TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ISSN 2354-1172 Tập 6, Số 3, 2020 MỤC LỤC Phạm Hồng Tung Đại dịch Covid-19 - kiểm nghiệm năng lực tư duy và hành động trong thế giới toàn cầu hóa 295
Trang 2TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ISSN 2354-1172 Tập 6, Số 3, 2020
MỤC LỤC
Phạm Hồng Tung
Đại dịch Covid-19 - kiểm nghiệm năng lực tư duy và hành động trong thế giới
toàn cầu hóa
295
Trần Viết Nghĩa, Phạm Quang Minh
Việt Nam trong tiến trình giải quyết vấn đề Campuchia từ năm 1979 đến năm 1991
313
Nguyễn Thu Giang
Cảm giác lo âu và truyền thông đương đại: Một tổng quan điểm luận
324
Đinh Hữu Công
Vai trò kiến tạo phát triển bền vững của nhà nước: Từ thực trạng tỉnh Hà Tĩnh
và những gợi mở cho Việt Nam hiện nay
336
Huỳnh Ngọc Thu
Biến đổi văn hóa tinh thần trong cộng đồng tộc người thiểu số tại chỗ ở khu vực
Lang Biang, tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam
354
Trịnh Thùy Dương
Từ bảo quyển đến truyện Nôm: Về nguồn gốc và quá trình lưu hành Lưu Hương diễn nghĩa bảo quyển tại Việt Nam đầu thế kỉ XX
373
Phạm Hoàng Mạnh Hà
Tước phong “Trí tự” và vị trí của nó trong hệ thống tước vị thời vua Lê Thái Tổ
395
Dương Xuân Quang
Biến thể từ tiếng Việt - Khái niệm, đặc điểm và phân loại
404
Trang 3CONTENTS
Pham Hong Tung
The Covid-19 Pandemic: A Test of the Thinking and Acting Capacity
in the Globalizing World
295
Tran Viet Nghia, Pham Quang Minh
Vietnam in Solving the Cambodian Issue from 1979 to 1991
313
Nguyen Thu Giang
Social Anxiety and Contemporary Media: A Review
324
Dinh Huu Cong
The State’s Role in Creating Sustainable Development: Case Study of Ha Tinh Province
and Suggestions for Vietnam Today
336
Huynh Ngoc Thu
The Spiritual Cultural Changes in Ethnic Minorities in Lang Biang,
Lam Dong Province, Vietnam
354
Trinh Thuy Duong
From “Precious Scroll” to “Nom script”: On the Origin and Transmission of Luu Huong
dien nghia bao quyenin Vietnam’s early 20th century
373
Pham Hoang Manh Ha
The Title “Tri tu” and Its Role in the Official Title System under Le Thai To 395
Duong Xuan Quang
Variants of Vietnamese Word - Concept, Characteristic and Classification
404
Trang 4Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 6, Số 3 (2020) 324-335
324
điểm luận
Nguyễn Thu Giang*
Tóm tắt: Bài tổng quan này trình bày khái lược một số nghiên cứu từ lập trường phê phán
về mối quan hệ giữa truyền thông và cảm xúc lo âu mang tính xã hội Phần đầu tiên của
tổng quan truy lại cấu trúc cảm xúc của thời hiện đại thông qua việc diễn giải các lý thuyết chính trị-xã hội kinh điển Trên cơ sở này, phần thứ hai của bài viết tập trung vào việc lý thuyết hoá tính bấp bênh (precarity) trong đời sống đương đại nhằm chỉ ra bối cảnh toàn cầu đang quy định cấu trúc cảm xúc của con người hiện nay Phần thứ ba của bài viết đưa
ra những lý thuyết phê phán cơ bản liên quan tới mối quan hệ giữa truyền thông và cảm giác lo âu
Từ khóa: cảm xúc; cảm giác; truyền thông; tính bấp bênh
Ngày nhận 05/7/2019; ngày chỉnh sửa 17/5/2020; ngày chấp nhận đăng 30/6/2020
DOI: https://doi.org/10.33100/tckhxhnv6.3.NguyenThuGiang
1 Giới thiệu
“Cảm xúc là nguồn lực tối thượng” là
phát biểu của Roberts (2003), nhà tiếp thị
nổi tiếng toàn cầu Roberts nhấn mạnh rằng
chính cảm xúc chứ không phải nhận thức lý
tính của công chúng mới là thứ đem lại
quyền lực đích thực cho các thông điệp
truyền thông trong thời đại bùng nổ thông
tin hiện nay Trong kỷ nguyên hậu Chiến
tranh Lạnh, nơi sự mở rộng thị trường không
chỉ là một xung lực kinh tế mà còn cả chính
trị và văn hoá, thì phát ngôn của Roberts có
giá trị dự báo cho cả lĩnh vực tiếp thị lẫn
một hiện thực mang tính chính trị - xã hội
Trong vài thập kỷ gần đây, cảm xúc đã trở
thành đối tượng can thiệp then chốt của
nhiều hiện tượng chính trị nổi bật trên thế
giới Ví dụ tiêu biểu nhất chính là cuộc
chiến chống khủng bố của Hoa Kỳ mà thực
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG
Hà Nội; email: ntgiang@ussh.edu.vn
chất chính là nhắm vào một cảm xúc cụ thể -
sự hoảng sợ - như cái tên “The war on terror” của cuộc chiến này cho thấy Cuộc chiến tiêu biểu cho kỷ nguyên hậu Chiến tranh Lạnh này cũng làm lộ ra một sự thật rằng trong số vô vàn cảm xúc của con người, sự lo âu và sợ hãi (fear) đang trở thành một cảm xúc mang tính thời đại khi
nó lan sâu vào đời sống văn hoá - chính trị -
xã hội của con người ở cả cấp độ riêng tư lẫn tập thể Ở phương Tây, cảm giác đặc thù
là nỗi lo lắng về người nhập cư, về tính bấp bênh của nền kinh tế, về ám ảnh khủng bố, cũng như viễn cảnh diệt vong đến từ sự biến đổi khí hậu Ở Việt Nam, người ta lại phải với đương đầu với những nỗi lo âu đặc thù cho một xã hội phát triển quá nhanh Người dân Việt Nam lo âu không ngớt về thực phẩm bẩn, an toàn giao thông, chất lượng giáo dục và ô nhiễm môi trường Truyền thông đại chúng và truyền thông xã hội có vai trò quan trọng trong việc lưu thông, sản sinh, và tạo ra sự cộng hưởng cho những nỗi
Trang 5lo âu nói trên, đặc biệt là trong thời đại toàn
cầu hoá nơi biên giới của thông tin và cảm
xúc gần như không tồn tại
Vậy ở cấp độ xã hội, cảm giác lo âu là
gì? Cơ chế tác động tập thể của nó được vận
hành ra sao? Truyền thông có vai trò gì
trong việc chi phối cảm giác lo âu của công
chúng? Sự lan rộng của cảm giác lo âu trong
nhiều xã hội hiện nay cho chúng ta biết điều
gì về hoàn cảnh sống của con người đương
đại? Đây là những câu hỏi quan trọng cần
được hệ thống hoá về mặt lý thuyết
Bài nghiên cứu tổng quan này tập trung
vào đánh giá các nghiên cứu trên thế giới và
tại Việt Nam liên quan tới mối quan hệ giữa
truyền thông và cảm xúc nói chung, cũng
như cảm xúc lo âu nói riêng nhằm phần nào
cung cấp một nền tảng lý thuyết để giải đáp
các câu hỏi trên Bài viết có ba mục đích
chính Thứ nhất, bài viết truy lại các nghiên
cứu cảm xúc lo âu trong thời hiện đại thông
qua việc diễn giải các lý thuyết chính trị - xã
hội kinh điển Thứ hai, bài viết tập trung vào
việc lý thuyết hoá tính bấp bênh trong đời
sống đương đại nhằm chỉ ra bối cảnh toàn
cầu đang quy định cấu trúc cảm xúc lo âu
của con người hiện nay Thứ ba, bài viết đưa
ra những lý thuyết phê phán cơ bản liên
quan tới mối quan hệ giữa truyền thông và
cảm giác lo âu
2 Cảm giác lo âu trong thời kỳ hiện đại
Từ khi có sự ra đời của khoa học xã hội
và nhân văn hiện đại thì những nghiên cứu
liên quan tới sự lo âu chỉ chiếm vị trí bên lề,
nhường chỗ cho những mối quan tâm lớn
khác như chủ nghĩa tư bản, quá trình thuộc
địa hoá, quá trình thế tục hoá, hay sự ra đời
và vận hành của nhà nước hiện đại Dù vậy,
nhiều nhà lý thuyết đã gián tiếp xác lập
những nền tảng quan trọng để lý giải cơ chế
tạo ra cảm giác lo âu của con người hiện đại
Ba “kiến trúc sư trưởng” của nền khoa học
xã hội nhân văn, Karl Marx, Emile Durkheim và Max Weber, đều đưa ra những khái niệm có ít nhiều quan hệ với sự lo âu của con người, gắn lịch sử phát triển của thời hiện đại
Kế thừa từ Hegel, Karl Marx dùng khái niệm “tha hoá” (alienation) để miêu tả việc người lao động trong xã hội tư bản mất đi khả năng kiểm soát sức lao động, thành phẩm lao động và quá trình lao động của mình Trong Bản thảo kinh tế triết học 1844,
mặc dù Marx (2007) mặc dù không trực tiếp bàn về cảm giác lo âu, nhưng thông qua khái niệm tha hoá, Marx đã chỉ ra không gian sống đầy bấp bênh của người lao động trong
xã hội tư bản, nơi của cải vật chất sinh ra nhiều hơn bao giờ hết nhưng người lao động lại bị tước bỏ khả năng làm chủ cuộc sống
và duy trì sự bình an của mình Trong quá trình bị tha hoá ra khỏi chính sức lao động
và sản phẩm lao động của bản thân, người lao động “không cảm thấy sung sướng, mà cảm thấy khổ sở, không được phát huy một cách tự do năng lượng thể chất và tinh thần,
mà chỉ làm kiệt quệ thân thể và phá hoại tinh thần của chính mình” (Marx 2007: 72) Như vậy, với Marx, sự tha hoá là bối cảnh rộng lớn cho tình trạng lo âu và sự bấp bênh của con người hiện đại - những cá nhân chịu
sự điều tiết của chủ nghĩa tư bản Những kiến giải mang màu sắc kinh tế chính trị của Marx về sự tha hoá là một nền tảng quan trọng cho các nghiên cứu về sự bất an cho tới tận thời điểm hiện nay, tiêu biểu nhất là nghiên cứu của Ahmed (2004) về những cảm xúc tiêu cực trong xã hội phương Tây đương đại nhắm tới những đối tượng bên lề như phụ nữ, người nghèo, người nhập cư, và những người da màu
Cha đẻ của bộ môn xã hội học Emile Durkheim cũng đưa ra một khái niệm rất quan trọng, “anomie”, để soi chiếu cho tình trạng bất an và lo âu của đời sống hiện đại
Trang 6Nguyễn Thu Giang / Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 6, Số 3 (2020) 324-335
326
Thuật ngữ “anomie” của Durkheim xuất
phát từ gốc Hy Lạp của “a” (vắng, thiếu,
không có) và “nomos” (chuẩn) Thuật ngữ
này vì thế có thể được dịch sang tiếng Việt
là “vô chuẩn”, “vắng chuẩn”, “chệch
chuẩn”, tuỳ theo những lựa chọn chuyển
ngữ khác nhau Được đề cập lần đầu tiên
trong cuốn The division of labor in society
(1893/2014) và được làm rõ hơn tác phẩm
kinh điển Suicide: A study in sociology
(1897/2002), khái niệm “anomie” chỉ ra một
đặc trưng của xã hội hiện đại, nơi nhu cầu cá
nhân của con người bị tách rời ra khỏi các
tiêu chuẩn chung của xã hội Theo
Durkheim, trong các xã hội tiền hiện đại,
con người cá nhân chịu sự điều tiết hài hoà
bởi quy chuẩn xã hội, và vì thế, cuộc sống
của con người không bị nhiễu loạn bởi sự
phát triển thiếu định hướng của nhu cầu cá
nhân Trái lại, sự phân công lao động sâu
sắc và sự biến đổi xã hội nhanh chóng của
thời hiện đại khiến con người cá nhân dần bị
đứt gãy khỏi các chuẩn mực chung Vì thế,
họ trở nên đơn độc, ích kỷ, không có khả
năng thiết lập các giới hạn cho nhu cầu của
bản thân Khi đó, họ rơi vào tình trạng
“anomic” - “vô chuẩn/chệch chuẩn”, tức là
họ trở nên tự do vô lối khi xa rời khỏi hệ
thống quy phạm chung Việc theo đuổi các
nhu cầu cá nhân bất tận của con người hiện
đại, theo Durkheim, là nguồn gốc của một
đời sống tinh thần tiêu cực, trong đó có tình
trạng tự tử Durkheim (2002: 209) viết:
“Theo đuổi những mục đích mà về cơ bản là
không thể đạt nổi chính là đã đưa mình vào
trạng thái bất hạnh vĩnh viễn” Khái niệm
“vô chuẩn/chệch chuẩn” của Durkheim,
thường được đặt song hành với khái niệm
“tha hoá” của Marx để xác lập nền tảng cho
các nghiên cứu về tình trạng bấp bênh và cô
độc của con người hiện đại
Nhà xã hội học Weber (2002) cũng đặc
biệt chú trọng tới đời sống tinh thần của con
người Trong một kiến giải hoàn toàn khác
biệt với luận thuyết kinh tế chính trị của Marx, Weber cho rằng đặc trưng của chủ nghĩa tư bản không nằm trong quá trình bóc lột giá trị thặng dư, mà nằm ở sự lan truyền của nền đạo đức Tin Lành Trong cuốn sách
kinh điển Tinh thần của chủ nghĩa tư bản và nền đạo đức Tin Lành, Weber chỉ ra rằng,
cải cách tôn giáo tại châu Âu, đặc biệt trong dòng Calvin, đã sản sinh ra một nền đạo đức mới Trong nền đạo đức này, con người tìm kiếm sự cứu rỗi của Chúa ở ngay trong đời sống hiện tại, chứ không phải nơi thiên đàng, sau cái chết Nền đạo đức Tin Lành thôi thúc con người tìm kiếm con đường cứu rỗi thông qua các chỉ báo về thành công mà Chúa gửi tới đời sống hàng ngày Có nghĩa
là, các tín đồ Tin Lành chỉ có thể biết họ đã
đi đúng con đường mà Chúa chọn ra cho họ hay chưa, thông qua quá trình lao động không ngừng nghỉ và sự mưu cầu thành công về vật chất “Nỗi lo âu cứu rỗi” (salvation anxiety) trở thành một đặc trưng của tín đồ Tin Lành, những người bị ám ảnh bởi lao động và bởi việc chứng minh rằng mình là người xứng đáng Theo Weber, khi quá trình thế tục hoá khiến cho xã hội tư bản dần thoát khỏi sự kiểm soát của tôn giáo, thì nền đạo đức Tin Lành vẫn tiếp tục được duy trì, nhưng đã vắng bóng Chúa Có nghĩa là, con người sống tiếp tục bị ám ảnh bởi khao khát chứng tỏ mình là người xứng đáng, và khao khát tìm kiếm bằng chứng ghi nhận ý nghĩa cuộc đời của mình trong thành công
về vật chất Nỗi lo âu lớn nhất của con người trong xã hội tư bản, vì thế, đến từ sự
ám ảnh bởi lao động và thành tựu lao động
Ba lý thuyết gia Marx, Durkheim và Weber đều không trực tiếp bàn tới sự lo âu của con người, nhưng họ có vai trò then chốt trong việc lý thuyết hoá không gian cảm xúc của thời kỳ hiện đại Một mặt, họ có những lập luận hết sức khác nhau, thậm chí đối lập nhau, về tình trạng bấp bênh, cô độc, mất tự chủ của con người hiện đại Mặt khác,
Trang 7những lý thuyết của họ có lại chia sẻ nhiều
điểm chung có thể trở thành những gợi ý
hữu ích cho những nghiên cứu liên quan tới
cảm xúc tiêu cực của con người hiện đại
Thứ nhất, cả ba học giả đều thực hiện
thao tác lịch sử hoá đời sống tâm lý của con
người Nói cách khác, mặc dù sự tha hoá,
hay chệch chuẩn, hay ám ảnh thành công có
thể đã tồn tại từ lâu trong các giai đoạn tiền
hiện đại, nhưng phải tới giai đoạn hiện đại
thì những tình trạng này mới đạt tới dạng
thức của một cấu trúc cảm xúc - “a structure
of feeling” - thuật ngữ quan trọng của
Williams (1977: 132-133) nhằm chỉ phương
thức tổ chức xã hội trên bình diện cảm xúc
Thứ hai, cả ba học giả đều nhìn nhận
trạng tâm lý của con người trong góc nhìn
xã hội học, đặt đời sống tâm lý của con
người vào các bối cảnh kinh tế - xã hội cụ
thể Tức là, họ đều gắn các chuyển biến tâm
lý cá nhân với những đặc trưng của xã hội
hiện đại, vượt thoát khỏi phạm vi của sự
riêng tư và cá nhân
Thứ ba, cả ba học giả, bất chấp sự khác
biệt trong quan điểm, đều truy nguồn gốc
của âu lo và bấp bênh từ sự phát triển của
cách mạng công nghiệp và sự ra đời của chủ
nghĩa tư bản Nỗi lo âu trở thành yếu tố
không thể tránh khỏi trong bối cảnh phân
công lao động chuyên sâu, và trong những
nền kinh tế lấy lợi nhuận là mục đích tối
thượng Một mặt, thời hiện đại thường được
gắn với những diễn ngôn tích cực như “khai
sáng”, “văn minh”, “cách mạng”, “tiến bộ”,
“nhân văn”; Mặt khác, nó cũng đi kèm với
những cảm giác tiêu cực đặc trưng của sự sự
tha hoá, sự cô độc, và lòng tham Vì thế,
những kiến giải của Marx, Durkheim và
Weber là những khung lý thuyết có sự gợi
mở lớn khi tìm hiểu về sự lo âu, đặc biệt là
trong bối cảnh Việt Nam, nơi quá trình thị
trường hoá đang diễn ra nhanh chóng với rất
nhiều tác động phức tạp và đa chiều lên cảm
xúc của con người
Tác giả kinh điển đầu tiên đưa ra những kiến giải có hệ thống về sự lo âu là Freud, cha đẻ của ngành phân tâm học Trong những tác phẩm thuộc thời kỳ đầu, Freud thường gắn sự lo âu với việc kìm nén xung năng tính dục, tức là sự lo âu tỉ lệ thuận với việc tích tụ các ẩn ức Tuy nhiên, tới cuốn
sách Inhibitions, symptoms and anxiety xuất
bản lần đầu năm 1926, Freud (2014: 128-135) thay đổi cách tiếp cận về sự lo âu khi nhấn mạnh rằng lo âu là một cảm giác liên quan tới tình trạng chờ đợi hoặc lường trước một nguy cơ nào đó trong hiện thực, thay vì liên quan tới libido, tức là ông đã gắn cho cảm giác lo âu yếu tố xã hội học vượt ra ngoài ẩn ức cá nhân Lo lắng thường xuất hiện khi con người cảm nhận được nguy cơ mất đi những gì họ trân trọng: tình yêu, lý tưởng, sự nghiệp, người thân Do vậy, lo âu (anxiety) khác với đau buồn (mourning) Nếu như đau buồn là chỉ báo của sự kết thúc (tức là khi sự mất mát đã thành hiện thực) thì lo âu lại là sự khởi đầu của một tình trạng bấp bênh tiềm tàng Nói cách khác, sự lo âu luôn đi kèm với những tình huống chưa rõ ràng, chưa có hồi kết và chưa lường đếm được hậu quả hay hiệu quả
Trong khuôn khổ nghiên cứu này, tác giả
sử dụng quan điểm của nhà tâm lý học Rollo May, người kế thừa các học giả đi trước, đặc biệt là Marx và Freud, để đưa ra một công trình trọn vẹn và có tính hệ thống nhất về sự
lo âu Trong cuốn sách kinh điển The meaning of anxiety May (2014: 330) định nghĩa: “Lo âu là trạng thái tâm lý tiêu cực xuất phát từ một mối đe doạ nào đó tới một giá trị mà một cá nhân coi là then chốt cho
sự tồn tại của mình như một nhân cách” Theo May, lo âu là một trạng thái tâm lý có tính tản mạn (defuse) và mơ hồ (vague) Điều này giúp phân biệt giữa lo âu với sợ hãi, mặc dù cả hai cảm xúc này đều hướng tới việc phải đối diện với một nguy cơ nào
đó Nếu như sự sợ hãi thường hướng tới một
Trang 8Nguyễn Thu Giang / Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 6, Số 3 (2020) 324-335
328
đối tượng cụ thể thì sự lo âu nhìn chung
không có đối tượng rõ ràng Nói cách khác,
sự lo âu gắn với một tình trạng bất an mông
lung May (2015: 330-333) phân biệt: “Đặc
tính tản mạn và không có đối tượng rõ ràng
của lo âu liên quan tới độ sâu trong nhân
cách con người khi họ cảm nhận được một
mối đe doạ Mỗi cá nhân có thể cảm thấy
các nỗi sợ hãi khác nhau khi họ đã xác lập
được một nền tảng cho sự ổn định, nhưng sự
lo âu thì xảy ra khi chính nền tảng về sự ổn
định đó bị đe doạ” Như vậy, lo âu tấn công
vào nền móng của cấu trúc tâm lý mà nhờ
đó mỗi cá nhân nhận dạng bản thân như một
chủ thể ổn định và độc lập Lo âu có liên
quan trực tiếp tới việc thiết lập sự ổn
định/bất an (security/insecurity) của đời
sống cá nhân và tập thể Lo âu cũng vì thế
có mối quan hệ chặt chẽ với sự bấp bênh,
một khái niệm được đặc biệt quan tâm trong
thời gian gần đây trong các nghiên cứu về
tình cảnh sống của con người trong thời toàn
cầu hoá
Tóm lại, lo âu là một trạng thái cảm xúc
của cơ thể nhằm phản ứng lại với tình trạng
bất ổn định và rủi ro của đời sống Từ góc
độ xã hội học và kinh tế chính trị học, sự lo
âu có thể được kết nối với sự tha hoá, sự
chệch chuẩn và nhu cầu vật chất Từ góc độ
tâm lý học, sự lo âu nằm trong một phổ cảm
xúc đa dạng, và có liên quan mật thiết với sự
sợ hãi, sự bất an, và sự bấp bênh
3 Tính bấp bênh trong thời đại toàn cầu
hoá
Như đã trình bày ở trên, lo âu chỉ chiếm
vị trí bên lề trong những lý thuyết nền tảng
của ngành khoa học xã hội và nhân văn giai
đoạn đầu thế kỷ XX Tuy nhiên, trong
khoảng 20 năm đầu của thế kỷ XXI, sự lo âu
nói riêng và đời sống cảm xúc của con
người nói chung đang trở thành một đối
tượng quan trọng của nhiều ngành nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, bên cạnh ngành tâm lý học Nói như Patricia Ticineto Clough (2015: 332) thì nền khoa học xã hội nhân văn thế giới đang trải qua cái gọi là
“bước ngoặt cảm giác” (the affective turn) Những trải nghiệm mang tính cảm xúc của con người: hạnh phúc, tức giận, đau đớn, lo
âu, thù hận đang là những chủ đề nghiên cứu tiên phong trong các ngành nhân học, địa lý, nghiên cứu văn hoá, và xã hội học Theo Clough (2015: 332), “bước ngoặt cảm giác” giúp xác lập một hướng nghiên cứu mới phù hợp với đặc trưng của thời đại toàn cầu hoá, nơi nhà nghiên cứu kết nối các kinh nghiệm
ở cấp độ cơ thể (cảm xúc, cảm giác, giác quan) với không gian rộng lớn xuyên quốc gia của biểu tượng, công nghệ, và quyền lực Trong hàng loạt lý thuyết về cảm giác (affect theories) được xuất bản gần đây, chủ
đề về sự lo âu và tình trạng bấp bênh của đời sống là một trong những nội dung chủ chốt
Lo âu, bấp bênh, sợ hãi, tổn thương (trauma), đang là những từ khoá nổi bật Ngày càng có nhiều các công trình chỉ rằng cảm giác và cảm xúc của con người đang trở thành đối tượng tác động của nhiều hệ thống quyền lực, đan cài bởi nhiều loại công nghệ mới, trong đó đáng chú ý nhất là công nghệ sinh học và công nghệ truyền thông Lauren Berlant - một trong những học giả nổi bật với các nghiên cứu về mối liên hệ giữa cảm xúc và văn hoá đại chúng - biện luận rằng riêng tư hoá là một trong những xu hướng then chốt của nhiều nền chính trị đương đại,
và rằng sự thất vọng của công chúng về mặt kinh tế và chính trị là đặc trưng cơ bản của không gian công cộng thời hậu Chiến Tranh Lạnh Đây chính là nguồn gốc của sự lo âu
và bấp bênh, cũng như của các mộng tưởng
cá nhân bắt nguồn từ sự mất lòng tin vào các
hành động tập thể Trong The queen of America goes to Washington city, Berlant (2007) nhấn mạnh rằng các phương tiện
Trang 9truyền thông đại chúng Hoa Kỳ ngày càng
tập trung vào việc thao túng cảm xúc của
công chúng thay vì điều chỉnh tư tưởng hay
nhận thức của họ Bắt đầu từ những năm
1990, tức là khi Chiến tranh Lạnh kết thúc,
truyền thông đại chúng Hoa Kỳ đóng góp
đáng kể vào việc riêng tư hoá
(personalization), và “mùi mẫn hoá” (tạm
dịch từ chữ “sentimentalization”) không
gian công Một mặt, công chúng truyền
thông ngày càng có xu hướng tìm kiếm sự
an ủi và lối thoát cho các vấn đề bất an của
đời sống thông qua việc tham gia vào các
cộng đồng riêng tư mang tính cảm xúc và
giải trí Mặt khác, các chính trị gia Hoa Kỳ
cũng tận dụng xu hướng riêng tư hoá để thu
hút sự ủng hộ của công chúng, thông qua
việc đề cao các giá trị gia đình và cá nhân
với các chiến dịch truyền thông nhấn mạnh
vào những thông điệp cảm xúc hơn là thông
điệp chính trị Trong The female complaint,
Berlant (1997) tiếp tục nhấn mạnh vai trò
của cảm xúc trong đời sống thường ngày của
công chúng nữ, những người có xu hướng
định vị bản thân thông qua sự kết nối với
những người có cùng cảm xúc hơn là những
người có chung quan điểm chính trị hay
đảng phái Ví dụ tiêu biểu cho hiện tượng
này là sự phát triển mạnh mẽ của các cộng
đồng được điều tiết bởi tính cảm xúc, dựa
trên việc chung sở thích (làm đẹp, bơi lội,
trồng cây, du lịch), chung mối lo âu (ung
thư, giảm cân, ô nhiễm, giáo dục), chung vai
trò (làm mẹ, làm vợ), hoặc chung nguồn gốc
(chủng tộc, xuất thân), v.v Nhờ vào sự kết
nối của các phương tiện và thể loại truyền
thông mới, những cộng đồng này lấn át và
thay thế cho các cộng đồng cũ có tính chính
trị tập thể với các mục tiêu thay đổi xã hội,
ví dụ như Cộng đồng phản chiến và Phong
trào nữ quyền giai đoạn 1960-1970 Mặc dù
các cộng đồng có tính riêng tư luôn tồn tại
trong bất cứ xã hội nào, nhưng trong thời kỳ
hiện nay, những cộng đồng riêng tư đã trở
thành xung lực quan trọng trong việc tổ chức đời sống cá nhân, cũng như trong việc xác lập các giá trị tập thể mà không cần phải
lệ thuộc các tổ chức chính trị chính thống Nhiều học giả khác cũng đồng tình với Berlant, khi họ nhận định rằng trong thời đại toàn cầu hoá, niềm tin vào sức mạnh thị trường và vào sự sáng tạo không giới hạn của con người cũng đi kèm với một cảm giác bất an tương xứng Xã hội càng năng động, con người càng dễ dàng xê dịch và thành công, thì con người cũng càng phải đối mặt với nhiều nguy cơ đến từ mọi phía Nói cách khác, con người trở nên tự do hơn bao giờ hết, và họ cũng trở nên bất an hơn
bao giờ hết Trong cuốn sách Encountering affect, Ben Anderson (2008) cho rằng ví dụ điển hình cho sự đan cài sâu sắc của cảm xúc/cảm giác bất an vào đời sống chính trị đương đại là sự phát triển của chủ nghĩa khủng bố, vốn dựa trên nền tảng là sự lo sợ
và tính không dự đoán được Sau sự kiện 11/9/2001, cảm giác lo âu đã trở thành một mắt xích quan trọng trong nền chính trị Mỹ
Từ phía những kẻ khủng bố, việc gieo rắc lo
sợ và bất an trở thành chiến thuật then chốt
để phá hoại xã hội phương Tây ngay trong lòng những xã hội này Từ phía những chính trị gia chống khủng bố, các biện pháp can thiệp nặng tay (như chiến tranh phủ đầu, các điều luật cho phép nghe lén hoặc tra tấn) được thông qua dựa trên căn cứ là sự lo lắng trước các nguy cơ không thể kiểm soát được nhiều hơn là thông qua các lập luận chính trị trên nền tảng duy lý (Anderson 2014: 52)
Sự sợ hãi trong thời đại của chủ nghĩa khủng bố ngày càng tiến gần tới một trạng thái lo
âu tập thể, nơi mà đối tượng của sự sợ hãi trở nên khó nắm bắt hơn bao giờ hết Sự lo
âu của công chúng vì thế dần trở thành một công cụ của quyền lực và bạo lực
Bên cạnh chủ nghĩa khủng bố, cảm giác
lo sợ và bất an trong xã hội phương Tây
Trang 10Nguyễn Thu Giang / Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 6, Số 3 (2020) 324-335
330
thường được đặt vào hai bối cảnh điển hình
khác là khủng hoảng kinh tế và biến đổi khí
hậu Trên phương diện kinh tế, Lazzarato
(2009) biện luận rằng sự lây lan của cảm
giác bất an là một trong những đặc điểm
then chốt của nền kinh tế hậu Chiến tranh
Lạnh, nhất là trong bối cảnh khủng hoảng
kinh tế toàn cầu Các cuộc khủng hoảng
kinh tế diễn ra ở diện rộng hơn, tần xuất
nhiều hơn, và hậu quả khó lường hơn Nỗi lo
âu mất việc làm, mất trợ cấp, và mất đi các
đặc quyền kinh tế - xã hội phản ánh rằng
cuộc sống của con người đang trở nên bấp
bênh hơn, mặc dù của cải có thể được làm ra
nhiều hơn Điều này vừa là hậu quả vừa là lý
do biện minh cho sự thoái lui của nhà nước
phúc lợi (welfare state), sự leo thang của
cạnh tranh tư bản, và sự mất niềm tin vào
các phong trào chính thống nhằm bảo vệ
quyền lợi người lao động Theo Lazzarato,
tình trạng này đã nới rộng khoảng cách giàu
nghèo, đẩy tầng lớp lao động vào tình trạng
bị cá nhân hoá, và vì thế, làm họ ngày một
bị mất niềm tin và bị tha hoá ra khỏi các
công cụ đấu tranh tập thể nhằm bảo vệ
quyền lợi của chính họ
Về phương diện môi trường sống,
Swyngedouw (2010) chỉ ra rằng viễn cảnh
về một ngày tận thế (apocalypse) của toàn
nhân loại là yếu tố quan trọng nhất trong các
diễn ngôn về biến đổi khí hậu Viễn cảnh
này gây ra cảm giác lo âu phi - chính - trị
khi nó lan rộng tới toàn bộ không gian sống
trên trái đất Quá trình biến đổi khí hậu quá
rộng lớn và gần như không truy được căn
nguyên duy nhất Nó khiến cho con người
luôn ở trong tình trạng phải đối mặt với một
trạng thái rủi ro vĩnh cửu Swyngedouw
(2010: 217) viết: “Diễn ngôn về môi trường
hiện nay được hình thành thông qua việc
liên tục khơi gợi sự sợ hãi và sự nguy hiểm,
kèm theo đó là viễn cảnh đen tối về sự diệt
vong sinh thái, hoặc ít nhất là những điều
kiện kinh tế - xã hội không thuận lợi trong
một tương lai gần đối với rất nhiều người
Lo âu quả thực đã trở thành mắt xích then chốt giúp thêu dệt nên các tự sự về môi trường”
Trong một nghiên cứu có liên quan tới mối quan hệ giữa cảm xúc lo âu và giới tính, tác giả Aya Hirata Kimura (2016) tập trung phân tích nỗi lo âu của các bà mẹ Nhật Bản khi phải bảo vệ con của họ trước nỗi lo rò rỉ phóng xạ sau sự biến Fukushima năm 2011 Mất niềm tin vào những cảnh báo của nhà nước, những bà mẹ Nhật Bản đã tự tìm cách đối diện với lo âu bằng các hoạt động cộng đồng tự phát, bao gồm việc tự thành lập các phòng thí nghiệm độc lập, tổ chức các phong trào hướng dẫn ăn uống chống phóng
xạ, và các hoạt động tư vấn trực tuyến Tác giả Kimura cho rằng nghiên cứu này không chỉ phản ánh một trường hợp riêng rẽ liên quan tới vụ việc cụ thể tại Fukushima Trái lại, nó gợi ra những suy tư về không gian sống của con người đương đại, nơi con người vừa phải lệ thuộc vào các diễn ngôn công cộng (khoa học, y tế, nhân đạo) vừa phải chống lại các thực hành chính trị tập thể bị cho là thiếu tin cậy do các tổ chức chính thống (nhà nước, trường học, bệnh viện) quản lý Kimura cho rằng tình trạng của các bà mẹ Nhật Bản phản ánh xu hướng
cá nhân hoá trách nhiệm tập thể, một logic
có tính phổ quát dưới thời đại của chủ nghĩa
tư bản tân tự do Đồng thời, trường hợp cụ thể của Nhật Bản cũng cho thấy toàn cầu hoá có thể duy trì những logic chung (chẳng hạn như logic của sự lo âu và sự cá nhân hoá), nhưng nó cũng luôn có đặc trưng địa phương Các logic mang tính toàn cầu luôn được phiên dịch và đan cài vào bối cảnh lịch
sử, văn hoá, xã hội của mỗi địa bàn nghiên cứu cụ thể, với các tương tác với các cá nhân và cộng đồng đặc thù
Trong cuốn Fear: The history of a political idea, Corey Robin (2004) kết luận rằng trong thời đại toàn cầu hoá, chúng ta