TRI TẠO TRUYỀN THÔNG MỘT CÁCH TIẾP CẬN MỚI TRONG GIÁO DỤC Bài đăng trên Tạp chí Con người, số 1/2010 Nguyen Thu Giang – Bùi Việt Hà Cho đến nay, các nghiên cứu vẫn còn nhiều điều chưa
Trang 1TRI TẠO TRUYỀN THÔNG
MỘT CÁCH TIẾP CẬN MỚI TRONG GIÁO DỤC
Bài đăng trên Tạp chí Con người, số 1/2010
Nguyen Thu Giang – Bùi Việt Hà
Cho đến nay, các nghiên cứu vẫn còn nhiều điều chưa thống nhất về mức độ và cách thức ảnh hưởng của truyền thông đối với con người, nhưng có một luận điểm ít ai phủ nhận là truyền thông có tác động đáng kể đến cách thức con người hiểu, giải thích và hành động trong thế giới này Nhiều học giả ở các quốc gia phương Tây đồng ý rằng trong bối cảnh hiện nay, truyền thông không chỉ dừng lại là một nhân tố
định hình văn hóa mà truyền thông chính là văn hóa Sức tác động mạnh mẽ của
truyền thông khiến tính độc lập của mỗi cá nhân trong xã hội ngày càng khó định hình Mỗi công dân vì thế cần được trang bị những kỹ năng cốt yếu để giữ được một khoảng cách cần thiết trước sự lệ thuộc vào truyền thông
Cách đây hơn 2 thập kỷ, tại Hội nghị Giáo dục truyền thông năm 1982, UNESCO
đã khẳng định: “Nhà trường và gia đình chia sẻ trách nhiệm chuẩn bị cho những
người trẻ tuổi sống trong một thế giới của những hình ảnh, ngôn từ, âm thanh với sức tác động mạnh mẽ Cả trẻ em và người lớn cần được giáo dục về cả 3 hệ thống mang tính biểu tượng này Điều đó đòi hỏi chúng ta phải đánh giá lại những ưu tiên của giáo dục ”
Tuyên bố của UNESCO khẳng định tính cấp bách của việc xây dựng một cách tiếp cận mới trong giáo dục để phù hợp với xã hội truyền thông Thuật ngữ “tri tạo
truyền thông” – “media literacy” cũng bắt đầu được thực sự chú ý vào khoảng thời gian đó
1 Định nghĩa khái niệm
Thuật ngữ “biết chữ” (literacy) vẫn mang nghĩa “biết đọc, biết viết” – tức là biết đọc
chữ cái và viết chữ cái Cùng với sự phát triển của xã hội, mục đích của giáo dục
Trang 2hướng tới dạy cho con người hiểu (biết đọc), và diễn đạt (biết viết) những khái
niệm, ý nghĩ, tư tưởng ngày một phức tạp hơn
Khẳng định của UNESCO về việc “chuẩn bị cho những người trẻ tuổi sống trong
một thế giới của những hình ảnh, ngôn từ, âm thanh với sức tác động mạnh mẽ” đã chỉ ra một mục tiêu mới cho giáo dục trong xã hội truyền thông của thế kỷ 21
“Biết đọc, biết viết” không còn là kỹ năng tối thiểu mà con người cần được trang bị Những thông điệp của truyền thông thường xuất hiện với tư cách một bằng chứng của sự thật Nhưng trên thực tế, người ta đã sử dụng âm thanh, hình ảnh và ngôn từ
với “ngữ pháp” riêng để diễn đạt những khái niệm, tư tưởng mang nhiều lớp ý
nghĩa Con người cần được trang bị một kỹ năng khác, ngoài khả năng đọc viết bình
thường Năng lực đó được gọi là tri tạo truyền thông
Năm 1992, các thành viên của Viện nghiên cứu Tri tạo Truyền thông Aspen (Mỹ)
đưa ra định nghĩa: “Tri tạo truyền thông là năng lực tiếp nhận, phân tích, đánh giá
và tạo ra các sản phẩm truyền thông với nhiều loại hình khác nhau”
Đây là một định nghĩa được công nhận rộng rãi Trong bối cảnh hiện nay, khi xã hội truyền thông ngày càng định hình và tầm quan trọng của năng lực tri tạo truyền thông ngày một rõ nét, Trung tâm Nghiên cứu Tri tạo truyền thông (Center for Media Literacy) đưa ra một định nghĩa bao chứa nhiều nội hàm hơn:
Tri tạo truyền thông trong thế kỷ 21 là một phương pháp tiếp cận trong giáo dục
Nó cung cấp nền tảng để tiếp nhận, phân tích, đánh giá và tạo ra các sản phẩm truyền thông dưới nhiền loại hình khác nhau, từ dạng in tới video và internet Tri tạo truyền thông xây dựng nhận thức về vai trò của truyền thông trong xã hội, trang
bị những kỹ năng truy vấn (inquiry skill) cốt yếu cũng như kỹ năng tự biểu đạt cần thiết cho công dân của một nền dân chủ
Cả hai định nghĩa đều có một điểm chung là phân chia quá trình tri tạo truyền thông thành phần “đọc” gồm tiếp nhận, phân tích, đánh giá (kỹ năng truy vấn) và “viết” (kỹ năng tự biểu đạt – kỹ năng tạo ra các sản phẩm truyền thông) Định nghĩa thứ
Trang 3hai đặc biệt nhấn mạnh bối cảnh hiện đại của tri tạo truyền thông, từ đó nhấn mạnh góc tiếp cập tri nhận truyền thông như một hướng đi cần thiết trong giáo dục
2 Thuật ngữ tiếng Việt
Tìm một thuật ngữ phù hợp với cụm từ “media literacy” là vấn đề không đơn giản
Từ những định nghĩa về khái niệm này, chúng tôi chọn thuật ngữ “tri tạo truyền thông” để dịch tương đương với “media literacy” với những lý do sau:
Thứ nhất, từ tri tạo phù hợp với nội hàm của khái niệm, tức là khả năng tiếp nhận,
phân tích, đánh giá (tri) và khả năng tạo ra các sản phẩm truyền thông (tạo) Tri tạo
truyền thông cũng tương tự như cách chúng ta vẫn gọi là “biết đọc, biết viết”
Thứ hai, thuật ngữ “media literacy” là một thuật ngữ mới, nếu tìm một từ thường dùng để biểu đạt có thể gây ra những hiểu nhầm khó tránh khỏi Trong trường hợp này, chọn một từ mới cho một thuật ngữ mới là điều thích hợp
Liên quan đến năng lực tri tạo truyền thông, chúng tôi cũng mạnh dạn tìm một từ tương đương trong tiếng việc để dịch thuật ngữ “inquiry skills” là “kỹ năng truy vấn” Thuật ngữ “truy vấn” vẫn được dùng trong tin học (query) Theo chúng tôi, thuật ngữ này có thể được dùng lại trong trường hợp này
3 Những nguyên tắc của tri tạo truyền thông
3.1 Thông điệp truyền thông là các cấu trúc được xây dựng một cách chủ ý
Nói cách khác, thông điệp truyền thông hàng ngày chúng ta vẫn tiếp nhận mang tính chất “được cấu trúc” Khi tiếp nhận một văn bản media (bài báo, chương trình truyền hình, phát thanh, một chương sách, game online, quảng cáo v.v.), chúng ta cần nhận thức được rằng đó không phải những điều “tự nhiên” Những văn bản truyền thông được cấu trúc, xây dựng đích xác giống như việc chúng ta vẫn xây một tòa nhà hay một tuyến đường cao tốc Vật liệu xây dựng là rất nhiều kiểu dạng
“text” khác nhau Lấy ví dụ trong các tạp chí, các dòng chữ xuất hiện với kiểu chữ,
co chữ, màu sắc, vị trí khác nhau Trong các chương trình truyền hình hoặc điện
Trang 4ảnh, vật liệu xây dựng lên tới hàng trăm loại, từ góc quay, ánh sáng, âm nhạc, đến tiếng động v.v
Như vậy, khi chúng ta tiếp nhận một chương trình tin tức buổi đêm (có thể của VTV, HTV hay BBC, CNN), một biển quảng cáo trên đường phố, hoặc một tác
phẩm điện ảnh, chúng ta đang tiếp nhận các thông điệp truyền thông được một ai đó tạo ra (có thể là một tập thể nhiều người) với ngôn từ, hình ảnh, âm thanh, thiết kế
được quyết định bởi chủ ý của họ Đây không chỉ là một quá trình vật lý
Trên thực tế, chúng ta vẫn tiếp nhận những sản phẩm được “cấu trúc” bởi một vài người như một cái gì đó bình thường, như là sự thật, giống như không khí ta đang thở Nhiều người vẫn thường cho đó là điều “tự nhiên như thế” mà chấp nhận một cách tin tưởng Chúng ta quên mất một điều rằng, với tư cách công chúng, chúng ta
không được nhìn, được nghe những hình ảnh, những sự vật không được phản ánh hoặc không được chúng ta chấp nhận Chúng ta chỉ nhìn, nghe hoặc đọc những điều
chúng ta tin
Nói như vậy không có nghĩa là phủ định tính tin cậy của truyền thông Sự thật là tính tin cậy của truyền thông không chỉ phụ thuộc vào người tạo ra truyền thông, mà qua trọng hơn là ở những người tiếp nhận nó Tất cả những thông điệp đó đều là
những cấu trúc được tạo ra Tức là, các thông điệp là cái biểu đạt chứ không phải
cái được biểu đạt, không phải là hiện thực đời sống
Vì lẽ đó, châm ngôn “mắt thấy tai nghe” không còn là một bằng chứng cho sự thật 100% Mắt chúng ta vẫn nhìn thấy chương trình truyền hình, tai chúng ta vẫn lắng nghe âm thanh, nhưng chúng ta phải biết rằng đó chỉ là một sự tái thể hiện của thực
tế khách quan (represetation - cũng được dịch là tái trình hiện) Sự tái thể hiện đó có
vẻ là sự thật nhưng đó lại là một cấu trúc được lựa chọn, lắp ráp, biên tập và thiết kế
bởi một ai đó Vì thế, câu hỏi cơ bản gắn liền với nguyên tắc này là “Ai tạo ra thông điệp?”
Trang 53.2 Các thông điệp truyền thông được cấu trúc bằng cách sử dụng hình thức sáng tạo với những quy luật riêng
Mỗi loại hình truyền thông, dù là báo in, game show hay phim kinh dị đều có ngôn ngữ riêng của nó: âm nhạc thê lương làm tăng sự sợ hãi, quay cận cảnh chuyển tải
sự thân mật, tít báo lớn là tín hiệu của mức độ quan trọng v.v Hiểu được những quy tắc “ngữ pháp” này giúp chúng ta tri nhận được thông điệp ở mức tối đa và giảm khả năng chúng ta bị truyền thông “nhào nặn” Đặc biệt quan trọng là khả năng giải mã ngôn ngữ âm thanh và hình ảnh (thính thị) vốn có thể chạm tới những vùng cảm xúc sâu thẳm của con người, vượt ngoài khả năng lý trí
Khi Steven Speilberg quyết định làm bộ phim Danh sách Schindler với toàn bộ cảnh quay đen trắng, đạo diễn này đã ý thức rõ ràng mối quan hệ giữa nội dung và hình thức của truyền thông Vì lẽ cả thế giới biết tới chủ nghĩa phát xít qua những
hình ảnh và phim đen trắng, cách thức mà Speilberg lựa chọn đã đánh thức cả một quá khứ và ám ảnh trong tiềm thức của người xem
Như vậy, khi tiếp nhận các thông điệp truyền thông, năng lực tri tạo cho phép chúng
ta không chỉ hiểu mình đang tiếp nhận cái gì, mà còn là được tiếp nhận như thế nào
Nhìn nhận được mối quan hệ giữa nội dung và hình thức giúp công chúng không chỉ hiểu truyền thông mà còn biết cách tạo ra thông điệp của mình một cách trong sáng
nhất Vì lẽ đó, câu hỏi tương ứng với nguyên tắc này là: “Những kỹ thuật nào được sử dụng trong thông điệp truyền thông để thu hút sự chú ý?”
3.3 Cùng một thông điệp truyền thông được tri nhận khác nhau ở những người khác nhau
Nói cách khác, công chúng tự “thương lượng” ý nghĩa của các thông điệp qua những màng lọc văn hóa, xã hội, trình độ, giới tính v.v Có thể là vô thức (chính vì thế mà nó càng đáng quan tâm), mỗi con người, ngay cả là một em bé mới chập
chững biết đi, đều có gắng tạo ra một ý nghĩa cho cái họ nhìn, nghe hoặc đọc
Những người trẻ tuổi cần được trang bị khả năng nhận biết sự khác biệt trong tiếp
Trang 6nhận để từ đó hiểu được thế giới cũng như biết chấp nhận sự giống nhau và đặc biệt
là sự khác biệt giữa họ Biết chấp nhận “cái khác” là một tố chất cần có trong một
thế giới toàn cầu hóa Câu tự vấn tương đương với nguyên tắc này là: “Những người khác sẽ tiếp nhận thông điệp này khác tôi như thế nào?”
3.4 Truyền thông chứa đựng giá trị và quan điểm
Các thông điệp truyền thông, với tính chất “được cấu trúc một cách chủ ý” luôn
chuyển tải thông tin về điều gì quan trọng, ít nhất là đối với người tạo ra thông điệp
đó Những điều không được nói đến mặc nhiên trở thành điều ít quan trọng Cách
lựa chọn và không lựa chọn chuyển tải một lứa tuổi, giới tính, phong cách sống, thái
độ sống nào đó là cách truyền thông bao chứa trong nó các giá trị Thực tế là, truyền thông đang trở thành một trường học rộng lớn nhất, mà dù muốn hay không, chúng
ta cũng phải học cách hòa nhập vào ngôi trường đó
Nhìn vào báo chí Việt Nam hiện nay, một người có khả năng tri tạo truyền thông cần nhìn thấy những gì được đưa vào truyền thông và những gì bị đưa ra ngoài lề Phong cách vẫn được gọi là “xì-tin” và “năng động” đang tràn ngập các phương tiện truyền thông đại chúng, từ quảng cáo Kotex, tới Mobile Phone hay tới cả một góc tiếp cận chung của những tờ báo rực rỡ sắc màu như “Hi!”, “Sành điệu” v.v Cùng với nó là một hệ giá trị liên quan mà truyền thông đang chuyển tải Hình ảnh người nông dân, chiếm khoảng 80% dân số Việt Nam xuất hiện với một mức độ khiêm tốn đáng ngạc nhiên
Khám phá những quan điểm, những hệ giá trị ngầm chứa trong các thông điệp truyền thông là một kỹ năng quan trọng Chỉ khi nào chúng ta có được kỹ năng đó thì chúng ta mới có thể quyết định chấp nhận hay từ chối thông điệp Nó cũng tránh cho lớp trẻ bị cuốn theo một hệ giá trị chưa cân đối Câu hỏi cần thiết phải đặt ra
tương ứng với nguyên tắc này là: “Giá trị, quan điểm, lối sống nào được thể hiện, hoặc bị loại ra khỏi thông điệp?”
Trang 73.5 Hầu hết các thông điệp truyền thông được cấu trúc để đạt mục đích lợi nhuận hoặc quyền lực
Khi chúng ta xem những chương trình quảng cáo, những chương trình tài trợ, cái được “bán” không chỉ là những sản phẩm được quảng cáo như chúng ta vẫn thương nghĩ, mà chính là công chúng được “bán” cho những nhà quảng cáo Vì thế nhiều nhà nghiên cứu công chúng vẫn đặt câu hỏi: “Chúng ta đang bán đôi mắt của mình cho ai?”
Tại Singapore, tờ Today được phát không tại những trạm tàu điện ngầm và tờ báo này vẫn sinh lãi Mục đích thực sự của các bài viết là để tạo ra công chúng (báo chí
là dành cho công chúng) và từ đó người ta có thể bán thời lượng hoặc không gian cho những nhà quảng cáo và tài trợ Người ta sẽ dựa vào số người dự xem chương trình hoặc đọc tờ báo để tính tiền
Tại Việt Nam, khi Sea Games 23 sắp diễn ra Ngay lập tức, kẹo cao su Cool Air, nhà tài trợ cho chương trình nhắn tin trúng thưởng bóng đá, đưa ra dòng slogan:
“Cool Air chúc đội tuyển Việt Nam thắng lợi” Giá trị thể thao ngay lập tức được sử dụng Và công chúng nào tôn vinh giá trị này vô hình chung đã được “bán” cho những nhà quảng cáo
Cũng như vậy, làn sóng thu hẹp khổ báo trên toàn thế giới được ngành công nghiệp truyền thông giải thích là họ đơn giản đem tới cho công chúng cái mà công chúng
muốn Nói cách khác, họ đơn giản đem lại công chúng cho chính họ, bởi công
chúng là nguồn gốc của lợi nhuận Không chỉ có thể, việc thu hẹp khổ báo còn phản ánh sự thay đổi đáng kể trong việc ghi nhận vai trò quan trọng của hình thức (thiết kế) đối với sức tác động của các thông điệp truyền thông
Khi internet ra đời, công chúng có nhiều lựa chọn hơn bao giờ hết để tự thân đưa ra những quan điểm, cũng như so sánh, đối chiếu quan điểm này với quan điển khác
Vì thế, internet là tác nhân gây ra nhiều thay đổi trong động cơ tạo dựng các thông điệp truyền thông
Trang 8Câu hỏi tương ứng với nguyên tắc thứ 5 này là: “Tại sao thông điệp được gửi đi?”
Những nguyên tăc cơ bản và các câu hỏi tương ứng của tri tạo truyền thông được tổng kết trong bảng dưới đây:
STT NGUYÊN TẮC TRI TẠO TRUYỀN THÔNG CÂU HỎI TƯƠNG ỨNG
1 Thông điệp truyền thông là các cấu
trúc được xây dựng một cách chủ ý
Ai tạo ra thông điệp?
2 Các thông điệp truyền thông được cấu
trúc bằng cách sử dụng hình thức sáng
tạo với những quy luật riêng
Những kỹ thuật nào được sử dụng trong thông điệp truyền thông để thu hút sự chú ý?
3 Cùng một thông điệp truyền thông
được tri nhận khác nhau ở những
người khác nhau
Những người khác sẽ tiếp nhận thông điệp này khác tôi như thế nào?
4 Truyền thông chứa đựng giá trị và
quan điểm
Giá trị, quan điểm, lối sống nào được thể hiện, hoặc bị loại ra khỏi thông điệp?
5 Hầu hết các thông điệp truyền thông
được cấu trúc để đạt mục đích lợi
nhuận hoặc quyền lực
Tại sao thông điệp được gửi đi?
4 Những hiểu nhầm về năng lực tri tạo truyền thông:
- Tri tạo truyền thông không phải là phê pháp truyền thông, tuy nhiên, quá trình tri tạo truyền thông bao gồm việc phê phán truyền thông
- Đơn thuần sản xuất ra các sản phẩm truyền thông không phải là tri tạo truyền thông, mặc dù việc tri tạo truyền thông cần bao gồm quá trình sản xuất, sáng tạo
- Mang vào lớp học video, CD-ROM và các loại hình đa phương tiện khác không có nghĩa là giáo dục năng lực tri tạo truyền thông Vấn đề quan trọng là khám phá bản chất và sức ảnh hưởng của truyền thông và các thông điệp truyền thông trong nền văn hóa của chúng ta
- Tri tạo truyền thông không đơn thuần là tìm kiếm khuynh hướng, những khuôn mẫu hoặc những phản ánh chưa chính xác Điều quan trọng hơn là tìm hiểu cơ chế khiến tất cả những điều này trở nên tự nhiên, bình thường
Trang 9- Tri tạo truyền thông không thể được nhìn từ một phía Nó phải được tiếp cận từ nhiều góc độ, nhiều vị trí
- Tri tạo truyền thông không có nghĩa là “đừng xem” Nó có nghĩa là “xem một cách cẩn trọng và suy nghĩ một cách có chính kiến”
5 Câu hỏi chính LÀ câu trả lời
Biết đặt câu hỏi chính là cách chúng ta học tập trong thế giới tràn ngập thông tin Không sai khi khẳng định rằng, câu hỏi chính là câu trả lời Nhà tương lai học hàng đầu thế giới John Naisbitt đã chỉ ra rằng: “Chúng ta đang chết đuối trong thông tin nhưng lại chết đói về tri thức” Ông này cũng chỉ ra rằng trong một thế giơi liên tục
thay đổi, kỹ năng quan trọng nhất cần có là học phương pháp học
Tiếp cận giáo dục dưới góc độ tri tạo truyền thông chính là cách để giúp con người sống tự tin và xã hội truyền thông
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Center for Media Literacy, Literacy for the 21 st century – An overview & orientation guide to media literacy education, Hoa Kỳ
2 Center for Media Literacy, Five key questions that can change the world –
Classroom activities for media literacy, Hoa Kỳ
3 David Considine, An introduction to media literacy, The journal of Media
Literacy, Volume 41, 1995
4 David Considine, Some principles of media literacy,
http://www.ci.appstate.edu
5 UNESCO, Extracts from the Gr ĩ nwald Declaration on media education,
Website: www.unesco.org, 1982
6 Website: www.medialit.org – Center for Media Literacy
Trang 107 Website: www.pbs.org/weta/myjourneyhome/teachers/glossary.html#A
Media literacy glossary