Theo đó, quốc gia ven biển có những quyền sau đối với hoạt động khai thác cá trong vùng đặc quyền kinh tế của mình: - Được tiến hành những hoạt động thúc đẩy việc khai thác tối ưu tài n
Trang 1ThS Ph¹m Hång H¹nh *
ột trong những vấn đề trung tâm của
tranh chấp về tài nguyên sinh vật
biển là vấn đề khai thác (ai có quyền khai
thác, khai thác trên những vùng biển nào và
trong giới hạn nào?) Công ước Luật biển
năm 1982 (gọi tắt là Công ước 1982) với
những điều khoản về quy chế pháp lí của
vùng đặc quyền kinh tế - vùng biển ra đời
muộn nhất trong lịch sử luật biển, đã thiết
lập nên chế độ pháp lí mới về khai thác tài
nguyên cá trên biển
1 Khai thác cá tại vùng đặc quyền
kinh tế(1)
Theo quy định tại các điều 55 và 57 Công
ước 1982 thì “Vùng đặc quyền kinh tế là
vùng nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền
với lãnh hải, đặt dưới chế độ pháp lí riêng,
theo đó các quyền và quyền tài phán của
quốc gia ven biển, các quyền cũng như các
quyền tự do của các quốc gia khác đều do
các quy định thích hợp của Công ước điều
chỉnh Vùng biển này có chiều rộng không
quá 200 hải lí kể từ đường cơ sở dùng để
tính chiều rộng lãnh hải”
Với bản chất là vùng biển đặc thù, vùng
đặc quyền kinh tế không thuộc lãnh thổ quốc
gia những cũng không phải vùng biển thuộc
sở hữu chung của cộng đồng quốc tế Những
quy định của Công ước 1982 về vùng đặc
quyền kinh tế là minh chứng rõ ràng cho sự cân bằng về lợi ích giữa quốc gia ven biển với các quốc gia khác khi những quyền của các nước ven biển đối với tài nguyên trên các vùng biển tiếp liền lãnh thổ quốc gia đã được thừa nhận và là những đặc quyền trong khi quyền của các quốc gia khác vẫn được Công ước ghi nhận
1.1 Quyền khai thác của quốc gia ven biển trong vùng đặc quyền kinh tế
Theo quy định tại Điều 56 Công ước
1982 quy định: “Trong vùng đặc quyền kinh
tế, quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với việc thăm dò, khai thác và bảo tồn, quản
lí tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh vật của vùng nước bên trên đáy biển, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển…” Theo
đó, quốc gia ven biển có những quyền sau đối với hoạt động khai thác cá trong vùng đặc quyền kinh tế của mình:
- Được tiến hành những hoạt động thúc đẩy việc khai thác tối ưu tài nguyên cá trong vùng đặc quyền kinh tế trên cơ sở không làm ảnh hưởng đến hoạt động bảo tồn (Điều 62.1);
- Tự định ra khối lượng cá có thể đánh bắt (Điều 61.1), tự xác định khả năng khai thác, trên cơ sở đó, xác định lượng cá dư
M
* Giảng viên Khoa pháp luật quốc tế Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2trong vùng đặc quyền kinh tế (Điều 62.2)
Đây là những quyền vô cùng quan trọng bởi
nó liên quan trực tiếp đến quốc gia ven biển
và những quyền của các quốc gia khác Để
có căn cứ tính toán lượng cá thừa mà quốc
gia khác có thể đánh bắt thì phải căn cứ vào
số lượng cá có thể đánh bắt, số lượng cá dư
và khả năng khai thác thực tế của quốc gia
ven biển Đây là những đặc quyền mà Công
ước dành riêng cho quốc gia ven biển Việc
tính toán, xác định những số liệu trên hoàn
toàn do những quốc gia này tự tiến hành trên
cơ sở được xem xét đến cả những lợi ích
kinh tế, xã hội, môi trường và các lợi ích
khác của mình mà không có nghĩa vụ phải
chia sẻ với các tổ chức quốc tế hay các quốc
gia khác Giới hạn duy nhất cho những đặc
quyền này là phải trên cơ sở khoa học và
tính đến vấn đề bảo tồn các loài cá;
- Cho phép các quốc gia khác được
tham gia khai thác lượng cá dư thừa tại
vùng đặc quyền kinh tế khi quốc gia ven
biển không khai thác hết thông qua các điều
ước hoặc các thoả thuận khác (Điều 62.2)
đồng thời quy định những vấn đề điều chỉnh
hoạt động khai thác của nước ngoài trong
trường hợp này, trên cơ sở phù hợp với
Công ước và có tính đến tầm quan trọng của
tài nguyên cá đối với nền kinh tế của quốc
gia ven biển và lợi ích của các quốc gia
khác Các quy định của quốc gia ven biển
đặc biệt tập trung vào một số nội dung như
cấp giấy phép cho ngư dân hay tàu thuyền
và phương tiện đánh bắt; chỉ rõ các chủng
loại cho phép đánh bắt và ấn định tỉ lệ phần
trăm hoặc là đối với các đàn (stocks) hay
các nhóm đàn hải sản riêng biệt hoặc đối với số lượng đánh bắt của từng chiếc tàu trong khoảng thời gian nhất định hoặc là đối với số lượng đánh bắt của các công dân của một quốc gia trong thời kì nhất định; quy định các mùa vụ và các khu vực đánh bắt, kiểu, cỡ và số lượng các phương tiện đánh bắt, cũng như kiểu, cỡ và số lượng tàu thuyền đánh bắt có thể được sử dụng; các thông tin mà tàu thuyền đánh bắt phải báo cáo, đặc biệt là những số liệu thống kê liên quan đến việc đánh bắt, sức đánh bắt
và thông báo vị trí cho các tàu thuyền; các thể thức và điều kiện liên quan đến các xí nghiệp liên doanh hoặc các hình thức hợp tác khác…
- Thực hiện quyền tài phán (theo nghĩa rộng) đối với các hoạt động khai thác cá trong vùng đặc quyền kinh tế của mình.(2) Quốc gia ven biển có quyền ban hành các quy định, luật lệ điều chỉnh hoạt động đánh
cá trong vùng đặc quyền kinh tế đồng thời có thể thi hành mọi biện pháp cần thiết, kể cả việc khám xét, kiểm tra, bắt giữ và khởi tố tư pháp để bảo đảm việc tôn trọng các luật và quy định mà mình đã ban hành theo đúng Công ước (Điều 73)
Có thể thấy Công ước đã dành cho quốc gia ven biển những quyền rất rộng trong khai thác tài nguyên cá tại vùng biển thuộc
quyền chủ quyền của mình Thứ nhất,
quyền khai thác cá trong vùng đặc quyền kinh tế gần như là quyền riêng của quốc gia ven biển Việc các quốc gia khác có được quyền khai thác lượng cá dư trong vùng biển này hay không hoàn toàn phụ thuộc
Trang 3vào quốc gia ven biển bởi việc khai thác đó
chỉ được đặt ra khi có lượng cá thừa, trong
khi việc xác định có lượng cá thừa hay
không hoàn toàn thuộc đặc quyền của quốc
gia ven biển Tuy nhiên, việc khai thác này
cũng không đặt ra ngay cả khi có lượng cá
thừa nếu quốc gia ven biển là nước có nền
kinh tế lệ thuộc nặng nề vào việc khai thác
tài nguyên sinh vật ở vùng đặc quyền kinh
tế của mình (Điều 71) Mặt khác, trong
trường hợp việc khai thác của các quốc gia
khác được tiến hành thì cũng phải tuân theo
những thể thức do quốc gia ven biển quy
định Thứ hai, Công ước đã đáp ứng yêu
cầu của các quốc gia ven biển muốn mở
rộng quyền tài phán của mình ra ngoài các
vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia bằng
việc thiết lập vùng đặc quyền kinh tế và trao
cho quốc gia ven biển thẩm quyền tài phán
trong hoạt động khai thác, bảo tồn và quản
lí tài nguyên cá Điều này một mặt là sự
củng cố cho những quyền của quốc gia ven
biển đối với hoạt động khai thác tài nguyên
trong vùng đặc quyền kinh tế của mình
đồng thời là cơ sở bảo đảm cho những
quyền của quốc gia ven biển được thi hành
trên thực tế
1.2 Hoạt động khai thác của các quốc
gia khác trong vùng đặc quyền kinh tế của
quốc gia ven biển
Theo quy định của Công ước 1982, tàu
thuyền và ngư dân của các quốc gia khác có
thể khai thác tài nguyên cá trong vùng đặc
quyền kinh tế của quốc gia ven biển khi
quốc gia ven biển không khai thác hết
lượng cá trong vùng đặc quyền kinh tế của
mình, trừ trường hợp quốc gia ven biển có nền kinh tế lệ thuộc rất nặng nề vào việc khai thác tài nguyên sinh vật ở vùng đặc quyền kinh tế Việc tham gia khai thác lượng cá dư thừa trong vùng đặc quyền kinh
tế của quốc gia ven biển sẽ được ưu tiên
dành cho các quốc gia sau:
- Quốc gia không có biển, quốc gia bất lợi về mặt địa lí
Quốc gia bất lợi về mặt địa lí theo định
nghĩa của Công ước là “các quốc gia ven
biển, kể cả các quốc gia ở ven bờ một biển kín hoặc nửa kín, mà vị trí địa lí của họ làm cho họ phải lệ thuộc vào việc khai thác những tài nguyên sinh vật ở các vùng đặc quyền về kinh tế của các quốc gia khác trong phân khu vực hoặc khu vực để có đủ
cá dùng làm thực phẩm cung cấp cho dân
cư hay một bộ phận dân cư của họ, cũng như các quốc gia ven biển không thể có một vùng đặc quyền kinh tế riêng” (Điều 71.2)
Những quốc gia này và quốc gia không có biển có quyền tham gia, theo một thể thức công bằng, vào việc khai thác một phần thích hợp số dư của những tài nguyên sinh vật trong các vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia ven biển ở cùng tiểu khu vực hay khu vực, có tính đến các đặc điểm kinh
tế và địa lí thích đáng của tất cả các quốc gia hữu quan và những yếu tố khác như lợi ích của quốc gia ven biển… (các điều 69, 70) Việc tham gia khai thác được tiến hành theo các thoả thuận song phương, tiểu khu vực hoặc khu vực
- Quốc gia đang phát triển trong tiểu khu vực, khu vực
Trang 4Đối với các quốc gia không có biển hoặc
bất lợi về mặt địa lí là những nước đang phát
triển, Công ước tạo điều kiện cho những
nước này trong việc tiếp cận tài nguyên cá
của quốc gia ven biển khi quy định trong
trường hợp khả năng đánh bắt của một quốc
gia ven biển cho phép một mình quốc gia đó
có thể đánh bắt được hầu như toàn bộ khối
lượng đánh bắt trong vùng đặc quyền kinh tế
của mình, quốc gia đó và các quốc gia hữu
quan khác hợp tác với nhau để kí kết các
thoả thuận song phương, tiểu khu vực hay
khu vực một cách công bằng, cho phép các
quốc gia đang phát triển trong cùng một
phân khu vực hay khu vực đó tham gia một
cách thích hợp vào việc khai thác những tài
nguyên sinh vật của các vùng đặc quyền về
kinh tế của các quốc gia ven biển trong tiểu
khu vực hay khu vực, có tính đến hoàn cảnh
và các điều kiện thoả đáng đối với tất cả các
bên (các điều 69.3, 70.4)
- Các quốc gia có những công dân
thường đánh bắt hải sản ở trong khu vực
hoặc đã đóng góp nhiều vào công tác tìm
kiếm và thống kê các đàn cá trong vùng đặc
quyền kinh tế của quốc gia ven biển
Điều 62.3 Công ước quy định quốc gia
ven biển khi đồng ý cho các quốc gia khác
tham gia khai thác trong vùng đặc quyền
kinh tế phải xem xét đến sự cần thiết phải
giảm đến mức tối thiểu những đảo lộn về
kinh tế cho các quốc gia có truyền thống
đánh bắt hoặc đã có những cố gắng trong
việc tìm kiếm và nghiên cứu các đàn cá
trong vùng đặc quyền kinh tế của mình
Khi tiến hành khai thác lượng cá thừa
trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển, các quốc gia khác phải tuân thủ đầy đủ các quy định của quốc gia này trong việc khai thác, bảo tồn và quản lí tài nguyên
cá như xin giấy phép của quốc gia ven biển, nộp thuế hay mọi khoản phải trả khác, tuân thủ các quy định cụ thể về các hoạt động đánh bắt (số lượng được phép đánh bắt, mùa
vụ đánh bắt, các khu vực đánh bắt, kiểu, cỡ,
số lượng phương tiện cũng như tàu thuyền đánh bắt có thể được sử dụng, tuổi và cỡ cá
có thể được đánh bắt), các yêu cầu về thông tin và nghiên cứu khoa học, các yêu cầu về chuyển giao kĩ thuật và liên doanh… Các điều kiện này cũng có thể được quốc gia ven biển thay đổi
Những điều khoản của Công ước 1982
đã thể hiện sự dung hoà, cân bằng về mặt lợi ích giữa các nhóm quốc gia khác nhau liên quan đến vấn đề khai thác cá Trước hết là lợi ích của quốc gia ven biển và các quốc gia khác khi đặc quyền khai thác của quốc gia ven biển không chỉ được thừa nhận mà còn được bảo đảm bằng quyền tài phán mà Công ước trao cho, trong khi việc khai thác của những tàu thuyền, ngư dân nước ngoài vẫn
có thể được thực hiện trong những trường hợp nhất định Bên cạnh đó là sự dung hoà
về lợi ích giữa các quốc gia khác với nhau khi Công ước dành thứ tự ưu tiên trong việc tiếp cận tài nguyên cá trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển cho những quốc gia có những bất lợi trong khai thác nguồn tài nguyên này như quốc gia không có biển, quốc gia bất lợi về mặt địa lí, đặc biệt
là các quốc gia đang phát triển…
Trang 52 Khai thác cá tại biển cả
Theo Điều 87.1 Công ước 1982 “Biển cả
để ngỏ cho tất cả các quốc gia, dù có biển
hay không có biển” Do vậy, tất cả quốc gia
đều có quyền thăm dò, khai thác, đánh bắt cá
tại biển quốc tế Là một trong những nội
dung cụ thể hoá của nguyên tắc tự do biển
cả, quyền tự do đánh bắt hải sản khẳng định
mọi quốc gia, không phân biệt khu vực địa
lí, dù có biển hay không có biển, đều có
quyền bình đẳng như nhau trong việc tiếp
cận, khai thác tài nguyên cá trên biển cả
Tuy nhiên, khác với nguyên tắc tự do
đánh cá trong luật biển truyền thống,
nguyên tắc tự do đánh bắt hải sản được ghi
nhận trong Công ước 1982 vẫn có những
giới hạn nhất định Nói cách khác, quyền tự
do khai thác tài nguyên của các quốc gia
trên biển cả không phải là quyền mang tính
tuyệt đối Thứ nhất, quyền tự do này bị giới
hạn bởi lợi ích của các quốc gia khác cùng
tiến hành khai thác tại biển cả Mỗi quốc
gia khi thực hiện các quyền tự do này phải
tính đến lợi ích của việc thực hiện quyền tự
do trên biển cả của các quốc gia khác, cũng
như đến các quyền được Công ước thừa
nhận liên quan đến các hoạt động trong
Vùng (Điều 87.2) Thứ hai, quyền tự do
đánh bắt hải sản bị giới hạn bởi những
nghĩa vụ bảo tồn, quản lí tài nguyên cá (các
điều 116, 117, 118, 199 và Điều 210) Nói
cách khác, việc đánh bắt cá của các quốc
gia không được làm ảnh hưởng đến sự sinh
tồn và phát triển của loại tài nguyên này
Bên cạnh đó, sự ra đời của vùng đặc quyền
kinh tế đã khiến phạm vi tác động của
nguyên tắc tự do đánh bắt hải sản bị thu hẹp rất nhiều Trong vùng đặc quyền kinh tế rộng không quá 200 hải lí tính từ đường cơ
sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của quốc gia ven biển không tồn tại quyền tự do đánh cá Nhưng theo các nghiên cứu, đây mới là những vùng biển giàu hải sản nhất, chiếm 90% tổng sản lượng đánh bắt của thế giới Điều này dẫn đến hệ quả là nguyên tắc này gần như không còn ý nghĩa trên thực tế khi trên các vùng biển giàu tài nguyên thì nguyên tắc này không có hiệu lực còn ở các khu vực khác, nơi nguyên tắc này có hiệu lực thi hành thì không chứa đựng nguồn tài nguyên lớn
3 Pháp luật Việt Nam về khai thác cá trên biển
Việt Nam nằm bên bờ Biển Đông, có vùng biển rộng trên 1 triệu km2 Bờ biển Việt Nam dài trên 3.260 km ở cả 3 hướng đông, nam và tây nam, trung bình khoảng 100 km2 đất liền có 1 km bờ biển (cao gấp 6 lần tỉ lệ này của thế giới), không một nơi nào trên đất nước ta lại cách xa biển hơn 500 km.(3)
Biển Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, khu hệ cá biển Việt Nam thuộc khu hệ động vật Ấn Độ - Thái Bình Dương Do vậy, cá biển Việt Nam không chỉ rất phong phú, đa dạng về thành phần loài mà còn rất đặc trưng cho cá biển nhiệt đới về những đặc điểm sinh vật học Đến nay, đã phát hiện được khoảng 2.030 loài cá biển khác nhau, trong đó trên 100 loài có giá trị kinh tế cao, cá tầng đáy chiếm 80% và các loài cá tầng trên (cá nổi) chiếm 20% còn lại.(4)
Trang 6
Vùng ven bờ biển nước ta tính đến độ
sâu 30m chỉ chiếm khoảng 11% diện tích
vùng đặc quyền kinh tế nhưng sản lượng hải
sản khai thác từ vùng này lại chiếm 80%
tổng sản lượng Trữ lượng cá toàn vùng biển
Việt Nam ước tính từ 3,8 đến 4,4 triệu tấn,
trong đó cá nổi khoảng 2 triệu tấn, cá đáy từ
1,8 - 2,3 triệu tấn, với khả năng khai thác từ
1,5 - 1,7 triệu tấn/năm.(5) Hải sản cung cấp
gần 40% tổng lượng đạm động vật tiêu thụ
toàn quốc và cũng mang lại nguồn thu ngoại
tệ lớn Từ năm 2002 đến nay, kim ngạch
xuất khẩu thuỷ sản đứng ở vị trí thứ ba cả
nước và sử dụng khoảng 4% lực lượng lao
động trong toàn quốc.(6)
Hiện nay, chúng ta
đã xác định được 15 ngư trường lớn, trong
đó 12 ngư trường phân bố ở vùng ven bờ và
3 ngư trường ở các gò nổi ngoài khơi Cụ
thể, Vịnh Bắc Bộ có ba ngư trường, vùng
biển miền Trung có năm ngư trường, vùng
biển Nam Bộ có năm ngư trường, vùng Vịnh
Thái Lan có hai ngư trường.(7)
Vùng biển Đông Nam Bộ được coi là ngư trường lớn
nhất, với trữ lượng khoảng 2 triệu tấn và khả
năng khai thác 830.000 tấn; tiếp đến là Vịnh
Bắc Bộ với 681.000 tấn, khả năng khai thác
272.000 tấn, vùng biển miền Trung: 606.000
tấn, khả năng khai thác 242.000 tấn và vùng
biển Tây Nam - Vịnh Thái Lan: 506.000 tấn,
khả năng khai thác 202.000 tấn.(8)
Nhận thức rõ tiềm năng to lớn của biển
Việt Nam nói chung và đối với ngành thuỷ
sản cũng như nghề cá nói riêng, chính sách
của Nhà nước ta luôn khẳng định vị trí và
tầm quan trọng của phát triển kinh tế biển,
trong đó có vai trò của ngành thuỷ sản đối với
sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
Ngày 12/5/1977, Việt Nam đã đưa ra Tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa
Theo đó: “Vùng đặc quyền kinh tế của nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp liền lãnh hải Việt Nam và hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 200 hải
lí kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng
Với Tuyên bố này, Việt Nam đã khẳng
định “quyền chủ quyền hoàn toàn về việc
thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lí tất cả các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh vật ở vùng nước, ở đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển của vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam” Như vậy, quy chế
pháp lí đối với các hoạt động khai thác cá trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam cũng tương tự như các quy định của Công ước 1982 về hoạt động khai thác cá trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển Theo đó, Việt Nam có đầy đủ các quyền từ khai thác, tự định ra khối lượng cá
có thể đánh bắt, tự xác định khả năng khai thác, trên cơ sở đó, xác định lượng cá dư trong vùng đặc quyền kinh tế đến quyền cho phép các quốc gia khác khai thác lượng cá
dư cũng như thực hiện quyền tài phán (theo nghĩa rộng) đối với các hoạt động khai thác
cá trong vùng đặc quyền kinh tế của mình Nói cách khác, hoạt động khai thác tài nguyên cá trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam hoàn toàn thuộc đặc quyền của Việt Nam Hành vi khai thác của tàu cá nước ngoài mà không được sự đồng ý hay cho phép của Việt Nam là trái với các quy định của Công ước 1982, xâm phạm đến quyền
Trang 7chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đặc
quyền kinh tế và Việt Nam có đầy đủ quyền
tài phán để xử lí đối với những vi phạm này
Việc khai thác của các tàu cá nước ngoài
tại các vùng biển Việt Nam, theo quy định
của Luật thuỷ sản năm 2003, sẽ được xem
xét dựa trên khả năng sản lượng khai thác
cho phép hàng năm, theo các hiệp định song
phương mà Việt Nam đã kí kết cũng như các
điều ước quốc tế khác mà Việt Nam kí kết
hoặc gia nhập Tàu cá nước ngoài khi hoạt
động trong các vùng biển của Việt Nam phải
tuân thủ theo các quy định của pháp luật
Việt Nam về khai thác thuỷ sản như Luật
thuỷ sản và các văn bản pháp luật khác điều
chỉnh hoạt động khai thác của tàu thuyền
nước ngoài trong các vùng biển Việt
Nam.(10) Hành vi vi phạm của tàu cá nước
ngoài sẽ bị xử lí theo các quy định tương
ứng của pháp luật Việt Nam cũng như theo
các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt
Nam đã kí kết
Hoạt động khai thác thuỷ sản của tổ
chức, cá nhân Việt Nam bên ngoài vùng biển
Việt Nam (bao gồm biển cả hoặc vùng biển
của quốc gia và vùng lãnh thổ khác) sẽ được
tiến hành trên cơ sở sự cho phép của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam, phải
tuân theo điều ước quốc tế mà Việt Nam kí
kết hoặc gia nhập, tuân theo các quy định
của pháp luật Việt Nam và pháp luật của
quốc gia mà tàu cá đến khai thác (khoản 1
Điều 49 Luật thuỷ sản)
Có thể thấy rằng các quy định của pháp
luật Việt Nam khá tương thích với những
quy định của Công ước 1982 về khai thác tài
nguyên cá trên biển Cùng với Công ước
1982, đây là những cơ sở pháp lí vững chắc
để Việt Nam khẳng định và bảo vệ các quyền chủ quyền trong khai thác tài nguyên tại vùng đặc quyền kinh tế của mình./
(1) Với tính chất là vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển, hoạt động khai thác cá trong lãnh hải sẽ do pháp luật của quốc gia ven biển điều chỉnh
Do đó, trong phạm vi nghiên cứu những quy định của luật quốc tế về đánh cá trên biển, bài viết chỉ xem xét những vấn đề pháp lí về đánh cá tại các vùng biển thuộc quyền chủ quyền của quốc gia và vùng biển thuộc sở hữu chung của cộng đồng quốc tế
(2) Quyền tài phán hiểu theo nghĩa hẹp là thẩm quyền xét xử đối với những hành vi vi phạm, còn theo nghĩa
rộng, quyền tài phán bao gồm ba nội dung, Thứ nhất là thẩm quyền ban hành những quy định pháp luật, thứ hai
là thẩm quyền thực thi những biện pháp để các quy định
đã ban hành được thực hiện đầy đủ và thứ ba là thẩm
quyền xét xử khi có hành vi vi phạm
(3).Xem: Ban tuyên giáo trung ương, Phát triển k inh
tế và bảo vệ chủ quyền biển – đảo Việt Nam, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr 118
(4).Xem: Cục bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản Bộ thuỷ sản,
Hướng dẫn khai thác và bảo vệ nguồn lợi hải sản Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 2003, tr 30
(5).Xem: Cục bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Sđd , tr 50 - 52
(6).Xem: Ban tuyên giáo trung ương, Sđd, tr 120
(7).Xem: http://.www biendao.org/ news.ph p?do= detail&id=454
(8).Xem:Cục bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Sđd, tr 50 - 52
(9) Đường cơ sở của Việt Nam được xác định theo Tuyên bố năm 1982 của Chính phủ về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam Đây
là đường thẳng gãy khúc, gồm 10 đoạn, nối liền 11 điểm từ A0 đến A11 được quy định tại Phụ lục kèm theo Tuyên bố năm 1982
(10) Phạm vi nghiên cứu của bài viết chỉ là những vấn đề pháp lí về khai thác tài nguyên cá trên biển
Do đó, những quy định của luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về quản lí tài nguyên cá như bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, quản lí hoạt động của tàu cá
sẽ được đề cập ở những bài viết khác