Bài viết này đề cập quyền kết hôn và li hôn của phụ nữ Thái Lan, so sánh những điểm tương đồng và khác biệt, phân tích nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt theo pháp luật của hai n
Trang 1Ths Bïi ThÞ Mõng *
à một nước trong khu vực ASEAN,
Thái Lan có nhiều nét tương đồng về
văn hoá so với Việt Nam Tuy nhiên, điều
kiện kinh tế, xã hội cũng như phong tục
tập quán và những yếu tố khác có ảnh
hưởng lớn tới pháp luật điều chỉnh vấn đề
bảo vệ quyền của người phụ nữ Bài viết
này đề cập quyền kết hôn và li hôn của
phụ nữ Thái Lan, so sánh những điểm
tương đồng và khác biệt, phân tích nguyên
nhân của sự tương đồng và khác biệt theo
pháp luật của hai nước trong việc điều
chỉnh vấn đề về quyền kết hôn cũng như li
hôn của người phụ nữ
1 Về quyền kết hôn
Các quy định của pháp luật ghi nhận
về quyền kết hôn cũng như li hôn được đề
cập trong Bộ luật dân sự và thương mại
Thái Lan
Pháp luật Thái Lan đảm bảo quyền tự
do kết hôn cho người phụ nữ trên cơ sở của
việc ghi nhận sự bình đẳng giữa nam và nữ,
thể hiện trên các khía cạnh sau:
- Về vấn đề đính hôn
Trong đời sống hôn nhân của phụ nữ
Thái Lan, việc đính hôn được xem như một
nghi lễ quan trọng Do vậy, vấn đề đính hôn
được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Theo quy định của pháp luật Thái Lan, việc đính hôn chỉ có thể thực hiện được khi người đàn ông và đàn bà đủ 17 tuổi Trường hợp đính hôn trước tuổi này phải có sự đồng ý của bố
mẹ đẻ, bố mẹ nuôi hay người giám hộ Việc đính hôn không đáp ứng những điều kiện này là đính hôn vô hiệu Điều này thật sự có
ý nghĩa đối với việc bảo vệ quyền lợi của các bên vì nếu việc đính hôn vô hiệu, các bên sẽ không phải thực hiện cam kết là xác lập quan hệ hôn nhân Do đó, với những trường hợp đính hôn có hiệu lực, nếu các bên vi phạm cam kết này thì họ phải bồi thường theo quy định của pháp luật
Pháp luật Thái Lan quy định cụ thể việc bồi thường thiệt hại trong trường hợp các bên vi phạm thoả thuận đính hôn Dù là người đàn ông hay người đàn bà vi phạm thoả thuận thì cũng đều phải chịu trách nhiệm bồi thường cho phía bên kia do hành
vi của mình gây ra
Các khoản bồi thường này bao gồm: + Thiệt hại gây ra cho bản thân hoặc uy tín của người đàn ông hoặc người đàn bà;
L
* Giảng viên Khoa luật dân sự Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2+ Những chi phí thích hợp hoặc khoản
nợ mà người đính hôn có thiện chí phải
gánh chịu hoặc bố mẹ của người đó hay
người thay mặt bố mẹ của người đó trong
việc chuẩn bị cuộc hôn nhân này phải
gánh chịu;
+ Về tổn thất mà người đàn ông hoặc
người đàn bà phải chịu do đã áp dụng các
biện pháp thích hợp ảnh hưởng đến tài sản
của người đàn ông hoặc của người đàn bà,
hoặc những công việc khác có liên quan đến
nghề nghiệp hoặc thu nhập của người đó
trông chờ vào cuộc hôn nhân
Pháp luật Thái Lan cũng quy định cụ
thể các trường hợp mà người đàn ông hay
người đàn bà có thể khước từ thoả thuận
đính hôn Theo đó, khi có sự cố quan trọng
xảy ra đối với một bên làm cho việc kết hôn
đối với bên kia không còn thích hợp nữa thì
người đàn ông hay người đàn bà đều có
quyền khước từ thoả thuận đính hôn
Trường hợp sự cố xảy ra với người đàn bà,
người đàn ông có quyền khước từ thoả
thuận đính hôn nhưng người đàn bà không
phải hoàn trả “không man” - (tài sản mà khi
đính hôn người đàn ông trao cho người đàn
bà) Nhưng nếu sự cố xảy ra với người đàn
ông và người đàn bà khước từ thoả thuận
đính hôn thì người đàn bà không phải hoàn
trả “không man” Có thể thấy đây là điểm
ưu tiên thể hiện việc bảo vệ quyền của
người phụ nữ được đề cập trong các quy
định của pháp luật điều chỉnh vấn đề đính
hôn của Thái Lan
- Về điều kiện kết hôn Các quy định về điều kiện kết hôn thể hiện sự bình đẳng giữa nam và nữ Theo quy định của pháp luật Thái Lan, khi kết hôn, nam nữ phải đủ 17 tuổi và phải đồng ý kết hôn Việc đồng ý kết hôn có thể thực hiện thông qua các hình thức sau:
+ Người đồng ý kết hôn kí tên vào sổ đăng kí kết hôn khi đi đăng kí kết hôn + Bằng một văn bản đồng ý, ghi rõ tên các bên kết hôn và được người đồng ý kết hôn kí tên
+ Bằng việc tuyên bố miệng trước ít nhất hai nhân chứng trong trường hợp cần thiết Bên cạnh đó, pháp luật quy định các trường hợp luật cấm kết hôn Pháp luật Thái Lan cấm kết hôn đối với các trường hợp sau: + Cấm kết hôn đối với người mất trí hoặc bị tuyên bố là không có năng lực hành vi;
+ Giữa những người có quan hệ huyết thống trực hệ, quan hệ họ hàng trên dưới hoặc anh em, chị em cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha;
+ Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi;
+ Cấm kết hôn đối với người đang có
vợ, có chồng
Như vậy, có thể thấy các quy định của pháp luật Thái Lan đã thể hiện việc bảo vệ quyền tự do kết hôn cho người phụ nữ trên
cơ sở của việc ghi nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong việc đính hôn cũng như các quy định về điều kiện kết hôn Đặc biệt, thông qua các quy định về việc đính
Trang 3hôn cũng như quy định về thể hiện sự đồng
ý kết hôn, chúng tôi nhận thấy đây chính là
những cơ sở pháp lí quan trọng để bảo đảm
quyền tự do kết hôn đối với người phụ nữ
Đứng trên nguyên tắc này, pháp luật Thái
Lan và pháp luật Việt Nam có những điểm
tương đồng, đều ghi nhận và bảo vệ quyền
tự do kết hôn trong mối liên hệ bình đẳng
giữa nam và nữ Tuy nhiên, hiện nay, pháp
luật Việt Nam không điều chỉnh vấn đề
đính hôn Về điểm này, pháp luật Thái Lan
hiện hành lại có điểm tương đồng với cổ
luật Việt Nam Chẳng hạn trong các bộ luật
thời phong kiến hay các bộ luật ở Việt
Nam thời Pháp thuộc có điều chỉnh các vấn
đề liên quan đến việc đính hôn của các bên
nam nữ.(1) Chúng tôi cho rằng khi trong đời
sống xã hội, các bên nam nữ còn coi trọng
các nghi lễ, nhất là nghi lễ đính hôn thì
việc điều chỉnh pháp luật về vấn đề này là
cần thiết Ở Việt Nam, suốt thời gian dài,
các nghi lễ này thường được đơn giản hoá
Hiện nay, trong đời sống hôn nhân của
người Việt Nam nghi lễ đính hôn thường ít
được nhắc tới
2 Về quyền li hôn
Theo quy định của pháp luật Thái Lan,
quyền tự do li hôn là quyền gắn với nhân
thân của bên vợ, bên chồng Pháp luật Thái
Lan quy định: Việc li hôn chỉ có thể được
tiến hành với sự đồng ý của hai vợ chồng
hoặc theo phán quyết của toà án Việc li
hôn được tiến hành có sự đồng ý của hai
bên phải được làm bằng văn bản và có ít
nhất hai chữ kí xác nhận của hai người làm chứng.(2)
Trong trường hợp này, khi việc li hôn được đăng kí thì tài sản của vợ chồng
sẽ được thanh lí, các tài sản này áp dụng đối với những tài sản có tính đến ngày họ đăng kí li hôn
Theo quy định của pháp luật Thái Lan, khi các bên vợ chồng không cùng đồng ý li hôn thì quyền yêu cầu li hôn được pháp luật ghi nhận bình đẳng cho các bên vợ, chồng Pháp luật Thái Lan quy định khá cụ thể các căn cứ để một bên có thể kiện đòi li hôn với bên chồng hay vợ của mình Cụ thể là:
- Người chồng đã nuôi dưỡng hoặc thờ phụng một người đàn bà khác như vợ mình hoặc người vợ ngoại tình
- Vợ hoặc chồng phạm lỗi có hành vi đạo đức xấu, bất kể hành vi đó có phải là tội hình sự hay không nhưng dẫn đến hậu quả làm cho người kia:
+ Bị làm nhục nghiêm trọng;
+ Bị lăng mạ hoặc bị thù hằn nếu tiếp tục chung sống với người vợ hoặc chồng đã
có hành vi đạo đức xấu;
+ Phải chịu đựng thiệt thòi hoặc quấy rầy đau đớn khi xét đến điều kiện, tình trạng
và việc chung sống như vợ chồng
- Vợ hoặc chồng gây thiệt hại hoặc hành
hạ nghiêm trọng thể xác hoặc tinh thần của người kia, lăng mạ thậm tệ người kia hoặc con cái của người đó;
- Vợ hoặc chồng đã rời bỏ người kia hơn một năm:
+ Vợ hoặc chồng đã bị toà án kết án có
Trang 4phán quyết cuối cùng và bị tù hơn một năm
vì phạm tội mà không có bất cứ sự tham
gia, đồng tình hoặc hay biết của người kia
và sự chung sống như vợ chồng gây cho
người kia phải chịu đựng thiệt hại hoặc
quấy nhiễu quá đáng;
+ Vợ và chồng đã tình nguyện sống li
thân vì không thể chung sống hạnh phúc
trong hơn ba năm, hoặc sống li thân hơn ba
năm theo quyết định của toà án
- Vợ hoặc chồng bị tuyên là bị mất tích,
hoặc đã bỏ nơi cư trú của mình hơn ba năm
và không biết chắc chắn là người đó còn
sống hay đã chết;
- Vợ hoặc chồng không có sự chăm sóc
thích đáng và giúp đỡ người kia hoặc có
những hành động bất lợi cho quan hệ vợ
chồng đến mức độ mà người kia bị quấy
nhiễu quá đáng khi tính đến điều kiện, tình
trạng và sự chung sống như vợ, chồng;
- Vợ hoặc chồng là người mất trí liên
tục trong hơn ba năm và việc mất trí này
khó có thể chữa khỏi làm cho việc tiếp tục
hôn nhân là không thể;
- Vợ hoặc chồng đã phá vỡ cam kết của
mình về giữ đạo đức tốt;
- Vợ hoặc chồng mắc bệnh truyền
nhiễm và hiểm nghèo không thể chữa khỏi
và có thể gây thiệt hại cho người kia;
- Vợ hoặc chồng có khiếm khuyết về thể
chất do đó không thể chung sống thường
xuyên như vợ chồng.(3)
Về mặt học thuật, các căn cứ li hôn
trong pháp luật Thái Lan có những điểm
khác biệt căn bản so với pháp luật Việt Nam Pháp luật Thái Lan quy định căn cứ li hôn dựa trên cơ sở lỗi của các bên vợ chồng, căn cứ li hôn này có thể dễ dàng áp dụng trong thực tiễn thi hành luật Căn cứ li hôn trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam phản ánh bản chất của cuộc hôn nhân
mà không dựa trên cơ sở lỗi.(4)
Vì vậy, việc
áp dụng căn cứ li hôn theo pháp luật Việt Nam không dễ dàng song thường phản ánh đúng bản chất của hôn nhân Pháp luật Thái Lan với các quy định duyên cớ lỗi một cách bình đẳng cho cả hai bên vợ chồng vì thế khi vợ hoặc chồng có lỗi, người kia có quyền kiện đòi li hôn nhưng về bản chất, một trong hai bên có lỗi chưa chắc đã dẫn đến tình trạng hôn nhân thực sự tan vỡ Về khía cạnh này, việc ghi nhận căn cứ li hôn dựa vào lỗi có những thiệt thòi nhất định cho các bên vợ, chồng, nhất là đối với người phụ nữ Mặt khác, pháp luật Việt Nam cũng ghi nhận việc hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng khi người phụ
nữ đang mang thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi hoặc nguyên tắc bảo vệ quyền phụ nữ và con khi chia tài sản chung trong trường hợp li hôn nhằm bảo vệ quyền phụ nữ trẻ em Tuy nhiên, pháp luật Thái Lan không dự liệu vấn đề này
Như vậy, giống như pháp luật Việt Nam, pháp luật Thái Lan cũng ghi nhận và bảo vệ quyền tự do kết hôn và quyền tự do
li hôn cho người phụ nữ Tuy nhiên, khác với pháp luật Việt Nam, ngoài các quy định
Trang 5trong Bộ luật dân sự và thương mại, các
quy định điều chỉnh vấn đề hôn nhân còn
chịu sự chi phối của luật Hồi giáo bởi vì:
“Luật Hồi giáo cũng được áp dụng ở một
số vùng lãnh thổ của Thái Lan nơi có
Trong khi đó, luật Hồi giáo bao gồm toàn bộ
những quy định mang tính pháp lí và tôn
giáo luôn chi phối cộng đồng các tín đồ,
được hình thành dựa trên cuốn Kinh Koran
- văn bản thiêng liêng có giá trị tuyệt đối
Kinh Koran cũng quy định rằng người vợ
phải được đối xử công bằng và tôn trọng
Tuy nhiên, đạo Hồi thừa nhận chế độ đa thê
và bảo vệ uy thế tuyệt đối của người chủ
gia đình Vì thế, người vợ chỉ có thể tận
dụng một cách khó khăn những lợi thế mà
luật trao cho họ.(6)
Về vấn đề kết hôn, luật Hồi giáo cũng ghi nhận rằng hôn nhân phải
có sự chấp thuận của các bên nhưng lại
không thừa nhận khả năng về mặt pháp lí
của người phụ nữ nên người phụ nữ phải
có chủ hôn đại diện Về li hôn, việc huỷ bỏ
hôn nhân do quan toà Hồi giáo tuyên bố
theo yêu cầu của người chồng hoặc người
vợ nếu vì lí do nghiêm trọng Về điểm này
có thể thấy đây là điểm khá tiến bộ vì luật
Hồi giáo cũng ghi nhận cho người phụ nữ
có quyền yêu cầu li hôn Tuy nhiên, luật
Hồi giáo cũng cho phép người đàn ông
được đơn phương bỏ vợ Vì thế, người phụ
nữ cũng sẽ có những bất lợi nếu người
chồng được li hôn theo hình thức này
Từ những phân tích trên, có thể nhận
thấy pháp luật Việt Nam và pháp luật Thái Lan có những điểm tương đồng trong việc ghi nhận quyền tự do kết hôn và li hôn của người phụ nữ Tuy nhiên, điểm khác biệt cơ bản giữa luật Thái Lan và luật Việt Nam trong việc điều chỉnh vấn đề này thể hiện ở nội dung của việc bảo đảm vấn đề bình đẳng giới Các quy định của pháp luật Thái Lan mới chỉ thể hiện ở khía cạnh bảo đảm bình đẳng giữa nam và nữ mà chưa xem xét đến sự khác biệt về giới tính giữa nam và
nữ để có các quy định ưu tiên nhằm bảo vệ quyền phụ nữ dưới góc độ giới giống như luật Việt Nam Mặt khác, thừa nhận việc áp dụng luật Hồi giáo cũng là một điểm khác biệt lớn của pháp luật Thái Lan so với pháp luật Việt Nam Mặc dù, về mặt hình thức, luật Hồi giáo cũng có những ghi nhận thể hiện việc tôn trọng người phụ nữ nhưng xét
về bản chất các quy định của luật Hồi giáo
ít nhiều đã cản trở người phụ nữ thực thi quyền bình đẳng của họ./
(1).Xem: Điều 314, 315 Bộ luật Hồng Đức
(2).Xem: Điều 1514 (Quyển 5, Gia đình) Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan, Nxb Chính trị quốc gia, 1995
(3).Xem: Điều 1516 (Quyển 5, Gia đình) Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan, Nxb Chính trị quốc gia, 1995
(4).Xem: Điều 89 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
(5).Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình
luật so sánh, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
2008, tr 519
(6).Xem: Dominique Sourdel, Hồi giáo, Nxb Thế
giới, Hà Nội, 2002, tr 73