1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Tư tưởng lập hiến Việt Nam và một số vấn đề đặt ra khi tiến hành sửa đổi hiến pháp năm 1992 " pptx

9 549 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 278,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, trong tư tưởng của mình, Phan Châu Trinh luôn khẳng định lấy mẫu mực là nền dân chủ ở nước Pháp lúc bấy giờ bởi ông cho rằng “nước pháp là một nước đẻ ra dân quyền cho thế giới”,

Trang 1

TS TRƯƠNG THỊ HỒNG HÀ*

hi nghiên cứu về tư tưởng lập hiến

hiện đại, các nhà khoa học thường đi

đến nhận định: “Các tư tưởng lập hiến hiện

đại đều coi hiến pháp như một văn bản có

sứ mệnh xác lập chế độ mới thay thế chế độ

cũ và coi nó như là một bản khế ước xã hội

của nhân dân”.(1)

Ở Việt Nam, tư tưởng lập hiến Việt Nam ra đời muộn hơn các tư

tưởng lập hiến trên thế giới nên có ưu thế là

vừa kế thừa tư tưởng lập hiến hiện đại lại

vừa thể hiện một cách sâu sắc xã hội Việt

Nam qua các thời kì lịch sử Do đó, sự hình

thành, phát triển tư tưởng lập hiến Việt

Nam cũng có nhiều thăng trầm, gắn liền với

các cuộc cải cách chính trị, các cuộc cách

mạng đấu tranh giành độc lập dân tộc trong

nước và các phong trào giải phóng dân tộc

trên thế giới Tư tưởng lập hiến của Việt

Nam vì thế đan xen hai trào lưu tư tưởng:

trào lưu thứ nhất: tư tưởng lập hiến yêu

nước - khuynh hướng kiên quyết chống

thực dân Pháp để giành độc lập cho đất

nước; trào lưu thứ hai: khuynh hướng thoả

hiệp: duy trì sự thống trị của thực dân Pháp

ở Việt Nam và nhờ Pháp ban hành hiến

pháp và pháp luật trên lãnh thổ Việt Nam

Bài viết tập trung phân tích hai trào lưu tư

tưởng lập hiến của Việt Nam nêu trên, từ đó

đặt vấn đề nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp

hiện hành

1 Tư tưởng lập hiến Việt Nam đầu thế

kỉ XX

a Tư tưởng lập hiến yêu nước

* Tư tưởng lập hiến của Phan Bội Châu

Điển hình cho tư tưởng lập hiến theo khuynh hướng chống Pháp, giành độc lập dân tộc là tư tưởng của Phan Bội Châu.(2)

Tư tưởng lập hiến của Phan Bội Châu được thể hiện rõ ràng nhất ở thời điểm phong trào Cần vương bị thất bại, Nhật Bản là đất nước châu

Á đầu tiên có Hiến pháp Bản Hiến pháp Minh Trị đã tạo ra cơ sở pháp lí vững chắc để Nhật Bản phát triển dân trí, dân chủ và dân quyền

Sự phát triển về chính trị - pháp lí của Nhật Bản đã tác động vào tinh thần yêu nước tiến

bộ của Phan Bội Châu, ông khẳng định tư tưởng học hỏi, cầu thị rất tiến bộ:

“Gương Nhật Bản, đất Á Đông Gương ta ta phải soi chung khỏi lầm”

“Lập hiến pháp từ đầu Minh Trị Bốn mươi năm dân trí mở mang”.(3)

“Tôi thiết tưởng nước ta từ xưa vẫn chưa

có Hiến pháp, nay lập bản Hiến pháp không những là một sự hay, lại còn là một điều cần Thế nào cũng phải có Hiến pháp, lẽ ấy tất nhiên” (4) Theo Phan Bội Châu thì mô

K

* Giảng viên Học viện chính trị-hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Trang 2

hình Hiến pháp Việt Nam sẽ “châm chước

theo hiến pháp của các nước quân chủ như

Anh, nước Nhật; theo hiến pháp của các

nước Mỹ, nước Đức, nước Nga lại phải tùy

theo trình độ dân ta mà lựa chọn lấy những

điều thích hợp thì mới có thể gọi là hoàn

thiện được”.(5)

Quan niệm này cho thấy Phan Bội Châu

là người có tư tưởng lập hiến tiến bộ Ông

muốn Việt Nam có bản Hiến pháp như các

nước phát triển song lại không muốn rập

khuôn, khiên cưỡng mà muốn bản hiến pháp

đó phải thể hiện sâu đậm bản chất của Việt

Nam trên nền chính thể quân chủ Tuy nhiên,

sau này, trong cuộc họp thành lập Việt Nam

Quang phục hội, Phan Bội Châu khi chắp

bút viết tôn chỉ của hội đã khẳng định mô

hình chính thể của Việt Nam là: “Khu trục

Pháp tặc, khôi phục Việt Nam, kiến lập Việt

Nam cộng hoà quốc”.(6)

Tư tưởng lập hiến hiện đại của Phan Bội Châu vừa thể hiện chủ

nghĩa yêu nước vừa thể hiện tinh thần tiến

bộ, cầu thị và học hỏi Tư tưởng này đã được

các chí sĩ Việt Nam yêu nước kế thừa

* Tư tưởng lập hiến của Phan Châu Trinh

Cùng thời với Phan Bội Châu, Phan

Châu Trinh là nhà tư tưởng lập hiến yêu

nước Trong tư tưởng của mình, ông luôn đề

cao hiến pháp và coi hiến pháp là công cụ

pháp lí cơ bản để hạn chế quyền lực đang

được tập trung trong tay vua ở các nhà nước

phương Đông Phan Châu Trinh khẳng định:

"Lấy theo ý riêng một người hay một triều

đình mà trị một nước, thì cái nước ấy không

khác gì một đoàn chiên, được ấm no vui vẻ

hay là phải đói lạnh khổ sở, là tuỳ theo lòng

rộng hay hẹp của người chăn chiên Còn như theo cái chủ nghĩa dân trị, thì tự quốc

dân lập ra hiến pháp, luật lệ, đặt ra các cơ

quan để lo chung cho mọi người ".(7)

Cùng

là xác định tầm quan trọng của hiến pháp song tư tưởng lập hiến của Phan Châu Trinh không giống với tư tưởng lập hiến của Phan Bội Châu Bởi lẽ, nếu như Phan Bội Châu khẳng định đường lối đấu tranh giành độc lập để ban hành bản hiến pháp thì Phan Châu Trinh lại thể hiện tư tưởng dựa vào Pháp để cầu tiến và tự trị Do đó, trong tư tưởng của mình, Phan Châu Trinh luôn khẳng định lấy mẫu mực là nền dân chủ ở nước Pháp lúc

bấy giờ bởi ông cho rằng “nước pháp là một nước đẻ ra dân quyền cho thế giới”, “nước Pháp là một nước làm tiền đạo văn minh của toàn cầu, nay hiện bảo hộ nước ta, mình nhân đó mà học theo, chuyên tâm về mặt khai trí trị sinh, các việc thực dụng, dân trí

đã mở rộng, trình độ ngày sẽ một cao, tức là cái nền độc lập ngay sau ở đây”.(8)

Theo Phan Châu Trinh thì chế độ quân chủ lập

hiến “Quân dân cộng trị mà Tàu dịch là quân chủ lập hiến tức như chính thể nước Anh, nước Bỉ, nước Nhật đang theo hiện nay” là hình thức được thực hiện ở châu Âu

từ rất lâu rồi Theo đó, ông cho rằng: “cái chủ nghĩa dân trị hơn cái chủ nghĩa quân trị nhiều”(9)

bởi lẽ “cái chủ nghĩa dân trị thì tự quốc dân lập ra hiến pháp, luật lệ, đặt ra các cơ quan để lo chung mọi người Lòng quốc dân muốn thế nào thì được thế ấy”.(10)

Như vậy, có thể thấy rằng tư tưởng lập hiến của Phan Châu Trinh là tư tưởng theo chủ nghĩa lập hiến dân chủ tư sản Tư tưởng đó

Trang 3

được xem là luồng ánh sáng chiếu rọi vào

thực tiễn đất nước ta giai đoạn đầu của thế

kỉ XX Đó là sự cộng hưởng ánh sáng về

chủ nghĩa lập hiến hiện đại: khẳng định vai

trò của hiến pháp trong đời sống dân chủ

của nhà nước

* Tư tưởng lập hiến của Huỳnh Thúc Kháng

Bên cạnh Phan Bội Châu, Phan Châu

Trinh, tư tưởng lập hiến của Huỳnh Thúc

Kháng có sức sống mãnh liệt bởi nó được

khẳng định một cách rõ ràng nhất trong thực

tiễn nhu cầu về hiến pháp Tuy nhiên, con

đường hình thành hiến pháp của Huỳnh

Thúc Kháng lại hết sức đặc biệt Ông khẳng

định: “Chúng tôi sở dĩ nói đến vấn đề hiến

pháp là vì thấy rõ trong xứ Trung Kỳ này

phụ thuộc dưới quyền bảo hộ gần nửa thế kỉ

nay, mà chính thể trong xứ quyền hạn không

được rõ ràng, trách nhiệm không được đảm

thụ, trăm điều rắc rối bởi đó mà ra Quốc thị

đã mơ màng thì nhân dân không biết đường

nào xu hướng, đó là cái lẽ tự nhiên Bởi vậy,

để cho cuộc trị an trong xứ được lâu dài

cùng các dây liên lạc giữa người Pháp cùng

người Nam bền chặt thì cần thiết phải có

một cơ thể chính trị, chia bộ phận mà có

trách nhiệm, định quyền hạn mà có quy thức,

để chỉnh đốn việc lợi ích chung trong xứ Đó

là một điều cốt yếu tức là Hiến pháp

vậy”.(11)

Với tư tưởng đó, Huỳnh Thúc

Kháng đã khẳng định vai trò của hiến pháp

trong bài diễn văn đọc tại Viện dân biểu

Trung Kỳ: “Nhà nước mà cho hiến pháp là

một cái nền nếp chính trị bền vững lâu dài

trong xứ này, hợp với toàn thể ý nguyện

trong nhân dân” Mặc dù Huỳnh Thúc

Kháng có nhiều quan điểm tiến bộ và có vị trí quan trọng trong Viện dân biểu song thực chất, các quan điểm, tư tưởng lập hiến của ông lại gặp phải nhiều trở ngại, đặc biệt là với đối tượng thực dân phong kiến bởi những tuyên bố hùng hồn và sự hiểu biết cặn

kẽ về vai trò của hiến pháp và chủ nghĩa lập hiến trên thế giới

* Tư tưởng lập hiến của các sĩ phu yêu nước thể hiện trong thơ văn Đông kinh nghĩa thục

Đông kinh nghĩa thục là phong trào của những sĩ phu yêu nước, xuất phát từ tầng lớp phong kiến song đã rời bỏ phong trào Cần vương cứu nước để đi theo con đường cứu nước mang tính dân chủ tư sản Tư tưởng lập hiến Đông kinh nghĩa thục được thể hiện qua Văn minh tân học sách, Tân đính luân lí giáo khoa, quốc dân độc bản… Đây là trào lưu tư tưởng tiến bộ về hiến pháp được đánh giá cao trong lịch sử Bởi lẽ, trong các tác phẩm của mình, các chí sĩ yêu nước đã khẳng định vai trò của hiến pháp, bài xích chế độ quân chủ chuyên chế, cổ vũ cho chủ nghĩa lập hiến đang lan rộng sức sống ở Tây Âu, thể

hiện: “Người châu Âu họ tổ chức chính quyền trong nước có chính thể lập hiến, có chính thể quân dân cộng hoà Cứ số bao nhiêu người dân thì cử một người làm nghị viên”(12)

và “Ngày nay, sống trong thế giới cạnh tranh kịch liệt, ta phải nghĩ đến liên hiệp các đoàn thể, cùng nhau định ra hiến pháp mà vui vẻ làm tròn nghĩa vụ của quốc dân để bảo vệ non sông tổ quốc”(13)

“Hiến pháp quy định chế độ chính quyền: chính thể lập hiến và chính thể cộng hoà Vua tôi nắm chính quyền nhưng cũng ở

Trang 4

trong phạm vi của hiến pháp Nước ta thì

không có mục nào như thế”.(14)

* Tư tưởng lập hiến của các tầng lớp trí

thức tân học

- Tư tưởng lập hiến của Nguyễn An Ninh

và Phan Văn Trường

Hai ông đều là trí thức từng học ở Pháp

và chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân quyền

của Pháp, Nguyễn An Ninh và Phan Văn

Trường được nhắc đến là hình ảnh của

những nhà dân chủ Trong tư tưởng lập hiến

của mình, các ông luôn thể hiện vị trí, vai trò

của hiến pháp trong việc đảm bảo các quyền

cơ bản của con người Cả hai ông đều muốn

tranh thủ quyền tự do ngôn luận và nghề

nghiệp nhà báo của mình để khẳng định về

tầm quan trọng của một hiến pháp dân chủ

Theo Nguyễn An Ninh thì “có hiến pháp để

bảo đảm tự do và quyền lợi của các bạn”.(15)

Còn Phan Xuân Trường thì khẳng định trong

chế độ thuộc địa thì không có hiến pháp, do

đó, lập hiến là yêu cầu tất yếu của mọi dân

tộc trong thời đại ấy Ông xác định: “Hiến

pháp là luật làm căn bổn, làm cơ địa Quốc

chánh cứ nương đó mà lập ra các luật

khác”.(16)

Tư tưởng của Phan Văn Trường về

lập hiến còn thể hiện sự tiến bộ, gần gũi với

chủ nghĩa Mác Bởi lẽ, theo Phan Văn

Trường thì: “Ở những nước có Hiến pháp,

cái chủ ngãi quan hệ nhất là cái chủ ngãi

phân quyền Phân quyền nghĩa là lập nên

những quyền trong quốc gia đứng tự chủ,

không có quyền nọ phải quỵ lụy quyền kia,

như là quyền lập pháp là quyền làm ra pháp

luật, đứng tự chủ không tùy lụy về quyền

hành pháp là quyền thi hành những pháp

luật đã ra rồi ”.(17)

* Tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh

Tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh được hình thành và thể hiện một cách rõ nét

từ Bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi đến Hội nghị Véc-xây vào đầu năm 1919 sau này được phổ thơ với tựa đề Việt Nam yêu cầu ca (1922):

“Bảy xin Hiến pháp ban hành Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”.(18)

Tiếp theo đó, trong Bản yêu sách gửi cho Hội vạn quốc(19)

vào ngày 30/8/1926 Người

đã khảng khái đề nghị: “Sắp xếp một nền Hiến pháp về phương diện chính trị và xã hội theo như những lí tưởng dân quyền; luật kính trọng những cái thiểu số của chủng loại (nghĩa là không xâm phạm đến những dân tộc nhỏ như Lào, Cao Miên), biết tôn trọng

sự làm ăn, cốt để lập một nền Đông Dương liên bang dân chủ”.(20)

Tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh rất tiến bộ Bởi lẽ, Người khẳng định mối tương quan giữa hiến pháp và pháp quyền Trong

đó hiến pháp bao giờ cũng là tiền đề cho sự tồn tại của pháp quyền, còn pháp quyền là nhu cầu để hiến pháp được tồn tại và có hiệu lực Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, ý nghĩa, vai trò của hiến pháp được khẳng định bởi nó thể hiện tính chất “dân quyền” hay nói cách khác, hiến pháp là văn bản pháp lí thể hiện các quyền cơ bản của con người Thông qua hiến pháp, các quyền đó trở thành quyền năng hiến định đòi hỏi Nhà nước và các cơ quan nhà nước phải tôn trọng và bảo đảm thực hiện Đây thực sự là tư tưởng lập

Trang 5

hiến tiến bộ, văn minh và phù hợp với xu thế

dân chủ của nhân loại

Tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh

được thể hiện trong cả quá trình đấu tranh

tìm đường cứu nước song tập trung và rõ

ràng nhất trong bản Tuyên ngôn độc lập và

sau đó là các nhiệm vụ cấp bách của Nhà

nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Hồ Chí

Minh nhấn mạnh nhiệm vụ thứ ba: “Trước

chúng ta bị chế độ quân chủ chuyên chế cai

trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần

chuyên chế nên nước ta không có hiến

pháp Nhân dân ta không được hưởng

quyền tự do dân chủ Chúng ta phải có Hiến

pháp dân chủ”.(21)

Điều quan trọng trong tư tưởng lập hiến

của Hồ Chí Minh đó là Người khẳng định

trong nhà nước thuộc chế độ quân chủ chuyên

chế hay chế độ thực dân phong kiến thì hiến

pháp không thể có điều kiện để tồn tại Chỉ

trong nhà nước dân chủ, các quyền công dân

được đảm bảo thì mới nảy sinh nhu cầu cần

có hiến pháp để thể hiện tinh thần dân chủ

đó Do vậy, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng

hoà - một chính quyền non trẻ thì cho dù có

nhiều việc cấp bách cần phải làm thì lập hiến

phải được xem là nhiệm vụ hàng đầu

Trong thực tiễn soạn thảo bản hiến pháp

đầu tiên của nước ta, Hồ Chí Minh đã nhấn

mạnh vai trò của nhân dân trong việc ra đời

hiến pháp Đó là việc thu thập ý kiến của

nhân dân về dự thảo Hiến pháp được Hội

đồng Chính phủ thảo luận Ngày 10/11/1945,

báo Cứu quốc đã đăng tải toàn văn dự thảo

Hiến pháp kèm theo thông cáo: “Muốn cho

tất cả nhân dân Việt Nam dự vào việc lập

hiến của nước nhà nên Chính phủ công bố

Bản dự án Hiến pháp này để mọi người đọc

kĩ càng và được tự do bàn bạc, phê bình…

Ủy ban dự thảo Hiến pháp sẽ tập trung các

đề nghị sửa đổi và ý kiến của nhân dân rồi trình toàn quốc dân đại hội thảo luận”.(22)

Sau Tổng tuyển cử gần 2 tháng, Quốc hội đã triệu tập khóa đầu tiên, bản dự thảo Hiến pháp đã được Quốc hội bàn bạc, thảo luận Trong phiên bế mạc kì họp thứ hai, Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã kết luận: “Sau khi nước nhà mới được tự do được 14 tháng, đã làm thành bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà Bản hiến pháp đầu còn là một vết tích lịch sử Hiến pháp đầu tiên trên cõi Á Đông này nữa Bản Hiến pháp đó chưa hoàn toàn nhưng nó đã làm nên theo một hoàn cảnh thực tế Hiến pháp đó đã tuyên bố với thế giới biết dân tộc Việt Nam đã có đủ quyền tự

do Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới: phụ

nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự

do của một công dân Hiến pháp đó đã nêu lên một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bình của các giai cấp”.(23)

Bản Hiến pháp thứ nhất của Việt Nam đã thể hiện đậm nét tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh Đó

là tư tưởng lập hiến yêu nước, tiến bộ Tư tưởng lập hiến đó đã tạo ra các điều luật của bản hiến pháp ngang tầm với nền chính trị tiên tiến trên thế giới lúc bấy giờ Cho đến ngày nay, giá trị của tư tưởng lập hiến yêu nước của các nhà tư tưởng lập hiến Việt Nam thể hiện trong bản hiến pháp đầu tiên vẫn đang có giá trị và ý nghĩa cho thời đại mới

Trang 6

b Tư tưởng lập hiến của những nhà lập

hiến theo khuynh hướng thoả hiệp với thực

dân Pháp

* Tư tưởng lập hiến của Nguyễn Văn

Vĩnh (1882 - 1936)

Theo Nguyễn Văn Vĩnh thì thực dân tuy

có hại nhưng không hại bằng phong kiến

“Bảo hộ dù chưa làm cho ta đến cực điểm,

song tỉ với thời xưa cũng còn hơn gấp trăm

phần mà lại thêm được chút tự do, hơi nếm

mùi dân chủ Kẻ bạo ngược có ăn hiếp thì ăn

hiếp được đứa dại mà thôi, người nào khôn

ngoan, có học thì kể cũng được hưởng tự do

chẳng kém chi người Lang-sa là mấy”.(24)

Đồng thời, tờ Đông Dương tạp chí cũng rao

giảng: “Nghĩ trong bấy nhiêu lẽ thì dân ta

thời nay chỉ nên giữ lấy một chủ nghĩa Pháp

- Việt May mà ta được thầy Đại pháp thì cố

mà giữ riết lấy thầy Đại Pháp Chuyên mà

làm ăn, dốc chí học hành Mấy thứ bàn

nhãn, xu càn, bắt được, ta nên bỏ rọ lăn

sông”.(25)

Đây là tư tưởng lập hiến chịu sự

ảnh hưởng của nền chính trị pháp lí Pháp

dưới tên gọi bảo hộ Với các lập luận của

mình, tư tưởng của Nguyễn Văn Vĩnh thể

hiện mong muốn có chế độ dân chủ thực sự

song muốn hưởng nền dân chủ thì đòi hỏi

người dân phải có đủ trình độ dân trí để sử

dụng Do đó, dân trí, dân sinh, dân quyền là

ba yêu cầu mà người dân phải có để thụ

hưởng quyền dân chủ Ba thứ quyền đó chỉ

có được nếu chủ nghĩa Pháp - Việt được

thực hiện ở Việt Nam Tư tưởng này thể hiện

mục đích hướng đến dân chủ song sai lầm về

phương pháp thực hiện do đó đã vấp phải

nhiều sự phản bác

* Tư tưởng lập hiến của Phạm Quỳnh (1892 - 1945)

Tư tưởng lập hiến của Phạm Quỳnh thể hiện theo chủ thuyết quân chủ lập hiến

mạnh mẽ Theo đó, “lập hiến là quốc vương đem một phần chính quyền của mình mà nhường cho hội nghị thay mặt dân” và

“theo lối quân chủ lập hiến nghĩa là ban hiến pháp cho dân cùng được tham dự một phần vào việc nước bằng một hội nghị bầu

cử, quyền hạn rộng hẹp thế nào sẽ tùy theo trình độ dân mà định”.(26)

Phạm Quỳnh là người có tư tưởng lập hiến khá quyết liệt Ông đã dùng nhiều lời lẽ phân tích, luận giải và so sánh chính thể cộng hoà với hình thức quân chủ lập hiến đang tồn tại ở Anh

và Nhật Trong chính thể quân chủ lập hiến

mà ông bảo vệ, ông đã chỉ ra rằng: “Vua chỉ

là người đứng lên thừa hành bản hiến pháp

mà chính nhân dân toàn quốc được triệu tập dự thảo và quyết định Như thế, chúng

ta có một chế độ trường cửu do ý dân tự tạo cho mình Chớ như chế độ cộng hoà hay dân chủ thì sợ mỗi lần sau bốn năm có thay đổi tổng thống thì phải thay đổi tất cả làm cho guồng máy hành chính trong nước phải

bị xáo trộn trầm trọng”.(27)

Với lập luận như vậy, Phạm Quỳnh còn chỉ ra cách lập hiến cho nước Nam và nhu cầu lập hiến đăng trên báo Nam Phong (6/1930) như

sau: “Cần phải lập ra cái hiến pháp khiến cho có thể đặt được một Chính phủ Việt Nam chân chính, hành động ở dưới quyền kiểm soát của bảo hộ Như thế thì quyền quân chủ nước Nam sau này không thể là

Trang 7

quân chủ chuyên chế được nữa; phải là

quân chủ lập hiến vậy”.(28)

Tuy nhiên, Phạm Quỳnh lại mắc sai lầm khi đặt vấn đề

“Xin Chính phủ bảo hộ giúp cho quốc

vương An Nam ban cho dân Hiến pháp đó”

với nội dung “Việc nội trị của nước An

Nam vẫn phải trong tay người An Nam, bảo

hộ chỉ có cái chức trách khuyên bảo, cái

chức trách kiểm soát mà thôi, quốc vương

An Nam vẫn giữ quyền nội trị trong nước

như xưa” Tài phán hiến pháp được Phạm

Quỳnh đặt vấn đề là “Khi Chính phủ Việt

Nam với Chính phủ bảo hộ có điều xung

đột, thời việc phân tranh sẽ đem điều đình

tại Paris bằng phương pháp ngoại giao và

ở Paris sẽ đặt một phái bộ An Nam thường

trực để thay mặt cho Chính phủ Việt Nam ở

trước Chính phủ Pháp”.(29)

Có thể thấy tư tưởng lập hiến của Phạm Quỳnh hàm chứa

nội dung phong phú về hiến pháp song thực

chất, tư tưởng lập hiến này không nhất quán

và có nhiều mâu thuẫn giữa dân chủ và hiện

đại, giữa bảo vệ dân quyền và pháp quyền

Song điều đáng bàn đó là tư tưởng lập hiến

của Phạm Quỳnh đã xác định tầm quan

trọng của hiến pháp ngay cả khi nhà nước

đang trong chế độ thực dân bảo hộ

* Tư tưởng lập hiến của Bùi Quang

Chiêu và Đảng lập hiến

Bùi Quang Chiêu và Đảng lập hiến xác

định “chủ nghĩa của Đảng lập hiến là Pháp

- Việt đuề huề”.(30) Do đó, tư tưởng lập hiến

của Bùi Quang Chiêu là “một ngày xa xôi

nào đó, Đông Dương sẽ được nước Pháp

ban cho một quy chế tựa như quy chế tự trị

Úc, Canada đối với nước Anh”.(31)

Với tư tưởng đó, theo trường phái cải lương, ôn hoà, Bùi Quang Chiêu xác định tầm quan trọng của hiến pháp liên quan đến vấn đề dân chủ song tư tưởng lập hiến của ông lại không thoát khỏi sự bảo hộ của thực dân Do

đó, cho dù có tư tưởng tiến bộ khi tiếp cận đến vấn đề lập hiến song thực chất, lập trường chính trị của họ là chủ nghĩa cải lương nên tư tưởng lập hiến của Bùi Quang Chiêu không được nhìn nhận ở khía cạnh thực tế từ cả phía người An Nam và cả phía Pháp Đánh giá về tư tưởng lập hiến của Phạm Quỳnh và Bùi Quang Chiêu đã có

nhận xét sau: “Thực chất tư tưởng của Phạm Quỳnh và Bùi Quang Chiêu dù trình bày cách này hay cách khác, người chủ trương xoá bỏ chế độ vua quan, người chủ trương thay thế chế độ quân chủ chuyên chế bằng chế độ quân chủ lập hiến, nhưng tựu trung vẫn đặt đất nước ta dưới sự thống trị của thực dân Pháp”

2 Nhận xét về tư tưởng lập hiến Việt Nam và những vấn đề đặt ra khi sửa đổi Hiến pháp hiện hành

a Nhận xét

Nghiên cứu các tư tưởng lập hiến Việt Nam nêu trên cho thấy dù có xuất phát điểm khác nhau, cách tiếp cận về hiến pháp dưới các lăng kính khác nhau thì các tư tưởng lập hiến Việt Nam đều có những điểm chung như sau:

Thứ nhất, xác định tầm quan trọng của

hiến pháp đối với sự phát triển của đất nước trên mọi lĩnh vực mà tiêu biểu là các

Trang 8

vấn đề dân chủ, dân quyền, dân sinh và dân

trí Các quyền này chỉ có thể được nhìn

nhận một cách hợp pháp khi xã hội có bản

hiến pháp chi phối

Thứ hai, lập hiến là yêu cầu tất yếu của

dân tộc Chủ nghĩa lập hiến vì thế không

phải ra đời và xuất phát vì ý chí chủ quan

của một vài cá nhân mà là nhu cầu mang tính

tự thân của nhà nước và xã hội đang vận

động và phát triển

Thứ ba, hiến pháp là cơ sở, nền tảng

pháp lí cơ bản để các cơ quan nhà nước thực

thi các nhiệm vụ, quyền hạn và công dân thụ

hưởng các quyền năng Hiến pháp là sự bảo

hộ cho chế độ

Thứ tư, tư tưởng lập hiến Việt Nam đều

khẳng định tính hiện đại, văn minh và tiên

tiến của hiến pháp tư sản, cho rằng đó là hiến

pháp có nhiều ưu điểm song khi vận dụng

vào điều kiện Việt Nam thì phải thể hiện bằng

được các đặc điểm của dân tộc Việt Nam

Thứ năm, tư tưởng lập hiến Việt Nam

mặc dù có nhiều khuynh hướng khác nhau

song đều khẳng định một chân lí: Quyền con

người sẽ được đảm bảo nếu trong xã hội có

sự hiện diện của một bản hiến pháp dân chủ

Thứ sáu, tư tưởng lập hiến Việt Nam thể

hiện sinh động, cụ thể và trực tiếp nhất

nguyên tắc hiến pháp trong Tuyên ngôn độc

lập “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh

ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền

sống, quyền sung sướng và quyền tự do”

Thứ bảy, tư tưởng lập hiến Việt Nam

không tập trung theo một khuynh hướng

mà chia làm hai khuynh hướng chính song

đều tập trung và thống nhất trong nhận thức là cần thiết phải có bản hiến pháp mang tính dân chủ và để thể hiện là nhà nước dân chủ

b Vấn đề sửa đổi Hiến pháp hiện hành

- Cần phải xác định vai trò của hiến pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân và mối tương quan giữa nhân dân với hiến pháp Ở thời đại ngày nay, cách nhìn nhận về vai trò của hiến pháp với đời sống xã hội cần phải tiếp cận theo các luồng tư tưởng chính thống đồng thời cũng vẫn phải tiếp cận nghiên cứu các tư tưởng và khuynh hướng lập hiến khác

- Đặt vấn đề nghiên cứu tư tưởng lập hiến để trả lời câu hỏi: Sáng kiến lập hiến và sáng kiến sửa đổi hiến pháp như thế nào mới phù hợp với tinh thần của chủ nghĩa lập hiến hiện đại?

- Lấy ý kiến của nhân dân vào bản dự thảo hiến pháp sửa đổi, bổ sung và trưng cầu

ý dân về hiến pháp có điểm gì khác nhau, cách nào sẽ là ưu việt với Việt Nam?

Theo chúng tôi, khi nghiên cứu tư tưởng lập hiến Việt Nam cần đặt trong bối cảnh mới, đó là khi chúng ta đã phát hiện ra Hiến pháp hiện hành có nhiều điểm chưa thể hiện được tính ưu việt của chế độ đồng thời Hiến pháp chưa thực sự phát huy vai trò của mình đối với xã hội, Nhà nước và nhân dân Để đạt được mục đích trên thiết nghĩ rằng việc sửa đổi hiến pháp là nhu cầu tự thân của xã hội và công dân Do đó, nhiệm vụ của cơ quan nhà nước là lắng nghe và đáp ứng yêu cầu dân chủ của nhân dân Sáng kiến lập

Trang 9

hiến và sửa đổi hiến pháp nhất thiết phải đi

từ phía nhân dân một cách trực tiếp Đặc

biệt, khi chúng ta đã có các công cụ hỗ trợ

(chữ kí điện tử) thì việc các nhóm công dân

kiến nghị sửa đổi hiến pháp là khả thi Hơn

thế nữa, cần phải đầu tư cho hoạt động dân

chủ trực tiếp thông qua hình thức trưng cầu ý

dân về sửa đổi hiến pháp Bên cạnh đó, cần

huy động sự tham gia nghiên cứu, so sánh và

rút ra bài học kinh nghiệm của các nước

trong việc sửa đổi hiến pháp song tránh

khuynh hướng lệ thuộc quá hoặc áp dụng rập

khuôn, cơ học Bởi lẽ, hiến pháp không đơn

thuần là vấn đề pháp lí mà nó thể hiện khế

ước xã hội của công dân, đòi hỏi Nhà nước

phải hết sức chú ý khi tổ chức thực hiện hiến

pháp vào đời sống./

(1).Xem: GS.TSKH Đào Trí Úc, “Hiến pháp trong

đời sống xã hội và quốc gia”, Tạp chí nghiên cứu lập

pháp, số 8/2010

(2) Nếu xét về lịch sử, Phan Bội Châu là người đầu

tiên nêu vấn đề lập hiến thành yêu cầu bức xúc ở

nước ta vào năm 1907 (theo Phan Đăng Thanh, Tư

tưởng lập hiến Việt Nam đầu thế k ỉ XX, Nxb Tư

pháp, Hà Nội, 2006, tr 110)

(3).Xem: Phan Bội Châu, Đề tỉnh quốc dân ca

năm 1907

(4).Xem: Phan Bội Châu, Toàn tập, Tập 4, Nxb

Thuận Hoá, Huế, 1990, tr 244 (Báo Đông Tây số

138, ngày 09/11/1932)

(5).Xem: Phan Bội Châu, Toàn tập, tập 4, Nxb

Thuận Hoá, Huế, 1990, tr 244

(6).Xem: Phan Bội Châu, Sđd, tr 212

(7).Xem: Nguyễn Văn Dương, Phan Châu Trinh

Tuyển tập, Nxb Đà Nẵng, 1995, tr 817

(8).Xem: Trần Văn Giàu, Hệ ý thức tư sản và sự thất

bại của nó trước nhiệm vụ lịch sử, Nxb Khoa học xã

hội, Hà Nội, 1975, tr 437

(9).Xem: Nguyễn Văn Dương, Sđd, tr 783

(10).Xem: Nguyễn Văn Dương, Sđd, tr 817

(11).Xem: Chương Thâu, Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng,

Nxb Đà Nẵng, 1989, tr 355 - 356

(12).Xem: Ban Tuyên huấn trung ương, Lịch sử Đảng

Cộng sản Việt Nam, Sách giáo khoa Mác-Lê, Hà Nội,

1978, tr 119

(13).Xem: Đỗ Văn Hỷ và Vũ Văn Sạch (dịch), Văn thơ

Đông Kinh nghĩa thục, Nxb Văn hoá, Hà Nội, 1997, tr 18

(14).Xem: Đỗ Văn Hỷ và Vũ Văn Sạch (dịch), Sđd, tr 78

(15).Xem: Nguyễn An Tịnh, Nguyễn An Ninh, Nxb

Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 1996, tr 170

(16).Xem: Phan Văn Trường, Pháp luật lược luận,

Nhà in Xưa - Nay, Sài Gòn, 1926, tr 18

(17).Xem: Phan Văn Trường, Sđd, tr 18 - 20

(18).Xem: Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 1, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr 438

(19) Có kí tên của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh

và Nguyễn Ái Quốc

(20).Xem: Hội luật gia, Pháp lí phục vụ cách mạng,

Hà Nội, 1975, tr 278

(21).Xem: Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính

trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr 8

(22) Văn phòng Quốc hội, “Lịch sử Quốc hội Việt

Nam 1946 - 1960”, Báo Cứu quốc, số ngày 10/11/1945 (23).Xem: Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000

(24).Xem: Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản

ước tân biên, Tập 3, Quốc học tùng thư xuất bản, Sài

Gòn, 1965, tr 112

(25).Xem: Phạm Thế Ngũ, Sđd, tr 499

(26).Xem: Phạm Quỳnh, “Đức Bảo Đại về nước”,

Báo Nam Phong, 2 - 8, 1932, tr 5

(27).Xem: Lê Thanh Cảnh, Hồi ký (bản đánh máy), trích

theo Phan Đăng Thanh, Tư tưởng lập hiến Việt Nam

đầu thế kỉ XX, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr 183

(28).Xem: Phạm Quỳnh, “Vấn đề lập hiến cho nước

An Nam”, Báo Nam Phong, 151, 1930, tr 532 (29).Xem: Phạm Quỳnh, “Câu chuyện lập hiến”, Báo

Nam Phong, 173, 559 - 569, 1932, tr 567

(30).Xem: Trần Văn Giàu, “Lược sử thành phố Hồ

Chí Minh”, Địa chí văn hoá thành phố Hồ Chí Minh,

tập 1, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1987, tr 288

(31).Xem: Trần Văn Giàu, Tlđd, tr 288

Ngày đăng: 15/03/2014, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w