Trung Quốc đã hình thành hệ thống pháp luật bảo đảm cho quyền lợi của phụ nữ với cơ sở là Hiến pháp: Luật bảo đảm quyền phát triển toàn diện của phụ nữ; Luật hôn nhân và gia đình; Luật l
Trang 1TS TrÇn ThÞ HuÖ *
ộng hoà nhân dân Trung Hoa (CHND
Trung Hoa) là nước ở khu vực Đông Á
với số dân đông nhất trên thế giới, theo số
liệu của Cục thống kê quốc gia Trung Quốc
là hơn 1,3 tỉ người Trong đó tỉ lệ nữ theo số
liệu thống kê mới nhất cho biết đến cuối năm
2009, chiếm 48,47%.(1)
Trước đây, với hệ thống chính trị dựa
trên chế độ quân chủ cha truyền con nối mà
trật tự xã hội được thiết lập bởi nguyên tắc
xử sự của con người thuộc các đẳng cấp
khác nhau trong xã hội ở ba mối quan hệ cơ
bản (tam cương), quyền của phụ nữ trong
xã hội thời bấy giờ không được đảm bảo, bị
trói buộc bởi 4 sợi dây “Thần quyền, Quân
quyền, Tộc quyền và Phụ quyền”, tức là các
quyền lợi xã hội to lớn và quyền nam giới
đã bị biến tướng và tạo ra quyền áp đặt,
định kiến với phụ nữ Sách “Luận ngữ”
thiên 15 đã “dành cho” họ địa vị thấp kém
ngang hàng với hạng tiểu nhân: “Duy nữ tử
dữ tiểu nhân vi nan dưỡng dã " Tổng quan
lịch sử về quyền của phụ nữ ở Trung Quốc
đã thể hiện tình trạng bất bình đẳng giữa
nam và nữ kéo dài cùng với chế độ phong
kiến Trung Quốc
Ngày nay, CHND Trung Hoa (từ đây
được gọi là Trung Quốc) đã quan tâm một
cách nhất quán và ngày càng cao đến việc nâng cao địa vị chính trị và xã hội của phụ
nữ, trước hết là thông qua hành lang chính sách và pháp luật
Trung Quốc đã hình thành hệ thống pháp luật bảo đảm cho quyền lợi của phụ nữ với
cơ sở là Hiến pháp: Luật bảo đảm quyền phát triển toàn diện của phụ nữ; Luật hôn nhân và gia đình; Luật lao động; Luật bảo hộ lao động; Luật về tài sản và quyền sở hữu; Luật bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em; Luật hợp đồng lao động; Luật thừa kế; Điều
lệ quản lí dân số và kế hoạch hoá sinh đẻ có
kế hoạch; Quy định phạm vi công việc cấm
kị nữ công nhân viên chức được quy định trong Bộ luật lao động Hệ thống pháp luật không chỉ xác nhận phụ nữ có quyền bình đẳng với nam giới về kinh tế, chính trị, xã hội, về việc làm, cùng lao động như nhau thì cùng hưởng như nhau mà còn bảo vệ quyền lợi đặc thù của riêng lao động nữ
Quyền của phụ nữ ở Trung Quốc được pháp luật ghi nhận và bảo vệ ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Tuy nhiên, trong bài viết này chúng tôi chỉ đề cập một số khía cạnh pháp lí về quyền của phụ nữ ở Trung Quốc
C
* Giảng viên chính Khoa luật dân sự Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2Trước hết là những quy định mang tính
nguyên tắc định hướng căn bản cho mọi hoạt
động trong các lĩnh vực của phụ nữ Những
hoạt động này luôn được nhà nước bảo đảm
thực hiện thông qua cơ sở thực tế, cơ sở
pháp lí, thể chế nhà nước, các tổ chức phụ
nữ trong nước, tổ chức phụ nữ quốc tế và tổ
chức phụ nữ châu Á
Hiến pháp năm 1980 tại Điều 48 quy
định: “Phụ nữ nước Cộng hoà nhân dân
Trung Hoa có quyền bình đẳng như nam
giới trên các mặt như: Chính trị, kinh tế, văn
hoá, xã hội và cuộc sống gia đình Nhà nước
đảm bảo quyền và lợi ích của phụ nữ, thực
hiện nam nữ bình đẳng trong lao động và
tiền lương, bồi dưỡng và đề bạt cán bộ phụ
nữ” Điều 49 tiếp tục ghi nhận: “Nhà nước
bảo hộ hôn nhân, gia đình, bà mẹ và trẻ em
Vợ chồng phải có nghĩa vụ sinh đẻ có kế
hoạch Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con cái
vị thành niên, con cái đã trưởng thành có
nghĩa vụ phụng dưỡng cha mẹ Nghiêm cấm
việc phá hoại tự do hôn nhân, nghiêm cấm
ngược đãi người già, phụ nữ và trẻ em"
Điều 2 Luật bảo đảm quyền phát triển
toàn diện của phụ nữ đã quy định: "Phụ nữ
có quyền bình đẳng như nam giới trong mọi
lĩnh vực chính trị, văn hoá xã hội và cuộc
sống gia đình Thực hiện nam nữ bình đẳng
là quốc sách cơ bản của Nhà nước Nhà
nước sẽ có nhiều biện pháp cần thiết để từng
bước hoàn thiện các chế độ bảo đảm cho
quyền và lợi ích của phụ nữ; xoá bỏ các hình
thức phân biệt với phụ nữ Nhà nước bảo
đảm những lợi ích riêng của phụ nữ theo quy
định của pháp luật Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi kì thị, ngược đãi, ruồng bỏ, gây thương tổn cho phụ nữ" Đặc biệt tại các
điều 9, 12, 15, 22, 30, 31, 32, 34, 44 và 47, các nhà lập pháp Trung Quốc đã thiết kế những quy định cụ thể bảo đảm cho sự phát triển quyền của phụ nữ trong tất cả các lĩnh vực, thể hiện tính hiện thực hoá các quyền của phụ nữ được quy định trong các văn bản
pháp luật khác
Thứ hai, về quyền lợi của lao động nữ,
Điều 12 của Luật lao động quy định: “Người
lao động khi làm việc không bị phân biệt đối
xử bởi dân tộc, chủng tộc, giới tính, tín ngưỡng tôn giáo khác nhau…” Điều 15 tiếp
tục ghi nhận: “Quyền kinh tế của phụ nữ
bình đẳng với nam giới trong lao động và chia sẻ của họ về các nguồn lực kinh tế và hưởng các lợi ích của phát triển xã hội là điều kiện cơ bản cho sự phát triển của phụ
nữ Nhà nước bảo hộ phụ nữ được hưởng các quyền và lợi ích đặc biệt, cấm phân biệt đối xử, lạm dụng, bị bỏ rơi, cắt xén của phụ
nữ trong lao động ”
Xuất phát từ quan điểm coi con người là vốn quý của xã hội, bảo đảm an toàn cho sức khoẻ, tính mạng trong quá trình lao động, đặc biệt là lao động nữ do đặc điểm sinh lí của họ, Luật bảo hộ lao động năm 1988 quy định: Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ thì các điều kiện bảo hộ lao động cho
nữ giới phải được thực hiện một cách nghiêm túc, đúng quy tắc lao động nhằm giảm thiểu và giải quyết khó khăn gặp phải trong lao động và việc làm của phụ nữ…
Trang 3Vấn đề giảm tiền lương hoặc huỷ bỏ hợp
đồng lao động của lao động nữ trong thời
gian mang thai và cho con bú là bị cấm
Công nhân nữ được nghỉ chín mươi ngày kể
từ ngày sinh con và thời gian cho con bú
trong ca làm việc của họ Luật bảo hộ lao
động cũng quy định đơn vị nơi quản lí và sử
dụng lao động nữ với số lượng tương đối lớn
phải thành lập các phòng khám y tế, nhà vệ
sinh cho phụ nữ mang thai, cho con bú Có
thể nói đây là chính sách về y tế thể hiện sự
quan tâm của Nhà nước Trung Quốc trong
từng lĩnh vực cụ thể đối với sức khỏe của nữ
lao động mà khó có thể tìm thấy ở các quốc
gia khác Đồng thời, nhiều quy định hạn chế
hoặc cấm những công việc mà phụ nữ không
được phép thực hiện Những quy định thể
hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với lực
lượng lao động đặc thù – lao động nữ, với cơ
địa, thể chất, tâm sinh lí cũng như thiên chức
làm vợ, làm m … của họ Cụ thể, Điều 58
quy định: “Nhà nước thi hành chế độ bảo hộ
đặc thù đối với lao động chưa thành niên và
công nhân viên chức nữ” Tiếp đến các nhà
lập pháp còn thiết kế những quy phạm cấm
người sử dụng lao động sắp xếp nữ lao động
làm việc ở cường độ cao, công việc nặng
nhọc, điều kiện lao động không phù hợp với
thể trạng của người phụ nữ Những quy định
này hướng tới bảo vệ sức khoẻ trước mắt
cũng như lâu dài của họ, nếu không s ảnh
hưởng đến cả những thế hệ tiếp theo (thế hệ
con cháu của họ) Luật pháp cấm người sử
dụng lao động sắp xếp nữ lao động làm việc
trong hầm lò, hầm mỏ; không được sắp xếp
lao động nữ, công nhân viên chức nữ làm việc ở nơi độ cao, m thấp, nước lạnh trong thời kì kinh nguyệt; không được sắp xếp lao động nữ trong thời kì mang thai làm những việc có cường độ lao động thể lực cấp 3; nếu phụ nữ mang thai từ 7 tháng trở lên và đang cho con bú chưa tròn 1 tuổi thì không được sắp xếp họ tăng ca và làm việc ban đêm.(2)
Luật hợp đồng lao động năm 2007 của Trung Quốc còn quy định về việc người sử dụng lao động không được huỷ bỏ và chấm dứt hợp đồng lao động đối với các trường hợp: nhiễm bệnh nghề nghiệp, mắc bệnh nghề nghiệp, nữ công nhân viên chức trong thời kì mang thai, sinh đẻ, cho con bú; nữ công tác liên tục tại đơn vị tròn 15 năm.(3)
Có thể nói đây là nỗ lực để loại bỏ phân biệt đối xử về giới và thúc đ y bình đẳng giới trong việc làm và bảo vệ quyền của phụ
nữ trong công việc, tìm kiếm giải pháp tối
ưu để đảm bảo cho phụ nữ chiếm hơn 40% tổng dân số có việc làm Đảm bảo cho phụ
nữ được hưởng quyền bình đẳng với nam giới về an sinh xã hội và phạm vi bảo hiểm của bảo hiểm thai sản cho người lao động Đảm bảo bảo hộ lao động cho lao động nữ (Quy định tại Luật bảo hộ lao động năm
1988 và Luật lao động năm 1994)
Thứ ba, về quyền sở hữu tài sản, Nhà
nước có chính sách vĩ mô về các mục tiêu chính cho sự phát triển của phụ nữ s được phản ánh trong kế hoạch quốc gia về phát triển kinh tế và xã hội và góc độ giới s được tích hợp vào các phân tích kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như việc xác lập quyền sở hữu đối với tài sản và phương thức
Trang 4bảo vệ quyền sở hữu của cá nhân đối với tài
sản riêng cũng như tài sản chung của họ
trong thời kì hôn nhân Luật hôn nhân và gia
đình năm 1980 sửa đổi, bổ sung ngày
28/4/2001 còn quy định về quyền bình đẳng
của phụ nữ và nam giới ở nông thôn trong
lao động, thu nhập cũng như vấn đề đền bù
khi tài sản của họ bị Nhà nước trưng thu,
trưng dụng Lao động xã hội kết tinh trong
sản ph m làm ra giữa nam và nữ được xác
định và đánh giá về giá trị cũng như giá trị
sử dụng là ngang nhau Vì thế, các nhà lập
pháp ở đây đã thể hiện ý chí và thái độ của
mình vào trong chính các quy phạm của Luật
hôn nhân và gia đình Trong luật này, các
nhà lập pháp còn quan tâm đến đời sống lao
động của phụ nữ Trung Quốc tại các vùng
miền khác nhau Đặc biệt, có những quy
phạm ghi nhận và bảo vệ cho lao động nữ
khi tham gia lao động trên thửa ruộng khoán
cũng như khi phân chia lợi nhuận, khi ruộng
đất được đền bù sau trưng thu, trưng dụng
theo chính sách của Nhà nước Đây chính là
chính sách kinh tế và pháp luật của Trung
Quốc đối với lao động nữ ở vùng nông thôn:
“Ở nông thôn phụ nữ được hưởng quyền lợi
bình đẳng như nam giới khi tham gia lao
động trên thửa ruộng khoán sản, khi phân
chia lợi ích của các tổ chức kinh tế tập thể,
khi ruộng đất được bồi thường sau trưng thu
hoặc trưng dụng” (Điều 32 Luật bảo đảm
quyền phát triển toàn diện của phụ nữ)
Với tính chất sở hữu chung của vợ chồng
là không phụ thuộc vào thu nhập của mỗi
bên, tài sản chung của vợ chồng không cần
cả hai cùng tạo lập đồng thời cũng không
phụ thuộc vào họ ở cùng nhau hay nơi cư trú khác nhau; đặc biệt phần quyền của mỗi người không được xác định trong khối tài sản chung Tuy nhiên khi có sự kiện li hôn thì tài sản phải được phân chia theo thoả thuận hoặc theo quyết định của toà án Nếu theo quyết định của toà án thì pháp luật của quốc gia này nghiêng về bảo vệ quyền của
phụ nữ và trẻ em: “Vào thời điểm li hôn, cả
hai vợ chồng phải thoả thuận về việc xử lí tài sản chung, nếu họ không đi đến thỏa thuận nào thì toà án nhân dân quyết định việc xử lí chúng, có xem xét đến hoàn cảnh thực tế của tài sản và theo các nguyên tắc ưu tiên cho trẻ em và người vợ” (Điều 36 Luật
hôn nhân và gia đình) Trong hôn nhân, quyền lợi về tài sản chung trong gia đình không được xâm hại đến quyền lợi hợp pháp của phụ nữ; cả hai vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc xử lí tài sản thuộc sở hữu chung; Phụ nữ có quyền bình đẳng với chồng trong việc sở hữu, sử dụng và hưởng lợi ích đối với tài sản chung của vợ chồng theo quy định của pháp luật, không bị ảnh hưởng bởi tình hình thu nhập của mỗi bên.(4)
Luật hôn nhân và gia đình Trung Quốc
có một số quy định khá đặc trưng trong việc bảo vệ quyền lợi về nhân thân cũng như tài sản của phụ nữ khi có sự kiện li hôn Các nhà lập pháp Trung Quốc đứng trên quan điểm bảo vệ quyền lợi về vật chất cũng như tinh thần khi người phụ nữ là thành viên trong gia đình nhà chồng, bởi họ đã dồn hết sức lực và tâm huyết, trách nhiệm để tạo lập tài sản cũng như nuôi dạy con cái và phụng
Trang 5dưỡng cha m chồng Trường hợp này không
phụ thuộc vào yếu tố có lỗi hay không có lỗi
của người vợ mà đương nhiên được xem xét
để ấn định mức bồi thường cho người vợ khi
li hôn “Vợ chồng có giao ước bằng văn bản
tài sản của mỗi người trước hôn nhân thì tài
sản đó vẫn thuộc sở hữu của người đó Phụ
nữ do có nhiều nghĩa vụ như phải nuôi dạy
con cái, phụng dưỡng cha mẹ và giúp đỡ cho
chồng công tác, nên khi li hôn có quyền yêu
cầu bên chồng bồi thường” (Điều 47) Mức
bồi thường không được quy định trong các
văn bản pháp luật, cho dù chỉ là quy định tối
thiểu, vì còn phụ thuộc vào mức thu nhập,
khả năng lao động, các vùng, miền, thành
thị, nông thôn Mức bồi thường là do phán
quyết của toà án dựa vào "niềm tin nội tâm"
của họ Nếu sự kiện li hôn xảy ra là do lỗi
của người chồng thuộc các trường hợp được
quy định tại Điều 46 thì người vợ có quyền
yêu cầu bồi thường thiệt hại Nếu Điều 47
quy định người vợ được hưởng bồi thường
của nhà chồng một cách đương nhiên khi có
sự kiện li hôn thì tại Điều 46 quy định điều
kiện được hưởng bồi thường của người vợ
đối với người chồng phải k m theo yếu tố lỗi
của người chồng Đó là một trong các trường
hợp sau đây: a) người chồng có hai vợ hoặc
người vợ có hai chồng; b) người chồng ngoại
tình; c) người chồng có hành vi bạo hành với
người vợ; d) ngược đãi với bất kì thành viên
nào trong gia đình (Điều 46) Tuy nhiên, số
tiền bồi thường không được pháp luật quy
định cụ thể mà các th m phán khi xét xử
phải căn cứ vào mức độ đóng góp và tình
hình kinh tế tại thời điểm li hôn để định mức bồi thường của người chồng Có thể nói đây
là quy định khác biệt so với Luật hôn nhân
và gia đình Việt Nam và một số quốc gia châu Á khác
Thứ tư, về quyền thừa kế, Luật thừa kế
Trung Quốc có hiệu lực từ ngày 01/10/1985 chỉ quy định hai hàng thừa kế theo pháp luật, trong đó cha, m , vợ, chồng và các con ở hàng thừa kế thứ nhất; ông bà nội, ngoại; anh, chị, em ruột của người chết ở hàng thừa
kế thứ hai Những người thừa kế theo pháp luật không phân biệt giới tính nếu họ là thừa
kế cùng hàng được hưởng di sản thừa kế như nhau Nội dung này cũng được quy định rõ trong Luật hôn nhân và gia đình Trung Quốc Cháu trai, cháu gái được hưởng phần di sản
do được thừa kế thế vị của ông bà được xác định bằng nhau Người con dâu mà chồng chết nhưng ở lại gia đình nhà chồng và có nghĩa vụ nuôi dưỡng chính đối với gia đình nhà chồng được xem là người thừa kế ở hàng thứ nhất.(5) Đây là quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ khi làm con dâu trong gia đình nhà chồng, không phụ thuộc vào quan hệ huyết thống mà các nhà làm luật căn cứ vào điều kiện, trách nhiệm, tình cảm của người con dâu đó trong sự gắn bó bền vững về mặt tình cảm với bố, m chồng Nguyên tắc bình đẳng là nguyên tắc chung đồng thời cũng là nguyên tắc căn bản trong quy định của pháp luật về thừa kế tại Trung Quốc Việc để lại di sản cũng như việc được nhận di sản thừa kế không phụ thuộc vào giới tính, trình độ văn hoá, tình
Trang 6trạng tài sản, địa vị xã hội đặc biệt là vấn
đề bình đẳng về giới trong quan hệ thừa kế
được thể hiện rất rõ trong các quy định của
Luật hôn nhân và gia đình Pháp luật còn
“trao” quyền cho người phụ nữ trong việc xử
lí tài sản thừa kế sau khi chồng chết mà
không ai có quyền can thiệp; cả hai vợ chồng
có quyền thừa kế tài sản của nhau, cả hai bên
cha m và con có quyền thừa kế tài sản của
nhau; quyền thừa kế tài sản bình đẳng như
nam giới của phụ nữ được pháp luật bảo hộ
Trong cùng một hàng thừa kế, không được
phân biệt đối xử với phụ nữ.(6)
Thứ năm, về quyền nhân thân, Luật hôn
nhân và gia đình, Luật bảo đảm quyền phát
triển toàn diện của phụ nữ, bên cạnh bảo vệ
quyền lợi của phụ nữ về quyền lao động, về
quyền sở hữu, về quyền thừa kế còn hướng
tới bảo vệ những quyền nhân thân của phụ
nữ đặt ngang bằng với nam giới trong gia
đình người chồng, trong vấn đề giáo dục và
chăm sóc con cái, quyền được li hôn khi xảy
ra các trường hợp được quy định tại Điều 32;
quyền được giữ bí mật đời tư, quyền về hình
ảnh, quyền về danh dự, nhân ph m, uy tín;
quyền được bảo vệ một cách tuyệt đối các
quyền nhân thân đã được các văn bản pháp
luật quy định và bảo vệ Có thể đơn cử một
số điều luật thể hiện được tinh thần này Sau
khi trải qua các thủ tục đăng kí, người phụ
nữ có thể trở thành thành viên trong gia đình
của người đàn ông và người đàn ông cũng có
thể trở thành thành viên trong gia đình của
người phụ nữ; cả hai vợ chồng được bình
đẳng trong tình trạng gia đình; cả hai vợ
chồng được quyền có tên riêng của mình; cả hai vợ chồng có quyền tự do tham gia vào sản xuất, làm việc, học tập và các hoạt động
xã hội Một trong hai bên không có quyền giới hạn hay can thiệp vào các hoạt động của bên kia; đứa trẻ có thể mang họ của người cha hoặc m ; trường hợp trẻ em vị thành niên gây thiệt hại thì cha m chúng phải chịu trách nhiệm dân sự; toà án cho li hôn nếu có một trong các trường hợp sau đây xảy ra và hoà giải không thành: Một trong hai bên có hai vợ hoặc hai chồng hoặc có thói quen chung sống với người khác, có hành vi bạo lực gia đình hoặc ngược đãi hoặc bỏ rơi bất cứ thành viên nào trong gia đình; một trong hai bên quá đam mê cờ bạc, ma tuý hoặc có những thói quen xấu xa khác và từ chối sửa chữa bất chấp các lời khuyên; cả hai bên đã sống riêng
do thiếu tình thương trong hai năm; các trường hợp dẫn đến việc không tồn tại tình cảm như vợ chồng Nếu một trong hai bên đã được toà án tuyên bố là mất tích và bên kia xin được li hôn thì li hôn được chấp nhận (được cấp); sau khi cha m li dị, con vẫn là con của cả hai bên và họ đều được hỗ trợ trực tiếp của người cha hoặc m mà không có vấn
đề gì Cả cha và m sau khi li hôn có quyền
và nghĩa vụ dạy dỗ con cái của họ Nạn nhân
có quyền kiến nghị liên quan đến bạo lực gia đình đang xảy ra và các uỷ ban dân cư đô thị
có liên quan hoặc uỷ ban nhân dân phải ngăn cản và các cơ quan an ninh công cộng phải chấm dứt hành vi đó… Trường hợp nạn nhân của bạo lực gia đình hoặc ngược đãi làm bản kiến nghị, cơ quan an ninh liên quan
Trang 7phải xử phạt hành chính với người đó theo
quy định của pháp luật.(7) Luật bảo đảm
quyền phát triển toàn diện của phụ nữ bên
cạnh những quy định về quyền lợi vật chất
còn chú trọng đến việc ghi nhận và bảo đảm
quyền nhân thân gắn liền với chính bản thân
người phụ nữ Luật này tạo cơ chế cho việc
hiện thực hoá các quyền của phụ nữ trên
thực tế Đây thực sự là “điểm sáng” trong cơ
chế bảo đảm hiện thực hoá quyền của phụ nữ
tại Trung Quốc mà ít quốc gia có được tư
duy pháp lí này Luật này định rõ: Mọi tổ
chức và cá nhân không được viện lí do phụ
nữ chưa kết hôn, kết hôn, li hôn hay chồng
chết… để xâm hại các lợi ích hợp pháp của
phụ nữ trong các tổ chức kinh tế tập thể ở
nông thôn Sau khi kết hôn, nếu chồng
chuyển sang ở nhà vợ và chuyển hộ kh u
sang nhà vợ thì cả chồng và vợ đều được
hưởng các lợi ích bình đẳng với các thành
viên khác trong tổ chức kinh tế tập thể ở địa
phương Nhà nước đảm bảo phụ nữ được
hưởng mọi quyền lợi về nhân thân bình đẳng
như nam giới cũng như đảm bảo cho họ
được hưởng mọi quyền lợi về hôn nhân gia
đình bình đẳng như nam giới Ngoài ra, Nhà
nước cũng đảm bảo quyền tự chủ trong hôn
nhân của phụ nữ, nghiêm cấm việc can thiệp
vào tự do kết hôn và li hôn của phụ nữ.(8)
Trung Quốc, Luật bảo đảm quyền phát
triển toàn diện của phụ nữ có mục đích cuối
cùng là bảo đảm cho người phụ nữ được
phát triển một cách toàn diện, nhằm thực
hiện sự hài hoà, điều tiết và phát triển bền
vững giữa sức khỏe và tâm lí, giữa ý chí và
trí tuệ của chủ thể, giữa cá thể và tập thể xã hội Quyền phát triển là tiền đề cho việc thống nhất khả năng bảo đảm pháp luật cho nhân quyền phụ nữ Vì quyền phát triển là quyền mang tính bao quát và tổng hợp của nhân quyền phụ nữ, nó không giống với quyền tự do và quyền xã hội, quyền phát triển yêu cầu nhà nước, xã hội và tổ chức quốc tế phải có chung hành động, tích cực thực hiện nghĩa vụ thì mới có thể thực hiện được Để quyền và sự phát triển quyền của phụ nữ được hiện thực hoá trong xã hội Trung Quốc, nhà nước Trung Quốc đã quan tâm đến thực trạng quyền của họ ở tất cả các lĩnh vực và đồng thời đưa ra các biện pháp
để bảo đảm quyền của họ và sự phát triển những quyền này về mặt pháp lí cũng như thông qua hoạt động của các tổ chức trong thực tiễn (cơ chế bảo đảm thực hiện các quyền của phụ nữ ở Trung Quốc)./
(1).Xem: http://www.xinhua.net.cn (2).Xem: Các điều 59, 60, 61, 63 Luật lao động Trung Quốc năm 1994
(3).Xem: Điều 42 Luật hợp đồng lao động năm 2007 của nước CHND Trung Hoa
(4).Xem: Điều 17, 31, 32, 47 Luật hôn nhân và gia đình Trung Quốc sửa đổi, bổ sung năm 2001
(5).Xem: Điều 12 Luật hôn nhân và gia đình Trung Quốc sửa đổi, bổ sung năm 2001
(6).Xem: Điều 24, Điều 34 Luật hôn nhân và gia đình Trung Quốc sửa đổi, bổ sung năm 2001
(7).Xem: Điều 9, 13, 14, 15, 22, 23, 32, 36, 43 Luật hôn nhân và gia đình Trung Quốc sửa đổi, bổ sung năm 2001
(8).Xem: Các điều 36, 43, 44 Luật bảo đảm quyền phát triển toàn diện của phụ nữ năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2005