1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Tội phạm học - khái niệm và đối tượng nghiên cứu " docx

6 675 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 171,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các định nghĩa này khác nhau chủ yếu về quan điểm thể hiện trong định nghĩa, coi tội phạm học chỉ là ngành hay lĩnh vực kiến thức, khoa học bình thường hay khoa học liên ngành hoặc về đố

Trang 1

PGS.TS Lª ThÞ S¬n *

rong các tài liệu nghiên cứu viết về tội

phạm học của nước ngoài cũng như của

Việt Nam có nhiều định nghĩa khác nhau về

tội phạm học Các định nghĩa này đã phản

ánh ở mức độ nhất định sự hình thành và quá

trình phát triển của tội phạm học, phản ánh

quan niệm cá nhân hoặc quan niệm của một

trường phái về tội phạm học

Theo một số sách về tội phạm học thì

thuật ngữ tội phạm học xuất hiện vào cuối

thế kỉ XIX Những người đầu tiên sử dụng

thuật ngữ này được kể đến là Paul Topinard

- thầy thuốc đồng thời là nhà nhân chủng học

người Pháp và Rafaele Garofalo - luật gia

người Ý Paul Topinard lần đầu tiên dùng

thuật ngữ này để phân biệt việc nghiên cứu

các dạng cơ thể người phạm tội trong lĩnh

vực nhân chủng học với các công việc khác

về trắc nghiệm sinh học.(1)

Rafaele Garofalo

đã làm cho thuật ngữ tội phạm học được phổ

biến rộng rãi thông qua việc dùng nó đặt tên

cho tác phẩm của mình xuất bản năm 1885,

đó là “Criminologia“.(2)

Thuật ngữ tội phạm học bắt nguồn từ sự kết hợp của chữ La tinh:

“Crimen” là tội phạm và chữ Hy Lạp: “logos”

là học thuyết Tội phạm học có nghĩa là học

thuyết về tội phạm hoặc nghiên cứu về tội

phạm.(3)

Đây có thể được xem như là định

nghĩa ban đầu và trực tiếp (từ nghĩa của từ)

về tội phạm học

Sau này, cùng với sự phát triển của tội

phạm học, khái niệm tội phạm học cũng

được phát triển và được phản ánh trong rất nhiều các định nghĩa khác nhau bởi các nhà tội phạm học qua các thời kì Trong các sách viết về tội phạm học có thể tìm thấy bốn loại định nghĩa khác nhau về tội phạm học Các định nghĩa này khác nhau chủ yếu về quan điểm thể hiện trong định nghĩa, coi tội phạm học chỉ là ngành hay lĩnh vực kiến thức, khoa học bình thường hay khoa học liên ngành hoặc về đối tượng và phạm vi nghiên cứu của tội phạm học

Một trong những nhà tội phạm học sớm nhất của Mỹ trong thế kỉ XX là Edwin H Sutherland đã đưa ra định nghĩa tội phạm học trong giáo trình tội phạm học của mình (được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1924)

như sau: “Tội phạm học là lĩnh vực kiến thức

Theo đó tội phạm học chỉ được xem là ngành hoặc lĩnh vực nghiên cứu vấn đề xã hội của tội phạm, tức là nghiên cứu tội phạm và hành vi phạm tội như là hiện tượng xã hội

Một định nghĩa khác về tội phạm học được đưa ra thể hiện quan điểm nhấn mạnh đối tượng nghiên cứu là nguyên nhân của tội phạm và vai trò của tội phạm học trong việc tìm ra nguyên nhân của tội phạm Đó là định

nghĩa: “Tội phạm học là sự nghiên cứu về

T

* Giảng viên chính Khoa luật hình sự Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

Cũng trong thế kỉ XX xuất hiện một loại

định nghĩa khác về tội phạm học, trong đó

thể hiện quan điểm nhấn mạnh đặc tính

khoa học của tội phạm học như là đặc điểm

riêng biệt Tiêu biểu cho loại này là định

nghĩa: “Tội phạm học là khoa học nghiên

Loại định nghĩa thứ tư là định nghĩa về

tội phạm học hiện đại Sang thế kỉ XXI,

trong các sách viết về tội phạm học có thể

tìm thấy rất nhiều cách định nghĩa khác nhau

về tội phạm học nhưng cùng có nhiều điểm

chung, thể hiện không dừng lại ở việc xác

định một cách chung rằng tội phạm học là

khoa học nghiên cứu về tội phạm mà đã thể

hiện quan niệm toàn diện và sâu sắc hơn về

đối tượng và đặc tính khoa học của tội phạm

học hiện đại Trong đó, quan niệm phổ biến

cho rằng tội phạm học là khoa học thực

nghiệm mang tính liên ngành nghiên cứu về

tội phạm, nguyên nhân của tội phạm và kiểm

soát tội phạm Dưới đây là một số quan niệm

tiêu biểu về tội phạm học hiện đại:

Theo nhà tội phạm học người Mỹ - Frank

Schmalleger: “Tội phạm học là khoa học mà

bao quanh là chuyên môn liên ngành nghiên

cứu về tội phạm và hành vi phạm tội, bao

gồm cả những biểu hiện của nó, nguyên

nhân, các khía cạnh pháp lí và sự kiểm

biệt nhấn mạnh đến hai vấn đề là phạm vi

đối tượng nghiên cứu và đặc tính liên ngành

của tội phạm học Ông cho rằng định nghĩa

trên đã giữ đúng quan điểm thể hiện trong

tác phẩm của Jack P Gibbs - nhà tội phạm

học xuất sắc trong thế kỉ XX: Mục đích của

tội phạm học là cung cấp những trả lời khách

quan trên cơ sở nghiên cứu cho 4 câu hỏi cơ bản sau: 1) Tại sao tỉ lệ tội phạm lại khác nhau; 2) Tại sao các cá nhân phạm tội khác nhau; 3) Tại sao lại có sự khác nhau trong phản ứng đối với tội phạm; 4) Cái gì là những biện pháp hợp lí của kiểm soát sự phạm tội.(8)

Cũng theo ông, tội phạm học là khoa học mang tính liên ngành vì nó phải nhờ đến các ngành khoa học khác để có được sự tiếp cận tổng hợp để hiểu được vấn

đề của tội phạm trong xã hội đương thời và

để đưa ra các giải pháp đối với các vấn đề do tội phạm gây ra; đó là các ngành khoa học như nhân chủng học, sinh học, xã hội học, tâm lí học, tâm thần học (9)

Theo Bernd-Dieter Meier - giáo sư người Đức thì tội phạm học là khoa học nghiên cứu tội phạm như hiện tượng xã hội, các nguyên nhân của hành vi phạm tội, các hậu quả của

nó đối với nạn nhân và xã hội cũng như các biện pháp và cách thức mà các cơ quan nhà nước phản ứng trước sự việc xảy ra các hành

vi phạm tội; Tội phạm học là khoa học thực nghiệm nghiên cứu một cách hệ thống các sự việc có thực đã xảy ra; Tội phạm học thực hiện việc nghiên cứu mang tính liên ngành bằng cách đã tiếp thu và tiếp tục phát triển các phương pháp, quan điểm và lí luận của các ngành khoa học xã hội và nhân văn, điển hình là tâm lí học và xã hội học.(10)

Cũng có quan niệm tương tự, Hans-Dieter Schwind - giáo sư người Đức khác cho rằng: Tội phạm học được hiểu là lĩnh vực nghiên cứu liên ngành, dựa trên tất cả các khoa học thực nghiệm mà những khoa học này có mục đích là xác định phạm vi của tội phạm và tập hợp những kinh nghiệm về các hình thức thể

Trang 3

hiện và nguyên nhân của tội phạm, về người

phạm tội và nạn nhân của tội phạm cũng như

về sự kiểm soát của các tác động xã hội bao

gồm cả các khả năng xử lí đối với người

phạm tội và tác dụng của hình phạt.(11)

Ngoài ra, quan niệm về tội phạm học

hiện đại cũng có thể được tìm thấy trong tác

phẩm xuất bản gần đây nhất (năm 2008) của

giáo sư nổi tiếng khác người Đức - Hans

Göppinger Theo ông, tội phạm học là ngành

khoa học thực nghiệm độc lập nghiên cứu

các sự việc thuộc các lĩnh vực của con người

và xã hội mà chúng liên quan đến sự hình

thành tội phạm, việc phạm tội, hậu quả của

tội phạm và việc ngăn chặn tội phạm cũng

như việc xử lí những người phạm tội.(12)

Ở Việt Nam, trong các giáo trình hoặc

sách về tội phạm học, định nghĩa về tội

phạm học được đưa ra tương đối thống nhất,

trong đó nhấn mạnh đến đối tượng nghiên

cứu của tội phạm học là tội phạm và người

phạm tội; nguyên nhân của tội phạm và biện

pháp phòng chống tội phạm

Trong giáo trình xuất bản từ năm 1995,

GS.TS Đỗ Ngọc Quang cho rằng: “Tội phạm

học là ngành khoa học nghiên cứu những

vấn đề liên quan đến tình trạng phạm tội và

tội phạm ; nghiên cứu về nhân thân người

phạm tội, nguyên nhân, điều kiện phạm tội

và những biện pháp phòng ngừa tội phạm

nhằm từng bước ngăn chặn, hạn chế tội

Cũng với cách định nghĩa tương tự,

GS.TS Nguyễn Xuân Yêm cho rằng: “Tội

phạm học là ngành khoa học nghiên cứu tội

phạm, tình hình tội phạm, các nguyên nhân

và điều kiện phát sinh tội phạm, nghiên cứu

cá nhân kẻ phạm tội và những biện pháp phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm nhằm ngăn chặn, tiến tới loại trừ tội phạm

Như vậy, trong tất cả các định nghĩa khác nhau về tội phạm học, từ định nghĩa ban đầu đến định nghĩa trong thời gian gần đây đều khẳng định tội phạm là đối tượng nghiên cứu của tội phạm học Tội phạm ở đây có nghĩa là những hành vi bị coi là tội phạm đã được thực hiện trên thực tế, vì vậy cũng có thể gọi là tội phạm hiện thực.(15)

Tội phạm hiện thực được nghiên cứu từ góc độ

xã hội học như một hiện tượng xã hội số lớn

và được xem như một bộ phận của thực tại

xã hội Nghiên cứu “mặt xã hội” của tội phạm hiện thực là để có thể đánh giá được trạng thái của bộ phận thực tại xã hội này mà tìm cách thay đổi theo hướng tích cực Nguyên nhân của tội phạm cũng đã được khẳng định là đối tượng nghiên cứu của tội phạm trong hầu hết các định nghĩa về tội phạm học nêu trên Lịch sử phát triển của tội phạm học cho thấy nguyên nhân của tội phạm được nghiên cứu từ phía xã hội và từ phía người phạm tội và từ mỗi phía lại được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau, như

từ phía người phạm tội được nghiên cứu từ góc độ sinh lí và tâm lí Các kết quả nghiên cứu về nguyên nhân đều được nghiệm chứng trong thực tiễn và tạo cơ sở cho việc hình thành những hệ thống tri thức, quan điểm khác nhau về nguyên nhân của tội phạm mà thường được gọi là các học thuyết trong tội phạm học Lịch sử hình thành và phát triển tội phạm học trên thế giới cũng có thể được coi là lịch sử hình thành và phát triển các

Trang 4

học thuyết về nguyên nhân của tội phạm

Kiểm soát tội phạm cũng được coi là đối

tượng nghiên cứu của tội phạm học Điều

này được khẳng định rất sớm trong lịch sử

phát triển tội phạm học(16)

cũng như thể hiện trong hầu hết các định nghĩa về tội phạm học

được đưa ra

Khái niệm kiểm soát tội phạm bắt nguồn

từ khái niệm kiểm soát xã hội(17)

- một khái niệm của xã hội học và kiểm soát tội phạm

được coi là bộ phận của kiểm soát xã hội

Kiểm soát tội phạm(18)

có thể được hiểu chung nhất là hệ thống tổng thể các công cụ,

các cơ quan - tổ chức và các quá trình mà

với hệ thống này việc phản ứng xã hội đối

với việc thực hiện tội phạm được thực

hiện.(19)

Xét về cấu trúc có hai yếu tố hợp

thành hệ thống kiểm soát tội phạm, đó là các

chuẩn mực bao gồm cả các quy định pháp

luật (ví dụ như quy định của pháp luật hình

sự) và các phản ứng khác nhau đối với việc

thực hiện tội phạm (ví dụ ở Việt Nam là

phản ứng của Nhà nước thông qua các hoạt

động của các cơ quan tiến hành tố tụng và

thi hành án hình sự)

Trong các định nghĩa đã nêu về tội phạm

học, các tác giả đã có những cách thể hiện

khác nhau để đề cập một đối tượng nghiên

cứu của tội phạm học là kiểm soát tội phạm

Các nội dung được đề cập sau đây đều thuộc

nội dung của kiểm soát tội phạm: “ các

khía cạnh pháp lí và sự kiểm soát ”; “ các

biện pháp và cách thức mà các cơ quan nhà

nước phản ứng trước sự xảy ra của các hành

vi phạm tội ”; “ sự kiểm soát của các tác

động xã hội bao gồm cả các khả năng xử lí

đối với người phạm tội và tác dụng của hình

phạt ”;“ việc ngăn chặn hành vi phạm tội cũng như việc xử lí những người phạm tội ” Trong các tài liệu ở Việt Nam, “Biện pháp đấu tranh phòng chống tội phạm”

được đề cập nhiều như là đối tượng nghiên cứu của tội phạm học Trong đó có một số nội dung gần với một số nội dung của kiểm soát tội phạm, vì chúng cũng bao gồm những biện pháp phản ứng của Nhà nước đối với tội phạm hiện thực Đó là những biện pháp đấu tranh chống tội phạm mang tính phòng ngừa, như biện pháp đấu tranh phòng chống tội phạm bằng pháp luật hình sự và thông qua các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự và cơ quan thi hành án (gọi chung là các cơ quan kiểm soát tội phạm) Những phân tích ở trên cho thấy đã có

đủ cơ sở thực tiễn khoa học để khẳng định tội phạm học có đối tượng nghiên cứu độc lập, đó là tội phạm hiện thực với ý nghĩa là hiện tượng xã hội số lớn và các hiện tượng, quá trình liên quan trực tiếp đến tội phạm hiện thực thuộc về nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm

Những viện dẫn và phân tích nêu trên đã làm rõ những đặc điểm khoa học của tội phạm học Tội phạm học không phải là khoa học đơn ngành mà là khoa học liên ngành và

là khoa học thực nghiệm.(20)

Những tri thức khoa học hợp thành tội phạm học được đúc kết từ các kết quả nghiên cứu - là những kinh nghiệm từ quan sát, tìm hiểu về tội phạm trong thực tế như là hiện tượng xã hội, nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm - không thể không dựa vào các ngành khoa học thực nghiệm liên quan về con người và xã hội, đặc biệt là tâm lí học và xã

Trang 5

hội học Đúng như một học giả đã khẳng

định: Tội phạm học không thể xuất hiện mà

không có các khoa học liên quan.(21)

Trên cơ sở kế thừa quan niệm truyền

thống mà vẫn phù hợp với sự phát triển của

tội phạm học hiện đại và đảm bảo sự thống

nhất tương đối với các quan niệm khác nhau

hiện nay về tội phạm học, có thể đưa ra định

nghĩa về tội phạm học như sau: Tội phạm

học là khoa học liên ngành, thực nghiệm

nghiên cứu về tội phạm (hiện thực), nguyên

nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm

Các đối tượng nghiên cứu đã nêu của tội

phạm học đồng thời cũng là những nội dung

khái quát của tội phạm học Mỗi nội dung

này lại bao gồm các nội dung cụ thể liên

quan Khi nghiên cứu về tội phạm hiện thực

đòi hỏi phải nghiên cứu cả về người phạm

tội với ý nghĩa là chủ thể gây ra tội phạm, về

nạn nhân của tội phạm và hậu quả gây ra cho

nạn nhân của tội phạm Hoặc khi nghiên

cứu về nguyên nhân của tội phạm cũng đòi

hỏi nghiên cứu cả người phạm tội và nạn

nhân của tội phạm để tìm hiểu về nguyên

nhân từ phía người phạm tội và nạn nhân của

tội phạm Nghiên cứu về kiểm soát tội

phạm bao gồm cả nghiên cứu về hiệu quả

của pháp luật hình sự, hiệu quả của hình

phạt, hiệu quả của hoạt động đấu tranh

chống tội phạm của các cơ quan tiến hành tố

tụng từ góc độ phòng ngừa tội phạm và

nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm Điều

này lí giải tại sao trong các tài liệu nghiên

cứu về tội phạm học, bên cạnh những nội

dung trực tiếp thuộc đối tượng nghiên cứu

của tội phạm học còn có nhiều nội dung cụ

thể khác được nêu thuộc về nội dung của tội

phạm học như nhân thân người phạm tội, nạn nhân của tội phạm, hình phạt học, phòng ngừa tội phạm /

(1).Xem: Frank Schmalleger (PH.D Professor Emeritus, The University of North Carolina at Pembroke), Criminology Today, Prentice Hall 2002, tr 14; Bernd-Dieter Meier (Professor an der Universitaet Hannover), Kriminologie, Verlag C.H Beck Muenchen 2005, tr 4; Ulrich Eisenberg (Professor an der Freier Universitaet Berlin), Kriminologie, Verlag C.H Beck Muenchen 2005, tr 1 Trong các tài liệu này, các tác giả tuy đều khẳng định Paul Topinard là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ tội phạm học nhưng

về thời gian lại xác định khác nhau Theo Frank Schmalleger thời gian được xác định vào năm 1889; còn theo Bernd-Dieter Meier thời gian được xác định vào năm 1879

(2).Xem: Bernd-Dieter Meier (Professor an der Universitaet Hannover), Kriminologie, Verlag C.H Beck Muenchen 2005, tr 4

(3) Trong tiếng Anh là: “The study of crime”; Trong tiếng Đức là: “Lehre von der Kriminalitaet”; Xem: Karl-Ludwig Kunz (Professor an der Universitaet Bern/Schweiz), Kriminologie, Haupt Verlag Bern-Stuttgart-Wien 2004, tr 1

(4).Xem: Ewin H Sutherland, Crimonology (Philadelphia: J.B Lippincott, 1924), tr 11; Frank Schmalleger (PH.D Professor Emeritus, The University of North Carolina at Pembroke), Criminology Today, Prentice Hall 2002, tr 14 (5).Xem: Gennaro F Vito and Rolald M Holmes, Criminology: Theory, Research, and Policy (Belmont, CA: Wadsworth, 1994), tr 3; Frank Schmalleger (PH.D Professor Emeritus, The University of North Carolina at Pembroke), Criminology Today, Prentice Hall 2002, tr 14

(6) Clement Bartolla and Simon Dinitz, Introduction

to Criminology: Order and Dísorder (New York:

Harper and Row, 1989), tr 548

(7) Frank Schmalleger (PH.D Professor Emeritus, The University of North Carolina at Pembroke), Criminology Today, Prentice Hall 2002, tr 15

Trang 6

(8).Xem: Frank Schmalleger (PH.D Professor Emeritus,

The University of North Carolina at pembroke),

Criminology Today, Prentice Hall 2002, tr 15

(9).Xem: Frank Schmalleger, Sđd, tr 15

(10).Xem: Bernd-Dieter Meier (Professor an der

Universitaet Hannover), Kriminologie, Verlag C.H

Beck Muenchen 2005, tr 2

(11).Xem: Hans-Dieter Schwind (Professor an der

Universitaet Osnabrueck und Ruhr-Universitaet

Bochum), Kriminologie: Eine praxisorientierte

Einfuehrung mit Beispielen, Kriminalistik Verlag

Heidelberg, 2007, tr 8

(12).Xem: Hans Göppinger (Professor an der

Universitaet Tuebingen), Kriminologie, Verlag C.H

Beck Muenchen, 2008, tr 1, 2

(13) Đỗ Ngọc Quang, Khoa luật, Đại học tổng hợp

Hà Nội, Giáo trình tội phạm học, 1995, tr 8

(14) Nguyễn Xuân Yêm, Tội phạm học hiện đại và

phòng ngừa tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà

Nội, 2001, tr 12

(15) Theo Từ điển tiếng Việt, “hiện thực” là cái tồn

tại trong thực tế, vì vậy, tội phạm hiện thực là tội

phạm tồn tại trong thực tế

(16) Ngay từ đầu thế kỉ XX nhà tội phạm học người

Mỹ Ewin H Sutherland đã khẳng định kiểm soát tội

phạm là một trong 3 lĩnh vực cơ bản của tội phạm học

bao gồm: xã hội học pháp luật; phân tích khoa học

các nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm

Xem: Sutherland, Principles of Criminology, tr 1

(17) Để hiểu rõ hơn về kiểm soát xã hội có thể tham

khảo đoạn giải thích sau: “Kiểm soát xã hội là sự bố

trí các chuẩn mực, các giá trị cùng những chế tài để

ép buộc việc thực hiện chúng Sự kiểm soát sẽ khuôn

các hành vi cá nhân, các nhóm vào khuôn mẫu đã

được xã hội thừa nhận là đúng, cần phải làm theo

Kiểm soát xã hội sẽ dùng các chế tài tiêu cực đẩy các

hành vi lệch lạc vào khuôn phép hay vào một trật tự”

Xem: GS Phạm Tất Dong - TS Lê Ngọc Hùng (đồng

chủ biên), Xã hội học, Nxb Giáo dục, 2007, tr 194

(18) Để làm rõ hơn quan điểm khẳng định kiểm soát

tội phạm là đối tượng nghiên cứu của tội phạm học và

tại sao không phải là phòng ngừa tội phạm, cần thiết

phải phân biệt rõ hơn về hai khái niệm này: Nội dung

của khái niệm kiểm soát tội phạm và nội dung của khái niệm phòng ngừa tội phạm có thời gian được hiểu như nhau Khái niệm ban đầu của phòng ngừa tội phạm là dựa trên cơ sở của luật hình sự và bảo vệ pháp luật hình sự Do đó phòng ngừa tội phạm được coi đơn thuần là nhiệm vụ của các cơ quan kiểm soát tội phạm (như công an, kiểm sát, tòa án và cơ quan thi hành án hình sự) Kiểm soát tội phạm cũng góp phần

và hướng tới phòng ngừa tội phạm Mãi tới những năm 90 của thế kỉ XX, ví dụ như ở CHLB Đức khái niệm phòng ngừa tội phạm mới được quan tâm, thảo luận rộng rãi và phát triển Lúc đó mới có sự phân biệt rõ ràng hai khái niệm này Hai khái niệm này có nhiều điểm chung nhưng có một số điểm khác biệt Khái niệm phòng ngừa tội phạm rộng hơn khái niệm kiểm soát tội phạm Kiểm soát tội phạm chỉ là một phần của những cố gắng nhằm phòng ngừa tội phạm Nếu như khái niệm kiểm soát tội phạm được đặc trưng bởi các hình thức phản ứng hậu tội phạm (sau khi được thực hiện) đến người phạm tội thì khái niệm phòng ngừa tội phạm được đặc trưng bởi các biện pháp tích cực (tiền tội phạm) hướng vào sự ngăn ngừa việc thực hiện tội phạm Kiểm soát tội phạm thuộc vấn đề cơ bản của tội phạm học, còn phòng ngừa tội phạm lại đặt quan tâm hàng đầu vào sự vận dụng những kiến thức cơ bản của tội phạm học Xem: Bernd-Dieter Meier (Professor an der Universitaet Hannover), Kriminologie, Verlag C.H Beck Muenchen

2005, tr 271

(19).Xem: Bernd-Dieter Meier (Professor an der Universitaet Hannover), Kriminologie, Verlag C.H Beck Muenchen 2005, tr 267

(20) Được coi là những khoa học thực nghiệm hay khoa học kinh nghiệm là những ngành khoa học mà trong đó những đối tượng và những sự việc của thế giới, ví dụ như các hành tinh, động vật, các phương thức hành vi của con người được nghiên cứu qua thực nghiệm (thí nghiệm), quan sát lĩnh vực hay hỏi thăm

dò ý kiến Xem: Empire, http://de.wikipedia.org (21).Xem: Hans-Dieter Schwind (Professor an der Universitaet Osnabrueck und Ruhr-Universitaet Bochum), Kriminologie: Eine praxisorientierte Einfuehrung mit Beispielen, Kriminalistik Verlag Heidelberg, 2007, tr 9

Ngày đăng: 15/03/2014, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w