1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Quyền khiếu kiện khi nhà nước thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư " potx

9 467 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 252,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, nếu quyền khiếu nại là quyền hiến định1 được xây dựng từ rất sớm2 và khá quen thuộc trong đời sống pháp lí của người dân Việt Nam thì quyền khiếu kiện được quy định muộn hơn,

Trang 1

TS Phan Trung HiÒn *

1 Khái quát về quyền khiếu kiện và

đặc điểm của quyền khiếu kiện trong lĩnh

vực thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái

định cư

1.1 Khiếu kiện hành chính và cơ sở hiến

định của quyền khiếu kiện

Khiếu kiện hành chính là việc phản

kháng quyết định hành chính, hành vi hành

chính của cá nhân, tổ chức trước cơ quan tài

phán hành chính khi có căn cứ cho rằng

quyết định hành chính, hành vi hành chính

đó là trái pháp luật, xâm hại đến các quyền

và lợi ích hợp pháp của mình Tuy nhiên,

nếu quyền khiếu nại là quyền hiến định(1)

được xây dựng từ rất sớm(2)

và khá quen thuộc trong đời sống pháp lí của người dân

Việt Nam thì quyền khiếu kiện được quy

định muộn hơn, gắn liền với sự ra đời của

Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành

chính năm 1996 (đã được sửa đổi, bổ sung

năm 1998 và 2006) và vừa được pháp điển

hoá thành Luật tố tụng hành chính năm

2010 Ở Việt Nam, Hiến pháp không đề cập

quyền khiếu kiện Điều này cho thấy chưa có

sự thống nhất trong việc nhìn nhận hai loại

quyền nêu trên trong khi hai quyền này cùng

song hành bảo vệ lợi ích người dân và hướng

đến việc nâng cao hiệu quả của công tác

quản lí nhà nước

1.2 Đặc điểm của khiếu kiện trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Khiếu kiện trong thu hồi đất, bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư có một số đặc điểm đặc thù như sau:

- Về phạm vi: Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, để thực hiện các mục tiêu quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế, một số lượng lớn diện tích đất đai cần phải được bố trí, sắp xếp lại Công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư vì vậy phải được thực hiện Điều này trực tiếp tác động đến lợi ích của nhiều cá nhân, tổ chức khắp mọi tỉnh, thành trên phạm vi cả nước Vì vậy, sự không đồng thuận trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có thể diễn ra ở nhiều hộ dân trong cùng một dự án, trên cùng một địa bàn Các báo cáo, kết luận về số vụ việc khiếu kiện chỉ ra rằng khiếu kiện trong lĩnh vực đất đai, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có số lượng cao nhất trong

các nội dung khiếu kiện Ví dụ: Từ năm 2007

- 2009 ở thành phố Cần Thơ và tỉnh Tiền Giang, khiếu kiện trong lĩnh vực đất đai, giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ, tái định

cư có năm chiếm đến 90% số vụ khởi kiện hành chính được thụ lí giải quyết.(3)

* Khoa luật Đại học Cần Thơ

Trang 2

- Về tính chất, mức độ: Quyết định thu

hồi đất tác động trực tiếp đến các quyền và

lợi ích thiết thân của cá nhân, tổ chức như:

đất đai bị thu hồi, nhà cửa, mồ mả phải

chuyển đi, nghề nghiệp bị thay đổi, địa thế

kinh doanh không còn, phải thay đổi môi

trường sống… Hơn nữa, tài sản trong vụ việc

này có thể là “cơ nghiệp” của người dân

Chính vì vậy, các vụ kiện này rất đặc thù, dễ

dẫn đến mức độ gay gắt, hoặc bức xúc nếu

không được giải quyết hợp lí, hợp tình Mặc

dù pháp luật hiện hành không cho phép

khiếu kiện đông người nhưng kết quả giải

quyết của một vụ việc có thể ảnh hưởng trực

tiếp đến nhiều chủ thể khác - những người

có đất bị thu hồi trong cùng một dự án

1.3 Ý nghĩa, mục đích của việc thực hiện

quyền khiếu kiện trong thu hồi đất, bồi

thường, hỗ trợ, tái định cư

So với khiếu nại, thẩm quyền giải quyết

khiếu kiện là thẩm quyền của toà hành chính

toà án nhân dân – chủ thể độc lập tương đối

với cả hai bên: Người khởi kiện (cá nhân, tổ

chức) và người bị kiện (cơ quan nhà nước,

người có thẩm quyền trong cơ quan hành

chính nhà nước) Vì tính chất đặc thù của hệ

thống bộ máy, chủ thể giải quyết khiếu kiện

có phạm vi độc lập, không chịu định kiến

bởi lăng kính của các chủ thể quản lí nhà

nước và vì vậy, có điều kiện để đưa ra kết

quả công minh Tính độc lập này có ý nghĩa

rất lớn khi nó trực tiếp khôi phục lại các

quyền hợp pháp liên quan đến đất đai, nhà

cửa - những tài sản có ảnh hưởng trực tiếp

đến cuộc sống người dân

Việc giải quyết khiếu kiện, trong chừng mực nhất định, có thể hạn chế được ý kiến chủ quan và định kiến của chủ thể trực tiếp quản lí khi xem xét lại vụ việc đã và đang quản lí trong quá trình giải quyết khiếu nại đồng thời loại trừ tâm lí e ngại việc công nhận quyết định hành chính, hành vi hành chính của chính các chủ thể quản lí là không đúng Trong trường hợp này, bản án của toà ngoài việc hạn chế “vừa đá bóng, vừa thổi còi” của

cơ quan hành chính nhà nước, còn giúp khôi phục lại lòng tin trong nhân dân, riêng các cơ quan hành chính nhà nước có điều kiện xem xét lại hoạt động quản lí của mình để nâng cao hiệu quả trong việc đưa ra các quyết định liên quan đến các dự án thu hồi đất tiếp sau Tất nhiên, cũng phải thừa nhận rằng do phải bắt đầu lại toàn bộ vụ việc từ yếu tố đầu tiên nên chủ thể giải quyết khiếu kiện có thể cần nhiều thời gian, công sức và chi phí Mặt khác, do không là chủ thể trực tiếp quản lí nên chủ thể này, về phương diện lí luận, có thể phải cần những cơ quan hỗ trợ về mặt kĩ thuật như: Cơ quan giám định về thiệt hại trong thu hồi đất, đánh giá quỹ đất tái định

cư, xem xét giá đất và phương pháp xác định giá đất… Điều này đặt ra yêu cầu về cơ chế

và bộ máy để cơ quan tố tụng có thể đủ điều kiện hoàn thành tốt chức trách của mình

2 Những điểm hạn chế về quyền khiếu

kiện trong lĩnh vực thu hồi đất, bồi

thường, hỗ trợ, tái định cư trước khi Luật

tố tụng hành chính có hiệu lực

2.1 Quyền khiếu kiện và quyền khiếu nại

Quyền khiếu kiện được xác định trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành

Trang 3

chính năm 1996, được sửa đổi, bổ sung năm

1998, 2006 là quyền có phạm vi hẹp hơn

quyền khiếu nại

Thứ nhất, theo Pháp lệnh, quyền khiếu

kiện sẽ không được thực hiện nếu chưa qua

khiếu nại lần đầu; tức là đã được giải quyết

khiếu nại lần đầu mà vẫn không đồng ý hoặc

hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu theo

quy định mà vẫn không được giải quyết

(Điều 39 Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998,

đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005)

Điều này có thể hiểu “cánh cổng” khiếu kiện

nằm sau “cánh cổng” khiếu nại và quyền

khiếu kiện chỉ được thực hiện khi thuộc loại

việc “đi qua được cánh cổng khiếu nại”

Thứ hai, nếu quyền khiếu nại được xác

định chủ yếu theo hướng “mở” ở hai nội

dung là quyết định hành chính cá biệt và

hành vi hành chính thì quyền khiếu kiện

được xác định theo hướng “đóng” ở 22 loại

việc liệt kê tại Điều 11 Pháp lệnh thủ tục giải

quyết các vụ án hành chính sửa đổi, bổ

sung(4) năm 2006 (Pháp lệnh năm 1996 là 8

loại việc; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung năm

1998 là 10 loại việc) Điều này cũng đồng

nghĩa là có một số khiếu nại đã “hoàn thành

xong” các trình tự về khiếu nại vẫn có thể

không được thụ lí giải quyết khiếu kiện vì

không thuộc một trong 22 loại việc mà Pháp

lệnh hiện hành đã liệt kê

Thứ ba, ngoài hai “điều kiện cần” nêu

trên, đối với “quyết định hành chính, hành vi

hành chính về thu hồi đất, bồi thường, hỗ

trợ, tái định cư…”, Pháp lệnh sửa đổi, bổ

sung năm 2006 còn quy định các “điều kiện

đủ” như:

- Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lí đất đai do chủ tịch UBND cấp huyện giải quyết lần đầu nhưng người khiếu nại không đồng ý và không tiếp tục khiếu nại đến UBND cấp tỉnh

- Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lí đất đai do chủ tịch UBND cấp tỉnh giải quyết khiếu nại lần đầu nhưng người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại đó (Điều 2, khoản 17 Điều 11 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1998, sửa đổi bổ sung năm 2006)

Có thể nhận xét, việc quy định thủ tục khiếu kiện diễn ra sau khiếu nại, tuy cho phép chủ thể ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính có điều kiện xem xét lại quyết định hoặc hành

vi của mình nhưng ẩn chứa một số điểm bất

cập Một là chủ thể ban hành quyết định có

thể mang tâm lí ỷ lại khi ban hành quyết định hoặc thực hiện hành vi vì dẫu sao đi nữa, chủ thể chấp hành quyết định “không thể đến bất kì cánh cổng nào” nếu không qua thủ tục khiếu nại và giải quyết khiếu nại lần

đầu với chính chủ thể ban hành đầu tiên Hai

là chủ thể giải quyết khiếu nại, trong một số

trường hợp, có thể lạm dụng quyền giải quyết khiếu nại của mình để dây dưa không giải quyết nhưng cũng không ban hành quyết định không giải quyết, hoặc ban hành dưới hình thức không đúng như: công văn, thông báo Khi nhận hồ sơ, một số chủ thể quản lí thậm chí còn không xuất biên nhận nên người dân không thể chứng minh được việc mình đã qua thủ tục khiếu nại lần đầu Trong

Trang 4

khi đó, theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các

vụ án hành chính, muốn khởi kiện vụ án

hành chính, cá nhân, tổ chức phải chứng

minh mình đã khiếu nại lần đầu và không

được giải quyết hoặc giải quyết mà không

thoả đáng Ba là việc quy định khiếu kiện

sau khiếu nại dễ dẫn đến “thủ tục chồng thủ

tục” khó giải quyết, bởi vì sự chậm trễ của

thủ tục này sẽ dẫn đến sự kéo dài của thủ tục

kia Đặc biệt, trong lĩnh vực thu hồi đất, bồi

thường, hỗ trợ tái định cư, việc kéo dài thời

gian giải quyết khiếu nại hoặc “chờ” quyết

định điều chỉnh giá để giải quyết dứt điểm

dự án là điều gần như diễn ra phổ biến

Quyền khiếu kiện trong các trường hợp này

vì vậy dễ trở thành “hình thức” vì dường như

phải trải qua một chặng đường dài thì chủ

thể mới có thể thực hiện được và khi ấy có

thể tiền bồi thường đã trả, đất đã bị thu hồi

và nhà cửa đã bị giải toả… Theo điều tra sơ

bộ tại một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long

của một số nhà nghiên cứu: có 75% trong số

165 người dân được hỏi cho rằng họ ý thức

được quyền khiếu kiện nhưng cho rằng

khiếu kiện gặp rất nhiều khó khăn Trong đó,

45% người được hỏi cho rằng họ lúng túng

trong quá trình đáp ứng các yêu cầu của toà

án có thẩm quyền thụ lí giải quyết.(5)

2.2 Sự thu hẹp quyền khiếu kiện trong

thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

bởi Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn

thi hành

Văn bản pháp quy của Chính phủ về

hướng dẫn các vấn đề có liên quan đến thu

hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là

Nghị định số 69/2009/NĐ-CP.(6)

Theo Nghị

định này thì việc giải quyết khiếu nại về giá đất bồi thường, quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư hoặc quyết định cưỡng chế thu hồi đất được thực hiện theo Điều 138 Luật đất đai, Điều 162 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, Điều 63, Điều 64 Nghị định

số 84/2007/NĐ-CP và quy định giải quyết khiếu nại tại Nghị định số 136/2006/NĐ-CP(7)

và các luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo

Điều này cho thấy trong quá trình áp dụng, các chủ thể hành pháp đã viện dẫn Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành trước khi viện dẫn Luật khiếu nại, tố cáo (và điều này cũng đồng nghĩa với việc Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính được viện dẫn sau cùng) Trong khi đó, các văn bản pháp luật đất đai có xu hướng thu hẹp quyền của người khiếu nại, khiếu kiện(8)

nên áp dụng theo các văn bản này cũng đồng nghĩa với việc thu hẹp quyền khiếu nại, khiếu kiện

mà Hiến pháp và các văn bản pháp luật đã quy định, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân

Ngoài việc viện dẫn pháp luật, có nhiều yếu tố khác mà toà hành chính còn gặp phải trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, đặc biệt là các vụ án có liên quan đến đất

đai Ví dụ: theo thủ tục, sau khi bên bị kiện

được thông báo là bị khởi kiện, bên này phải

có trách nhiệm gửi “văn bản về ý kiến của mình” cho toà án Tuy nhiên, có nhiều trường hợp bên bị kiện rất chậm trễ trong việc cung cấp chứng cứ và “giải trình” ý kiến do nhiều nguyên nhân như: cán bộ khiếu kiện vắng mặt do đi công tác xa hoặc bận công tác cơ

Trang 5

quan (hội họp…), thậm chí đôi khi là cố tình

kéo dài, dây dưa Điều này, một mặt hạn chế

tính độc lập của toà vì phải “tham khảo” ý

kiến của cơ quan hành chính nhà nước; mặt

khác ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp

pháp của người dân, đặc biệt là trong vụ án

liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

vì người dân chưa thể nhận tiền bồi thường,

hỗ trợ hoặc nền tái định cư trong thời gian

chờ giải quyết vụ án (trong khi đó, Điều 40

Nghị định số 69/2009/NĐ-CP quy định:

trong khi chưa có quyết định giải quyết

khiếu nại (và khiếu kiện) thì vẫn phải tiếp

tục thực hiện quyết định thu hồi đất)

2.3 Sự hạn chế quyền khiếu kiện bởi phạm

vi thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hẹp

Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện được

quy định tại Điều 11 Pháp lệnh thủ tục giải

quyết các vụ án hành chính năm 1996 Do

đòi hỏi của thực tế, các loại việc thuộc

phạm vi thẩm quyền này không ngừng

được tăng lên từ 8 loại việc năm 1996, đến

10 loại việc năm 1998, rồi tăng lên thành

22 loại việc vào năm 2006 Tuy nhiên, dù

liên tục được bổ sung nhưng thực tế cho

thấy thì quy định này ở trong tình trạng

“luôn luôn thiếu” Sự giới hạn về mặt câu

chữ khiến cho nhiều toà hành chính địa

phương không khỏi “lúng túng” khi đứng

trước một quyết định hành chính, hành vi

hành chính mà “không được liệt kê” trong

22 loại việc theo Pháp lệnh Ví dụ: Nếu căn

cứ theo Luật đất đai năm 2003 (khoản 3

Điều 39), Nghị định số 69/2009/NĐ-CP

(Điều 32) thì quyết định cưỡng chế thu hồi

đất, hành vi cưỡng chế buộc tháo dỡ công

trình thuộc đối tượng của giải quyết khiếu nại và của khiếu kiện Điều này cũng phù hợp với Điều 30 Luật khiếu nại, tố cáo vì đây là quyết định cá biệt, có xác định đối tượng cụ thể, có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể Tuy nhiên, khi xem xét 22 loại việc thuộc Điều

11 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và 2006 thì không thấy có loại việc này nên cũng khó có cơ sở thụ lí

vụ việc Đây chỉ là một ví dụ, còn nhiều loại việc khác mà toà hành chính trong thời gian này bị đặt trong tình trạng “tiến thoái, lưỡng nan” do việc quy định đóng về thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính

Nhìn chung, trong khoa học luật hành chính, quyết định hành chính thể hiện hai tính chất: tính hợp pháp và tính hợp lí nhưng trong cả hai trường hợp trên, quyền khiếu nại, khiếu kiện chỉ được thực hiện trên cơ sở tính hợp pháp.(9)

Điều này cho thấy pháp luật chỉ dừng lại

ở việc xác định loại quyết định hành chính, hành vi hành chính nào là đối tượng của khiếu kiện, chứ chưa thực sự xác định phạm

vi mà người khiếu kiện có thể đề cập và được giải quyết, chẳng hạn như: lí do thu hồi đất có hợp pháp, hợp lí không (mục đích thu hồi đất), các bước tiến hành có đúng và đủ chưa (trình tự, thủ tục thu hồi đất), có xây dựng khu tái định cư trước khi tiến hành giải toả không (trình tự tái định cư), diện tích tái định cư trong một lô nền, căn cứ và tính hợp

lí của bảng giá đất mà chính quyền địa phương tiến hành áp giá… Mặt khác, hiện

Trang 6

tại chưa có cơ chế quy định toà án xem xét

lại tính phù hợp của bảng giá đất mà UBND

tỉnh ban hành nếu người khiếu kiện cho rằng

bảng giá đất mà UBND tỉnh quy định dùng

áp giá là quá thấp so với thực tế giao dịch

trên thị trường trong điều kiện bình thường

3 Những điểm tiến bộ của Luật tố

tụng hành chính năm 2010

3.1 Mở rộng phạm vi khiếu kiện

Thứ nhất, Luật tố tụng hành chính năm

2010 tạo cơ sở pháp lí vững chắc hơn cho

hoạt động khiếu kiện của cá nhân, tổ chức

Ngoài việc pháp điển hoá nội dung khiếu

kiện từ văn bản dưới luật (Pháp lệnh) thành

văn bản luật (Luật), phạm vi điều chỉnh của

nội dung này còn được mở rộng từ “thủ tục

giải quyết các vụ án hành chính” thành các

nội dung “tố tụng hành chính” Trong đó,

Luật xác định rõ các khái niệm về khiếu

kiện, đồng thời quy định chi tiết các nội

dung về quyền khởi kiện vụ án hành chính,

đối tượng khởi kiện hoặc trường hợp thay

đổi địa vị tố tụng (Điều 147 Luật tố tụng

hành chính năm 2010) Với Luật này,

quyền khởi kiện hành chính sẽ được nhìn

nhận đúng vị trí bởi các quan hệ cần điều

chỉnh này là quan trọng, cơ bản Luật này

không chỉ điều chỉnh trình tự thủ tục để giải

quyết một vụ án hành chính mà ghi nhận cả

quyền khởi kiện hành chính với mục đích tạo

ra giá trị pháp lí đủ sức để bảo vệ cho cá

nhân, tổ chức trước quyết định hành chính,

hành vi hành chính bất hợp pháp

Thứ hai, điểm tiến bộ nổi bật mà Luật tố

tụng hành chính năm 2010 ghi nhận là quyền

quyết định và tự định đoạt của người khởi

kiện (Điều 7) Từ ngày 01/7/2011, cá nhân,

tổ chức ở Việt Nam có thể chọn để khiếu nại, hay khiếu kiện từ những giai đoạn rất sơ khởi để nhằm phản kháng quyết định hành chính, hành vi hành chính nếu có căn cứ cho rằng quyết định hành chính hay hành vi hành chính đó là bất hợp pháp, xâm hại trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình Khi giao cho người dân tự quyết việc khởi kiện

vụ án hành chính hay thực hiện khiếu nại hành chính sẽ hạn chế việc “bao sân”, “vừa

đá bóng, vừa thổi còi” của cơ quan hành chính nhà nước trong việc vừa là chủ thể ban hành quyết định hành chính, thực hiện hành

vi hành chính đồng thời cũng chính là chủ thể giải quyết những khiếu nại liên quan đến các quyết định này, hành vi này

3.2 Tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết vụ án hành chính trong lĩnh vực thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Thứ nhất, Luật tố tụng hành chính năm

2010 đã dành hẳn một chương (Chương XVIII) để ghi nhận các điều khoản thi hành của Luật tố tụng mà thực chất là sửa đổi, bổ sung Điều 136 và Điều 138 Luật đất đai năm

2003 để tạo sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật về khiếu nại, khiếu kiện liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định

cư: “Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại

quyết định hành chính, hành vi hành chính

về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của Luật tố tụng hành chính” (Điều

264 Luật tố tụng hành chính năm 2010)

Trang 7

Thứ hai, Luật tố tụng hành chính năm

2010 có những quy định cụ thể nhằm tạo ra

cơ chế để hội đồng xét xử phát huy thẩm

quyền của mình cũng như hạn chế sự can

thiệp của các cơ quan nhà nước khác trong

quá trình thụ lí và đưa vụ án hành chính ra

xét xử Ví dụ: Luật nhấn mạnh nguyên tắc

độc lập trong xét xử, nghiêm cấm mọi hành

vi can thiệp, cản trở thẩm phán, hội thẩm

nhân dân thực hiện nhiệm vụ (Điều 14), bảo

đảm hiệu lực của bản án, quyết định của toà

án (Điều 21), quy định thẩm quyền của hội

đồng xét xét xử trong việc tuyên hủy quyết

định hành chính, buộc chấm dứt hành vi

hành chính trái pháp luật (Điều 163), cũng

như quy định rõ trách nhiệm thi hành bản án

(Điều 243, Điều 244, Điều 245)

Thứ ba, Luật còn định ra nguyên tắc bình

đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên

tham gia vụ án hành chính (Điều 10), bảo

đảm việc đối thoại trong tố tụng hành chính

(Điều 12) đồng thời đặt ra vấn đề bồi thường

thiệt hại trong vụ án hành chính (Điều 6)

4 Giải pháp đề xuất

Luật tố tụng hành chính năm 2010 tuy có

nhiều điểm tiến bộ, khắc phục được nhiều

hạn chế của các quy phạm về giải quyết vụ

án hành chính, đặc biệt trong các vụ việc liên

quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái

định cư nhưng để hoàn thiện quyền khiếu

kiện một cách triệt để, lâu dài, một số giải

pháp cần được đặt ra như sau:

Thứ nhất, cần xây dựng cơ chế hiến định

và hoàn chỉnh cơ sở pháp định bằng các văn

bản hướng dẫn cụ thể để thực hiện và giải

quyết các khiếu kiện hành chính Trước hết

cần bổ sung quyền khiếu kiện hành chính trong Hiến pháp

Thứ hai, cần tăng cường cơ chế bổ

nhiệm, đề bạt, khen thưởng cán bộ toà án theo chiều dọc Điều này nhằm tách bạch giữa cơ quan toà án và các cơ quan khác ở địa phương, hạn chế đến mức thấp nhất các

“can thiệp” từ phía các cơ quan nhà nước khác ở địa phương, đặc biệt là cơ quan hành chính nhà nước, có thể làm ảnh hưởng trực tiếp đến “tính độc lập” của toà hành chính

Thứ ba, cần bảo đảm tính độc lập và cơ

chế “đủ hoàn chỉnh” để toà hành chính có thể vào cuộc trong quá trình thu thập chứng

cứ và đưa vụ án hành chính ra xét xử Theo

đó, cần thực hiện một số việc sau:

- Một là các cơ quan hữu quan xem xét

nên duy trì hay loại bỏ việc toà hành chính phải “báo trước” với cơ quan hành chính nhà nước về quyết định bị khởi kiện của họ và phải “chờ” cơ quan hành chính “cho ý kiến tham khảo” trước khi đưa vụ án ra xét xử

- Hai là phải có những hướng dẫn về

việc thực hiện quyền bình đẳng thật sự giữa

“người bị kiện” và “người khởi kiện” ở mỗi

trình tự, thủ tục Ví dụ: Không thể có việc

duy trì “Giấy mời” đối với bên bị kiện và

“Giấy triệu tập” đối với bên khởi kiện Mặt khác, cần quy định rõ quy tắc tranh tụng và ứng xử tại phiên toà hành chính để tránh việc

“nể nang” trong xưng hô, “khó xử” trong chất vấn cán bộ nhà nước - bên bị kiện

- Ba là cần hướng dẫn chi tiết chế độ uỷ

quyền của bên bị kiện Do đặc thù của quá trình quản lí nhà nước với các cơ quan tham mưu, có thể có sự uỷ quyền trong một số

Trang 8

trường hợp nhất định Tuy nhiên, cần quy

định rõ chế độ uỷ quyền và người được “uỷ

quyền” phải thực sự là người đại diện, thực

sự “quyết định” thay cho người uỷ quyền;

tránh trường hợp chỉ đến toà cho “có mặt”,

không nêu chính kiến, không tranh tụng và

cũng không thay đổi quyết định theo sự “sắp

xếp” của chủ thể uỷ quyền

- Bốn là cần xác định rõ các khái niệm

có liên quan trong pháp luật tố tụng hành

chính về quyết định hành chính và hành vi

hành chính Theo đó, quyết định hành

chính, nếu ban hành không đúng thể thức

văn bản, mang tên công văn, thông báo…

nếu có đầy đủ các dấu hiệu của một quyết

định hành chính cá biệt thì vẫn là đối tượng

khiếu kiện Mặt khác, trong các phán quyết

của mình, toà án nghiêm túc nhắc nhở các

chủ thể bị kiện và xử lí văn bản ban hành

không đúng thể thức

- Năm là đối với hành vi hành chính, cần

có những hướng dẫn thật chi tiết vì “hành

vi” thường không để lại chứng cứ gì nên gây

khó khăn trong việc tìm ra cơ sở để đưa vụ

án hành chính ra xét xử

Thứ tư, cần có hướng dẫn cụ thể về cơ

chế phối hợp của các cơ quan nhà nước có

thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại,

khiếu kiện Như trên đã đề cập, các vụ việc

liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ,

tái định cư, nếu có khiếu nại, thường có mức

độ bất đồng cao Do vậy, đáng lẽ phải chọn

một trong hai theo Luật tố tụng hành chính

thì người dân có xu hướng vừa gửi đơn lên

cơ quan khiếu nại, vừa gửi đơn đến cơ quan

khiếu kiện Trong trường hợp này, ngoài việc

tuyên truyền cho người dân hiểu rằng họ phải lựa chọn một trong hai con đường thì cần phải có hướng dẫn chi tiết về cách thức thực hiện theo hướng: người đi khiếu nại buộc phải chứng minh mình không cùng lúc gửi đơn khiếu kiện và ngược lại

Thứ năm, cần có nghị quyết riêng biệt

của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn về giải quyết khiếu kiện trong lĩnh vực thu hồi

đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Một là

lĩnh vực thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có số vụ việc chiếm đa số tại tất cả các tỉnh thành ở Việt Nam và nội dung này còn có nhiều điểm vướng mắc, cần được làm rõ Vì vậy, trong hướng dẫn này, nên xác định cụ thể các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi thẩm quyền của toà hành chính trong lĩnh vực này (ví dụ như quyết định cưỡng chế thu hồi đất…), cách thức hỗ trợ của các cơ quan phối hợp như cơ quan định giá bất động sản, cách thức xác định giá đất, giá nền tái định cư Mọi quy định về quyền khiếu kiện

và trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện sẽ trở nên vô nghĩa nếu bản thân pháp luật không có những hướng dẫn cụ thể để xác định được loại quyết định, loại hành vi có thể khiếu kiện chi tiết, rõ ràng và cụ thể Mặt khác, các chủ thể bị xâm hại về quyền

và lợi ích hợp pháp nêu trên sẽ không thể được bảo vệ nếu không có cơ chế để giải

quyết khiếu kiện Hai là trong tương lai nên

trao cho chủ thể giải quyết khiếu kiện thẩm quyền để xem xét, đánh giá không chỉ quyết định hành chính, hành vi hành chính cá biệt

mà cả một số quyết định hành chính quy

Trang 9

phạm đặc thù một khi quyết định hành

chính, hành vi hành chính đó là tác nhân

của việc xâm phạm lợi ích chính đáng, hợp

pháp của người dân (ví dụ như quy hoạch

treo, bảng giá đất của UBND cấp tỉnh

không sát với giá chuyển nhượng thực tế

trên thị trường trong điều kiện bình

thường ) Ba là cần có những tập huấn cụ

thể chuyên ngành cho cán bộ toà án trong

việc giải quyết các vụ việc liên quan đến

thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Bốn là các đơn vị đào tạo cử nhân luật và

cán bộ ngành toà án nên bổ sung và hoàn

chỉnh các nội dung thu hồi đất, bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư vào trong chương trình

đào tạo nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn

pháp lí hiện nay và tương lai

Cuối cùng, cần có cơ chế hướng dẫn

“hậu giải quyết vụ án hành chính” Một là

các quyết định hành chính mới thay thế cho

quyết định hành chính cũ phải được công bố

công khai và “báo cáo” cho cơ quan xét xử

Là một cơ quan đại diện cho công lí, toà án

có quyền và nên biết vụ việc họ xét xử đã

được cơ quan hành chính giải quyết đến đâu,

khắc phục những vi phạm như thế nào Hai

là nên nghiêm túc thực hiện việc truy cứu

trách nhiệm pháp lí (nếu có) của các chủ thể

ban hành quyết định hành chính hoặc thực

hiện hành vi hành chính bất hợp pháp Các

quyết định xử lí cán bộ này (nếu có) phải

được chuyển cho những chủ thể đã tham gia

vào vụ án hành chính đó, đặc biệt là cơ quan

toà án đã thụ lí, xét xử./

(1).Xem: Điều 74 Hiến pháp năm 1992

(2) Trước Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998, ở Việt

Nam đã có Pháp lệnh quy định việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân ngày 27/11/1981; Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân ngày 7/5/1991 v.v

(3).Xem: ThS Trương Vĩnh Xuân, Thực trạng giải quyết các vụ án hành chính ở một số tỉnh k hu vực Đồng bằng sông Cửu Long, tham luận hội thảo, Học

viện chính trị - hành chính khu vực IV, Cần Thơ, tháng 11/2010

(4).Xem thêm: Điều 11 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ

án hành chính năm 1996 ban hành năm 2006

(5).Xem: ThS Trương Vĩnh Xuân, Thực trạng giải quyết các vụ án hành chính ở một số tỉnh k hu vực Đồng bằng sông Cửu Long, Tlđd

(6).Xem: Nghị định của Chính phủ số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

(7).Xem: Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật đất đai; Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

và giải quyết khiếu nại về đất đai; Nghị định của Chính phủ số 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo

(11) Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai như: Nghị định số 181/2004/NĐ-CP (Điều 162), Nghị định số 84/2004/NĐ-CP (Điều 63, 64)… “quy định lại” thời hạn, thời hiệu, thẩm quyền trình tự, thủ tục khiếu nại và giải quyết khiếu nại theo

hướng bất lợi cho chủ thể đi khiếu nại Ví dụ: thời

hiệu khiếu nại lần đầu theo Luật khiếu nại, tố cáo là

90 ngày bị rút xuống còn 30 ngày; thời điểm “nhận được” quyết định hành chính hoặc “biết được” hành

vi hành chính bị quy định thành “có” quyết định hành chính, “có” hành vi hành chính

(9).Xem: Khoản 1 Điều 2 Luật khiếu nại, tố cáo năm

1998, sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005; Điều 1 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính

Ngày đăng: 15/03/2014, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w