Các định nghĩa này khác nhau chủ yếu về quan điểm thể hiện trong định nghĩa, coi tội phạm học chỉ là ngành hay lĩnh vực kiến thức, khoa học bình thường hay khoa học liên ngành hoặc về đố
Trang 1PGS.TS Lª ThÞ S¬n *
rong các tài liệu nghiên cứu viết về tội
phạm học của nước ngoài cũng như của
Việt Nam có nhiều định nghĩa khác nhau về
tội phạm học Các định nghĩa này đã phản
ánh ở mức độ nhất định sự hình thành và quá
trình phát triển của tội phạm học, phản ánh
quan niệm cá nhân hoặc quan niệm của một
trường phái về tội phạm học
Theo một số sách về tội phạm học thì
thuật ngữ tội phạm học xuất hiện vào cuối
thế kỉ XIX Những người đầu tiên sử dụng
thuật ngữ này được kể đến là Paul Topinard
- thầy thuốc đồng thời là nhà nhân chủng học
người Pháp và Rafaele Garofalo - luật gia
người Ý Paul Topinard lần đầu tiên dùng
thuật ngữ này để phân biệt việc nghiên cứu
các dạng cơ thể người phạm tội trong lĩnh
vực nhân chủng học với các công việc khác
về trắc nghiệm sinh học.(1)
Rafaele Garofalo
đã làm cho thuật ngữ tội phạm học được phổ
biến rộng rãi thông qua việc dùng nó đặt tên
cho tác phẩm của mình xuất bản năm 1885,
đó là “Criminologia“.(2)
Thuật ngữ tội phạm học bắt nguồn từ sự kết hợp của chữ La tinh:
“Crimen” là tội phạm và chữ Hy Lạp: “logos”
là học thuyết Tội phạm học có nghĩa là học
thuyết về tội phạm hoặc nghiên cứu về tội
phạm.(3)
Đây có thể được xem như là định
nghĩa ban đầu và trực tiếp (từ nghĩa của từ)
về tội phạm học
Sau này, cùng với sự phát triển của tội
phạm học, khái niệm tội phạm học cũng
được phát triển và được phản ánh trong rất nhiều các định nghĩa khác nhau bởi các nhà tội phạm học qua các thời kì Trong các sách viết về tội phạm học có thể tìm thấy bốn loại định nghĩa khác nhau về tội phạm học Các định nghĩa này khác nhau chủ yếu về quan điểm thể hiện trong định nghĩa, coi tội phạm học chỉ là ngành hay lĩnh vực kiến thức, khoa học bình thường hay khoa học liên ngành hoặc về đối tượng và phạm vi nghiên cứu của tội phạm học
Một trong những nhà tội phạm học sớm nhất của Mỹ trong thế kỉ XX là Edwin H Sutherland đã đưa ra định nghĩa tội phạm học trong giáo trình tội phạm học của mình (được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1924)
như sau: “Tội phạm học là lĩnh vực kiến thức
Theo đó tội phạm học chỉ được xem là ngành hoặc lĩnh vực nghiên cứu vấn đề xã hội của tội phạm, tức là nghiên cứu tội phạm và hành vi phạm tội như là hiện tượng xã hội
Một định nghĩa khác về tội phạm học được đưa ra thể hiện quan điểm nhấn mạnh đối tượng nghiên cứu là nguyên nhân của tội phạm và vai trò của tội phạm học trong việc tìm ra nguyên nhân của tội phạm Đó là định
nghĩa: “Tội phạm học là sự nghiên cứu về
T
* Giảng viên chính Khoa luật hình sự Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2Cũng trong thế kỉ XX xuất hiện một loại
định nghĩa khác về tội phạm học, trong đó
thể hiện quan điểm nhấn mạnh đặc tính
khoa học của tội phạm học như là đặc điểm
riêng biệt Tiêu biểu cho loại này là định
nghĩa: “Tội phạm học là khoa học nghiên
Loại định nghĩa thứ tư là định nghĩa về
tội phạm học hiện đại Sang thế kỉ XXI,
trong các sách viết về tội phạm học có thể
tìm thấy rất nhiều cách định nghĩa khác nhau
về tội phạm học nhưng cùng có nhiều điểm
chung, thể hiện không dừng lại ở việc xác
định một cách chung rằng tội phạm học là
khoa học nghiên cứu về tội phạm mà đã thể
hiện quan niệm toàn diện và sâu sắc hơn về
đối tượng và đặc tính khoa học của tội phạm
học hiện đại Trong đó, quan niệm phổ biến
cho rằng tội phạm học là khoa học thực
nghiệm mang tính liên ngành nghiên cứu về
tội phạm, nguyên nhân của tội phạm và kiểm
soát tội phạm Dưới đây là một số quan niệm
tiêu biểu về tội phạm học hiện đại:
Theo nhà tội phạm học người Mỹ - Frank
Schmalleger: “Tội phạm học là khoa học mà
bao quanh là chuyên môn liên ngành nghiên
cứu về tội phạm và hành vi phạm tội, bao
gồm cả những biểu hiện của nó, nguyên
nhân, các khía cạnh pháp lí và sự kiểm
biệt nhấn mạnh đến hai vấn đề là phạm vi
đối tượng nghiên cứu và đặc tính liên ngành
của tội phạm học Ông cho rằng định nghĩa
trên đã giữ đúng quan điểm thể hiện trong
tác phẩm của Jack P Gibbs - nhà tội phạm
học xuất sắc trong thế kỉ XX: Mục đích của
tội phạm học là cung cấp những trả lời khách
quan trên cơ sở nghiên cứu cho 4 câu hỏi cơ bản sau: 1) Tại sao tỉ lệ tội phạm lại khác nhau; 2) Tại sao các cá nhân phạm tội khác nhau; 3) Tại sao lại có sự khác nhau trong phản ứng đối với tội phạm; 4) Cái gì là những biện pháp hợp lí của kiểm soát sự phạm tội.(8)
Cũng theo ông, tội phạm học là khoa học mang tính liên ngành vì nó phải nhờ đến các ngành khoa học khác để có được sự tiếp cận tổng hợp để hiểu được vấn
đề của tội phạm trong xã hội đương thời và
để đưa ra các giải pháp đối với các vấn đề do tội phạm gây ra; đó là các ngành khoa học như nhân chủng học, sinh học, xã hội học, tâm lí học, tâm thần học (9)
Theo Bernd-Dieter Meier - giáo sư người Đức thì tội phạm học là khoa học nghiên cứu tội phạm như hiện tượng xã hội, các nguyên nhân của hành vi phạm tội, các hậu quả của
nó đối với nạn nhân và xã hội cũng như các biện pháp và cách thức mà các cơ quan nhà nước phản ứng trước sự việc xảy ra các hành
vi phạm tội; Tội phạm học là khoa học thực nghiệm nghiên cứu một cách hệ thống các sự việc có thực đã xảy ra; Tội phạm học thực hiện việc nghiên cứu mang tính liên ngành bằng cách đã tiếp thu và tiếp tục phát triển các phương pháp, quan điểm và lí luận của các ngành khoa học xã hội và nhân văn, điển hình là tâm lí học và xã hội học.(10)
Cũng có quan niệm tương tự, Hans-Dieter Schwind - giáo sư người Đức khác cho rằng: Tội phạm học được hiểu là lĩnh vực nghiên cứu liên ngành, dựa trên tất cả các khoa học thực nghiệm mà những khoa học này có mục đích là xác định phạm vi của tội phạm và tập hợp những kinh nghiệm về các hình thức thể
Trang 3hiện và nguyên nhân của tội phạm, về người
phạm tội và nạn nhân của tội phạm cũng như
về sự kiểm soát của các tác động xã hội bao
gồm cả các khả năng xử lí đối với người
phạm tội và tác dụng của hình phạt.(11)
Ngoài ra, quan niệm về tội phạm học
hiện đại cũng có thể được tìm thấy trong tác
phẩm xuất bản gần đây nhất (năm 2008) của
giáo sư nổi tiếng khác người Đức - Hans
Göppinger Theo ông, tội phạm học là ngành
khoa học thực nghiệm độc lập nghiên cứu
các sự việc thuộc các lĩnh vực của con người
và xã hội mà chúng liên quan đến sự hình
thành tội phạm, việc phạm tội, hậu quả của
tội phạm và việc ngăn chặn tội phạm cũng
như việc xử lí những người phạm tội.(12)
Ở Việt Nam, trong các giáo trình hoặc
sách về tội phạm học, định nghĩa về tội
phạm học được đưa ra tương đối thống nhất,
trong đó nhấn mạnh đến đối tượng nghiên
cứu của tội phạm học là tội phạm và người
phạm tội; nguyên nhân của tội phạm và biện
pháp phòng chống tội phạm
Trong giáo trình xuất bản từ năm 1995,
GS.TS Đỗ Ngọc Quang cho rằng: “Tội phạm
học là ngành khoa học nghiên cứu những
vấn đề liên quan đến tình trạng phạm tội và
tội phạm ; nghiên cứu về nhân thân người
phạm tội, nguyên nhân, điều kiện phạm tội
và những biện pháp phòng ngừa tội phạm
nhằm từng bước ngăn chặn, hạn chế tội
Cũng với cách định nghĩa tương tự,
GS.TS Nguyễn Xuân Yêm cho rằng: “Tội
phạm học là ngành khoa học nghiên cứu tội
phạm, tình hình tội phạm, các nguyên nhân
và điều kiện phát sinh tội phạm, nghiên cứu
cá nhân kẻ phạm tội và những biện pháp phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm nhằm ngăn chặn, tiến tới loại trừ tội phạm
Như vậy, trong tất cả các định nghĩa khác nhau về tội phạm học, từ định nghĩa ban đầu đến định nghĩa trong thời gian gần đây đều khẳng định tội phạm là đối tượng nghiên cứu của tội phạm học Tội phạm ở đây có nghĩa là những hành vi bị coi là tội phạm đã được thực hiện trên thực tế, vì vậy cũng có thể gọi là tội phạm hiện thực.(15)
Tội phạm hiện thực được nghiên cứu từ góc độ
xã hội học như một hiện tượng xã hội số lớn
và được xem như một bộ phận của thực tại
xã hội Nghiên cứu “mặt xã hội” của tội phạm hiện thực là để có thể đánh giá được trạng thái của bộ phận thực tại xã hội này mà tìm cách thay đổi theo hướng tích cực Nguyên nhân của tội phạm cũng đã được khẳng định là đối tượng nghiên cứu của tội phạm trong hầu hết các định nghĩa về tội phạm học nêu trên Lịch sử phát triển của tội phạm học cho thấy nguyên nhân của tội phạm được nghiên cứu từ phía xã hội và từ phía người phạm tội và từ mỗi phía lại được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau, như
từ phía người phạm tội được nghiên cứu từ góc độ sinh lí và tâm lí Các kết quả nghiên cứu về nguyên nhân đều được nghiệm chứng trong thực tiễn và tạo cơ sở cho việc hình thành những hệ thống tri thức, quan điểm khác nhau về nguyên nhân của tội phạm mà thường được gọi là các học thuyết trong tội phạm học Lịch sử hình thành và phát triển tội phạm học trên thế giới cũng có thể được coi là lịch sử hình thành và phát triển các
Trang 4học thuyết về nguyên nhân của tội phạm
Kiểm soát tội phạm cũng được coi là đối
tượng nghiên cứu của tội phạm học Điều
này được khẳng định rất sớm trong lịch sử
phát triển tội phạm học(16)
cũng như thể hiện trong hầu hết các định nghĩa về tội phạm học
được đưa ra
Khái niệm kiểm soát tội phạm bắt nguồn
từ khái niệm kiểm soát xã hội(17)
- một khái niệm của xã hội học và kiểm soát tội phạm
được coi là bộ phận của kiểm soát xã hội
Kiểm soát tội phạm(18)
có thể được hiểu chung nhất là hệ thống tổng thể các công cụ,
các cơ quan - tổ chức và các quá trình mà
với hệ thống này việc phản ứng xã hội đối
với việc thực hiện tội phạm được thực
hiện.(19)
Xét về cấu trúc có hai yếu tố hợp
thành hệ thống kiểm soát tội phạm, đó là các
chuẩn mực bao gồm cả các quy định pháp
luật (ví dụ như quy định của pháp luật hình
sự) và các phản ứng khác nhau đối với việc
thực hiện tội phạm (ví dụ ở Việt Nam là
phản ứng của Nhà nước thông qua các hoạt
động của các cơ quan tiến hành tố tụng và
thi hành án hình sự)
Trong các định nghĩa đã nêu về tội phạm
học, các tác giả đã có những cách thể hiện
khác nhau để đề cập một đối tượng nghiên
cứu của tội phạm học là kiểm soát tội phạm
Các nội dung được đề cập sau đây đều thuộc
nội dung của kiểm soát tội phạm: “ các
khía cạnh pháp lí và sự kiểm soát ”; “ các
biện pháp và cách thức mà các cơ quan nhà
nước phản ứng trước sự xảy ra của các hành
vi phạm tội ”; “ sự kiểm soát của các tác
động xã hội bao gồm cả các khả năng xử lí
đối với người phạm tội và tác dụng của hình
phạt ”;“ việc ngăn chặn hành vi phạm tội cũng như việc xử lí những người phạm tội ” Trong các tài liệu ở Việt Nam, “Biện pháp đấu tranh phòng chống tội phạm”
được đề cập nhiều như là đối tượng nghiên cứu của tội phạm học Trong đó có một số nội dung gần với một số nội dung của kiểm soát tội phạm, vì chúng cũng bao gồm những biện pháp phản ứng của Nhà nước đối với tội phạm hiện thực Đó là những biện pháp đấu tranh chống tội phạm mang tính phòng ngừa, như biện pháp đấu tranh phòng chống tội phạm bằng pháp luật hình sự và thông qua các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự và cơ quan thi hành án (gọi chung là các cơ quan kiểm soát tội phạm) Những phân tích ở trên cho thấy đã có
đủ cơ sở thực tiễn khoa học để khẳng định tội phạm học có đối tượng nghiên cứu độc lập, đó là tội phạm hiện thực với ý nghĩa là hiện tượng xã hội số lớn và các hiện tượng, quá trình liên quan trực tiếp đến tội phạm hiện thực thuộc về nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm
Những viện dẫn và phân tích nêu trên đã làm rõ những đặc điểm khoa học của tội phạm học Tội phạm học không phải là khoa học đơn ngành mà là khoa học liên ngành và
là khoa học thực nghiệm.(20)
Những tri thức khoa học hợp thành tội phạm học được đúc kết từ các kết quả nghiên cứu - là những kinh nghiệm từ quan sát, tìm hiểu về tội phạm trong thực tế như là hiện tượng xã hội, nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm - không thể không dựa vào các ngành khoa học thực nghiệm liên quan về con người và xã hội, đặc biệt là tâm lí học và xã
Trang 5hội học Đúng như một học giả đã khẳng
định: Tội phạm học không thể xuất hiện mà
không có các khoa học liên quan.(21)
Trên cơ sở kế thừa quan niệm truyền
thống mà vẫn phù hợp với sự phát triển của
tội phạm học hiện đại và đảm bảo sự thống
nhất tương đối với các quan niệm khác nhau
hiện nay về tội phạm học, có thể đưa ra định
nghĩa về tội phạm học như sau: Tội phạm
học là khoa học liên ngành, thực nghiệm
nghiên cứu về tội phạm (hiện thực), nguyên
nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm
Các đối tượng nghiên cứu đã nêu của tội
phạm học đồng thời cũng là những nội dung
khái quát của tội phạm học Mỗi nội dung
này lại bao gồm các nội dung cụ thể liên
quan Khi nghiên cứu về tội phạm hiện thực
đòi hỏi phải nghiên cứu cả về người phạm
tội với ý nghĩa là chủ thể gây ra tội phạm, về
nạn nhân của tội phạm và hậu quả gây ra cho
nạn nhân của tội phạm Hoặc khi nghiên
cứu về nguyên nhân của tội phạm cũng đòi
hỏi nghiên cứu cả người phạm tội và nạn
nhân của tội phạm để tìm hiểu về nguyên
nhân từ phía người phạm tội và nạn nhân của
tội phạm Nghiên cứu về kiểm soát tội
phạm bao gồm cả nghiên cứu về hiệu quả
của pháp luật hình sự, hiệu quả của hình
phạt, hiệu quả của hoạt động đấu tranh
chống tội phạm của các cơ quan tiến hành tố
tụng từ góc độ phòng ngừa tội phạm và
nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm Điều
này lí giải tại sao trong các tài liệu nghiên
cứu về tội phạm học, bên cạnh những nội
dung trực tiếp thuộc đối tượng nghiên cứu
của tội phạm học còn có nhiều nội dung cụ
thể khác được nêu thuộc về nội dung của tội
phạm học như nhân thân người phạm tội, nạn nhân của tội phạm, hình phạt học, phòng ngừa tội phạm /
(1).Xem: Frank Schmalleger (PH.D Professor Emeritus, The University of North Carolina at Pembroke), Criminology Today, Prentice Hall 2002, tr 14; Bernd-Dieter Meier (Professor an der Universitaet Hannover), Kriminologie, Verlag C.H Beck Muenchen 2005, tr 4; Ulrich Eisenberg (Professor an der Freier Universitaet Berlin), Kriminologie, Verlag C.H Beck Muenchen 2005, tr 1 Trong các tài liệu này, các tác giả tuy đều khẳng định Paul Topinard là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ tội phạm học nhưng
về thời gian lại xác định khác nhau Theo Frank Schmalleger thời gian được xác định vào năm 1889; còn theo Bernd-Dieter Meier thời gian được xác định vào năm 1879
(2).Xem: Bernd-Dieter Meier (Professor an der Universitaet Hannover), Kriminologie, Verlag C.H Beck Muenchen 2005, tr 4
(3) Trong tiếng Anh là: “The study of crime”; Trong tiếng Đức là: “Lehre von der Kriminalitaet”; Xem: Karl-Ludwig Kunz (Professor an der Universitaet Bern/Schweiz), Kriminologie, Haupt Verlag Bern-Stuttgart-Wien 2004, tr 1
(4).Xem: Ewin H Sutherland, Crimonology (Philadelphia: J.B Lippincott, 1924), tr 11; Frank Schmalleger (PH.D Professor Emeritus, The University of North Carolina at Pembroke), Criminology Today, Prentice Hall 2002, tr 14 (5).Xem: Gennaro F Vito and Rolald M Holmes, Criminology: Theory, Research, and Policy (Belmont, CA: Wadsworth, 1994), tr 3; Frank Schmalleger (PH.D Professor Emeritus, The University of North Carolina at Pembroke), Criminology Today, Prentice Hall 2002, tr 14
(6) Clement Bartolla and Simon Dinitz, Introduction
to Criminology: Order and Dísorder (New York:
Harper and Row, 1989), tr 548
(7) Frank Schmalleger (PH.D Professor Emeritus, The University of North Carolina at Pembroke), Criminology Today, Prentice Hall 2002, tr 15
Trang 6
(8).Xem: Frank Schmalleger (PH.D Professor Emeritus,
The University of North Carolina at pembroke),
Criminology Today, Prentice Hall 2002, tr 15
(9).Xem: Frank Schmalleger, Sđd, tr 15
(10).Xem: Bernd-Dieter Meier (Professor an der
Universitaet Hannover), Kriminologie, Verlag C.H
Beck Muenchen 2005, tr 2
(11).Xem: Hans-Dieter Schwind (Professor an der
Universitaet Osnabrueck und Ruhr-Universitaet
Bochum), Kriminologie: Eine praxisorientierte
Einfuehrung mit Beispielen, Kriminalistik Verlag
Heidelberg, 2007, tr 8
(12).Xem: Hans Göppinger (Professor an der
Universitaet Tuebingen), Kriminologie, Verlag C.H
Beck Muenchen, 2008, tr 1, 2
(13) Đỗ Ngọc Quang, Khoa luật, Đại học tổng hợp
Hà Nội, Giáo trình tội phạm học, 1995, tr 8
(14) Nguyễn Xuân Yêm, Tội phạm học hiện đại và
phòng ngừa tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, 2001, tr 12
(15) Theo Từ điển tiếng Việt, “hiện thực” là cái tồn
tại trong thực tế, vì vậy, tội phạm hiện thực là tội
phạm tồn tại trong thực tế
(16) Ngay từ đầu thế kỉ XX nhà tội phạm học người
Mỹ Ewin H Sutherland đã khẳng định kiểm soát tội
phạm là một trong 3 lĩnh vực cơ bản của tội phạm học
bao gồm: xã hội học pháp luật; phân tích khoa học
các nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm
Xem: Sutherland, Principles of Criminology, tr 1
(17) Để hiểu rõ hơn về kiểm soát xã hội có thể tham
khảo đoạn giải thích sau: “Kiểm soát xã hội là sự bố
trí các chuẩn mực, các giá trị cùng những chế tài để
ép buộc việc thực hiện chúng Sự kiểm soát sẽ khuôn
các hành vi cá nhân, các nhóm vào khuôn mẫu đã
được xã hội thừa nhận là đúng, cần phải làm theo
Kiểm soát xã hội sẽ dùng các chế tài tiêu cực đẩy các
hành vi lệch lạc vào khuôn phép hay vào một trật tự”
Xem: GS Phạm Tất Dong - TS Lê Ngọc Hùng (đồng
chủ biên), Xã hội học, Nxb Giáo dục, 2007, tr 194
(18) Để làm rõ hơn quan điểm khẳng định kiểm soát
tội phạm là đối tượng nghiên cứu của tội phạm học và
tại sao không phải là phòng ngừa tội phạm, cần thiết
phải phân biệt rõ hơn về hai khái niệm này: Nội dung
của khái niệm kiểm soát tội phạm và nội dung của khái niệm phòng ngừa tội phạm có thời gian được hiểu như nhau Khái niệm ban đầu của phòng ngừa tội phạm là dựa trên cơ sở của luật hình sự và bảo vệ pháp luật hình sự Do đó phòng ngừa tội phạm được coi đơn thuần là nhiệm vụ của các cơ quan kiểm soát tội phạm (như công an, kiểm sát, tòa án và cơ quan thi hành án hình sự) Kiểm soát tội phạm cũng góp phần
và hướng tới phòng ngừa tội phạm Mãi tới những năm 90 của thế kỉ XX, ví dụ như ở CHLB Đức khái niệm phòng ngừa tội phạm mới được quan tâm, thảo luận rộng rãi và phát triển Lúc đó mới có sự phân biệt rõ ràng hai khái niệm này Hai khái niệm này có nhiều điểm chung nhưng có một số điểm khác biệt Khái niệm phòng ngừa tội phạm rộng hơn khái niệm kiểm soát tội phạm Kiểm soát tội phạm chỉ là một phần của những cố gắng nhằm phòng ngừa tội phạm Nếu như khái niệm kiểm soát tội phạm được đặc trưng bởi các hình thức phản ứng hậu tội phạm (sau khi được thực hiện) đến người phạm tội thì khái niệm phòng ngừa tội phạm được đặc trưng bởi các biện pháp tích cực (tiền tội phạm) hướng vào sự ngăn ngừa việc thực hiện tội phạm Kiểm soát tội phạm thuộc vấn đề cơ bản của tội phạm học, còn phòng ngừa tội phạm lại đặt quan tâm hàng đầu vào sự vận dụng những kiến thức cơ bản của tội phạm học Xem: Bernd-Dieter Meier (Professor an der Universitaet Hannover), Kriminologie, Verlag C.H Beck Muenchen
2005, tr 271
(19).Xem: Bernd-Dieter Meier (Professor an der Universitaet Hannover), Kriminologie, Verlag C.H Beck Muenchen 2005, tr 267
(20) Được coi là những khoa học thực nghiệm hay khoa học kinh nghiệm là những ngành khoa học mà trong đó những đối tượng và những sự việc của thế giới, ví dụ như các hành tinh, động vật, các phương thức hành vi của con người được nghiên cứu qua thực nghiệm (thí nghiệm), quan sát lĩnh vực hay hỏi thăm
dò ý kiến Xem: Empire, http://de.wikipedia.org (21).Xem: Hans-Dieter Schwind (Professor an der Universitaet Osnabrueck und Ruhr-Universitaet Bochum), Kriminologie: Eine praxisorientierte Einfuehrung mit Beispielen, Kriminalistik Verlag Heidelberg, 2007, tr 9