1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cảm giác lo âu và truyền thông đương đại một tổng quan điểm luận

19 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cảm giác lo âu và truyền thông đương đại: Một tổng quan điểm luận
Tác giả Nguyễn Thu Giang
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn
Thể loại Bài tổng quan
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 597,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ISSN 2354-1172 Tập 6, Số 3, 2020 MỤC LỤC Phạm Hồng Tung Đại dịch Covid-19 - kiểm nghiệm năng lực tư duy và hành động trong thế giới toàn cầu hóa 295

Trang 2

TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ISSN 2354-1172 Tập 6, Số 3, 2020

MỤC LỤC

Phạm Hồng Tung

Đại dịch Covid-19 - kiểm nghiệm năng lực tư duy và hành động trong thế giới

toàn cầu hóa

295

Trần Viết Nghĩa, Phạm Quang Minh

Việt Nam trong tiến trình giải quyết vấn đề Campuchia từ năm 1979 đến năm 1991

313

Nguyễn Thu Giang

Cảm giác lo âu và truyền thông đương đại: Một tổng quan điểm luận

324

Đinh Hữu Công

Vai trò kiến tạo phát triển bền vững của nhà nước: Từ thực trạng tỉnh Hà Tĩnh

và những gợi mở cho Việt Nam hiện nay

336

Huỳnh Ngọc Thu

Biến đổi văn hóa tinh thần trong cộng đồng tộc người thiểu số tại chỗ ở khu vực

Lang Biang, tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam

354

Trịnh Thùy Dương

Từ bảo quyển đến truyện Nôm: Về nguồn gốc và quá trình lưu hành Lưu Hương diễn nghĩa bảo quyển tại Việt Nam đầu thế kỉ XX

373

Phạm Hoàng Mạnh Hà

Tước phong “Trí tự” và vị trí của nó trong hệ thống tước vị thời vua Lê Thái Tổ

395

Dương Xuân Quang

Biến thể từ tiếng Việt - Khái niệm, đặc điểm và phân loại

404

Trang 3

CONTENTS

Pham Hong Tung

The Covid-19 Pandemic: A Test of the Thinking and Acting Capacity

in the Globalizing World

295

Tran Viet Nghia, Pham Quang Minh

Vietnam in Solving the Cambodian Issue from 1979 to 1991

313

Nguyen Thu Giang

Social Anxiety and Contemporary Media: A Review

324

Dinh Huu Cong

The State’s Role in Creating Sustainable Development: Case Study of Ha Tinh Province

and Suggestions for Vietnam Today

336

Huynh Ngoc Thu

The Spiritual Cultural Changes in Ethnic Minorities in Lang Biang,

Lam Dong Province, Vietnam

354

Trinh Thuy Duong

From “Precious Scroll” to “Nom script”: On the Origin and Transmission of Luu Huong

dien nghia bao quyenin Vietnam’s early 20th century

373

Pham Hoang Manh Ha

The Title “Tri tu” and Its Role in the Official Title System under Le Thai To 395

Duong Xuan Quang

Variants of Vietnamese Word - Concept, Characteristic and Classification

404

Trang 4

Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 6, Số 3 (2020) 324-335

324

điểm luận

Nguyễn Thu Giang*

Tóm tắt: Bài tổng quan này trình bày khái lược một số nghiên cứu từ lập trường phê phán

về mối quan hệ giữa truyền thông và cảm xúc lo âu mang tính xã hội Phần đầu tiên của

tổng quan truy lại cấu trúc cảm xúc của thời hiện đại thông qua việc diễn giải các lý thuyết chính trị-xã hội kinh điển Trên cơ sở này, phần thứ hai của bài viết tập trung vào việc lý thuyết hoá tính bấp bênh (precarity) trong đời sống đương đại nhằm chỉ ra bối cảnh toàn cầu đang quy định cấu trúc cảm xúc của con người hiện nay Phần thứ ba của bài viết đưa

ra những lý thuyết phê phán cơ bản liên quan tới mối quan hệ giữa truyền thông và cảm giác lo âu

Từ khóa: cảm xúc; cảm giác; truyền thông; tính bấp bênh

Ngày nhận 05/7/2019; ngày chỉnh sửa 17/5/2020; ngày chấp nhận đăng 30/6/2020

DOI: https://doi.org/10.33100/tckhxhnv6.3.NguyenThuGiang

1 Giới thiệu

“Cảm xúc là nguồn lực tối thượng” là

phát biểu của Roberts (2003), nhà tiếp thị

nổi tiếng toàn cầu Roberts nhấn mạnh rằng

chính cảm xúc chứ không phải nhận thức lý

tính của công chúng mới là thứ đem lại

quyền lực đích thực cho các thông điệp

truyền thông trong thời đại bùng nổ thông

tin hiện nay Trong kỷ nguyên hậu Chiến

tranh Lạnh, nơi sự mở rộng thị trường không

chỉ là một xung lực kinh tế mà còn cả chính

trị và văn hoá, thì phát ngôn của Roberts có

giá trị dự báo cho cả lĩnh vực tiếp thị lẫn

một hiện thực mang tính chính trị - xã hội

Trong vài thập kỷ gần đây, cảm xúc đã trở

thành đối tượng can thiệp then chốt của

nhiều hiện tượng chính trị nổi bật trên thế

giới Ví dụ tiêu biểu nhất chính là cuộc

chiến chống khủng bố của Hoa Kỳ mà thực

 Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG

Hà Nội; email: ntgiang@ussh.edu.vn

chất chính là nhắm vào một cảm xúc cụ thể -

sự hoảng sợ - như cái tên “The war on terror” của cuộc chiến này cho thấy Cuộc chiến tiêu biểu cho kỷ nguyên hậu Chiến tranh Lạnh này cũng làm lộ ra một sự thật rằng trong số vô vàn cảm xúc của con người, sự lo âu và sợ hãi (fear) đang trở thành một cảm xúc mang tính thời đại khi

nó lan sâu vào đời sống văn hoá - chính trị -

xã hội của con người ở cả cấp độ riêng tư lẫn tập thể Ở phương Tây, cảm giác đặc thù

là nỗi lo lắng về người nhập cư, về tính bấp bênh của nền kinh tế, về ám ảnh khủng bố, cũng như viễn cảnh diệt vong đến từ sự biến đổi khí hậu Ở Việt Nam, người ta lại phải với đương đầu với những nỗi lo âu đặc thù cho một xã hội phát triển quá nhanh Người dân Việt Nam lo âu không ngớt về thực phẩm bẩn, an toàn giao thông, chất lượng giáo dục và ô nhiễm môi trường Truyền thông đại chúng và truyền thông xã hội có vai trò quan trọng trong việc lưu thông, sản sinh, và tạo ra sự cộng hưởng cho những nỗi

Trang 5

lo âu nói trên, đặc biệt là trong thời đại toàn

cầu hoá nơi biên giới của thông tin và cảm

xúc gần như không tồn tại

Vậy ở cấp độ xã hội, cảm giác lo âu là

gì? Cơ chế tác động tập thể của nó được vận

hành ra sao? Truyền thông có vai trò gì

trong việc chi phối cảm giác lo âu của công

chúng? Sự lan rộng của cảm giác lo âu trong

nhiều xã hội hiện nay cho chúng ta biết điều

gì về hoàn cảnh sống của con người đương

đại? Đây là những câu hỏi quan trọng cần

được hệ thống hoá về mặt lý thuyết

Bài nghiên cứu tổng quan này tập trung

vào đánh giá các nghiên cứu trên thế giới và

tại Việt Nam liên quan tới mối quan hệ giữa

truyền thông và cảm xúc nói chung, cũng

như cảm xúc lo âu nói riêng nhằm phần nào

cung cấp một nền tảng lý thuyết để giải đáp

các câu hỏi trên Bài viết có ba mục đích

chính Thứ nhất, bài viết truy lại các nghiên

cứu cảm xúc lo âu trong thời hiện đại thông

qua việc diễn giải các lý thuyết chính trị - xã

hội kinh điển Thứ hai, bài viết tập trung vào

việc lý thuyết hoá tính bấp bênh trong đời

sống đương đại nhằm chỉ ra bối cảnh toàn

cầu đang quy định cấu trúc cảm xúc lo âu

của con người hiện nay Thứ ba, bài viết đưa

ra những lý thuyết phê phán cơ bản liên

quan tới mối quan hệ giữa truyền thông và

cảm giác lo âu

2 Cảm giác lo âu trong thời kỳ hiện đại

Từ khi có sự ra đời của khoa học xã hội

và nhân văn hiện đại thì những nghiên cứu

liên quan tới sự lo âu chỉ chiếm vị trí bên lề,

nhường chỗ cho những mối quan tâm lớn

khác như chủ nghĩa tư bản, quá trình thuộc

địa hoá, quá trình thế tục hoá, hay sự ra đời

và vận hành của nhà nước hiện đại Dù vậy,

nhiều nhà lý thuyết đã gián tiếp xác lập

những nền tảng quan trọng để lý giải cơ chế

tạo ra cảm giác lo âu của con người hiện đại

Ba “kiến trúc sư trưởng” của nền khoa học

xã hội nhân văn, Karl Marx, Emile Durkheim và Max Weber, đều đưa ra những khái niệm có ít nhiều quan hệ với sự lo âu của con người, gắn lịch sử phát triển của thời hiện đại

Kế thừa từ Hegel, Karl Marx dùng khái niệm “tha hoá” (alienation) để miêu tả việc người lao động trong xã hội tư bản mất đi khả năng kiểm soát sức lao động, thành phẩm lao động và quá trình lao động của mình Trong Bản thảo kinh tế triết học 1844,

mặc dù Marx (2007) mặc dù không trực tiếp bàn về cảm giác lo âu, nhưng thông qua khái niệm tha hoá, Marx đã chỉ ra không gian sống đầy bấp bênh của người lao động trong

xã hội tư bản, nơi của cải vật chất sinh ra nhiều hơn bao giờ hết nhưng người lao động lại bị tước bỏ khả năng làm chủ cuộc sống

và duy trì sự bình an của mình Trong quá trình bị tha hoá ra khỏi chính sức lao động

và sản phẩm lao động của bản thân, người lao động “không cảm thấy sung sướng, mà cảm thấy khổ sở, không được phát huy một cách tự do năng lượng thể chất và tinh thần,

mà chỉ làm kiệt quệ thân thể và phá hoại tinh thần của chính mình” (Marx 2007: 72) Như vậy, với Marx, sự tha hoá là bối cảnh rộng lớn cho tình trạng lo âu và sự bấp bênh của con người hiện đại - những cá nhân chịu

sự điều tiết của chủ nghĩa tư bản Những kiến giải mang màu sắc kinh tế chính trị của Marx về sự tha hoá là một nền tảng quan trọng cho các nghiên cứu về sự bất an cho tới tận thời điểm hiện nay, tiêu biểu nhất là nghiên cứu của Ahmed (2004) về những cảm xúc tiêu cực trong xã hội phương Tây đương đại nhắm tới những đối tượng bên lề như phụ nữ, người nghèo, người nhập cư, và những người da màu

Cha đẻ của bộ môn xã hội học Emile Durkheim cũng đưa ra một khái niệm rất quan trọng, “anomie”, để soi chiếu cho tình trạng bất an và lo âu của đời sống hiện đại

Trang 6

Nguyễn Thu Giang / Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 6, Số 3 (2020) 324-335

326

Thuật ngữ “anomie” của Durkheim xuất

phát từ gốc Hy Lạp của “a” (vắng, thiếu,

không có) và “nomos” (chuẩn) Thuật ngữ

này vì thế có thể được dịch sang tiếng Việt

là “vô chuẩn”, “vắng chuẩn”, “chệch

chuẩn”, tuỳ theo những lựa chọn chuyển

ngữ khác nhau Được đề cập lần đầu tiên

trong cuốn The division of labor in society

(1893/2014) và được làm rõ hơn tác phẩm

kinh điển Suicide: A study in sociology

(1897/2002), khái niệm “anomie” chỉ ra một

đặc trưng của xã hội hiện đại, nơi nhu cầu cá

nhân của con người bị tách rời ra khỏi các

tiêu chuẩn chung của xã hội Theo

Durkheim, trong các xã hội tiền hiện đại,

con người cá nhân chịu sự điều tiết hài hoà

bởi quy chuẩn xã hội, và vì thế, cuộc sống

của con người không bị nhiễu loạn bởi sự

phát triển thiếu định hướng của nhu cầu cá

nhân Trái lại, sự phân công lao động sâu

sắc và sự biến đổi xã hội nhanh chóng của

thời hiện đại khiến con người cá nhân dần bị

đứt gãy khỏi các chuẩn mực chung Vì thế,

họ trở nên đơn độc, ích kỷ, không có khả

năng thiết lập các giới hạn cho nhu cầu của

bản thân Khi đó, họ rơi vào tình trạng

“anomic” - “vô chuẩn/chệch chuẩn”, tức là

họ trở nên tự do vô lối khi xa rời khỏi hệ

thống quy phạm chung Việc theo đuổi các

nhu cầu cá nhân bất tận của con người hiện

đại, theo Durkheim, là nguồn gốc của một

đời sống tinh thần tiêu cực, trong đó có tình

trạng tự tử Durkheim (2002: 209) viết:

“Theo đuổi những mục đích mà về cơ bản là

không thể đạt nổi chính là đã đưa mình vào

trạng thái bất hạnh vĩnh viễn” Khái niệm

“vô chuẩn/chệch chuẩn” của Durkheim,

thường được đặt song hành với khái niệm

“tha hoá” của Marx để xác lập nền tảng cho

các nghiên cứu về tình trạng bấp bênh và cô

độc của con người hiện đại

Nhà xã hội học Weber (2002) cũng đặc

biệt chú trọng tới đời sống tinh thần của con

người Trong một kiến giải hoàn toàn khác

biệt với luận thuyết kinh tế chính trị của Marx, Weber cho rằng đặc trưng của chủ nghĩa tư bản không nằm trong quá trình bóc lột giá trị thặng dư, mà nằm ở sự lan truyền của nền đạo đức Tin Lành Trong cuốn sách

kinh điển Tinh thần của chủ nghĩa tư bản và nền đạo đức Tin Lành, Weber chỉ ra rằng,

cải cách tôn giáo tại châu Âu, đặc biệt trong dòng Calvin, đã sản sinh ra một nền đạo đức mới Trong nền đạo đức này, con người tìm kiếm sự cứu rỗi của Chúa ở ngay trong đời sống hiện tại, chứ không phải nơi thiên đàng, sau cái chết Nền đạo đức Tin Lành thôi thúc con người tìm kiếm con đường cứu rỗi thông qua các chỉ báo về thành công mà Chúa gửi tới đời sống hàng ngày Có nghĩa

là, các tín đồ Tin Lành chỉ có thể biết họ đã

đi đúng con đường mà Chúa chọn ra cho họ hay chưa, thông qua quá trình lao động không ngừng nghỉ và sự mưu cầu thành công về vật chất “Nỗi lo âu cứu rỗi” (salvation anxiety) trở thành một đặc trưng của tín đồ Tin Lành, những người bị ám ảnh bởi lao động và bởi việc chứng minh rằng mình là người xứng đáng Theo Weber, khi quá trình thế tục hoá khiến cho xã hội tư bản dần thoát khỏi sự kiểm soát của tôn giáo, thì nền đạo đức Tin Lành vẫn tiếp tục được duy trì, nhưng đã vắng bóng Chúa Có nghĩa là, con người sống tiếp tục bị ám ảnh bởi khao khát chứng tỏ mình là người xứng đáng, và khao khát tìm kiếm bằng chứng ghi nhận ý nghĩa cuộc đời của mình trong thành công

về vật chất Nỗi lo âu lớn nhất của con người trong xã hội tư bản, vì thế, đến từ sự

ám ảnh bởi lao động và thành tựu lao động

Ba lý thuyết gia Marx, Durkheim và Weber đều không trực tiếp bàn tới sự lo âu của con người, nhưng họ có vai trò then chốt trong việc lý thuyết hoá không gian cảm xúc của thời kỳ hiện đại Một mặt, họ có những lập luận hết sức khác nhau, thậm chí đối lập nhau, về tình trạng bấp bênh, cô độc, mất tự chủ của con người hiện đại Mặt khác,

Trang 7

những lý thuyết của họ có lại chia sẻ nhiều

điểm chung có thể trở thành những gợi ý

hữu ích cho những nghiên cứu liên quan tới

cảm xúc tiêu cực của con người hiện đại

Thứ nhất, cả ba học giả đều thực hiện

thao tác lịch sử hoá đời sống tâm lý của con

người Nói cách khác, mặc dù sự tha hoá,

hay chệch chuẩn, hay ám ảnh thành công có

thể đã tồn tại từ lâu trong các giai đoạn tiền

hiện đại, nhưng phải tới giai đoạn hiện đại

thì những tình trạng này mới đạt tới dạng

thức của một cấu trúc cảm xúc - “a structure

of feeling” - thuật ngữ quan trọng của

Williams (1977: 132-133) nhằm chỉ phương

thức tổ chức xã hội trên bình diện cảm xúc

Thứ hai, cả ba học giả đều nhìn nhận

trạng tâm lý của con người trong góc nhìn

xã hội học, đặt đời sống tâm lý của con

người vào các bối cảnh kinh tế - xã hội cụ

thể Tức là, họ đều gắn các chuyển biến tâm

lý cá nhân với những đặc trưng của xã hội

hiện đại, vượt thoát khỏi phạm vi của sự

riêng tư và cá nhân

Thứ ba, cả ba học giả, bất chấp sự khác

biệt trong quan điểm, đều truy nguồn gốc

của âu lo và bấp bênh từ sự phát triển của

cách mạng công nghiệp và sự ra đời của chủ

nghĩa tư bản Nỗi lo âu trở thành yếu tố

không thể tránh khỏi trong bối cảnh phân

công lao động chuyên sâu, và trong những

nền kinh tế lấy lợi nhuận là mục đích tối

thượng Một mặt, thời hiện đại thường được

gắn với những diễn ngôn tích cực như “khai

sáng”, “văn minh”, “cách mạng”, “tiến bộ”,

“nhân văn”; Mặt khác, nó cũng đi kèm với

những cảm giác tiêu cực đặc trưng của sự sự

tha hoá, sự cô độc, và lòng tham Vì thế,

những kiến giải của Marx, Durkheim và

Weber là những khung lý thuyết có sự gợi

mở lớn khi tìm hiểu về sự lo âu, đặc biệt là

trong bối cảnh Việt Nam, nơi quá trình thị

trường hoá đang diễn ra nhanh chóng với rất

nhiều tác động phức tạp và đa chiều lên cảm

xúc của con người

Tác giả kinh điển đầu tiên đưa ra những kiến giải có hệ thống về sự lo âu là Freud, cha đẻ của ngành phân tâm học Trong những tác phẩm thuộc thời kỳ đầu, Freud thường gắn sự lo âu với việc kìm nén xung năng tính dục, tức là sự lo âu tỉ lệ thuận với việc tích tụ các ẩn ức Tuy nhiên, tới cuốn

sách Inhibitions, symptoms and anxiety xuất

bản lần đầu năm 1926, Freud (2014: 128-135) thay đổi cách tiếp cận về sự lo âu khi nhấn mạnh rằng lo âu là một cảm giác liên quan tới tình trạng chờ đợi hoặc lường trước một nguy cơ nào đó trong hiện thực, thay vì liên quan tới libido, tức là ông đã gắn cho cảm giác lo âu yếu tố xã hội học vượt ra ngoài ẩn ức cá nhân Lo lắng thường xuất hiện khi con người cảm nhận được nguy cơ mất đi những gì họ trân trọng: tình yêu, lý tưởng, sự nghiệp, người thân Do vậy, lo âu (anxiety) khác với đau buồn (mourning) Nếu như đau buồn là chỉ báo của sự kết thúc (tức là khi sự mất mát đã thành hiện thực) thì lo âu lại là sự khởi đầu của một tình trạng bấp bênh tiềm tàng Nói cách khác, sự lo âu luôn đi kèm với những tình huống chưa rõ ràng, chưa có hồi kết và chưa lường đếm được hậu quả hay hiệu quả

Trong khuôn khổ nghiên cứu này, tác giả

sử dụng quan điểm của nhà tâm lý học Rollo May, người kế thừa các học giả đi trước, đặc biệt là Marx và Freud, để đưa ra một công trình trọn vẹn và có tính hệ thống nhất về sự

lo âu Trong cuốn sách kinh điển The meaning of anxiety May (2014: 330) định nghĩa: “Lo âu là trạng thái tâm lý tiêu cực xuất phát từ một mối đe doạ nào đó tới một giá trị mà một cá nhân coi là then chốt cho

sự tồn tại của mình như một nhân cách” Theo May, lo âu là một trạng thái tâm lý có tính tản mạn (defuse) và mơ hồ (vague) Điều này giúp phân biệt giữa lo âu với sợ hãi, mặc dù cả hai cảm xúc này đều hướng tới việc phải đối diện với một nguy cơ nào

đó Nếu như sự sợ hãi thường hướng tới một

Trang 8

Nguyễn Thu Giang / Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 6, Số 3 (2020) 324-335

328

đối tượng cụ thể thì sự lo âu nhìn chung

không có đối tượng rõ ràng Nói cách khác,

sự lo âu gắn với một tình trạng bất an mông

lung May (2015: 330-333) phân biệt: “Đặc

tính tản mạn và không có đối tượng rõ ràng

của lo âu liên quan tới độ sâu trong nhân

cách con người khi họ cảm nhận được một

mối đe doạ Mỗi cá nhân có thể cảm thấy

các nỗi sợ hãi khác nhau khi họ đã xác lập

được một nền tảng cho sự ổn định, nhưng sự

lo âu thì xảy ra khi chính nền tảng về sự ổn

định đó bị đe doạ” Như vậy, lo âu tấn công

vào nền móng của cấu trúc tâm lý mà nhờ

đó mỗi cá nhân nhận dạng bản thân như một

chủ thể ổn định và độc lập Lo âu có liên

quan trực tiếp tới việc thiết lập sự ổn

định/bất an (security/insecurity) của đời

sống cá nhân và tập thể Lo âu cũng vì thế

có mối quan hệ chặt chẽ với sự bấp bênh,

một khái niệm được đặc biệt quan tâm trong

thời gian gần đây trong các nghiên cứu về

tình cảnh sống của con người trong thời toàn

cầu hoá

Tóm lại, lo âu là một trạng thái cảm xúc

của cơ thể nhằm phản ứng lại với tình trạng

bất ổn định và rủi ro của đời sống Từ góc

độ xã hội học và kinh tế chính trị học, sự lo

âu có thể được kết nối với sự tha hoá, sự

chệch chuẩn và nhu cầu vật chất Từ góc độ

tâm lý học, sự lo âu nằm trong một phổ cảm

xúc đa dạng, và có liên quan mật thiết với sự

sợ hãi, sự bất an, và sự bấp bênh

3 Tính bấp bênh trong thời đại toàn cầu

hoá

Như đã trình bày ở trên, lo âu chỉ chiếm

vị trí bên lề trong những lý thuyết nền tảng

của ngành khoa học xã hội và nhân văn giai

đoạn đầu thế kỷ XX Tuy nhiên, trong

khoảng 20 năm đầu của thế kỷ XXI, sự lo âu

nói riêng và đời sống cảm xúc của con

người nói chung đang trở thành một đối

tượng quan trọng của nhiều ngành nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, bên cạnh ngành tâm lý học Nói như Patricia Ticineto Clough (2015: 332) thì nền khoa học xã hội nhân văn thế giới đang trải qua cái gọi là

“bước ngoặt cảm giác” (the affective turn) Những trải nghiệm mang tính cảm xúc của con người: hạnh phúc, tức giận, đau đớn, lo

âu, thù hận đang là những chủ đề nghiên cứu tiên phong trong các ngành nhân học, địa lý, nghiên cứu văn hoá, và xã hội học Theo Clough (2015: 332), “bước ngoặt cảm giác” giúp xác lập một hướng nghiên cứu mới phù hợp với đặc trưng của thời đại toàn cầu hoá, nơi nhà nghiên cứu kết nối các kinh nghiệm

ở cấp độ cơ thể (cảm xúc, cảm giác, giác quan) với không gian rộng lớn xuyên quốc gia của biểu tượng, công nghệ, và quyền lực Trong hàng loạt lý thuyết về cảm giác (affect theories) được xuất bản gần đây, chủ

đề về sự lo âu và tình trạng bấp bênh của đời sống là một trong những nội dung chủ chốt

Lo âu, bấp bênh, sợ hãi, tổn thương (trauma), đang là những từ khoá nổi bật Ngày càng có nhiều các công trình chỉ rằng cảm giác và cảm xúc của con người đang trở thành đối tượng tác động của nhiều hệ thống quyền lực, đan cài bởi nhiều loại công nghệ mới, trong đó đáng chú ý nhất là công nghệ sinh học và công nghệ truyền thông Lauren Berlant - một trong những học giả nổi bật với các nghiên cứu về mối liên hệ giữa cảm xúc và văn hoá đại chúng - biện luận rằng riêng tư hoá là một trong những xu hướng then chốt của nhiều nền chính trị đương đại,

và rằng sự thất vọng của công chúng về mặt kinh tế và chính trị là đặc trưng cơ bản của không gian công cộng thời hậu Chiến Tranh Lạnh Đây chính là nguồn gốc của sự lo âu

và bấp bênh, cũng như của các mộng tưởng

cá nhân bắt nguồn từ sự mất lòng tin vào các

hành động tập thể Trong The queen of America goes to Washington city, Berlant (2007) nhấn mạnh rằng các phương tiện

Trang 9

truyền thông đại chúng Hoa Kỳ ngày càng

tập trung vào việc thao túng cảm xúc của

công chúng thay vì điều chỉnh tư tưởng hay

nhận thức của họ Bắt đầu từ những năm

1990, tức là khi Chiến tranh Lạnh kết thúc,

truyền thông đại chúng Hoa Kỳ đóng góp

đáng kể vào việc riêng tư hoá

(personalization), và “mùi mẫn hoá” (tạm

dịch từ chữ “sentimentalization”) không

gian công Một mặt, công chúng truyền

thông ngày càng có xu hướng tìm kiếm sự

an ủi và lối thoát cho các vấn đề bất an của

đời sống thông qua việc tham gia vào các

cộng đồng riêng tư mang tính cảm xúc và

giải trí Mặt khác, các chính trị gia Hoa Kỳ

cũng tận dụng xu hướng riêng tư hoá để thu

hút sự ủng hộ của công chúng, thông qua

việc đề cao các giá trị gia đình và cá nhân

với các chiến dịch truyền thông nhấn mạnh

vào những thông điệp cảm xúc hơn là thông

điệp chính trị Trong The female complaint,

Berlant (1997) tiếp tục nhấn mạnh vai trò

của cảm xúc trong đời sống thường ngày của

công chúng nữ, những người có xu hướng

định vị bản thân thông qua sự kết nối với

những người có cùng cảm xúc hơn là những

người có chung quan điểm chính trị hay

đảng phái Ví dụ tiêu biểu cho hiện tượng

này là sự phát triển mạnh mẽ của các cộng

đồng được điều tiết bởi tính cảm xúc, dựa

trên việc chung sở thích (làm đẹp, bơi lội,

trồng cây, du lịch), chung mối lo âu (ung

thư, giảm cân, ô nhiễm, giáo dục), chung vai

trò (làm mẹ, làm vợ), hoặc chung nguồn gốc

(chủng tộc, xuất thân), v.v Nhờ vào sự kết

nối của các phương tiện và thể loại truyền

thông mới, những cộng đồng này lấn át và

thay thế cho các cộng đồng cũ có tính chính

trị tập thể với các mục tiêu thay đổi xã hội,

ví dụ như Cộng đồng phản chiến và Phong

trào nữ quyền giai đoạn 1960-1970 Mặc dù

các cộng đồng có tính riêng tư luôn tồn tại

trong bất cứ xã hội nào, nhưng trong thời kỳ

hiện nay, những cộng đồng riêng tư đã trở

thành xung lực quan trọng trong việc tổ chức đời sống cá nhân, cũng như trong việc xác lập các giá trị tập thể mà không cần phải

lệ thuộc các tổ chức chính trị chính thống Nhiều học giả khác cũng đồng tình với Berlant, khi họ nhận định rằng trong thời đại toàn cầu hoá, niềm tin vào sức mạnh thị trường và vào sự sáng tạo không giới hạn của con người cũng đi kèm với một cảm giác bất an tương xứng Xã hội càng năng động, con người càng dễ dàng xê dịch và thành công, thì con người cũng càng phải đối mặt với nhiều nguy cơ đến từ mọi phía Nói cách khác, con người trở nên tự do hơn bao giờ hết, và họ cũng trở nên bất an hơn

bao giờ hết Trong cuốn sách Encountering affect, Ben Anderson (2008) cho rằng ví dụ điển hình cho sự đan cài sâu sắc của cảm xúc/cảm giác bất an vào đời sống chính trị đương đại là sự phát triển của chủ nghĩa khủng bố, vốn dựa trên nền tảng là sự lo sợ

và tính không dự đoán được Sau sự kiện 11/9/2001, cảm giác lo âu đã trở thành một mắt xích quan trọng trong nền chính trị Mỹ

Từ phía những kẻ khủng bố, việc gieo rắc lo

sợ và bất an trở thành chiến thuật then chốt

để phá hoại xã hội phương Tây ngay trong lòng những xã hội này Từ phía những chính trị gia chống khủng bố, các biện pháp can thiệp nặng tay (như chiến tranh phủ đầu, các điều luật cho phép nghe lén hoặc tra tấn) được thông qua dựa trên căn cứ là sự lo lắng trước các nguy cơ không thể kiểm soát được nhiều hơn là thông qua các lập luận chính trị trên nền tảng duy lý (Anderson 2014: 52)

Sự sợ hãi trong thời đại của chủ nghĩa khủng bố ngày càng tiến gần tới một trạng thái lo

âu tập thể, nơi mà đối tượng của sự sợ hãi trở nên khó nắm bắt hơn bao giờ hết Sự lo

âu của công chúng vì thế dần trở thành một công cụ của quyền lực và bạo lực

Bên cạnh chủ nghĩa khủng bố, cảm giác

lo sợ và bất an trong xã hội phương Tây

Trang 10

Nguyễn Thu Giang / Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 6, Số 3 (2020) 324-335

330

thường được đặt vào hai bối cảnh điển hình

khác là khủng hoảng kinh tế và biến đổi khí

hậu Trên phương diện kinh tế, Lazzarato

(2009) biện luận rằng sự lây lan của cảm

giác bất an là một trong những đặc điểm

then chốt của nền kinh tế hậu Chiến tranh

Lạnh, nhất là trong bối cảnh khủng hoảng

kinh tế toàn cầu Các cuộc khủng hoảng

kinh tế diễn ra ở diện rộng hơn, tần xuất

nhiều hơn, và hậu quả khó lường hơn Nỗi lo

âu mất việc làm, mất trợ cấp, và mất đi các

đặc quyền kinh tế - xã hội phản ánh rằng

cuộc sống của con người đang trở nên bấp

bênh hơn, mặc dù của cải có thể được làm ra

nhiều hơn Điều này vừa là hậu quả vừa là lý

do biện minh cho sự thoái lui của nhà nước

phúc lợi (welfare state), sự leo thang của

cạnh tranh tư bản, và sự mất niềm tin vào

các phong trào chính thống nhằm bảo vệ

quyền lợi người lao động Theo Lazzarato,

tình trạng này đã nới rộng khoảng cách giàu

nghèo, đẩy tầng lớp lao động vào tình trạng

bị cá nhân hoá, và vì thế, làm họ ngày một

bị mất niềm tin và bị tha hoá ra khỏi các

công cụ đấu tranh tập thể nhằm bảo vệ

quyền lợi của chính họ

Về phương diện môi trường sống,

Swyngedouw (2010) chỉ ra rằng viễn cảnh

về một ngày tận thế (apocalypse) của toàn

nhân loại là yếu tố quan trọng nhất trong các

diễn ngôn về biến đổi khí hậu Viễn cảnh

này gây ra cảm giác lo âu phi - chính - trị

khi nó lan rộng tới toàn bộ không gian sống

trên trái đất Quá trình biến đổi khí hậu quá

rộng lớn và gần như không truy được căn

nguyên duy nhất Nó khiến cho con người

luôn ở trong tình trạng phải đối mặt với một

trạng thái rủi ro vĩnh cửu Swyngedouw

(2010: 217) viết: “Diễn ngôn về môi trường

hiện nay được hình thành thông qua việc

liên tục khơi gợi sự sợ hãi và sự nguy hiểm,

kèm theo đó là viễn cảnh đen tối về sự diệt

vong sinh thái, hoặc ít nhất là những điều

kiện kinh tế - xã hội không thuận lợi trong

một tương lai gần đối với rất nhiều người

Lo âu quả thực đã trở thành mắt xích then chốt giúp thêu dệt nên các tự sự về môi trường”

Trong một nghiên cứu có liên quan tới mối quan hệ giữa cảm xúc lo âu và giới tính, tác giả Aya Hirata Kimura (2016) tập trung phân tích nỗi lo âu của các bà mẹ Nhật Bản khi phải bảo vệ con của họ trước nỗi lo rò rỉ phóng xạ sau sự biến Fukushima năm 2011 Mất niềm tin vào những cảnh báo của nhà nước, những bà mẹ Nhật Bản đã tự tìm cách đối diện với lo âu bằng các hoạt động cộng đồng tự phát, bao gồm việc tự thành lập các phòng thí nghiệm độc lập, tổ chức các phong trào hướng dẫn ăn uống chống phóng

xạ, và các hoạt động tư vấn trực tuyến Tác giả Kimura cho rằng nghiên cứu này không chỉ phản ánh một trường hợp riêng rẽ liên quan tới vụ việc cụ thể tại Fukushima Trái lại, nó gợi ra những suy tư về không gian sống của con người đương đại, nơi con người vừa phải lệ thuộc vào các diễn ngôn công cộng (khoa học, y tế, nhân đạo) vừa phải chống lại các thực hành chính trị tập thể bị cho là thiếu tin cậy do các tổ chức chính thống (nhà nước, trường học, bệnh viện) quản lý Kimura cho rằng tình trạng của các bà mẹ Nhật Bản phản ánh xu hướng

cá nhân hoá trách nhiệm tập thể, một logic

có tính phổ quát dưới thời đại của chủ nghĩa

tư bản tân tự do Đồng thời, trường hợp cụ thể của Nhật Bản cũng cho thấy toàn cầu hoá có thể duy trì những logic chung (chẳng hạn như logic của sự lo âu và sự cá nhân hoá), nhưng nó cũng luôn có đặc trưng địa phương Các logic mang tính toàn cầu luôn được phiên dịch và đan cài vào bối cảnh lịch

sử, văn hoá, xã hội của mỗi địa bàn nghiên cứu cụ thể, với các tương tác với các cá nhân và cộng đồng đặc thù

Trong cuốn Fear: The history of a political idea, Corey Robin (2004) kết luận rằng trong thời đại toàn cầu hoá, chúng ta

Ngày đăng: 24/10/2022, 10:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w