1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận KTCT: Vận dụng 2 phương pháp sản xuất giá trị thặng dư để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp Việt Nam

20 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 111,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài tiểu luận học phần: Kinh tế chính trị Mác-Lênin Vận dụng 2 phương pháp sản xuất giá trị thặng dư để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp Việt Nam

Trang 1

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Học phần: Kinh tế chính trị Mác-Lênin

TIỂU LUẬN

VẬN DỤNG 2 PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn : Nguyễn Đức Quỳnh

Sinh viên thực hiện : Nhóm 3

Hà nội, ngày 08 tháng 03 năm 2022

Trang 2

DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 3

Trang 3

MỤC LỤC

1.2 Nguồn gốc, bản chất của giá trị thặng dư 6

1.3.1 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối 8 1.3.2 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối 9 1.3.3 Mối quan hệ giữa phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối 10 CHƯƠNG II:VẬN DỤNG 2 PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH

2.1.Thực trạng của quá trình vận dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay: 11 2.1.1.Tình hình nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư ở các doanh

2.1.2.Kết quả của quá trình vận dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay: 12

Trang 4

2.2: Vận dụng 2 phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất cho các doanh nghiệp ở Việt Nam 13

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác ra đời trên cơ sở nghiên cứu phương thức sản xuất TBCN Phát hiện ra giá trị thặng dư là nổ ra cuộc cách mạng thực sự trong toàn bộ khoa học kinh tế, vũ trang cho giai cấp vô sản, thứ vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh chống lại CNTB Xong ý nghĩa thực tiễn của học thuyết đó không chỉ là như vậy Ngày nay từ quan niệm đổi mới

về CNXH học thuyết này còn có nghĩa quan trọng trong sự nghiệp xây dựng nền kinh tế trong thời kì quá độ lên CNXH Việc nghiên cứu khai thác những

di sản lý luận của C.Mác trở thành một việc làm cần thiết

Trên thực tế nhà Tư bản luôn tìm cách nâng cao trình độ bóc lột để thu được nhiều giá trị thặng dư hơn Trong giai đoạn phát triển đầu tiên của sản xuất TBCN, do khoa học kĩ thuật còn thấp kém, tiến bộ chậm chạp thì phương pháp chủ yếu để tăng giá trị thặng dư là kéo dài ngày lao động của người công nhân (bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối) Qua các công trình nghiên cứu của các nhà sử học, triết học, xã hội học, người ta đã chứng minh rằng: trong đoạn đầu của CNTB người công nhân, người lao động bị bóc lột đến tận xương tủy Việc kéo dài ngày lao động bị giới hạn về thể chất và tinh thần của người công nhân và vấp phải cuộc đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của giai cấp công nhân Mặt khác, khi sản xuất TBCN phát triển đến giai đoạn đại công nghiệp

cơ khí, kỹ thuật tiến bộ làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng cho nên các nhà Tư bản chuyển sang phương thức bóc lột dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động bóc lột giá trị thặng dư tương đối

Đối với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, cách mạng 4.0 như hiện nay, việc tận dụng triệt để các nguồn lực lao động, công nghệ, khoa học kỹ thuật, coi trọng tăng năng suất lao động xã hội là giải pháp cơ bản để nâng

Trang 6

cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp tại Việt Nam Trong

đó kể đến hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối được áp dụng phổ biến rộng rãi nhằm nâng cao, mở rộng quy mô sản xuất, phát triển kinh doanh Và đó là lí do để nhóm chúng tôi chọn đề tài “Vận dụng hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp tại Việt Nam”

2 Mục đích nghiên cứu:

Mục đích của nghiên cứu đề tài nhằm nâng cao hiểu biết về giá trị thặng

dư, nắm bắt rõ hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư gợi ra cho các nhà kinh doanh hoạch định các chính sách kích thích sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, cải thiện tổ chức quản lý, sử dụng công nghệ kỹ thuật mới, tiết kiệm chi phí sản xuất, thúc đẩy phát triển doanh nghiệp ở trình độ cao, mở rộng quy mô Việc vận dụng hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư như thế nào để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp tại Việt Nam là mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng chính trong đề tài của nhóm chúng tôi

3 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu của đề tài: tra cứu thông tin trên các trang báo điện tử kết hợp với phân tích logic – lịch sử, so sánh, tổng hợp và xử lý tài liệu, quan sát thực tế, thống kê, tổng kết kinh nghiệm, trừu tượng hóa khoa học, phân tích thực tế để nhận biết rõ thực trạng vấn đề từ đó đề xuất ra giải pháp, dẫn chứng cụ thể,

4 Đóng góp của đề tài:

Ý nghĩa về mặt lý luận: Cung cấp cơ sở lý thuyết về lý luận của giá trị thặng dư và phương pháp sản xuất giá trị thặng dư

Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Vận dụng phương pháp giá trị thặng dư để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp tại Việt Nam

Trang 7

Từ đó có thể định hướng cho các sinh viên hay những người có ý định lập nghiệp một cái nhìn tốt nhất trong kinh doanh Ngoài ra, qua quá trình tìm hiểu thì chính bản thân chúng ta cũng cảm thấy cải thiện, nâng cao tư duy hơn, góp phần tăng kết quả học tập một cách tốt nhất

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.Khái niệm về giá trị thặng dư:

Giá trị thặng dư (m) là bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động

do người bán sức lao động ( người lao động làm thuê) tạo ra và thuộc về nhà

tư bản ( người mua hàng hóa sức lao động)

1.2 Nguồn gốc, bản chất của giá trị thặng dư

1.2.1 Nguồn gốc của giá trị thặng dư

Dựa vào công thức chung của tư bản T-H-T’ với T’=T+∆t,

∆t≥0 C.Mác đi đến kết luận: “ Tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông mà cũng không xuất hiện ở người lưu thông Nó phải xuất hiện trong lưu thông

và đồng thời không phải trong lưu thông” Để giải quyết mâu thuẫn này, C.Mác đã phát hiện ra nguồn gốc sinh ra giá trị hàng hóa – sức lao động C.Mác khẳng định nguồn gốc của giá trị thặng dư là do hao phí sức lao động

mà có

Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản phải mua sức lao động và tư liệu sản xuất

Vì tư liệu sản xuất và sức lao động do nhà tư bản mua, nên trong quá trình sản xuất, người công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản và sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản

Quá trình sản xuất giá trị thặng dư là sự thống nhất của quá trình tạo ra và làm tăng giá trị Để có được giá trị thặng dư, nền sản xuất xã hội phải đạt đến một trình độ nhất định Trình độ đó phản ánh, người lao động chỉ phải hao phí một phần thời gian lao động là có thể bù đắp được giá trị hàng hóa sức lao động

Trang 8

Bằng lao động cụ thể của mình, công nhân sử dụng các tư liệu sản xuất và chuyển giá trị của chúng vào sản phẩm; và bằng lao động trừu tượng, công nhân tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động, phần lớn hơn đó được gọi

là giá trị thặng dư

Để làm rõ hơn nguồn gốc của giá trị thặng dư là do hao phí sức lao động tạo

ra, C.Mác chia tư bản thành 2 bộ phận: Tư bản bất biến và tư bản khả biến -Tư bản bất biến là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu sản xuất mà giá trị được bảo tồn và chuyển vào sản phẩm, tức là giá trị không biến đổi về lượng trong quá trình sản xuất, ký hiệu là c

Ví dụ: các tư liệu sản xuất như máy móc, thiết bị nhà xưởng; nguyên, nhiên vật liệu

Tư bản khả biến là bộ phận tư bản biểu hiện dưới hình thức giá trị sức lao động trong quá trình sản xuất đã tăng thêm về lượng, kí hiệu là v

Ví dụ: hàng hóa sức lao động

Giá trị của một hàng hóa của một hàng hóa(G) bằng giá trị tư bản bất biến

mà nó chứa đựng cộng với giá trị của tư bản khả biến

G=c+(v+m)

Qua sự phân chia tư bản bất biến và tư bản khả biến, ta thấy được bản chất bóc lột tư bản chủ nghĩa, chỉ có lao động của công nhân làm thuê mới tạo ra giá trị thặng dư của nhà tư bản Tư bản đã bóc lột một phần giá trị mới do công nhân tạo ra Như vậy, v+m là giá trị mới của hàng hóa, do hao phí lao động sống tạo ra; c là giá trị những tư liệu sản xuất đã được tiêu dùng, là bộ phận lao động quá khứ đã được kết tinh trong máy móc, nguyên nhiên vật liệu Bộ phận này được lao động sống chuyển vào giá trị sản phẩm mới

Như vậy nguồn gốc của giá trị thặng dư là do lao động của người công nhân không được trả công - hao phí sức lao động

Trang 9

1.2.2 Bản chất của giá trị thặng dư

a Bản chất của giá trị thặng dư

Giá trị thặng dư có bản chất kinh tế - xã hội là quan hệ giai cấp, trong đó giai cấp nhà tư bản làm giàu dựa trên cơ sở lao động làm thuê

Mục đích của nhà tư bản trong nền kinh tế thị trường TBCN không những chỉ dừng lại ở mức có được giá trị thặng dư, mà quan trọng là phải thu được nhiều giá trị thặng dư, do đó cần có thước đo để đo lường giá trị thặng dư về lượng C.Mác đã sử dụng tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư để đo lường giá trị thặng dư

b Tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư

-Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ lệ phần trăm giữa giá trị thặng dư và tư bản khả biến

m’: tỷ suất giá trị thặng dư m: giá trị thặng dư

v: tư bản khả kiến t’: thời gian lao động thặng dư t: thời gian lao động tất yếu

=> Ý nghĩa: phản ánh trình độ bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân làm thuê

Khối lượng giá trị thặng dư là lượng giá trị thặng dư bằng tiền mà nhà tư bản thu được

M=m’.V M: khối lượng giá trị thặng dư

V: tổng tư bản khả kiến

=>Ý nghĩa: phản ánh quy mô bóc lột của nhà tư bản với công nhân làm thuê

1.3.Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư

Trang 10

1.3.1 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.

Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài ngày lao

động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi

Ví dụ: Nếu ngày lao động là 8 giờ, thời gian lao động tất yếu là 4 giờ, thời gian lao động thặng dư là 4 giờ, tỷ suất giá trị thặng dư là 100% :

Giả định nhà tư bản kéo dài ngày lao động thêm 2 giờ nữa với mọi điều kiện không đổi thì giá trị thặng dư tuyệt đối tăng từ 4 giờ lên 6 giờ và tỷ suất

giá trị thặng dư sẽ là: m’= x 100% = 150%

=> Để có nhiều giá trị thặng dư, người mua hàng hóa sức lao động phải tìm mọi cách để kéo dài ngày lao động và tăng cường độ lao động

1.3.2 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối.

Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được nhờ rút ngắn thời

gian lao động tất yếu; do đó kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi độ dài ngày lao động không thay đổi hoặc thậm chí rút ngắn

Ví dụ: Ngày lao động 8 giờ, với 4 giờ lao động tất yếu, 4 giờ lao động thặng dư, tỷ suất giá trị thặng dư là 100% Nếu giá trị sức lao động giảm khiến thời gian lao động tất yếu rút xuống còn 2 giờ thì thời gian lao động thặng dư sẽ là 6 giờ

Khi đó: m’= x 100% = 300%

Nếu ngày lao động giảm xuống còn 6 giờ nhưng giá trị sức lao động giảm khiến thời gian lao động tất yếu rút xuống còn 1 giờ thì thời gian lao động thặng dư sẽ là 5 giờ Khi đó:

m’= x 100% = 500%

Trang 11

Trong thực tế, việc cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động diễn ra trước hết ở một hoặc vài xí nghiệp riêng biệt, làm cho hàng hóa do các xí nghiệp ấy sản xuất ra có giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội, và do đó, sẽ thu được một

số giá trị thặng dư vượt trội so với các xí nghiệp khác Phần giá trị thặng dư

trội hơn đó là giá trị thặng dư siêu ngạch.

Giá trị thặng dư siêu ngạch là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản

ra sức cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động Hoạt động riêng lẻ đó của từng nhà tư bản đã dẫn đến kết quả làm tăng năng suất lao động xã hội, hình thành giá trị thặng dư tương đối, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Vì vậy, giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thái biến tướng của các giá trị thặng

dư tương đối

1.3.3 Mối quan hệ giữa phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối

và phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối.

Thực ra, hai phương pháp giá trị thặng dư không hề bị tách rời nhau, mà chỉ trong mỗi thời kỳ khác nhau sự vận dụng hai phương pháp là nhiều hay ít

mà thôi, trong thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản thì phương pháp giá trị thặng

dư tuyệt đối được sử dụng nhiều hơn so với phương pháp giá trị thặng dư tương đối, còn trong thời kỳ sau của chủ nghĩa tư bản thì ngược lại

Trong xã hội hiện đại ngày nay, việc nhà tư bản kết hợp tốt hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư đã tạo ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư cho nhà tư bản, bằng cách tăng cường các phương tiện kỹ thuật và quản lý để bóc lột ngày càng nhiều sức lao động làm thuê Máy móc hiện đại được áp dụng, các lao động chân tay bị cắt giảm nhưng điều đó không đi đôi với giảm nhẹ cường độ lao động của người công nhân, mà trái lại do việc áp dụng máy móc không đồng bộ nên khi máy móc chạy với tốc độ cao, có thể chạy với tốc độ liên tục buộc người công nhân phải chạy theo tốc độ vận hành máy làm cho cường độ lao động tăng lên, năng suất lao động tăng, ngoài ra nền sản xuất hiện đại áp dụng tự động hóa cao cường độ lao động người công nhân tăng

Trang 12

lên với hình thức mới đó là cường độ lao động thần kinh thay thế cho cường

độ lao động cơ bắp, tạo ra sản phẩm chứa nhiều chất xám có giá trị lớn Nên sản xuất tư bản chủ nghĩa trong điều kiện hiện đại là sự kết hợp tinh vi của hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và tuyệt đối

CHƯƠNG II:VẬN DỤNG 2 PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM.

2.1.Thực trạng của quá trình vận dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay:

2.1.1.Tình hình nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư ở các doanh nghiệp của nước ta hiện nay:

Để thu được nhiều giá trị thặng dư cần có phương pháp nhất định C Mác đã chỉ ra nhà tư bản sử dụng hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư là sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng dư tương đối

Nếu phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối được áp dụng phổ biến trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản (do điều kiện kỹ thuật thấp, trình độ đấu tranh của công nhân còn chưa cao,…); thì phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối được áp dụng phổ biến ở giai đoạn sau của chủ nghĩa tư bản Nhưng nhìn chung thì cả hai phương pháp trên được các nhà tư bản kết hợp với nhau trong suốt quá trình phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa

Quá trình nghiên cứu 2 phương pháp sản xuất giá trị thặng dư cho thấy rằng khi gạt bỏ mục đích và tính bóc lột của chủ nghĩa tư bản thì sản xuất giá trị thặng dư chính là khoa học sử dụng lao động có hiệu quả nhất mà bất kỳ xã hội nào cũng cần phải quan tâm Bởi vậy, có thể vận dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư trong các doanh nghiệp ở nước ta nhằm kích thích sản xuất tăng năng suất lao động xã hội, sử dụng công nghệ kĩ thuật mới, cải tiến tổ chức quản lý, tiết kiệm chi phí sản xuất

Trang 13

Đối với quá trình nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư ở các doanh nghiệp nước

ta hiện nay gợi ra cho nhà hoạch định các chính sách, các phương thức làm tăng của cải thúc đẩy phát triển kinh tế Trong điều kiện xuất phát điểm của nước ta còn thấp, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cần tận dụng triệt để các nguồn lực hiện có nhất là lao động và sản xuất kinh doanh Về vấn đề lâu dài cần phải coi trọng việc tăng trình độ và năng suất lao động xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân là giải pháp cơ bản để tăng năng suất lao động

Quy luật giá trị thặng dư đang phát huy vai trò vô cùng to lớn đem lại nhiều thành tựu to lớn và những tiến bộ vượt bậc cho CNTB Nước ta đang trong giai đoạn quá độ đi lên xã hội chủ nghĩa từ chế độ Phong kiến bỏ qua giai đoạn TBCN với xuất phát điểm là nền kinh tế lạc hậu chủ yếu là dựa vào nông nghiệp Yêu cầu đặt ra cho chúng ta là phải từng bước xây dựng cơ sở vật chất XHCN Vì vậy, những thành tựu mà CNTB đã đạt được chúng ta nên lấy đó mà học tập trong quan tâm đặc biệt đến quy luật cơ bản là giá trị thặng dư, sửa chữa những sai lầm trước kia trong xây dựng nền kinh tế

2.1.2.Kết quả của quá trình vận dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng

dư trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay:

Học thuyết giá trị thặng dư của Mác ra đời trên cơ sở nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Phát hiện giá trị thặng dư làm nổ ra cuộc cách mạng thực sự trong toàn bộ khoa học kinh tế, trang bị cho giai cấp vô sản thứ

vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản.Ở nước ta, việc nghiên cứu, khai thác để vận dụng học thuyết giá trị thặng dư của Mác trở thành việc làm cần thiết trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Một là, khai thác những di sản lý luận C Mác về phương pháp sản xuất

ra giá trị thặng dư trong nền kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa

Ngày đăng: 24/10/2022, 11:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w