ sở triển khai sâu rộng tại các địa phương khác Các kết quả thu được sẽ được sửa đổi, bổ sung pháp luật thi hành án dân sự Qua nghiên cứu các quy định của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, chúng tôi thấy Chính phủ đã có lựa chọn hợp lí để thực hiện xã hội hoá thi hành án dân sự Song, nếu lựa chọn mô hình thừa phát lại triển khai áp dụng trên diện rộng thì trước hết cần sửa đổi một số quy định của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP và các văn bản pháp luật có liên quan về hoạt động của thừa phát lại đồng thời cần xây dựng cơ chế, chính
sách đồng bộ để bảo đảm sự tồn tại và phát
triển của mô hình thừa phát lại
Thứ nhất, về hoạt động tống đạt theo yêu
cầu của toà án hoặc cơ quan thi hành án dân
sự của thừa phát lại
Tống đạt văn bản là hoạt động của cơ quan tố tụng giao các văn bản, tài liệu đến các cá nhân, tổ chức có liên quan trong một
vụ việc dân sự cụ thể mà các chủ thể này bắt buộc phải nhận được Tuy nhiên, với số lượng văn bản cần tống đạt như hiện nay, các cơ quan tố tụng đã lâm vào tình trạng quá tải, không thể thực hiện đúng thời gian theo quy định của pháp luật Vì vậy, để giảm
T
* Giảng viên Khoa pháp luật dân sự Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2bớt áp lực công việc cho cơ quan tố tụng và
nâng cao hiệu quả của công tác xét xử và
công tác thi hành án dân sự tại Thành phố
Hồ Chí Minh, khoản 2 Điều 21 Nghị định số
61/2009/NĐ-CP đã quy định: “Văn phòng
thừa phát lại được quyền thoả thuận để tống
đạt các văn bản của Cơ quan thi hành án
dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, cơ quan thi
hành án dân sự quận, huyện tại Thành phố
Hồ Chí Minh; Toà án nhân dân thành phố
Hồ Chí Minh và các toà án nhân dân quận,
huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh” Theo
Điều 23 của Nghị định này, việc tống đạt
văn bản của thừa phát lại được hiểu bao gồm
cả hoạt động tống đạt theo quy định của Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2004 và hoạt động
thông báo theo quy định của Luật thi hành
án dân sự năm 2008
Để chuyển các văn bản tố tụng của toà
án đến các cá nhân, cơ quan , tổ chức có liên
quan Bộ luật tố tụng dân sự sử dụng các
thuật ngữ “cấp”, “thông báo”, “tống đạt”
Để chuyển các văn bản của cơ quan thi hành
án đến các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên
quan, Luật thi hành án dân sự sử dụng thuật
ngữ “thông báo” Tuy nhiên, để thừa phát
lại chuyển các văn bản tố tụng của toà án và
cơ quan thi hành án đến các cá nhân, cơ
quan, tổ chức có liên quan, Nghị định số
61/2009/NĐ-CP, Bộ luật tố tụng dân sự lại
sử dụng thuật ngữ “tống đạt” Như vậy, có
thể thấy có sự quy định không nhất quán
giữa các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt
động chuyển các văn bản tố tụng của toà án
và cơ quan thi hành án dân sự đến các cá
nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan Như
vậy, cần phải hiểu việc tống đạt của thừa
phát lại theo Nghị định số 61/2009/NĐ-CP bao gồm cả hoạt động cấp, thông báo các văn bản tố tụng của toà án và cơ quan thi hành án dân sự Do đó cần sửa khoản 2 và khoản 3 Điều 23 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP theo hướng phù hợp với Bộ luật tố tụng dân sự Cụ
thể: “Văn phòng thừa phát lại được quyền
thoả thuận để thay toà án, cơ quan thi hành
án dân sự cấp, thông báo, tống đạt các văn bản của các cơ quan này cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan Thủ tục thực hiện việc cấp, thông báo, tống đạt văn bản của toà
án, cơ quan thi hành án dân sự thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng”
Thứ hai, về hoạt động lập vi bằng theo
yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức
Khi tham gia vào quá trình tố tụng tại toà
án, trọng tài hay yêu cầu cơ quan nhà nước khác giải quyết tranh chấp thì chứng cứ là cơ
sở quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên đương sự Khi đó các chủ thể cần phải đưa ra được các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn
cứ và hợp pháp Hoạt động này vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của các cá nhân, cơ quan, tổ chức khi đưa ra yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu của người khác Tuy nhiên, thực tế việc đưa ra chứng cứ là không dễ dàng đối với
nhiều chủ thể Do đó, để tạo lập bổ sung
nguồn chứng cứ bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi bị xâm phạm, Nghị định số 61/2009/NĐ-CP đã quy định cho thừa phát lại được quyền lập vi bằng Vi bằng là văn bản do thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lí khác Thủ tục lập vi bằng và
Trang 3giá trị pháp lí của vi bằng đã được quy định
cụ thể tại các điều 26 và 28 Nghị định số
61/2009/NĐ-CP Theo đó, vi bằng do thừa
phát lại lập không những có giá trị là chứng
cứ để toà án xem xét khi giải quyết vụ án mà
còn là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp
pháp khác theo quy định của pháp luật
Tuy nhiên, giá trị vi bằng chưa được quy
định là một trong các tình tiết, sự kiện không
phải chứng minh theo Điều 80 Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2004, do đó khi vi bằng
được đưa ra làm chứng cứ trong một vụ việc
dân sự, nếu như đương sự, người có quyền
và lợi ích liên quan không đồng ý với những
nội dung trong vi bằng thì vi bằng này cần
phải được chứng minh Điều này gây tốn
kém tiền của, công sức cho người sử dụng vi
bằng làm chứng cứ và quy định của Điều 28
Nghị định số 61/2009/NĐ-CP có thể không
được công nhận trong thực tế dẫn đến việc
mất lòng tin của người dân đối với hoạt động
lập vi bằng của thừa phát lại Do đó, cần
thiết phải quy định nội dung được ghi trong
vi bằng là những tình tiết, sự kiện không cần
phải chứng minh Theo đó, điểm c khoản 1
Điều 80 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004
cần được sửa theo hướng: “Những tình tiết,
sự kiện đã được ghi trong văn bản và được
công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc vi
bằng được lập bởi thừa phát lại”
Thứ ba, về hoạt động xác minh điều kiện
thi hành án theo yêu cầu của đương sự
Thừa phát lại có quyền xác minh điều
kiện thi hành án liên quan đến việc thi hành
án mà vụ việc đó thuộc thẩm quyền thi hành
của các cơ quan thi hành án dân sự tại Thành
phố Hồ Chí Minh Kết quả hoạt động xác
minh điều kiện thi án của thừa phát lại phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động cung cấp thông tin của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan Theo khoản 1 Điều 31 Nghị định số
61/2009/NĐ-CP: “Việc xác minh điều kiện
thi hành án của thừa phát lại được tiến hành bằng văn bản yêu cầu hoặc trực tiếp xác minh Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thực hiện yêu cầu của thừa phát lại
và chịu trách nhiệm về nội dung thông tin đã cung cấp” Có thể thấy điều luật không quy
định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với hành động không cung cấp thông tin Điều này sẽ gây khó khăn cho hoạt động xác minh của thừa phát lại Để tạo điều kiện thuận lợi cho thừa phát lại thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự, Điều 31 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP cần quy định về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường từ chối không cung cấp thông tin cho thừa phát lại Như vậy, đoạn 2 khoản 1 Điều
31 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP cần được sửa theo hướng: “Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thực hiện yêu cầu của thừa phát lại Các cơ quan, tổ chức, cá nhân này phải chịu trách nhiệm về việc không cung cấp thông tin hoặc cung cấp thông tin sai” Mặt khác, Điều 7 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 chỉ quy định trách nhiệm cumg cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lí chứng cứ khi có yêu cầu của đương sự, toà án Để tạo cơ sở pháp
lí đồng bộ cho thừa phát lại thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự cũng như việc lập vi bằng, Điều 7 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 cần
Trang 4được sửa theo hướng: “Cá nhân, cơ quan, tổ
chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ cho
đương sự, toà án, thừa phát lại chứng cứ
trong vụ án mà cá nhân, cơ quan, tổ chức đó
đang lưu giữ, quản lí khi có yêu cầu của
đương sự, toà án, thừa phát lại”
Thứ tư, về hoạt động tổ chức thi hành án
các bản án, quyết định của toà án theo quy
định của pháp luật
Theo Điều 34 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP,
thừa phát lại có quyền trực tiếp tổ chức thi
hành theo đơn yêu cầu của đương sự đối với
các bản án, quyết định thuộc thẩm quyền thi
hành án của cơ quan thi hành án cấp huyện
nơi thừa phát lại đặt văn phòng Theo đó,
thừa phát lại chưa được thực hiện một số hoạt
động thi hành bản án, quyết định thuộc thẩm
quyền thi hành án của cơ quan thi hành án
cấp tỉnh (thường là các bản án, quyết định có
nội dung phức tạp) Vì hiện nay, hoạt động
của thừa phát lại vẫn đang trong giai đoạn thí
điểm, các vụ việc có tính chất phức tạp chỉ
có thể được giao cho thừa phát lại sau khi đã
đánh giá được khả năng của chủ thể này
Trong quá trình xây dựng Nghị định số
61/2009/NĐ-CP, vấn đề giao cho thừa phát
lại quyền tổ chức thi hành các bản án, quyết
định dân sự có nhiều ý kiến khác nhau Hiện
nay, Nghị định số 61/2009/NĐ-CP đã quy
định thừa phát lại quyền tổ chức thi hành các
bản án, quyết định dân sự, điều đó đã tạo ra
sự đổi mới quan trọng đối với hoạt động thi
hành án dân sự, tạo nên sự bình đẳng và
cạnh tranh lành mạnh giữa cơ quan thi hành
án dân sự và văn phòng thừa phát lại Tuy
nhiên, một số quy định của Nghị định số
61/2009/NĐ-CP dẫn đến hoạt động tổ chức thi hành các bản án, quyết định dân sự của thừa phát lại bị phụ thuộc vào cơ quan thi hành án dân sự
Điều 35 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP và khoản 1 Mục II Thông tư số 03/2009/TT-BTP ngày 30/9/2009 của Bộ tư pháp hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP quy định về quyền yêu cầu thi hành án Theo đó, với cùng một nội dung yêu cầu, cùng một thời điểm người yêu cầu chỉ có quyền làm đơn yêu cầu một văn phòng thừa phát lại hoặc cơ quan thi hành án dân sự
tổ chức thi hành án Nếu các khoản được thi hành do nhiều người khác nhau có nghĩa vụ thi hành thì người được thi hành án có quyền đồng thời yêu cầu cơ quan thi hành án dân
sự, văn phòng thừa phát lại thi hành riêng đối với từng khoản Trong trường hợp cùng một bản án, quyết định có nhiều người được thi hành án mà những người đó yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự và văn phòng thừa phát lại tổ chức thi hành thì văn phòng thừa phát lại và cơ quan thi hành án dân sự phải phối hợp với nhau trong thi hành án Cụ thể, sau khi Trưởng văn phòng thừa phát lại ra quyết định thi hành án, quyết định thi hành
án phải được gửi cho cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện tại nơi có văn phòng thừa phát lại để phối hợp thi hành
Đối với trường hợp cưỡng chế thi hành
án cần huy động lực lượng bảo vệ là những trường hợp phức tạp, nhạy cảm, có thể gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội nên trước khi thực hiện việc cưỡng chế, văn phòng thừa phát lại phải lập kế hoạch cưỡng chế để thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
Trang 5thành phố Hồ Chí Minh xem xét, ra quyết
định cưỡng chế thi hành án và phê duyệt kế
hoạch cưỡng chế thi hành án (Điều 40 Nghị
định số 61/2009/NĐ-CP) Thủ trưởng cơ
quan thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí
Minh phải ra quyết định cưỡng chế và phê
duyệt kế hoạch cưỡng chế thi hành án trong
thời hạn theo quy định Trường hợp không
phê duyệt phải có văn bản trả lời nêu rõ lí
do Trưởng văn phòng thừa phát lại có quyền
khiếu nại đến thủ trưởng cơ quan thi hành án
cấp cao hơn để xem xét ra quyết định giải
quyết trong thời hạn quy định
Có thể thấy các quy định trên nhằm tạo
điều kiện thuận lợi cho thừa phát lại thực hiện
hoạt động của mình đồng thời ngăn ngừa mặt
tiêu cực từ hoạt động tổ chức thi hành án của
thừa phát lại có thể thể xảy ra Tuy nhiên, quy
định thừa phát lại và cơ quan thi hành án dân
sự phối hợp là quy định không hợp lí Vì đây
là hai chủ thể hoạt động độc lập, cạnh tranh
nhau về lợi ích nên sự phối hợp của họ trên
thực tế là vấn đề khó khăn và phức tạp, tạo ra
cơ chế “xin, cho” đồng thời dẫn đến hoạt
động tổ chức thi hành án của thừa phát lại có
thể bị chậm chễ, kém hiệu quả
Thứ năm, về việc bảo đảm sự tồn tại và
phát triển của mô hình thừa phát lại
Hiện nay, chế định thừa phát lại đang
được áp dụng thí điểm tại Thành phố Hồ Chí
Minh, các văn phòng đã được hình thành và
đi vào hoạt động Tuy nhiên, để mô hình thi
hành án thừa phát lại tồn tại và phát triển thì
yêu cầu đầu tiên được đặt ra là phải bảo đảm
sự tin tưởng và lựa chọn của người dân đối
với mô hình này Hiệu quả hoạt động của
thừa phát lại một mặt phụ thuộc vào chất
lượng của các quy phạm pháp luật, mặt khác phụ thuộc rất nhiều vào năng lực chuyên môn
và đạo đức nghề nghiệp của các thừa phát lại
Vì vậy, ngoài việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về thừa phát lại, cần phát triển đội ngũ thừa phát lại Để tạo nguồn nhân lực cho mô hình thừa phát lại, theo chúng tôi cần thiết phải xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho thừa phát lại Như đã phân tích ở trên, thừa phát lại ngoài việc thực hiện các công việc thi hành án, tống đạt giấy
tờ, xác minh điều kiện thi hành án giống như chấp hành viên, thừa phát lại còn thực hiện hoạt động lập vi bằng nên chương trình đào tạo để cấp chứng chỉ thừa phát lại cần được xây dựng giống như chương trình đào tạo chấp hành viên và bổ sung chương trình đào tạo kĩ năng lập vi bằng Ngoài ra, cần phải
mở các lớp tập huấn về nghiệp vụ cho các thừa phát lại Tại các lớp này, các chuyên gia cần bổ sung cho thừa phát lại các kiến thức chuyên môn sâu hơn, các kiến thức nghiệp vụ
có tính thực tế Tại đây, các thừa phát lại có thể được nghe giảng về các hoạt động thực tế
đã diễn ra trong những vụ việc cụ thể, các thừa phát lại có thể chia sẻ kinh nghiệm từ những hoạt động thực tế của mình Những thông tin trong các lớp tập huấn giúp các thừa phát lại có thêm kinh nghiệm và tạo cho các thừa phát lại tự nâng cao nghiệp vụ của mình Bên cạnh việc xây dựng, củng cố nguồn nhân lực của các văn phòng thừa phát lại, để duy trì được hoạt động của các văn phòng thừa phát lại thì kinh phí hoạt động cũng là vấn đề cần được quan tâm Trong nền kinh tế thị trường, để thừa phát lại thực hiện công việc theo yêu cầu của người dân, của toà án
Trang 6thì mức phí thừa phát lại thu phải bảo đảm đủ
chi phí thực hiện và chi phí để tái sử dụng sức
lao động của họ Mức phí phù hợp sẽ giúp
bảo đảm cho văn phòng thừa phát lại tồn tại,
thừa phát lại có nguồn thu nhập bảo đảm cuộc
sống và tránh được những tiêu cực có thể xảy
ra trong quá trình thực hiện hoạt động của
mình đồng thời nâng cao chất lượng công
việc Tuy nhiên, cũng không thể quy định
mức phí quá cao, bởi người dân sẽ có tâm lí
không lựa chọn thừa phát lại Vì vậy, Nhà
nước cũng cần phải có các chính sách phù
hợp với thừa phát lại, các chính sách này có
thể là chính sách hỗ trợ tài chính cho các văn
phòng thừa phát lại trong thời gian đầu thành
lập và hoạt động Các hỗ trợ này có thể là chi
phí thuê văn phòng, miễn phí các loại thuế
cần đóng của văn phòng và thừa phát lại
Ngoài ra, để người dân tin tưởng và lựa
chọn thừa phát lại thì vấn đề trách nhiệm bồi
thường thiệt hại đối với hành vi trái pháp
luật của thừa phát lại xâm phạm quyền, lợi
ích của đương sự cần được giải quyết thoả
đáng Tuy nhiên, vấn đề giải quyết việc bồi
thường thiệt hại khi thừa phát lại thực hiện
hoạt động sai, gây thiệt hại cho đương sự lại
không được Nghị định số 61/2009/NĐ-CP đề
cập Về nguyên tắc chung, việc giải quyết
việc bồi thường thiệt hại trong trường hợp
này được thực hiện theo quy định của pháp
luật dân sự Điều này dẫn đến quyền lợi của
đương sự và những người có liên quan sẽ bị
ảnh hưởng, nếu thừa phát lại không đủ năng
lực tài chính để bồi thường Theo Điều 18
Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, văn phòng
thừa phát lại phải kí quỹ 100 triệu đồng cho
mỗi thừa phát lại Tuy nhiên, trong điều kiện
kinh tế thị trường hiện nay, số tiền 100 triệu này thường không đủ để bồi thường các thiệt hại lớn có thể xảy ra trong quá trình cưỡng chế thi hành án Như vậy, quyền lợi của đương sự và những người có quyền, lợi ích liên quan không được bảo đảm trong trường hợp thừa phát lại thực hiện cưỡng chế thi hành án, do đó không tạo được niềm tin trong dân về khả năng chịu trách nhiệm của thừa phát lại, chủ trương xã hội hoá thi hành án dân sự không khả thi Theo chúng tôi, cần thiết lập cơ chế liên kết giữa các văn phòng thừa phát lại hay các thừa phát lại để tạo nên Hiệp hội thừa phát lại Hiệp hội này hoạt động dựa trên đóng góp hàng năm của thừa phát lại nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của thừa phát lại Trong trường hợp thừa phát lại gây
ra thiệt hại, Hiệp hội này sẽ là tổ chức có trách nhiệm bảo đảm việc bồi thường thiệt hại cho chủ thể bị thiệt hại Hiệp hội thừa phát lại cũng có chức năng kiểm tra, giám sát hoạt động của các văn phòng thừa phát lại Đó là còn là cơ chế hữu hiệu ngăn ngừa những yếu
tố tiêu cực có thể phát sinh từ hoạt động thừa phát lại Trong hoàn cảnh thực tế của Việt Nam hiện nay, do chế định thừa phát lại đang
ở trong giai đoạn thí điểm nên chưa thể xây dựng Hiệp hội như trên Vì vậy, Nhà nước cần có chính sách bảo vệ quyền và lợi ích của thừa phát lại cũng như của người dân Chính sách bảo vệ này vừa bảo đảm cho hoạt động của thừa phát lại có thể tồn tại được trong thời gian đầu đồng thời đây cũng là yếu tố giúp người dân tin tưởng, sử dụng dịch vụ của thừa phát lại Chính sách hữu hiệu nhất có thể là việc quy định chế độ bảo hiểm nghề nghiệp
bắt buộc đối với thừa phát lại./