Sau đây là một ví dụ mà Toà án tối cao Liên bang xác lập một án lệ thông qua việc xét xử phúc thẩm kháng cáo đối với phán quyết của Toà án tối cao bang Victoria trong vụ án Dow Jones v G
Trang 1ThS. Lª M¹nh Hïng *
1 Xác lập, áp dụng án lệ ở toà án Australia
Ở Australia, án lệ được xác lập bởi Toà
án tối cao Liên bang, Toà án Liên bang, Toà
án tối cao tiểu bang và Toà phúc thẩm của
tiểu bang Sau đây là một số ví dụ về việc xác
lập án lệ của Toà án tối cao Liên bang, Toà án
tối cao bang Victoria và về việc áp dụng án lệ
của Toà phúc thẩm bang New South Wales
1.1 Xác lập án lệ tại Toà án tối cao Liên bang
Thông thường Toà án tối cao Liên bang
xác lập án lệ thông qua các phán quyết phúc
thẩm các kháng cáo phán quyết của Toà án
Liên bang, Toà án tối cao tiểu bang Sau đây
là một ví dụ mà Toà án tối cao Liên bang xác
lập một án lệ thông qua việc xét xử phúc thẩm
kháng cáo đối với phán quyết của Toà án tối
cao bang Victoria trong vụ án Dow Jones v
Gutnick.(1) Vụ án này có thể tóm tắt như sau:
Bị đơn kháng cáo là Dow Jones - nhà
xuất bản của Thời báo Phố Wall (Wall Street
Journal) và một tạp chí xuất bản định kỳ có
tên là Tạp chí Barrons (Barrons Magazine)
Tạp chí này được xuất bản trực tuyến và
đăng kí hoạt động tại bang New Jersey, Mỹ,
nơi có máy chủ mà trang web của tạp chí
này được đặt Tạp chí Barrons cung cấp cho
khoảng 550 nghìn khách hàng, bao gồm một
số khách hàng cư trú tại tiểu bang Victoria,
Australia, có đăng kí mua các bài viết online
của tạp chí.(2) Các bài viết trên tạp chí không
được đăng tải trên trang web của tạp chí theo cách thức bất kì ai cũng có thể xem được, đọc được Chỉ có những khách hàng trả tiền mua bài viết mới được tạp chí cung cấp tên
và mật mã đăng nhập để xem, đọc, lưu trữ bài viết Nguyên đơn là Joe Gutnick, một doanh nhân Australia cư trú tại bang Victoria, Australia Nguyên đơn là doanh nhân thành đạt có tiếng trong kinh doanh, làm từ thiện
và cả trong lĩnh vực tôn giáo Hoạt động kinh doanh của nguyên đơn chủ yếu liên quan với Mỹ Ngày 29/10/2000, Tạp chí Barrons đăng một bài báo có tựa đề “Unholy Gains” kèm ảnh chụp nguyên đơn Nguyên đơn đã khởi kiện bị đơn tại Toà án tối cao tiểu bang Victoria vì cho rằng bị đơn đã xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nguyên đơn
Cụ thể bài báo nói trên đã cáo buộc nguyên đơn là khách hàng thường xuyên của một tên tội phạm nổi tiếng tên là Nachum Goldberg đang bị giam giữ về tội rửa tiền và trốn thuế tại Mỹ Bài báo còn cho rằng nguyên đơn đã giả vờ là một công dân đáng kính trong khi thực sự là một tên tội phạm trốn thuế và nguyên đơn đã rửa một khoản tiền lớn thông qua Nachum Goldberg và nguyên đơn đã mua sự im lặng của tên tội phạm này.(3)
* Viện khoa học xét xử Toà án nhân dân tối cao
Trang 2Bị đơn đã khiếu nại hai vấn đề lên Toà
án tối cao Liên bang: 1) Nơi xuất bản bài
báo mà nguyên đơn cho rằng đã xúc phạm
đến danh dự, nhân phẩm của nguyên đơn và
2) Thẩm quyền xét xử của Toà án tối cao
bang Victoria đối với vụ kiện của nguyên
đơn Về nội dung thứ nhất liên quan đến nơi
xuất bản bài báo, bị đơn cho rằng bài báo
được xuất bản tại bang New Jersey khi bài
báo được đưa lên máy chủ nơi trang web của
Tạp chí Barrons được lưu trữ Đối với vấn đề
thứ hai là thẩm quyền xét xử, bị đơn cho
rằng Toà án tối cao tiểu bang Victoria,
Australia không có thẩm quyền xét xử vụ án
vì bài báo được xuất bản tại Mỹ Theo Luật
về bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân
phẩm bị xúc phạm thì việc xúc phạm xảy ra
ở đâu, luật ở đó sẽ được áp dụng Việc xúc
phạm nguyên đơn xảy ra ở New Jersey, Mỹ
thì toà án có thẩm quyền là toà án New
Jersey, Mỹ chứ không phải là Toà án tối cao
bang Victoria.(4)
Nguyên đơn phản bác rằng việc bị đơn
đưa bài viết lên máy chủ của tạp chí và làm
cho bài viết có thể tải về không phải là hành
vi xuất bản Hành vi xuất bản của bài viết
chỉ được xác lập khi và chỉ khi bài viết được
tải về và hiển thị lên trên máy tính của người
đọc và người tải về đã đọc nó Như vậy bài
viết được coi là xuất bản ở Australia chỉ khi
khách hàng ở Australia đã tải được bài viết
và họ đã đọc được những lời xúc phạm
nguyên đơn từ bài viết.(5)
Bị đơn phản bác ý kiến của nguyên đơn
và cho rằng bị đơn không xuất bản bài báo ở
bang Victoria, Australia Hành vi tải bài báo
từ máy chủ về không phải là hành vi xuất
bản Sẽ là không công bằng cho bị đơn nếu người đọc từ các nước khác nhau tải bài báo
về để đọc mà việc tải đó lại được cho là hành
vi xuất bản Như vậy, bị đơn sẽ phải đối mặt với nguy cơ bị kiện ở rất nhiều nơi khác nhau.(6) Toà án tối cao tiểu bang Victoria do thẩm phán Hedigan chủ tọa đã phán quyết về hai vấn đề trên như sau:
Thứ nhất, về nơi xuất bản ấn phẩm xúc
phạm danh dự, nhân phẩm người khác Toà kết luận rằng pháp luật về xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác trong nhiều thế kỉ đã khẳng định việc xuất bản ấn phẩm xúc phạm đến người khác xảy ra khi và tại địa điểm mà các nội dung của ấn phẩm được nói ra, được thấy, được nghe và được người đọc, người nghe hiểu nội dung đó Ấn phẩm xuất bản thông qua phương thức Internet được coi là xuất bản khi ấn phẩm đó được tải
về và người tải về có thể đọc được, nghe được và nhìn thấy được Toà cũng xác định rằng một người bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm tại nơi thực hiện xuất bản ấn phẩm có nội dung xúc phạm tới người đó Nguyên đơn là người Australia, sinh sống tại Melbourne, bang Victoria, nơi mà nguyên đơn được nhiều người biết đến nhất Nơi nguyên đơn sinh sống đồng thời cũng là nơi
có khách hàng tải bài báo xúc phạm về để đọc Do đó, khi bài báo đã được đọc tại nơi nguyên đơn sinh sống có nghĩa là danh dự, nhân phẩm của nguyên đơn bị tổn hại tại chính nơi này.(7)
Thứ hai, về thẩm quyền xét xử của Toà
án tối cao bang Victoria khi bị đơn không cư trú hoặc có trụ sở làm việc tại bang Victoria, Australia Toà án phán quyết rằng theo Lệnh
Trang 3số 7 của Toà án tối cao bang Victoria thì toà
án này có thẩm quyền xét xử các vụ án xâm
phạm danh dự, nhân phẩm kể cả trường hợp
bị đơn không cư trú hoặc có trụ sở làm việc
nơi toà án có thẩm quyền (ngoài lãnh thổ bang
Victoria, Australia) Trong trường hợp này,
nguyên đơn đã thực hiện việc khởi kiện nơi
nguyên đơn bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm
là bang Victoria Nguyên đơn đồng thời từ bỏ
không khởi kiện bị đơn tại bất kì nơi nào
khác, kể cả tại Mỹ Do đó, Toà án tối cao
của bang Victoria có thẩm quyền xét xử.(8)
Bị đơn đã làm đơn xin kháng cáo lên Toà
phúc thẩm của Toà án tối cao bang Victoria
nhưng đã bị Toà này từ chối vì cho rằng
phán quyết của thẩm phán Hedigan là chính
xác, không có cơ sở chấp nhận cho bị đơn
kháng cáo.(9) Bị đơn tiếp tục kháng cáo lên
Toà án tối cao Liên bang với hai khiếu nại
như trên về nơi xuất bản và thẩm quyền xét
xử của Toà án tối cao bang Victoria Toà án
tối cao Liên bang với Hội đồng xét xử gồm 7
thẩm phán đã bác nội dung kháng cáo của bị
đơn và phán định rằng những phán quyết của
Toà án tối cao bang Victoria về nơi xuất bản
ấn phẩm xúc phạm danh dự, nhân phẩm
nguyên đơn là bang Victoria; danh dự, nhân
phẩm của nguyên đơn đã bị thiệt hại tại bang
Victoria; nguyên đơn đã từ bỏ kiện bị đơn ở
các nơi khác, kể cả tại Mỹ; nguyên đơn khởi
kiện bị đơn tại bang Victoria; Toà án tối cao
bang Victoria có thẩm quyền xét xử yêu cầu
của nguyên đơn là hoàn toàn chính xác.(10)
Như vậy, khi Toà án tối cao Liên bang phán
quyết chấp nhận những lí do mà Toà án tối
cao tiểu bang Victoria, Australia đưa ra về
thời gian và địa điểm xảy ra việc xúc phạm
danh dự, nhân phẩm và thẩm quyền xét xử của toà án này đối với vụ kiện giữa nguyên đơn Gutnick với nhà xuất bản Dow Jones thì những lí do đó (hay còn gọi là án lệ) có hiệu lực bắt buộc tuân thủ và áp dụng đối với Toà
án Liên bang, các Toà án tối cao tiểu bang
và vùng lãnh thổ khi các toà án này xét xử các vụ án có những tình tiết khách quan quan trọng tương tự như vụ án này
1.2 Xác lập án lệ tại toà án tối cao của tiểu bang và vùng lãnh thổ; áp dụng án lệ tại toà phúc thẩm của tiểu bang và vùng lãnh thổ
Tại tiểu bang và vùng lãnh thổ thì việc xác lập án lệ được thực hiện bởi toà án tối cao của tiểu bang hoặc vùng lãnh thổ đó Khi
án lệ được xác lập thì các toà án phúc thẩm, toà án quận hạt của tiểu bang và vùng lãnh thổ đều phải tuân thủ áp dụng khi xét xử các
vụ án có tranh chấp về những nội dung pháp
lí tương tự như vụ án đã được xét xử Sau đây là một ví dụ về việc xác lập án lệ, áp dụng án lệ trong một số vụ án hình sự liên quan đến việc phá thai Theo quy định tại các điều 82, 83 và 84 của Luật hình sự năm
1900 của bang New South Wales(11) và Điều
65, 66 Luật hình sự năm 1958 của bang Victoria(12) thì hành vi phá thai bất hợp pháp
và hành vi cung cấp các dụng cụ, thuốc hoặc chất độc để dùng trong việc phá thai là hành
vi phạm tội Tại bang Victoria, Australia trong vụ án R kiện Davidson(13) năm 1969,
bị cáo Davidson nguyên là một bác sĩ, bị buộc tội đã có hành vi phá thai bất hợp pháp Tuy nhiên, thẩm phán Menhennitt của Toà
án tối cao bang Victoria đã bác bỏ lời kết tội đối với Davidson Thẩm phán Menhennitt
Trang 4cho rằng Luật hình sự năm 1958 không định
nghĩa thế nào là “bất hợp pháp” tại các điều
65, 66 và khi điều luật quy định nghiêm cấm
các hành vi phá thai “bất hợp pháp” thì cũng
có nghĩa rằng có những hành vi “phá thai
hợp pháp” mà luật cho phép Đồng thời thẩm
phán này cũng cho rằng có thể định nghĩa
hành vi phá thai “bất hợp pháp” bằng cách
xác định thế nào là hành vi phá thai “hợp
pháp” Để xác định hành vi phá thai “hợp
pháp”, thẩm phán Menhennitt đã viện dẫn
một phán quyết của Anh quốc trong vụ R
kiện Bourne năm 1939 Trong vụ án R kiện
Bourne, bị cáo - bác sĩ Bourne đã bị buộc tội
phá thai trái phép cho một bé gái 14 tuổi
mang thai do bị hãm hiếp.(14) Tuy nhiên, do
quy định của Luật hình sự Anh nghiêm cấm
việc “phá thai bất hợp pháp” nhưng không
định nghĩa thế nào là “bất hợp pháp” cho nên
khi xét xử, thẩm phán Macnaughten cho
rằng trong một số trường hợp “bác sĩ phá
thai là hợp pháp” Thẩm phán này đã viện
dẫn Luật về hủy bỏ trẻ sơ sinh năm 1929 của
Anh quốc có quy định một trường hợp việc
hủy bỏ trẻ sơ sinh là hợp pháp nếu được thực
hiện để bảo vệ sự sống của bà mẹ Dựa trên
cơ sở quy định đó, thẩm phán Macnaughten
đã phán quyết rằng bị cáo - bác sĩ Bourne đã
tiến hành phá thai hợp pháp cho khách hàng
vì bác sĩ đó có lí do hợp lí, với một hiểu biết
đúng đắn để tin tưởng rằng việc phá thai là
cần thiết nhằm bảo vệ thể chất hoặc tinh thần
của bà mẹ mang thai trước mối đe dọa nguy
hiểm đến tính mạng của bà mẹ đó nếu tiếp
tục giữ thai nhi Do đó, hành vi thực hiện
phá thai của bị cáo - bác sĩ Bourne là hành vi
phá thai hợp pháp.(15) Dựa trên phán quyết
này, thẩm phán Menhennitt của Toà án tối cao bang Victoria đã phán quyết rằng hành
vi phá thai của bác sĩ Davidson là hành vi hợp pháp với lí do tương tự nêu trong phán quyết của vụ án R kiện Bourne của toà án Anh quốc Phán quyết của thẩm phán Menhennitt xác định 2 điều kiện để hành vi phá thai là hợp pháp: 1) Bác sĩ tiến hành phá thai tin tưởng trung thực một cách có
cơ sở hợp lí rằng việc đó là cần thiết để duy trì sức khoẻ thể chất và tinh thần cho bà mẹ
và 2) Việc phá thai đó được tiến hành trong những trường hợp mà rủi ro của việc tiến hành phá thai không lớn hơn hậu quả của việc vẫn giữ thai nhi mang lại.(16) Năm
1971, thẩm phán Levine trong vụ án R kiện Wald tại toà án quận hạt của bang New South Wales cũng đã áp dụng và đã phát triển thêm nội hàm của phán quyết của vụ
án R kiện Davidson của Toà án tối cao bang Victoria Thẩm phán Levine cho rằng cần quan tâm đến những đe dọa nguy hiểm từ các khía cạnh kinh tế, xã hội hoặc các lí do khác tại thời điểm bà mẹ mang thai để bồi thẩm đoàn quyết định rằng việc phá thai là cần thiết hoặc không cần thiết để duy trì sức khoẻ của bà mẹ mang thai trước mối đe dọa nguy hiểm đến tính mạng của bà mẹ mang thai nếu tiếp tục giữ thai nhi Những đe dọa đến tính mạng của bà mẹ mang thai có thể xảy ra tại thời điểm bác sĩ khám thai hoặc xảy ra tại bất kì một thời điểm nào trong cả quá trình mang thai nếu bà mẹ vẫn giữ thai nhi.(17) Phán quyết vụ án R kiện Davidson của Toà án tối cao bang Victoria đã được áp dụng trong các vụ kiện CES v Super Clinics năm 1995 tại Toà phúc thẩm của bang New
Trang 5South Wales và vụ kiện R v Sood năm 2006
tại Toà án tối cao bang New South Wales
Trong vụ kiện CES v Super Clinics năm
1995, thẩm phán Kirby của Toà phúc thẩm
Toà án tối cao bang New South Wales phán
quyết rằng bác sĩ phụ sản cần quan tâm đến
những đe dọa đến tính mạng của bà mẹ
mang thai có thể xảy ra sau khi mang thai
và trong quá trình mang thai Do những
phán quyết trên của toà án nên hiện nay
việc phá thai được thực hiện bởi những bác
sĩ sản khoa có uy tín là khá phổ biến và quy
định hành vi nạo phá thai là tội phạm được
coi là không còn hiệu lực áp dụng khi trên
thực tế không hề có một vụ phá thai nào bị
truy tố thêm tính từ khi có các phán quyết
nói trên ở hai bang New South Wales và
Victoria của Australia.(18) Trên thực tế, sau
các phán quyết nói trên đến trước năm
2008, Quốc hội của hai bang này không tiến
hành sửa đổi quy định của Luật hình sự về
hành vi nạo phá thai.(19) Tuy nhiên, năm
2008, Quốc hội bang Victoria đã ban hành
Luật cải cách về phá thai Luật này đã hợp
pháp hoá việc phá thai trong các trường hợp
sau: 1) Việc phá thai do bác sĩ sản khoa có
đăng kí hành nghề tiến hành đối với những
phụ nữ mang thai mà thai kì thai nhi chưa
vượt quá tuần thứ hai mươi bốn; 2) Việc phá
thai do bác sĩ sản khoa có đăng kí hành nghề
tiến hành đối với những phụ nữ mang thai
mà thai kì thai nhi vượt quá tuần thứ hai
mươi bốn nếu có lí do để tin tưởng rằng việc
phá thai là đúng đắn trong mọi trường hợp
và bác sĩ này ít nhất cũng đã được một bác sĩ
sản khoa khác có đăng kí hành nghề tư vấn
rằng họ cũng có lí do để tin tưởng việc phá
thai đó là đúng trong mọi trường hợp.(20)
Từ những ví dụ trên, có thể thấy rằng các phán quyết của toà án đã giải quyết được
“khoảng trống” của pháp luật bằng việc đưa
ra phán quyết định nghĩa một hoặc một số khái niệm cụ thể của luật mà toà án áp dụng
để giải quyết vụ án cụ thể Phán quyết đó giải quyết một vấn đề pháp lí cụ thể liên quan đến việc áp dụng hoặc giải thích các nguyên tắc pháp luật hoặc một điều luật cụ thể Phán quyết đó được gọi là án lệ để các toà án cấp thấp hơn tuân theo và áp dụng khi giải quyết những vụ án có tình tiết khách quan tương tự Trong các ví dụ nêu trên, phán quyết của toà án khi trở thành án lệ còn
có ý nghĩa thúc đẩy Quốc hội xây dựng, ban hành các văn bản luật điều chỉnh những vấn
đề mà án lệ đã giải quyết
1.3 Áp dụng án lệ tại toà án cấp sơ thẩm của tiểu bang và vùng lãnh thổ
Có thể nói rằng toà án cấp sơ thẩm ít khi được toàn quyền quyết định việc áp dụng luật pháp để giải quyết các vụ việc Thông thường việc áp dụng pháp luật của toà án cấp
sơ thẩm đề giải quyết các vụ việc là áp dụng
án lệ của các toà án cao nhất - Toà án tối cao của tiểu bang hoặc Toà phúc thẩm của tiểu bang cũng như Toà án Liên bang và Toà án tối cao Liên bang Giả định rằng toà án tối cao của tiểu bang hoặc toà phúc thẩm của tiểu bang đã ra phán quyết về một vấn đề pháp lí trong một vụ án cụ thể Sau đó, toà
án cấp sơ thẩm thụ lí giải quyết một vụ án
mà có vấn đề về pháp lí tương tự như vụ án
mà toà án tối cao của tiểu bang hoặc toà phúc thẩm của tiểu bang giải quyết Trong trường hợp này thì toà án cấp sơ thẩm áp
Trang 6dụng cách giải quyết về vấn đề pháp lí đó
của toà án tối cao của tiểu bang hoặc toà
phúc thẩm của tiểu bang Ví dụ sau có thể
làm rõ cách thức áp dụng án lệ của toà án
cấp sơ thẩm Giả định rằng Quốc hội tiểu
bang New South Wales ban hành luật
nghiêm cấm các hành vi không lành mạnh
nơi công cộng Luật này có quy định như
sau: “bất kì người nào có hành vi không
lành mạnh ở nơi công cộng thì bị coi là
phạm tội Người vi phạm bị phạt 500 đôla
Australia” Tuy nhiên, luật này không có
điều khoản nào giải thích thế nào là “hành vi
không lành mạnh” Trong một vụ án, cảnh
sát đã bắt giữ một thanh niên tên là A có
hành vi nhảy múa trên đường phố vào lúc 2
giờ sáng Lí do bắt giữ là thanh niên này đã
phạm tội quy định tại luật nói trên Vụ án
sau nhiều lần xét xử đã được xem xét ở Toà
án tối cao bang New South Wales Toà án tối
cao bang New South Wales đã phán quyết
rằng hành vi nhảy múa của bị cáo A vào lúc
hai giờ sáng trên đường phố không phải là
hành vi không lành mạnh Phán quyết này
của Toà án tối cao bang New South Wales
có hiệu lực áp dụng bắt buộc đối với các toà
án sơ thẩm và toà án quận hạt của tiểu bang
New South Wales Sau phán quyết này, Toà
án sơ thẩm vùng Bankstown của thành phố
Sydney thuộc tiểu bang New South Wales
xét xử một vụ án mà bị cáo B bị bắt giữ vì có
hành vi không lành mạnh là nhảy múa ở vỉa
hè một con phố vào lúc 2 giờ sáng Toà án
sơ thẩm vùng Bankstown thấy rằng tình tiết
vụ án này tương tự như tình tiết vụ án mà
Toà án tối cao bang New South Wales đã
phán quyết như đã nói ở trên Trong vụ án
này, bị cáo cũng viện dẫn phán quyết của Toà án tối cao của Bang để chứng minh hành
vi của bị cáo là lành mạnh Tuy nhiên, phía cảnh sát cho rằng phán quyết của Toà án tối cao của Bang không được áp dụng vào vụ án này bởi lẽ trong vụ án của Toà án tối cao của Bang, bị cáo A nhảy múa “ở giữa phố”; còn
bị cáo B trong vụ án này lại nhảy múa trên vỉa hè Toà án sơ thẩm vùng Bankstown phán quyết rằng hành vi nhảy múa của bị cáo B trên vỉa hè không phải là “hành vi không lành mạnh” với dẫn chiếu phán quyết của Toà án tối cao bang New South Wales với bị cáo A Toà lí giải thêm vỉa hè của phố
mà bị cáo có hành vi nhảy múa là một phần gắn liền với phố đó Do đó, án lệ của Toà án tối cao của Bang được áp dụng để giải quyết
Từ ví dụ này, có thể thấy rằng toà án cấp
sơ thẩm khi giải quyết vụ việc chỉ cần tuân thủ và áp dụng những án lệ đã có từ trước nếu tình tiết quan trọng của hai vụ án tương
tự như nhau Tuy nhiên, công bằng mà nói đây chỉ là ví dụ đơn giản nhất để có thể hiểu một cách cơ bản về việc áp dụng án lệ Trên thực tế, việc áp dụng án lệ rất phức tạp, khó khăn và phải tuân thủ một số nguyên tắc nhất định Việc áp dụng án lệ khó khăn hơn khi phải phân tích, đánh giá tại sao một án lệ
cụ thể nào đó không được áp dụng vào vụ việc đang được giải quyết hoặc chưa có án lệ cho vụ việc đó Trên thực tế, một phán quyết hiện tại của toà án có thể là án lệ hoặc có thể
không Sự khác biệt này chỉ có thể tồn tại khi
có cách thức xác định án lệ - cách thức cho
thấy những sự kiện, tình tiết trong quá khứ là tương tự với những sự kiện, tình tiết hiện tại Khi đánh giá hiệu lực của án lệ hiện tại trong
Trang 7tương lai, chúng ta thường dự đoán trước
rằng sẽ có những dữ kiện tương lai tương tự
như những dữ kiện của án lệ hiện tại Tuy
nhiên, có thể khẳng định rằng không có các
sự kiện hoàn toàn giống nhau Điều kiện để
một phán quyết của toà án trở thành một án
lệ không đòi hỏi rằng các tình tiết khách
quan của vụ án được giải quyết trước và của
vụ án được giải quyết sau là hoàn toàn tuyệt
đối giống nhau Với cách tiếp cận như vậy
thì tính liên quan của một án lệ của vụ án
trước đối với vụ án sau phụ thuộc vào cách
xác định các tình tiết khách quan của hai vụ
án này, theo đó chỉ cần xác định những tính
tiết nào tương tự như nhau mà quan trọng,
còn những tình tiết khác thì có thể bỏ qua
Vì vậy, cần hiểu rằng việc áp dụng án lệ
không phải là việc làm đơn thuần mang tính
kĩ thuật là tìm kiếm vụ án giống hoặc tương
tự vụ án khác.(21)
Trong trường hợp chưa có án lệ của tiểu
bang, Liên bang thì thẩm phán có thể dẫn
chiếu án lệ của toà án tối cao, toà phúc thẩm
của tiểu bang khác với điều kiện án lệ đó có
tính “tham khảo rất cao” Nghĩa là vụ án
đang giải quyết và vụ án có án lệ được dẫn
chiếu có nhiều tình tiết quan trọng tương tự
như nhau và vấn đề pháp lí cần được giải
quyết trong hai vụ án là giống nhau Về mặt
lí thuyết thì có thể toà án sơ thẩm tiểu bang
sẽ đối mặt với những vụ án mà cách thức
giải quyết vụ án đó chưa có án lệ của toà án
tiểu bang, Liên bang hoặc luật của quốc hội
tiểu bang điều chỉnh Trong trường hợp này
thì thẩm phán rất ngại ngần đưa ra phán
quyết có giá trị như án lệ, bởi lẽ theo học
thuyết án lệ thì chỉ những toà án tối cao của
tiểu bang, toà án phúc thẩm của tiểu bang, Toà án Liên bang và Toà án tối cao Liên bang mới có thẩm quyền xác lập án lệ Tuy nhiên, trên thực tế toà án sơ thẩm tiểu bang ít khi gặp phải những vụ việc này
1.4 Áp dụng án lệ của các nước thuộc
hệ thống thông luật khác
Các án lệ của các nước thuộc hệ thống thông luật như Mỹ, Anh, New Zealand và Canada thường được dẫn chiếu trong các phán quyết của toà án tối cao, toà phúc thẩm của tiểu bang của Australia Mặc dù vậy, các toà án của Australia không bị bắt buộc phải tuân thủ và áp dụng các án lệ của các nước nói trên.(22)
Tuy nhiên, có một thời gian khá dài khi Hội đồng cơ mật của Vương quốc Anh là cơ quan có quyền quyết định cuối cùng tất cả vấn đề áp dụng, giải thích các đạo luật cũng như các án lệ của Australia thì việc các toà
án tối cao của tiểu bang áp dụng án lệ của Toà án tối cao của Vương quốc Anh là khá phổ biến Năm 1986, Hội đồng này chấm dứt vai trò như là toà án cao nhất của Australia
có thẩm quyền giải quyết các vấn đề tranh cãi về áp dụng, giải thích luật.(23)
2 Kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc phát triển án lệ
Từ việc nghiên cứu chế định án lệ của Australia, cũng như so sánh, đánh giá thực tiễn hoạt động hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật của toà án các nước theo hệ thống thông luật với thực tiễn hoạt động hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật Toà
án nhân dân tối cao, tác giả cho rằng cần lưu
ý một số vấn đề sau đây khi triển khai nghiên cứu án lệ:
Trang 8- Nên xác định án lệ là việc toà án cấp
cao nhất hướng dẫn các toà án cấp dưới áp
dụng thống nhất pháp luật trong việc xét xử
Với cách tiếp cận này thì việc xác lập án lệ
là việc Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân
tối cao ban hành các nghị quyết, Chánh án
Toà án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
ban hành thông tư liên tịch để hướng dẫn áp
dụng thống nhất pháp luật Hiện nay, việc
hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật tại
Toà án nhân dân tối cao vẫn tồn tại dưới hai
hình thức: đó là việc Hội đồng thẩm phán
của Toà án nhân dân tối cao ban hành các
nghị quyết, Chánh án Toà án nhân dân tối cao
chủ trì phối hợp với với Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao ban hành thông tư
liên tịch để hướng dẫn áp dụng thống nhất
pháp luật và việc Toà án nhân dân tối cao ban
hành các công văn trao đổi nghiệp vụ, công
văn hướng dẫn áp dụng pháp luật Thực tiễn
cho thấy rằng trong nhiều trường hợp, việc
hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật của
Toà án nhân dân tối cao đối với các toà án địa
phương thông qua các công văn nói trên đã
phát huy được hiệu quả quan trọng trong việc
bảo đảm cho việc xét xử của toà án cấp dưới
đúng pháp luật Mặc dù vậy, hạn chế lớn
nhất của các văn bản hướng dẫn này là ở
hiệu lực áp dụng: vẫn là văn bản mang tính
tham khảo Do đó, việc triển khai nghiên cứu
để “phát triển án lệ” cần được tiến hành theo
hướng ghi nhận hiệu lực áp dụng có tính bắt
buộc của các văn bản này
- Việc xuất bản án lệ Ở các nước theo hệ
thống thông luật thì việc công bố bản án và
xuất bản các bản án có chứa án lệ là hai việc
hoàn toàn khác nhau Việc xuất bản các bản
án có chứa án lệ được thực hiện trên cơ sở chọn lọc những phán quyết liên quan đến việc giải thích nội dung một hoặc một số quy định của một luật cụ thể do Quốc hội ban hành hoặc là việc giải thích áp dụng thống nhất những quy định đó Đây là những phán quyết được đánh giá là quan trọng nên mới được xuất bản Đối với Việt Nam, có ý kiến cho rằng việc Toà án nhân dân tối cao công
bố các quyết định giám đốc thẩm trên Internet và bằng hình thức in ấn thành sách
là việc xuất bản án lệ Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng nếu nhìn nhận án lệ là hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật thì việc xuất bản nói trên chỉ là việc công bố các phán quyết của toà án theo quy định của pháp luật tố tụng cũng như để thực hiện nghĩa vụ mà Việt Nam đã cam kết tại các điều ước quốc tế đa phương hoặc song phương Do đó, việc xuất bản án lệ nên được hiểu là việc xuất bản các văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, thông tư liên tịch giữa Chánh án Toà án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật Còn việc xuất bản các “án lệ tham khảo” được hiểu là các công văn trao đổi nghiệp vụ, công văn hướng dẫn áp dụng pháp luật của Toà án nhân dân tối cao Trước đây, hàng năm Toà án nhân dân tối cao đã tiến hành xuất bản cuốn “Hệ thống hoá các văn bản pháp luật” với nội dung là các văn bản quy phạm pháp luật cùng các công văn trao đổi nghiệp vụ, công văn hướng dẫn áp dụng pháp luật của Toà án nhân dân tối cao
Trang 9Cuốn sách này được các toà án các cấp cho
rằng rất hữu ích để cập nhật các thông tin về
các quy định của pháp luật, hướng dẫn áp
dụng pháp luật trong hoạt động xét xử Vì
vậy, cho dù các công văn trao đổi nghiệp vụ,
công văn hướng dẫn áp dụng pháp luật của
Toà án nhân dân tối cao có được ghi nhận có
hiệu lực áp dụng bắt buộc hay không theo
kết quả tiến trình “phát triển án lệ” thì Toà
án nhân dân tối cao cũng nên khôi phục lại
hoạt động xuất bản cuốn “Hệ thống hoá các
văn bản pháp luật” nói trên để phục vụ
nhiệm vụ chung của ngành toà án./
(1) [2001] VSC 305 http://www.austlii.edu.au/cgi-bin/
sinodisp/au/cases/vic/VSC/2001/305.html?stem=0&sy
nonyms=0&query=title%28Dow%20Jones%20and%2
0Gutnick%20%29
(2) [2001] VSC 305 http://www.austlii.edu.au/cgi-bin/
sinodisp/au/cases/vic/VSC/2001/305.html?stem=0&sy
nonyms=0&query=title%28Dow%20Jones%20and%2
0Gutnick%20%29
(3) [2001] VSC 305 http://www.austlii.edu.au/cgi-bin/
sinodisp/au/cases/vic/VSC/2001/305.html?stem=0&sy
nonyms=0&query=title%28Dow%20Jones%20and%2
0Gutnick%20%29
(4) [2001] VSC 305 http://www.austlii.edu.au/cgi-bin/
sinodisp/au/cases/vic/VSC/2001/305.html?stem=0&sy
nonyms=0&query=title%28Dow%20Jones%20and%2
0Gutnick%20%29
(5) [2001] VSC 305 http://www.austlii.edu.au/cgi-bin/
sinodisp/au/cases/vic/VSC/2001/305.html?stem=0&sy
nonyms=0&query=title%28Dow%20Jones%20and%2
0Gutnick%20%29
(6) Toàn bộ phán quyết của bản án của Toà án tối cao
bang Victoria, Australia về vụ án này có thể xem tại
địa chỉ http://www.austlii.edu.au/au/cases/vic/VSC/
2001/305.ht ml
(7) [2001] VSC 305 http://www.austlii.edu.au/cgi-bin/
sinodisp/au/cases/vic/VSC/2001/305.html?stem=0&sy
nonyms=0&query=title%28Dow%20Jones%20and%2
0Gutnick%20%29
(8).http://www.austlii.edu.au/au/cases/vic/VSC/2001/ 305.html
(9) [2001] VSCA 249 http://www.austlii.edu.au/cgi-bin/ sinodisp/au/cases/vic/VSCA/2001/249.html?stem=0&sy nonyms=0&query=title%28Dow%20Jones%20and%20 Gutnick%20%29
(10) Toàn bộ phán quyết của Toà án tối cao Liên bang Australia về vụ án này có thể xem tại địa chỉ http:// www.austlii.edu.au/au/cases/cth/HCA/2002/56.html (11) Bộ luật hình sự năm 1900 của bang New South Wales, Australia http://www.austlii.edu.au/au/leg is/nsw/ consol_act/ca190082/
(12) Bộ luật hình sự năm 1958 của bang Victoria, Australia http://www.austlii.edu.au/au/legis/vic/consol_ act/ca195882/
(13) R v Davidson, [1969] VR 667 Phán quyết vụ
án này có thể xem tại website của Toà án tối cao bang Victoria, Australia http://vsc.sirsidynix.net.au/uht bin/ cgisirsi/MPV9Ab763T/0/98740010/88
(14) Children by Choice http://www.childrenbycho ice.org.au/nwww/auslawprac.htm
(15) Children by Choice http://www.childrenbycho ice.org.au/nwww/auslawprac.htm
(16) R v Davidson, [1969] VR 667 Phán quyết vụ án
này có thể xem tại website của Toà án tối cao bang Victoria, Australia http://vsc.sirsidynix.net.au/uhtb in/cgisirsi/ MPV9Ab763T/0/ 98740010/88
(17) Kathryn Simon, „Recent Developments in Abortion Law‟ (2008) E-Brief, NSW Parliamentary Library Research Service www.parliament.nsw.gov.a u/prod/Abortion% 20E%20Brief.pdf
(18) Kathryn Simon, „Recent Developments in Abortion Law‟ (2008) E-Brief, NSW Parliamentary Library Research Service www.parliament.ns w.gov.au/prod/ Abortion%20E%20Brie f.pdf
(19) John Carvan đã dẫn ở điểm 6, trang 30
(20) Luật cải cách về phá thai của bang Victoria năm 2008, website: http://www.austlii.edu.au/au/le gis/vic/consol_ act/alra2008209/
(21) Frederick Schauer đã dẫn ở điểm 14, trang 604 (22) Catriona Cook et al đã dẫn ở điểm 4, trang 119 (23) Catriona Cook et al đã dẫn ở điểm 4, trang 120