Tuy nhiên, nếu quyền khiếu nại là quyền hiến định1 được xây dựng từ rất sớm2 và khá quen thuộc trong đời sống pháp lí của người dân Việt Nam thì quyền khiếu kiện được quy định muộn hơn,
Trang 1
TS Phan Trung HiÒn *
1 Khái quát về quyền khiếu kiện và
đặc điểm của quyền khiếu kiện trong lĩnh
vực thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư
1.1 Khiếu kiện hành chính và cơ sở hiến
định của quyền khiếu kiện
Khiếu kiện hành chính là việc phản
kháng quyết định hành chính, hành vi hành
chính của cá nhân, tổ chức trước cơ quan tài
phán hành chính khi có căn cứ cho rằng
quyết định hành chính, hành vi hành chính
đó là trái pháp luật, xâm hại đến các quyền
và lợi ích hợp pháp của mình Tuy nhiên,
nếu quyền khiếu nại là quyền hiến định(1)
được xây dựng từ rất sớm(2)
và khá quen thuộc trong đời sống pháp lí của người dân
Việt Nam thì quyền khiếu kiện được quy
định muộn hơn, gắn liền với sự ra đời của
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành
chính năm 1996 (đã được sửa đổi, bổ sung
năm 1998 và 2006) và vừa được pháp điển
hoá thành Luật tố tụng hành chính năm
2010 Ở Việt Nam, Hiến pháp không đề cập
quyền khiếu kiện Điều này cho thấy chưa có
sự thống nhất trong việc nhìn nhận hai loại
quyền nêu trên trong khi hai quyền này cùng
song hành bảo vệ lợi ích người dân và hướng
đến việc nâng cao hiệu quả của công tác
quản lí nhà nước
1.2 Đặc điểm của khiếu kiện trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Khiếu kiện trong thu hồi đất, bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư có một số đặc điểm đặc thù như sau:
- Về phạm vi: Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, để thực hiện các mục tiêu quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế, một số lượng lớn diện tích đất đai cần phải được bố trí, sắp xếp lại Công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư vì vậy phải được thực hiện Điều này trực tiếp tác động đến lợi ích của nhiều cá nhân, tổ chức khắp mọi tỉnh, thành trên phạm vi cả nước Vì vậy, sự không đồng thuận trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có thể diễn ra ở nhiều hộ dân trong cùng một dự án, trên cùng một địa bàn Các báo cáo, kết luận về số vụ việc khiếu kiện chỉ ra rằng khiếu kiện trong lĩnh vực đất đai, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có số lượng cao nhất trong
các nội dung khiếu kiện Ví dụ: Từ năm 2007
- 2009 ở thành phố Cần Thơ và tỉnh Tiền Giang, khiếu kiện trong lĩnh vực đất đai, giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư có năm chiếm đến 90% số vụ khởi kiện hành chính được thụ lí giải quyết.(3)
* Khoa luật Đại học Cần Thơ
Trang 2- Về tính chất, mức độ: Quyết định thu
hồi đất tác động trực tiếp đến các quyền và
lợi ích thiết thân của cá nhân, tổ chức như:
đất đai bị thu hồi, nhà cửa, mồ mả phải
chuyển đi, nghề nghiệp bị thay đổi, địa thế
kinh doanh không còn, phải thay đổi môi
trường sống… Hơn nữa, tài sản trong vụ việc
này có thể là “cơ nghiệp” của người dân
Chính vì vậy, các vụ kiện này rất đặc thù, dễ
dẫn đến mức độ gay gắt, hoặc bức xúc nếu
không được giải quyết hợp lí, hợp tình Mặc
dù pháp luật hiện hành không cho phép
khiếu kiện đông người nhưng kết quả giải
quyết của một vụ việc có thể ảnh hưởng trực
tiếp đến nhiều chủ thể khác - những người
có đất bị thu hồi trong cùng một dự án
1.3 Ý nghĩa, mục đích của việc thực hiện
quyền khiếu kiện trong thu hồi đất, bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư
So với khiếu nại, thẩm quyền giải quyết
khiếu kiện là thẩm quyền của toà hành chính
toà án nhân dân – chủ thể độc lập tương đối
với cả hai bên: Người khởi kiện (cá nhân, tổ
chức) và người bị kiện (cơ quan nhà nước,
người có thẩm quyền trong cơ quan hành
chính nhà nước) Vì tính chất đặc thù của hệ
thống bộ máy, chủ thể giải quyết khiếu kiện
có phạm vi độc lập, không chịu định kiến
bởi lăng kính của các chủ thể quản lí nhà
nước và vì vậy, có điều kiện để đưa ra kết
quả công minh Tính độc lập này có ý nghĩa
rất lớn khi nó trực tiếp khôi phục lại các
quyền hợp pháp liên quan đến đất đai, nhà
cửa - những tài sản có ảnh hưởng trực tiếp
đến cuộc sống người dân
Việc giải quyết khiếu kiện, trong chừng mực nhất định, có thể hạn chế được ý kiến chủ quan và định kiến của chủ thể trực tiếp quản lí khi xem xét lại vụ việc đã và đang quản lí trong quá trình giải quyết khiếu nại đồng thời loại trừ tâm lí e ngại việc công nhận quyết định hành chính, hành vi hành chính của chính các chủ thể quản lí là không đúng Trong trường hợp này, bản án của toà ngoài việc hạn chế “vừa đá bóng, vừa thổi còi” của
cơ quan hành chính nhà nước, còn giúp khôi phục lại lòng tin trong nhân dân, riêng các cơ quan hành chính nhà nước có điều kiện xem xét lại hoạt động quản lí của mình để nâng cao hiệu quả trong việc đưa ra các quyết định liên quan đến các dự án thu hồi đất tiếp sau Tất nhiên, cũng phải thừa nhận rằng do phải bắt đầu lại toàn bộ vụ việc từ yếu tố đầu tiên nên chủ thể giải quyết khiếu kiện có thể cần nhiều thời gian, công sức và chi phí Mặt khác, do không là chủ thể trực tiếp quản lí nên chủ thể này, về phương diện lí luận, có thể phải cần những cơ quan hỗ trợ về mặt kĩ thuật như: Cơ quan giám định về thiệt hại trong thu hồi đất, đánh giá quỹ đất tái định
cư, xem xét giá đất và phương pháp xác định giá đất… Điều này đặt ra yêu cầu về cơ chế
và bộ máy để cơ quan tố tụng có thể đủ điều kiện hoàn thành tốt chức trách của mình
2 Những điểm hạn chế về quyền khiếu
kiện trong lĩnh vực thu hồi đất, bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư trước khi Luật
tố tụng hành chính có hiệu lực
2.1 Quyền khiếu kiện và quyền khiếu nại
Quyền khiếu kiện được xác định trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành
Trang 3chính năm 1996, được sửa đổi, bổ sung năm
1998, 2006 là quyền có phạm vi hẹp hơn
quyền khiếu nại
Thứ nhất, theo Pháp lệnh, quyền khiếu
kiện sẽ không được thực hiện nếu chưa qua
khiếu nại lần đầu; tức là đã được giải quyết
khiếu nại lần đầu mà vẫn không đồng ý hoặc
hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu theo
quy định mà vẫn không được giải quyết
(Điều 39 Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998,
đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005)
Điều này có thể hiểu “cánh cổng” khiếu kiện
nằm sau “cánh cổng” khiếu nại và quyền
khiếu kiện chỉ được thực hiện khi thuộc loại
việc “đi qua được cánh cổng khiếu nại”
Thứ hai, nếu quyền khiếu nại được xác
định chủ yếu theo hướng “mở” ở hai nội
dung là quyết định hành chính cá biệt và
hành vi hành chính thì quyền khiếu kiện
được xác định theo hướng “đóng” ở 22 loại
việc liệt kê tại Điều 11 Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các vụ án hành chính sửa đổi, bổ
sung(4) năm 2006 (Pháp lệnh năm 1996 là 8
loại việc; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung năm
1998 là 10 loại việc) Điều này cũng đồng
nghĩa là có một số khiếu nại đã “hoàn thành
xong” các trình tự về khiếu nại vẫn có thể
không được thụ lí giải quyết khiếu kiện vì
không thuộc một trong 22 loại việc mà Pháp
lệnh hiện hành đã liệt kê
Thứ ba, ngoài hai “điều kiện cần” nêu
trên, đối với “quyết định hành chính, hành vi
hành chính về thu hồi đất, bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư…”, Pháp lệnh sửa đổi, bổ
sung năm 2006 còn quy định các “điều kiện
đủ” như:
- Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lí đất đai do chủ tịch UBND cấp huyện giải quyết lần đầu nhưng người khiếu nại không đồng ý và không tiếp tục khiếu nại đến UBND cấp tỉnh
- Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lí đất đai do chủ tịch UBND cấp tỉnh giải quyết khiếu nại lần đầu nhưng người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại đó (Điều 2, khoản 17 Điều 11 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1998, sửa đổi bổ sung năm 2006)
Có thể nhận xét, việc quy định thủ tục khiếu kiện diễn ra sau khiếu nại, tuy cho phép chủ thể ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính có điều kiện xem xét lại quyết định hoặc hành
vi của mình nhưng ẩn chứa một số điểm bất
cập Một là chủ thể ban hành quyết định có
thể mang tâm lí ỷ lại khi ban hành quyết định hoặc thực hiện hành vi vì dẫu sao đi nữa, chủ thể chấp hành quyết định “không thể đến bất kì cánh cổng nào” nếu không qua thủ tục khiếu nại và giải quyết khiếu nại lần
đầu với chính chủ thể ban hành đầu tiên Hai
là chủ thể giải quyết khiếu nại, trong một số
trường hợp, có thể lạm dụng quyền giải quyết khiếu nại của mình để dây dưa không giải quyết nhưng cũng không ban hành quyết định không giải quyết, hoặc ban hành dưới hình thức không đúng như: công văn, thông báo Khi nhận hồ sơ, một số chủ thể quản lí thậm chí còn không xuất biên nhận nên người dân không thể chứng minh được việc mình đã qua thủ tục khiếu nại lần đầu Trong
Trang 4khi đó, theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các
vụ án hành chính, muốn khởi kiện vụ án
hành chính, cá nhân, tổ chức phải chứng
minh mình đã khiếu nại lần đầu và không
được giải quyết hoặc giải quyết mà không
thoả đáng Ba là việc quy định khiếu kiện
sau khiếu nại dễ dẫn đến “thủ tục chồng thủ
tục” khó giải quyết, bởi vì sự chậm trễ của
thủ tục này sẽ dẫn đến sự kéo dài của thủ tục
kia Đặc biệt, trong lĩnh vực thu hồi đất, bồi
thường, hỗ trợ tái định cư, việc kéo dài thời
gian giải quyết khiếu nại hoặc “chờ” quyết
định điều chỉnh giá để giải quyết dứt điểm
dự án là điều gần như diễn ra phổ biến
Quyền khiếu kiện trong các trường hợp này
vì vậy dễ trở thành “hình thức” vì dường như
phải trải qua một chặng đường dài thì chủ
thể mới có thể thực hiện được và khi ấy có
thể tiền bồi thường đã trả, đất đã bị thu hồi
và nhà cửa đã bị giải toả… Theo điều tra sơ
bộ tại một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long
của một số nhà nghiên cứu: có 75% trong số
165 người dân được hỏi cho rằng họ ý thức
được quyền khiếu kiện nhưng cho rằng
khiếu kiện gặp rất nhiều khó khăn Trong đó,
45% người được hỏi cho rằng họ lúng túng
trong quá trình đáp ứng các yêu cầu của toà
án có thẩm quyền thụ lí giải quyết.(5)
2.2 Sự thu hẹp quyền khiếu kiện trong
thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
bởi Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn
thi hành
Văn bản pháp quy của Chính phủ về
hướng dẫn các vấn đề có liên quan đến thu
hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là
Nghị định số 69/2009/NĐ-CP.(6)
Theo Nghị
định này thì việc giải quyết khiếu nại về giá đất bồi thường, quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư hoặc quyết định cưỡng chế thu hồi đất được thực hiện theo Điều 138 Luật đất đai, Điều 162 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, Điều 63, Điều 64 Nghị định
số 84/2007/NĐ-CP và quy định giải quyết khiếu nại tại Nghị định số 136/2006/NĐ-CP(7)
và các luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo
Điều này cho thấy trong quá trình áp dụng, các chủ thể hành pháp đã viện dẫn Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành trước khi viện dẫn Luật khiếu nại, tố cáo (và điều này cũng đồng nghĩa với việc Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính được viện dẫn sau cùng) Trong khi đó, các văn bản pháp luật đất đai có xu hướng thu hẹp quyền của người khiếu nại, khiếu kiện(8)
nên áp dụng theo các văn bản này cũng đồng nghĩa với việc thu hẹp quyền khiếu nại, khiếu kiện
mà Hiến pháp và các văn bản pháp luật đã quy định, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân
Ngoài việc viện dẫn pháp luật, có nhiều yếu tố khác mà toà hành chính còn gặp phải trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, đặc biệt là các vụ án có liên quan đến đất
đai Ví dụ: theo thủ tục, sau khi bên bị kiện
được thông báo là bị khởi kiện, bên này phải
có trách nhiệm gửi “văn bản về ý kiến của mình” cho toà án Tuy nhiên, có nhiều trường hợp bên bị kiện rất chậm trễ trong việc cung cấp chứng cứ và “giải trình” ý kiến do nhiều nguyên nhân như: cán bộ khiếu kiện vắng mặt do đi công tác xa hoặc bận công tác cơ
Trang 5quan (hội họp…), thậm chí đôi khi là cố tình
kéo dài, dây dưa Điều này, một mặt hạn chế
tính độc lập của toà vì phải “tham khảo” ý
kiến của cơ quan hành chính nhà nước; mặt
khác ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp
pháp của người dân, đặc biệt là trong vụ án
liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
vì người dân chưa thể nhận tiền bồi thường,
hỗ trợ hoặc nền tái định cư trong thời gian
chờ giải quyết vụ án (trong khi đó, Điều 40
Nghị định số 69/2009/NĐ-CP quy định:
trong khi chưa có quyết định giải quyết
khiếu nại (và khiếu kiện) thì vẫn phải tiếp
tục thực hiện quyết định thu hồi đất)
2.3 Sự hạn chế quyền khiếu kiện bởi phạm
vi thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hẹp
Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện được
quy định tại Điều 11 Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các vụ án hành chính năm 1996 Do
đòi hỏi của thực tế, các loại việc thuộc
phạm vi thẩm quyền này không ngừng
được tăng lên từ 8 loại việc năm 1996, đến
10 loại việc năm 1998, rồi tăng lên thành
22 loại việc vào năm 2006 Tuy nhiên, dù
liên tục được bổ sung nhưng thực tế cho
thấy thì quy định này ở trong tình trạng
“luôn luôn thiếu” Sự giới hạn về mặt câu
chữ khiến cho nhiều toà hành chính địa
phương không khỏi “lúng túng” khi đứng
trước một quyết định hành chính, hành vi
hành chính mà “không được liệt kê” trong
22 loại việc theo Pháp lệnh Ví dụ: Nếu căn
cứ theo Luật đất đai năm 2003 (khoản 3
Điều 39), Nghị định số 69/2009/NĐ-CP
(Điều 32) thì quyết định cưỡng chế thu hồi
đất, hành vi cưỡng chế buộc tháo dỡ công
trình thuộc đối tượng của giải quyết khiếu nại và của khiếu kiện Điều này cũng phù hợp với Điều 30 Luật khiếu nại, tố cáo vì đây là quyết định cá biệt, có xác định đối tượng cụ thể, có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể Tuy nhiên, khi xem xét 22 loại việc thuộc Điều
11 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và 2006 thì không thấy có loại việc này nên cũng khó có cơ sở thụ lí
vụ việc Đây chỉ là một ví dụ, còn nhiều loại việc khác mà toà hành chính trong thời gian này bị đặt trong tình trạng “tiến thoái, lưỡng nan” do việc quy định đóng về thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính
Nhìn chung, trong khoa học luật hành chính, quyết định hành chính thể hiện hai tính chất: tính hợp pháp và tính hợp lí nhưng trong cả hai trường hợp trên, quyền khiếu nại, khiếu kiện chỉ được thực hiện trên cơ sở tính hợp pháp.(9)
Điều này cho thấy pháp luật chỉ dừng lại
ở việc xác định loại quyết định hành chính, hành vi hành chính nào là đối tượng của khiếu kiện, chứ chưa thực sự xác định phạm
vi mà người khiếu kiện có thể đề cập và được giải quyết, chẳng hạn như: lí do thu hồi đất có hợp pháp, hợp lí không (mục đích thu hồi đất), các bước tiến hành có đúng và đủ chưa (trình tự, thủ tục thu hồi đất), có xây dựng khu tái định cư trước khi tiến hành giải toả không (trình tự tái định cư), diện tích tái định cư trong một lô nền, căn cứ và tính hợp
lí của bảng giá đất mà chính quyền địa phương tiến hành áp giá… Mặt khác, hiện
Trang 6tại chưa có cơ chế quy định toà án xem xét
lại tính phù hợp của bảng giá đất mà UBND
tỉnh ban hành nếu người khiếu kiện cho rằng
bảng giá đất mà UBND tỉnh quy định dùng
áp giá là quá thấp so với thực tế giao dịch
trên thị trường trong điều kiện bình thường
3 Những điểm tiến bộ của Luật tố
tụng hành chính năm 2010
3.1 Mở rộng phạm vi khiếu kiện
Thứ nhất, Luật tố tụng hành chính năm
2010 tạo cơ sở pháp lí vững chắc hơn cho
hoạt động khiếu kiện của cá nhân, tổ chức
Ngoài việc pháp điển hoá nội dung khiếu
kiện từ văn bản dưới luật (Pháp lệnh) thành
văn bản luật (Luật), phạm vi điều chỉnh của
nội dung này còn được mở rộng từ “thủ tục
giải quyết các vụ án hành chính” thành các
nội dung “tố tụng hành chính” Trong đó,
Luật xác định rõ các khái niệm về khiếu
kiện, đồng thời quy định chi tiết các nội
dung về quyền khởi kiện vụ án hành chính,
đối tượng khởi kiện hoặc trường hợp thay
đổi địa vị tố tụng (Điều 147 Luật tố tụng
hành chính năm 2010) Với Luật này,
quyền khởi kiện hành chính sẽ được nhìn
nhận đúng vị trí bởi các quan hệ cần điều
chỉnh này là quan trọng, cơ bản Luật này
không chỉ điều chỉnh trình tự thủ tục để giải
quyết một vụ án hành chính mà ghi nhận cả
quyền khởi kiện hành chính với mục đích tạo
ra giá trị pháp lí đủ sức để bảo vệ cho cá
nhân, tổ chức trước quyết định hành chính,
hành vi hành chính bất hợp pháp
Thứ hai, điểm tiến bộ nổi bật mà Luật tố
tụng hành chính năm 2010 ghi nhận là quyền
quyết định và tự định đoạt của người khởi
kiện (Điều 7) Từ ngày 01/7/2011, cá nhân,
tổ chức ở Việt Nam có thể chọn để khiếu nại, hay khiếu kiện từ những giai đoạn rất sơ khởi để nhằm phản kháng quyết định hành chính, hành vi hành chính nếu có căn cứ cho rằng quyết định hành chính hay hành vi hành chính đó là bất hợp pháp, xâm hại trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình Khi giao cho người dân tự quyết việc khởi kiện
vụ án hành chính hay thực hiện khiếu nại hành chính sẽ hạn chế việc “bao sân”, “vừa
đá bóng, vừa thổi còi” của cơ quan hành chính nhà nước trong việc vừa là chủ thể ban hành quyết định hành chính, thực hiện hành
vi hành chính đồng thời cũng chính là chủ thể giải quyết những khiếu nại liên quan đến các quyết định này, hành vi này
3.2 Tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết vụ án hành chính trong lĩnh vực thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Thứ nhất, Luật tố tụng hành chính năm
2010 đã dành hẳn một chương (Chương XVIII) để ghi nhận các điều khoản thi hành của Luật tố tụng mà thực chất là sửa đổi, bổ sung Điều 136 và Điều 138 Luật đất đai năm
2003 để tạo sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật về khiếu nại, khiếu kiện liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư: “Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại
quyết định hành chính, hành vi hành chính
về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của Luật tố tụng hành chính” (Điều
264 Luật tố tụng hành chính năm 2010)
Trang 7Thứ hai, Luật tố tụng hành chính năm
2010 có những quy định cụ thể nhằm tạo ra
cơ chế để hội đồng xét xử phát huy thẩm
quyền của mình cũng như hạn chế sự can
thiệp của các cơ quan nhà nước khác trong
quá trình thụ lí và đưa vụ án hành chính ra
xét xử Ví dụ: Luật nhấn mạnh nguyên tắc
độc lập trong xét xử, nghiêm cấm mọi hành
vi can thiệp, cản trở thẩm phán, hội thẩm
nhân dân thực hiện nhiệm vụ (Điều 14), bảo
đảm hiệu lực của bản án, quyết định của toà
án (Điều 21), quy định thẩm quyền của hội
đồng xét xét xử trong việc tuyên hủy quyết
định hành chính, buộc chấm dứt hành vi
hành chính trái pháp luật (Điều 163), cũng
như quy định rõ trách nhiệm thi hành bản án
(Điều 243, Điều 244, Điều 245)
Thứ ba, Luật còn định ra nguyên tắc bình
đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên
tham gia vụ án hành chính (Điều 10), bảo
đảm việc đối thoại trong tố tụng hành chính
(Điều 12) đồng thời đặt ra vấn đề bồi thường
thiệt hại trong vụ án hành chính (Điều 6)
4 Giải pháp đề xuất
Luật tố tụng hành chính năm 2010 tuy có
nhiều điểm tiến bộ, khắc phục được nhiều
hạn chế của các quy phạm về giải quyết vụ
án hành chính, đặc biệt trong các vụ việc liên
quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư nhưng để hoàn thiện quyền khiếu
kiện một cách triệt để, lâu dài, một số giải
pháp cần được đặt ra như sau:
Thứ nhất, cần xây dựng cơ chế hiến định
và hoàn chỉnh cơ sở pháp định bằng các văn
bản hướng dẫn cụ thể để thực hiện và giải
quyết các khiếu kiện hành chính Trước hết
cần bổ sung quyền khiếu kiện hành chính trong Hiến pháp
Thứ hai, cần tăng cường cơ chế bổ
nhiệm, đề bạt, khen thưởng cán bộ toà án theo chiều dọc Điều này nhằm tách bạch giữa cơ quan toà án và các cơ quan khác ở địa phương, hạn chế đến mức thấp nhất các
“can thiệp” từ phía các cơ quan nhà nước khác ở địa phương, đặc biệt là cơ quan hành chính nhà nước, có thể làm ảnh hưởng trực tiếp đến “tính độc lập” của toà hành chính
Thứ ba, cần bảo đảm tính độc lập và cơ
chế “đủ hoàn chỉnh” để toà hành chính có thể vào cuộc trong quá trình thu thập chứng
cứ và đưa vụ án hành chính ra xét xử Theo
đó, cần thực hiện một số việc sau:
- Một là các cơ quan hữu quan xem xét
nên duy trì hay loại bỏ việc toà hành chính phải “báo trước” với cơ quan hành chính nhà nước về quyết định bị khởi kiện của họ và phải “chờ” cơ quan hành chính “cho ý kiến tham khảo” trước khi đưa vụ án ra xét xử
- Hai là phải có những hướng dẫn về
việc thực hiện quyền bình đẳng thật sự giữa
“người bị kiện” và “người khởi kiện” ở mỗi
trình tự, thủ tục Ví dụ: Không thể có việc
duy trì “Giấy mời” đối với bên bị kiện và
“Giấy triệu tập” đối với bên khởi kiện Mặt khác, cần quy định rõ quy tắc tranh tụng và ứng xử tại phiên toà hành chính để tránh việc
“nể nang” trong xưng hô, “khó xử” trong chất vấn cán bộ nhà nước - bên bị kiện
- Ba là cần hướng dẫn chi tiết chế độ uỷ
quyền của bên bị kiện Do đặc thù của quá trình quản lí nhà nước với các cơ quan tham mưu, có thể có sự uỷ quyền trong một số
Trang 8trường hợp nhất định Tuy nhiên, cần quy
định rõ chế độ uỷ quyền và người được “uỷ
quyền” phải thực sự là người đại diện, thực
sự “quyết định” thay cho người uỷ quyền;
tránh trường hợp chỉ đến toà cho “có mặt”,
không nêu chính kiến, không tranh tụng và
cũng không thay đổi quyết định theo sự “sắp
xếp” của chủ thể uỷ quyền
- Bốn là cần xác định rõ các khái niệm
có liên quan trong pháp luật tố tụng hành
chính về quyết định hành chính và hành vi
hành chính Theo đó, quyết định hành
chính, nếu ban hành không đúng thể thức
văn bản, mang tên công văn, thông báo…
nếu có đầy đủ các dấu hiệu của một quyết
định hành chính cá biệt thì vẫn là đối tượng
khiếu kiện Mặt khác, trong các phán quyết
của mình, toà án nghiêm túc nhắc nhở các
chủ thể bị kiện và xử lí văn bản ban hành
không đúng thể thức
- Năm là đối với hành vi hành chính, cần
có những hướng dẫn thật chi tiết vì “hành
vi” thường không để lại chứng cứ gì nên gây
khó khăn trong việc tìm ra cơ sở để đưa vụ
án hành chính ra xét xử
Thứ tư, cần có hướng dẫn cụ thể về cơ
chế phối hợp của các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại,
khiếu kiện Như trên đã đề cập, các vụ việc
liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư, nếu có khiếu nại, thường có mức
độ bất đồng cao Do vậy, đáng lẽ phải chọn
một trong hai theo Luật tố tụng hành chính
thì người dân có xu hướng vừa gửi đơn lên
cơ quan khiếu nại, vừa gửi đơn đến cơ quan
khiếu kiện Trong trường hợp này, ngoài việc
tuyên truyền cho người dân hiểu rằng họ phải lựa chọn một trong hai con đường thì cần phải có hướng dẫn chi tiết về cách thức thực hiện theo hướng: người đi khiếu nại buộc phải chứng minh mình không cùng lúc gửi đơn khiếu kiện và ngược lại
Thứ năm, cần có nghị quyết riêng biệt
của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn về giải quyết khiếu kiện trong lĩnh vực thu hồi
đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Một là
lĩnh vực thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có số vụ việc chiếm đa số tại tất cả các tỉnh thành ở Việt Nam và nội dung này còn có nhiều điểm vướng mắc, cần được làm rõ Vì vậy, trong hướng dẫn này, nên xác định cụ thể các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi thẩm quyền của toà hành chính trong lĩnh vực này (ví dụ như quyết định cưỡng chế thu hồi đất…), cách thức hỗ trợ của các cơ quan phối hợp như cơ quan định giá bất động sản, cách thức xác định giá đất, giá nền tái định cư Mọi quy định về quyền khiếu kiện
và trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện sẽ trở nên vô nghĩa nếu bản thân pháp luật không có những hướng dẫn cụ thể để xác định được loại quyết định, loại hành vi có thể khiếu kiện chi tiết, rõ ràng và cụ thể Mặt khác, các chủ thể bị xâm hại về quyền
và lợi ích hợp pháp nêu trên sẽ không thể được bảo vệ nếu không có cơ chế để giải
quyết khiếu kiện Hai là trong tương lai nên
trao cho chủ thể giải quyết khiếu kiện thẩm quyền để xem xét, đánh giá không chỉ quyết định hành chính, hành vi hành chính cá biệt
mà cả một số quyết định hành chính quy
Trang 9phạm đặc thù một khi quyết định hành
chính, hành vi hành chính đó là tác nhân
của việc xâm phạm lợi ích chính đáng, hợp
pháp của người dân (ví dụ như quy hoạch
treo, bảng giá đất của UBND cấp tỉnh
không sát với giá chuyển nhượng thực tế
trên thị trường trong điều kiện bình
thường ) Ba là cần có những tập huấn cụ
thể chuyên ngành cho cán bộ toà án trong
việc giải quyết các vụ việc liên quan đến
thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Bốn là các đơn vị đào tạo cử nhân luật và
cán bộ ngành toà án nên bổ sung và hoàn
chỉnh các nội dung thu hồi đất, bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư vào trong chương trình
đào tạo nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn
pháp lí hiện nay và tương lai
Cuối cùng, cần có cơ chế hướng dẫn
“hậu giải quyết vụ án hành chính” Một là
các quyết định hành chính mới thay thế cho
quyết định hành chính cũ phải được công bố
công khai và “báo cáo” cho cơ quan xét xử
Là một cơ quan đại diện cho công lí, toà án
có quyền và nên biết vụ việc họ xét xử đã
được cơ quan hành chính giải quyết đến đâu,
khắc phục những vi phạm như thế nào Hai
là nên nghiêm túc thực hiện việc truy cứu
trách nhiệm pháp lí (nếu có) của các chủ thể
ban hành quyết định hành chính hoặc thực
hiện hành vi hành chính bất hợp pháp Các
quyết định xử lí cán bộ này (nếu có) phải
được chuyển cho những chủ thể đã tham gia
vào vụ án hành chính đó, đặc biệt là cơ quan
toà án đã thụ lí, xét xử./
(1).Xem: Điều 74 Hiến pháp năm 1992
(2) Trước Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998, ở Việt
Nam đã có Pháp lệnh quy định việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân ngày 27/11/1981; Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân ngày 7/5/1991 v.v
(3).Xem: ThS Trương Vĩnh Xuân, Thực trạng giải quyết các vụ án hành chính ở một số tỉnh k hu vực Đồng bằng sông Cửu Long, tham luận hội thảo, Học
viện chính trị - hành chính khu vực IV, Cần Thơ, tháng 11/2010
(4).Xem thêm: Điều 11 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ
án hành chính năm 1996 ban hành năm 2006
(5).Xem: ThS Trương Vĩnh Xuân, Thực trạng giải quyết các vụ án hành chính ở một số tỉnh k hu vực Đồng bằng sông Cửu Long, Tlđd
(6).Xem: Nghị định của Chính phủ số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
(7).Xem: Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật đất đai; Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
và giải quyết khiếu nại về đất đai; Nghị định của Chính phủ số 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo
(11) Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai như: Nghị định số 181/2004/NĐ-CP (Điều 162), Nghị định số 84/2004/NĐ-CP (Điều 63, 64)… “quy định lại” thời hạn, thời hiệu, thẩm quyền trình tự, thủ tục khiếu nại và giải quyết khiếu nại theo
hướng bất lợi cho chủ thể đi khiếu nại Ví dụ: thời
hiệu khiếu nại lần đầu theo Luật khiếu nại, tố cáo là
90 ngày bị rút xuống còn 30 ngày; thời điểm “nhận được” quyết định hành chính hoặc “biết được” hành
vi hành chính bị quy định thành “có” quyết định hành chính, “có” hành vi hành chính
(9).Xem: Khoản 1 Điều 2 Luật khiếu nại, tố cáo năm
1998, sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005; Điều 1 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính