1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu nghiệp vụ thị trường mở của NHNN VN giai đoạn 2007-2011

65 522 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu Nghiệp vụ Thị trường Mở của NHNN Việt Nam Giai đoạn 2007-2011
Tác giả Tán Anh Kha
Người hướng dẫn T.S. Hồ Hữu Tiến
Trường học Trường Đại Học Đà Nẵng, Trường Đại Học Kinh Tế
Chuyên ngành Tài chính tiền tệ
Thể loại Đề án môn học
Năm xuất bản 2012
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu nghiệp vụ thị trường mở của NHNN VN giai đoạn 2007-2011

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan rằng Đề án này là do chính em thực hiện trên cơ sở tham khảo một số giáo trình, tạp chí và một vài đề án, luận án khác

Trang 3

TVC : Lãi suất tái cấp vốn

NHTM : Ngân hàng thương mại

CD : Chứng Chỉ tiền gửi

BOJ : Ngân hàng Nhật Bản

Fed : Cục dự trữ liên bang

BOT : Ngân hàng Thái Lan

Trang 4

DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, BẢNG BIỂU

CHƯƠNG 1

Sơ đồ 1.1 Cơ chế tác động của OMO tới dự trữ ngân hàng 16

Sơ đồ 1.2 Cơ chế tác động của OMO qua lãi suất 16

CHƯƠNG 2 Bảng 2.1 Số lượng thành viên thị trường mở qua các năm 44

Bảng 2.2 Tình hình hoạt động NV thị trường mở 6 tháng đầu năm 2011 49

Bảng 2.3 Lượng tiền cung ứng ròng qua nghiệp vụ thị trường mở 51

Bảng 2.4 Doanh số giao dịch nghiệp vụ thị trường mở qua các năm 52

Biểu đồ 2.1 Lượng tiền NHNN hút ròng 9 tuần liên tục 4/5 đến hết 1/7 /2011 50

Biểu đồ 2.2 Lượng tiền cung ứng ròng qua nghiệp vụ thị trường mở 51

Biểu đồ 2.3 Bơm ròng trên thị trường mở năm 2011 theo tháng 53

Biểu đồ 2.4 Số dư trên thị trường mở năm 2011 và đầu năm 2012 54

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 2

DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, BẢNG BIỂU 3

MỤC LỤC 4

LỜI MỞ ĐẦU 8

CHƯƠNG I 10

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 10

1.1 NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ - MỘT CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 10

1.1.1 Khái niệm về chính sách tiền tệ 10

1.1.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ 10

1.1.2.1 Mục tiêu tổng quát (mục tiêu cuối cùng) 11

1.1.2.2 Mục tiêu điều hành 11

1.1.2.2.1 Mục tiêu trung gian 11

1.1.2.2.2 Mục tiêu hoạt động 11

1.1.3 Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ 12

1.1.3.1 Dự trữ bắt buộc 12

1.1.3.2 Chính sách chiết khấu 12

1.1.3.3 Nghiệp vụ thị trường mở 13

1.1.3.4 Lãi suất 13

1.1.3.5 Hạn mức tín dụng 14

1.1.3.6 Tỷ giá hối đoái 14

1.2 NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 14

1.2.1 Khái niệm 14

1.2.2 Cơ chế tác động của nghiệp vụ thị trường mở 15

1.2.2.1 Về mặt lượng - Tác động vào dự trữ của hệ thống ngân hàng 15

1.2.2.2 Về mặt giá - Tác động qua lãi suất 16

1.2.3 Ưu điểm và nhược điểm của nghiệp vụ TTM 17

1.2.3.1 Ưu điểm 17

1.2.3.2 Nhược điểm 18

1.2.4 Vai trò và sự cần thiết của nghiệp vụ thị trường mở 18

1.2.4.1 Đối với ngân hàng trung ương 18

1.2.4.2 Đối với các đối tác của ngân hàng trung ương 19

1.2.4.3 Đối với nền kinh tế 20

Trang 6

1.2.5 Thành viên nghiệp vụ thị trường mở 20

1.2.5.1 Ngân hàng trung ương 21

1.2.5.2 Các đối tác của ngân hàng trung ương 21

1.2.5.2.1 Các ngân hàng thương mại 21

1.2.5.2.2 Các tổ chức tài chính phi ngân hàng 21

1.2.5.2.3 Các nhà giao dịch sơ cấp 21

1.2.6 Hàng hoá của nghiệp vụ thị trường mở 22

1.2.6.1 Tín phiếu kho bạc 22

1.2.6.2 Tín phiếu ngân hàng trung ương 22

1.2.6.3 Trái phiếu Chính phủ 23

1.2.6.4 Trái phiếu Chính quyền địa phương 23

1.2.6.5 Chứng chỉ tiền gửi 23

1.2.7 Phương thức giao dịch của nghiệp vụ thị trường mở 23

1.2.7.1 Các loại giao dịch của nghiệp vụ thị trường mở 23

1.2.7.1.1 Giao dịch không hoàn lại (mua bán hẳn) 23

1.2.7.1.2 Giao dịch mua bán có kỳ hạn 24

1.2.7.2 Phương thức đấu thầu của nghiệp vụ thị trường mở 24

1.2.7.2.1 Đấu thầu khối lượng 24

1.2.7.2.2 Đấu thầu lãi suất 25

1.2.8 Các nhân tố ảnh hưởng tới sự vận hành nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng trung ương 26

1.2.8.1 Nhân tố chủ quan 26

1.2.8.1.1 Dự báo về vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng 26

1.2.8.1.2 Các quy định về nghiệp vụ thị trường mở 26

1.2.8.2 Các nhân tố khách quan 27

1.2.8.2.1 Trình độ phát triển của thị trường tiền tệ quốc gia 27

1.2.8.2.2 Hàng hoá thị trường mở do các ngân hàng nắm giữ 28

1.3 KHẢO CỨU SỰ VẬN HÀNH NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA MỘT SỐ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI VIỆT NAM 28

1.3.1 Sự vận hành OMO của NHTW các nước phát triển 28

1.3.1.1 Ngân hàng Nhật Bản 28

1.3.1.2 Cục dự trữ liên bang Mỹ 29

1.3.2 Sự vận hành OMO của Ngân hàng Thái Lan 30

1.3.3 Sự vận hành OMO của Ngân hàng quốc gia Ba Lan 32

1.3.4 Một số kiến nghị đối với Việt Nam 33

Trang 7

CHƯƠNG II 36

THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ 36

CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 36

2.1 KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 36

2.1.1 Sự cần thiết ra đời nghiệp vụ thị trường mở trong điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước 36

2.1.1.1 Hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ thấp 36

2.1.1.2 Sự tồn tại của các thị trường chứng khoán nợ 37

2.1.1.3 Xu thế hội nhập kinh tế 38

2.1.2 Quá trình hình thành và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của nghiệp vụ thị trường mở 38

2.1.2.1 Khuôn khổ pháp lý cho sự ra đời của nghiệp vụ thị trường mở 38

2.1.2.2 Quá trình hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở 40

2.1.2.2.1 Quy chế về nghiệp vụ thị trường mở 40

2.1.2.2.2 Quy chế quản lý vốn khả dụng 42

2.1.3 Bộ máy tổ chức điều hành nghiệp vụ thị trường mở 42

2.1.3.1 Ban điều hành nghiệp vụ thị trường mở 42

2.1.3.2 Các phòng, bộ phận liên quan 43

2.1.3.2.1 Bộ phận quản lý vốn khả dụng thuộc Vụ Chính sách tiền tệ 43

2.1.3.2.2 Phòng Nghiệp vụ thị trường tiền tệ thuộc Sở Giao dịch 43

2.1.3.2.3 Phòng Thị trường tiền tệ và bảo lãnh thuộc Vụ Tín dụng 43

2.1.3.2.4 Một số phòng ban khác 43

2.1.4 Các thành viên tham gia thị trường mở 43

2.1.4.1 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 44

2.1.4.2 Các đối tác của Ngân hàng nhà nước Việt Nam 44

2.1.5 Hàng hoá của nghiệp vụ thị trường mở 45

2.1.6 Phương thức giao dịch trên thị trường mở 45

2.1.6.1 Phương thức mua bán 45

2.1.6.1.1 Giao dịch mua và bán hẳn: NHNN sẽ mua hoặc bán các GTCG với toàn bộ thời hạn còn lại của chúng Sau khi giao dịch, quyền sở hữu GTCG sẽ được chuyển giao từ bên bán sang bên mua và không kèm thoả thuận mua bán lại các GTCG 46

2.1.6.1.2 Giao dịch bán và cam kết mua lại (giao dịch có kỳ hạn) được NHNN thực hiện như sau: 46

Trang 8

2.1.6.2 Phương thức đấu thầu 46

2.1.6.2.1 Đấu thầu khối lượng 46

2.1.6.2.2 Đấu thầu lãi suất 46

2.2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 ĐẾN NĂM 2011 47

2.2.1 Tình hình hoạt động nghiệp vụ thị trường mở 49

2.3.2 Đánh giá tình hình hoạt động nghiệp vụ thị trường mở 55

2.3.2.1 Kết quả đạt được: 55

2.3.2.2 Một số hạn chế 56

2.3.2.3 Nguyên nhân 57

2.3.3 Một số đề xuất 58

DANH MụC TÀI LIệU THAM KHảO 62

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN 63

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN 64

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng trong quá trình điều hành các hoạt động của nền kinh tế Tuy nhiên, chính sách tiền

tệ thực sự có ý nghĩa và thể hiện đúng vai trò vị trí của mình hay không lại phụ thuộc vào quá trình sử dụng các công cụ để thực thi chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương Để thực hiện vai trò và trách nhiệm đã được quy định tại Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã sử dụng các công cụ tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường

mở

Sau một thời gian dài chuẩn bị về hàng lang pháp lý, trang thiết bị, nhân lực,

… nghiệp vụ thị trường mở đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chính thức khai trương vào ngày 12/7/2000 Trải qua hơn 11 năm hoạt động, nghiệp vụ thị trường mở đã được thực hiện an toàn, góp phần quan trọng vào việc điều tiết và kiểm soát lượng tiền cung ứng của Ngân hàng Nhà nước Tuy nhiên, cũng như các công cụ chính sách tiền tệ khác của Ngân hàng nhà nước, nghiệp vụ thị trường mở

đã bộc lộ những hạn chế nhất định Số lượng các tổ chức tín dụng tham gia ít, doanh

số giao dịch nhỏ, hàng hoá giao dịch chưa nhiều, các quy định về quy trình, xử lý thông tin còn chưa hoàn thiện Nhận thức được điều dó, em đã lựa chọn đề tài

“NGHIÊN CỨU NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NHNN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 - 2011” để làm đề tài nghiên cứu của Đề án

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng

Nhà nước Việt Nam trong thực thi chính sách tiền tệ quốc gia

- Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng hoạt động nghiệp vụ thị trường mở của

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từ năm 2007 đến nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề án, các phương pháp nghiên cứu đã được sử dụng

là phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương

Trang 10

pháp phân tích, tổng hợp, thống kê Ngoài ra, trong Đề án còn sử dụng một số biểu, bảng để minh hoạ

Chương 2 Thực trạng sử dụng nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà

nước Việt Nam giai đoạn 2007 đến năm 2011

Em xin chân thành cảm ơn TS Hồ Hữu Tiến và các thầy cô khác trong khoa TC-NH, Trường ĐHKT Đà Nẵng đã hướng dẫn tận tình và luôn em trong suốt thời gian làm Đề án

SVTH Tán Anh Kha

Trang 11

CHƯƠNG I

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA

NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

1.1 NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ - MỘT CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

Tại bất kỳ một quốc gia nào có nền kinh tế thị trường, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế vĩ mô đều phải sử dụng các chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách tài chính, chính sách thu nhập, chính sách kinh tế đối ngoại và chính sách tiền tệ (CSTT) Thông qua việc điều hành các chính sách này để tác động đến các mục tiêu như tăng trưởng, lạm phát, việc làm … Vì vậy, CSTT đóng vai trò là một bộ phận quan trọng và không thể thiếu trong hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước

1.1.1 Khái niệm về chính sách tiền tệ

CSTT là một chính sách kinh tế vĩ mô mà trong đó NHTW sử dụng các công

cụ của mình để điều tiết và kiểm soát các điều kiện tiền tệ của nền kinh tế nhằm đảm bảo sự ổn định giá trị tiền tệ, tạo nền tảng thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và duy trì các mục tiêu xã hội hợp lý

Theo nghĩa rộng, CSTT là chính sách điều hành toàn bộ khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế nhằm phân bổ một cách hiệu quả nhất các nguồn lực nhằm thực hiện các mục tiêu tăng trưởng, cân đối kinh tế trên cơ sở đó ổn định giá trị đồng tiền quốc gia Theo nghĩa hẹp, CSTT là chính sách đảm bảo sao cho khối lượng tiền cung ứng tăng thêm trong một năm tương ứng với mức tăng trưởng kinh tế và chỉ số lạm phát nhằm ổn định giá trị của đồng tiền, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh

là trọng tâm hoạt động của một NHTW

1.1.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ

Nội dung của CSTT thể hiện thông qua việc thiết kế hệ thống mục tiêu của CSTT trong từng thời kỳ bao gồm các mục tiêu tổng quát và hệ thống mục tiêu điều hành

Trang 12

1.1.2.1 Mục tiêu tổng quát (mục tiêu cuối cùng)

Mục tiêu CSTT hầu như thống nhất ở các nước Sự điều chỉnh lượng tiền cung ứng nhằm mục tiêu trước hết là ổn định giá trị tiền tệ, trên cơ sở đó góp phần tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm Ngoài các mục tiêu vĩ mô trên, một số nước còn tập trung vào các mục tiêu cụ thể, tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế phát triển đặc thù quốc gia Tuy nhiên do tính chất mâu thuẫn giữa các mục tiêu nên NHTW không thể theo đuổi tất cả các mục tiêu trên trong một khoảng thời gian nhất định Điều này buộc NHTW phải có sự lựa chọn và ưu tiên cho những mục tiêu quan trọng trong từng thời kỳ mặc dù mục tiêu ổn định giá cả luôn là mục tiêu dài hạn của NHTW

1.1.2.2 Mục tiêu điều hành

Các mục tiêu chính sách trên chỉ là mục tiêu cuối cùng mà các CSTT nhắm tới Đây là các mục tiêu mang tính định tính nên để tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình điều hành CSTT, các NHTW đều xây dựng hệ thống mục tiêu điều hành mang tính định lượng cụ thể hơn

Mục tiêu điều hành là các biến số tiền tệ có tác động mạnh theo một chiều nhất định đến mục tiêu cuối cùng (mục tiêu chính sách) của CSTT Căn cứ vào sự phát triển và diễn biến của thị trường tiền tệ, NHTW các nước đều lựa chọn các mục tiêu điều hành của CSTT Mục tiêu điều hành của CSTT bao gồm mục tiêu trung gian và mục tiêu hoạt động

1.1.2.2.1 Mục tiêu trung gian

NHTW không thể sử dụng các công cụ CSTT tác động trực tiếp và ngay lập tức đến các mục tiêu cuối cùng của nền kinh tế Ảnh hướng của CSTT chỉ xuất hiện sau một thời gian nhất định Để khắc phục hạn chế này, NHTW của tất cả các nước thường xác định các chỉ tiêu cần đạt được trước khi đạt được mục tiêu cuối cùng Tiêu chuẩn của chỉ tiêu trung gian: (1) Có thể đo lường được một cách chính xác và nhanh chóng, bởi vì các chỉ tiêu này chỉ có ích khi nó phản ánh được tình trạng của CSTT nhanh hơn mục tiêu cuối cùng; (2) Có thể kiểm soát được để có thể điều chỉnh mục tiêu đó cho phù hợp với định hướng của CSTT; (3) Có mối liên hệ chặt chẽ với mục tiêu cuối cùng

Cả tổng lượng tiền cung ứng và lãi suất đều thoả mãn các tiêu chuẩn trên, nhưng NHTW không thể chọn cả hai chỉ tiêu trên làm mục tiêu trung gian mà chỉ có thể chọn một trong hai chỉ tiêu đó Bởi lẽ, nếu đạt được mục tiêu về tổng khối lượng tiền cung ứng thì phải chấp nhận sự biến động của lãi suất và ngược lại

1.1.2.2.2 Mục tiêu hoạt động

Mục tiêu hoạt động là các chỉ tiêu có phản ứng tức thời với sự điều chỉnh của

Trang 13

công cụ CSTT đồng thời có mối quan hệ chi phối tới các mục tiêu trung gian Việc lựa chọn hệ thống chỉ tiêu thích hợp làm mục tiêu hoạt động có ý nghĩa quan trọng quyết định hiệu quả tác động của CSTT Hệ thống chỉ tiêu này vừa đóng vai trò phản ánh tình trạng CSTT đồng thời phản ánh dấu hiệu về định hướng CSTT của NHTW

Các tiêu chuẩn lựa chọn chỉ tiêu làm mục tiêu hoạt động cũng tương tự như tiêu chuẩn lựa chọn mục tiêu trung gian, bao gồm: (1) Phải đo lường được nhằm tránh những suy diễn thiếu chính xác làm sai lệch dấu hiệu của CSTT; (2) Phải có mối quan hệ trực tiếp và ổn định với các công cụ của CSTT; (3) Phải có mối quan

hệ chặt chẽ và ổn định với mụcc tiêu trung gian được lựa chọn Căn cứ vào tiêu chuẩn trên, các chỉ tiêu thường được lựa chọn làm mục tiêu hoạt động của NHTW bao gồm: lãi suất liên ngân hàng và dự trữ ngân hàng

1.1.3 Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ

Để thực hiện CSTT theo các mục tiêu đã xác định trong từng thời kỳ, NHTW sử dụng một số công cụ CSTT nhằm tác động đến khối lượng tiền trong lưu thông và lãi suất (chi phí) vay vốn Công cụ CSTT là các hoạt động được thực hiện trực tiếp bởi NHTW nhằm tác động trực tiếp tới các mục tiêu hoạt động, qua đó ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới mục tiêu trung gian, từ đó đạt được các mục tiêu cuối cùng của CSTT 1.1.3.1 Dự trữ bắt buộc

Dự trữ bắt buộc (DTBB) là số tiền mà các NHTM buộc phải duy trì trên một tài khoản tiền gửi tại NHTW trong một thời kỳ nhất định DTBB được tính trên cơ

sở tỷ lệ DTBB do NHTW quy định đối với từng loại tiền gửi cấu thành nên nguồn vốn hoạt động của một ngân hàng Tỷ lệ DTBB do NHTW quy định và được xác định bằng một tỷ lệ % nhất định trên tổng số dư tiền gửi của khách hàng tại NHTM Tỷ lệ DTBB được áp dụng có phân biệt đối với các loại tiền gửi có thời hạn khác nhau, quy mô và tính chất hoạt động của NHTM

DTBB tác động tới cung ứng tiền tệ bằng cách gây ra thay đổi số nhân cung ứng tiền tệ Tỷ lệ DTBB tăng lên sẽ làm giảm số tiền gửi được nâng đỡ bởi một mức nhất định của cơ số tiền tệ và dẫn đến việc thu hẹp cung ứng tiền Mặt khác,

tỷ lệ DTBB giảm xuống sẽ dẫn đến một sự tăng lên của cung ứng tiền tệ do việc tạo thêm tiền gửi gấp nhiều lần Việc quy định tỷ lệ DTBB do NHTW quyết định tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của nền kinh tế

1.1.3.2 Chính sách chiết khấu

Chiết khấu là một trong những hình thức cho vay của NHTW đối với các NHTM Khi cấp một khoản tín dụng cho NHTM, một mặt NHTW đã làm tăng lượng tiền cung ứng, mặt khác tạo cơ sở cho các NHTM tạo bút tệ cũng như khai thông được năng lực

Trang 14

thanh toán của họ

Chính sách chiết khấu bao gồm các quy định về hạn mức chiết khấu, lãi suất chiết khấu và điều kiện cho vay của NHTW đối với các ngân hàng NHTW cho vay ngắn hạn trên cơ sở chiết khấu các chứng từ có giá của ngân hàng NHTW kiểm soát công cụ này chủ yếu bằng cách tác động tới giá cả khoản vay thông qua lãi suất chiết khấu căn cứ vào mục tiêu của CSTT là thắt chặt hay nới lỏng, từ đó tác động tới lượng tiền trong lưu thông

Sự thay đổi về lãi suất chiết khấu được xem là một dấu hiệu thông báo của NHTW trong định hướng thực hiện CSTT Các tuyên bố của NHTW về chiều hướng biến động lãi suất chiết khấu (tăng lên hoặc giảm xuống) có tác dụng hướng dẫn hành vi của thị trường theo định hướng CSTT

1.1.3.3 Nghiệp vụ thị trường mở

Nghiệp vụ thị trường mở (OMO) là hoạt động NHTW mua, bán GTCG như tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, tín phiếu NHTW, chứng chỉ tiền gửi trên thị trường tiền tệ, nhằm làm thay đổi cơ số tiền tệ mà đặc biệt là tiền dự trữ trong hệ thống ngân hàng, qua đó tác động đến khối lượng tiền cung ứng Do vậy, thị trường này có khả năng tiếp nhận được một lượng rất lớn nghiệp vụ của NHTW mà không làm cho giá cả biến động mạnh

OMO là công cụ CSTT quan trọng của NHTW Nghiệp vụ này là yếu tố quyết định quan trọng nhất đối với những thay đổi trong cơ số tiền tệ và đó cũng là nguồn gốc chính gây nên những biến động trong cung ứng tiền tệ

OMO là một trong những cửa ngõ quan trọng để NHTW phát hành tiền vào lưu thông hoặc rút bớt tiền trong lưu thông về thông qua mua hay bán các các loại GTCG Qua nghiệp vụ mua bán này NHTW làm tăng hay giảm dự trữ của các NHTM, tác động đến khả năng tín dụng của các ngân hàng này và từ đó làm tăng hay giảm lượng tiền cung ứng

1.1.3.4 Lãi suất

Lãi suất được xem là một công cụ gián tiếp thực hiện CSTT trong điều khiển mức cung ứng tiền cho nền kinh tế, bởi lẽ lãi suất không trực tiếp làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ trong lưu thông Sự biến động của lãi suất có thể kích thích hoặc kìm hãm sản xuất Do vậy, lãi suất là một công cụ quan trọng của NHTW trong thực hiện CSTT Thông qua chính sách chiết khấu đối với các ngân hàng, NHTW thực hiện quản lý gián tiếp lãi suất cho vay của các ngân hàng đối với nền kinh tế Khi muốn điều chỉnh lãi suất của các ngân hàng, NHTW điều chỉnh các lãi suất của mình, từ đó tác động đến lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, cuối cùng sẽ tác động đến lãi suất huy động, cho vay của các ngân hàng Ngoài ra, NHTW có thể quản lý trực tiếp lãi suất của các

Trang 15

TCTD đối với nền kinh tế thông qua quy định các mức lãi suất cụ thể về cho vay và huy động Tuy nhiên hình thức quản lý trực tiếp lãi suất này chỉ phù hợp tại các nước có hệ thống tài chính tiền tệ chưa phát triển, và xu hướng chung là giảm dần sự quản lý trực tiếp này

1.1.3.5 Hạn mức tín dụng

Hạn mức tín dụng là một trong những công cụ can thiệp trực tiếp của NHTW để khống chế mức tăng khối lượng tín dụng của hệ thống tổ chức tín dụng cung ứng cho nền kinh tế đảm bảo mức tăng trưởng của tổng phương tiện thanh toán theo mục tiêu đề

ra Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà NHTW buộc các ngân hàng phải tôn trọng khi cấp tín dụng cho nền kinh tế Mức dư nợ quy định cho từng ngân hàng căn cứ vào đặc điểm kinh doanh của ngân hàng, trong định hướng cơ cấu kinh tế và trong giới hạn tổng dư nợ tín dụng dự tính của toàn bộ nền kinh tế trong một thời gian xác định

Hạn mức tín dụng được sử dụng để khống chế tổng dư nợ tín dụng, qua đó khống chế tổng lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế Do vậy cơ chế tác động của nó mang tính

áp đặt của NHTW đối với hệ thống ngân hàng

1.1.3.6 Tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái là tương quan giữa sức mua của đồng nội tệ và đồng ngoại tệ, hay có thể nói là giá cả của đồng tiền này đo bằng một đồng tiền khác Tỷ giá vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa biểu hiện quan hệ cung cầu ngoại tệ Đến lượt mình, tỷ giá hối đoái là công cụ, là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, có tác động mạnh mẽ đến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước Chính sách tỷ giá tác động nhạy bén và mạnh mẽ đến sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hoá, tình trạng tài chính tiền tệ, cán cân thanh toán quốc tế, vốn đầu tư và dự trữ của quốc gia

Về thực chất thì tỷ giá không phải là công cụ CSTT bởi lẽ tỷ giá không làm tăng giảm khối lượng tiền trong lưu thông, mà chỉ góp phần thay đổi cơ cấu khối lượng tiền Tuy nhiên tại nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển, có mức độ đôla hoá cao, thì tỷ giá được xem là một công cụ bổ trợ quan trọng cho điều hành CSTT

1.2 NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

1.2.1 Khái niệm

Theo cách hiểu chung nhất thì khái niệm “Nghiệp vụ thị trường mở” là hoạt

động mua bán các GTCG của NHTW với các đối tác được lựa chọn để qua đó tác động tới lãi suất của thị trường hoặc dự trữ của các đối tác này, vì thế có thể ảnh hưởng tới các điều kiện tiền tệ của nền kinh tế thông qua những ảnh hưởng về mặt

Trang 16

lượng và giá cả Thuật ngữ "Thị trường mở" ở đây được hiểu là một thị trường có tính chất mở, nghĩa là đa dạng về các đối tác tham gia thị trường và đa dạng về các loại giao dịch trên thị trường

Nghiệp vụ thị trường mở (OMO) được Ngân hàng Anh áp dụng đầu tiên từ năm 1914 trong nỗ lực tìm kiếm công cụ có hiệu quả hơn để điều chỉnh lãi suất thị trường theo hướng mong muốn

OMO là một trong các công cụ CSTT có hiệu quả cao và hiện đang được các nước trên thế giới sử dụng Mặc dù OMO được sử dụng phổ biến nhưng việc đưa ra một khái niệm chung là không thống nhất Sự không thống nhất này thể hiện ở sự khác nhau về hàng hoá giao dịch, các đối tác tham gia thị trường và các loại giao dịch trên thị trường

Các GTCG được sử dụng trên thị trường mở là các GTCG ngắn hạn và dài hạn như tín phiếu, trái phiếu chính phủ, tín phiếu NHTW, trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu ngân hàng v.v Các chủ thể của thị trường mở là NHTW và các đối tác chủ yếu là các ngân hàng, và có thể là các tổ chức tài chính, tín dụng phi ngân hàng Xét về mặt hình thức, thị trường mở là thị trường giao dịch các chứng khoán

nợ cả ngắn hạn và dài hạn Tuy nhiên khác với các khái niệm có phạm vi và loại hình công cụ rõ ràng như thị trường chứng khoán hay thị trường tiền tệ, thị trường

mở ở các nước khác nhau lại khác nhau về phạm vi, loại hình công cụ và thời hạn của các công cụ giao dịch trên thị trường Đối với một số nước, hàng hoá giao dịch trên thị trường mở chỉ gồm các GTCG ngắn hạn và đối tác tham gia chỉ là các TCTD Khi đó, thị trường mở là một bộ phận của thị trường tiền tệ Đối với nước khác như Mỹ, Đức thì các GTCG dài hạn cũng có thể giao dịch, khi đó thị trường

mở bao gồm cả một phần của thị trường chứng khoán Điều đó có nghĩa là các giới hạn, quy định khác nhau về hàng hoá và đối tác tham gia OMO với NHTW sẽ quyết định khái niệm cụ thể về thị trường mở ở từng nước

1.2.2 Cơ chế tác động của nghiệp vụ thị trường mở

Thông qua hoạt động mua, bán các GTCG trên thị trường mở, NHTW đã tác động trực tiếp đến dự trữ của các ngân hàng và ảnh hưởng gián tiếp đến các mức lãi suất trên thị trường, từ đó tác động trực tiếp đến các mục tiêu của chính sách tiền tệ

cả về mặt giá và mặt lượng

1.2.2.1 Về mặt lượng - Tác động vào dự trữ của hệ thống ngân hàng Hành vi mua bán các GTCG trên thị trường mở của NHTW có khả năng tác động ngay lập tức đến tình trạng dự trữ của các NHTM thông qua ảnh hưởng đến tiền gửi của các ngân hàng tại NHTW (nếu các NHTM là đối tác tham gia OMO) và tiền gửi của khách hàng tại hệ thống ngân hàng (nếu các khách hàng là đối tác tham

Trang 17

gia OMO)

Sơ đồ 1.1 Cơ chế tác động của OMO tới dự trữ ngân hàng

Khi NHTW thực hiện bán GTCG cho các ngân hàng thì tiền gửi của ngân hàng tại NHTW sẽ giảm xuống tương ứng với khối lượng GTCG mà NHTW bán ra Trường hợp người mua là các khách hàng của ngân hàng thì số tiền mua GTCG sẽ làm giảm số dư tiền gửi của họ tại hệ thống ngân hàng Kết quả là dự trữ của hệ thống ngân hàng giảm sút tương ứng với khối lượng GTCG mà NHTW bán ra Sự giảm sút dự trữ của hệ thống ngân hàng sẽ làm giảm khả năng cho vay của ngân hàng và vì thế khối lượng tín dụng giảm dẫn đến cung tiền sẽ giảm Ngược lại, khi NHTW thực hiện mua GTCG trên thị trường mở, kết quả làm dự trữ của các ngân hàng tăng lên Như vậy, khi NHTW thực hiện nghiệp vụ thị trường nó sẽ tác động đến dự trữ của các ngân hàng, làm ảnh hưởng đến khối lượng tín dụng, từ đó ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng

1.2.2.2 Về mặt giá - Tác động qua lãi suất

Hành vi mua bán GTCG của NHTW trên thị trường mở có thể ảnh hưởng gián tiếp đến mức lãi suất thị trường thông qua 2 con đường sau:

Thứ nhất, khi dự trữ của ngân hàng bị ảnh hưởng sẽ tác động đến cung cầu vốn NHTW trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng Đến lượt nó, cung cầu tiền trung ương thay đổi sẽ dẫn đến lãi suất thị trường tiền NHTW thay đổi Mức lãi suất ngắn hạn này, thông qua dự đoán của thị trường và các hoạt động arbitrage về lãi suất, sẽ truyền tác động tới các mức lãi suất trung và dài hạn trên thị trường tài chính Tại một mức lãi suất thị trường xác định, tổng cầu AD của nền kinh tế, và do đó tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ được quyết định

Sơ đồ 1.2 Cơ chế tác động của OMO qua lãi suất

Dự trữ mở rộng cho vay giảm

Khối lượng TD giảm

MS giảm

Cung của quỹ cho vay giảm

Lãi suất ngắn hạn tăng

Lãi suất thị trường tăng

Giá TPKB giảm

LS thị trường tăng tăng

Trang 18

Thứ hai, việc mua bán GTCG sẽ làm ảnh hưởng ngay đến quan hệ cung cầu

về loại GTCG đó trên thị trường và giá cả của nó Khi giá chứng khoán thay đổi, tỷ

lệ sinh lời của chúng cũng thay đổi Nếu khối lượng chứng khoán này chiếm tỷ trọng lớn trong các giao dịch trên thị trường tài chính thì sự thay đổi tỷ lệ sinh lời của nó sẽ tác động trở lại lãi suất thị trường, và vì thế mà tác động đến tổng cầu AD

và sản lượng

Khi NHTW bán tín phiếu kho bạc sẽ làm giảm dự trữ của hệ thống ngân hàng Điều này làm giảm cung quỹ cho vay và sẽ ảnh hưởng đến lãi suất ngắn hạn, làm lãi suất ngắn hạn có xu hướng tăng lên và tác động vào làm tăng các lãi suất thị trường Bên cạnh đó khi NHTW thực hiện bán tín phiếu kho bạc trên thị trường mở sẽ làm tăng cung tín phiếu kho bạc trên thị trường, từ đó làm giảm giá của tín phiếu kho bạc Điều này làm ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của tín phiếu kho bạc theo hướng tăng lên, dẫn đến sự chuyển dịch vốn đầu tư sang tín phiếu kho bạc Để cân bằng lãi suất và hạn chế sự dịch chuyển vốn đầu tư, lãi suất thị trường sẽ tăng lên Khi lãi suất thị trường tăng lên thì hoạt động đầu tư của các chủ thể đối với nền kinh tế sẽ giảm xuống do tỷ suất sinh lời giảm Từ đó tổng cầu trên thị trường giảm xuống và góp phần làm giảm sản lượng, ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng

1.2.3 Ưu điểm và nhược điểm của nghiệp vụ TTM

1.2.3.1 Ưu điểm

Nghiệp vụ TTM có nhiều ưu điểm hơn so với các công cụ khác của CSTT:

- Nghiệp vụ TTM xảy ra theo sáng kiến của NHTW và vì vậy NHTW kiểm soát quy mô của nó một cách hoàn toàn Sự phát triển như vậy không thể đạt được khi sử dụng các nghiệp vụ khác, ví dụ cho vay chiết khấu, trong đó NHTW có thể khuyến khích hoặc cản trở các Ngân hàng vay chiết khấu thông qua việc thay đổi lãi suất chiết khấu, nhưng không thể kiểm soát khối lượng cho vay chiết khấu

- Nghiệp vụ TTM vừa linh hoạt, vừa chính xác Nó có thể được sử dụng với bất kì quy mô nào Nếu NHTW muốn có sự thay đổi nhỏ trong dự trữ hoặc cơ sở tiền tệ, nghiệp vụ TTM có thể giúp nó đạt được mục tiêu này thông qua bán hoặc mua một lượng nhỏ chứng khoán Ngược lại nếu nó muốn có sự thay đổi rất lớn trong dự trữ hoặc thay đổi tiền tệ, thì công cụ nhiệp vụ TTM cũng mạnh đủ để làm điều đó thông qua việc mua hoặc bán một lượng CK rất lớn

- Nghiệp vụ TTM có thể dễ dàng đảo ngược Nếu phạm phải một sai lầm nào

đó trong nghiệp vụ TTM, NHTW có thể sửa chữa ngay Nếu NHTW cho rằng lãi suất vốn liên bang quá thấp do đã mua quá nhiều trên TTM, nó có thể ngay lập tức sửa đổi tình trạng này bằng cách thực thi việc bán trên TTM

Trang 19

- Nghiệp vụ TTM có thể được thực hiện một cách nhanh chóng Nó không gắn với bất kỳ độ trễ hành chính nào Khi NHTW quyết định thay đổi cơ sở tiền tệ hoặc

dự trữ, nó chỉ cần ra lệnh cho các CK nhà buôn thực hiện và hoạt động giao dịch ngay lập tức được thực hiện

1.2.3.2 Nhược điểm

- Vì ảnh hưởng của nghiệp vụ TTM đến cơ số tiền bị triệt tiêu bởi các tác động ngược chiều nên dự trữ của Ngân Hàng không tăng hoặc giảm tương ứng sau các hoạt động mua, bán CK của NHTW Chẳng hạn, dòng tiền chảy ngược chiều của vốn, do mất cân đối trong cán cân thanh toán hoặc do số dư tiền gửi ngân sách ở NHTW tăng lên, các hoạt động mua chứng khoán của NHTW nhằm tăng lượng tiền cung ứng sẽ bị triệt tiêu một phần hay toàn bộ

- Các NHTW không phải lúc nào cũng tăng, hay giảm lượng cung ứng tín dụng và đầu tư khi dự trữ tăng lên hay giảm xuống dưới tác động của nghiệp vụ TTM Có nhiều yếu tố ngăn cản NHTM sử dụng tối đa số dự trữ dư thừa cho mục tiêu mở rộng tín dụng như: nhu cầu trả nợ NHTW, nhu cầu sử dụng tiền mặt tăng lên

- Khi lãi suất thị trường giảm xuống như là kết quả tất yếu của sự tăng lên của

MB (lượng tiền cung ứng của NHNN tăng thêm hằng năm), không phải lúc nào khối lượng tín dụng cũng tăng lên tương ứng Điều này còn phụ thuộc vào khả năng hấp thụ vốn của nề kinh tế, mức độ rủi ro và thiếu ổn định trong môi trường đầu tư

- Như vậy khả năng phát huy hiệu quả tối đa của nghiệp vụ TTM nhiều khi không phụ thuộc vào NHTW, mà nó còn bị chi phối bởi môi trường kinh tế vĩ mô, hành vi của công chúng và các quyết định của các NHTM

1.2.4 Vai trò và sự cần thiết của nghiệp vụ thị trường mở

1.2.4.1 Đối với ngân hàng trung ương

Để thực hiện nhiệm vụ ổn định giá trị đồng tiền, NHTW đã xây dựng và thực thi các công cụ CSTT nhằm đưa tiền ra và rút tiền về từ lưu thông theo tín hiệu thị trường Trong đó, OMO là công cụ CSTT gián tiếp quan trọng nhất tại nhiều quốc gia làm thay đổi cung - cầu tiền tệ dẫn đến thay đổi lãi suất trên thị trường tiền tệ Thông qua việc mua bán GTCG tại thị trường mở, NHTW có thể mở rộng hoặc thu hẹp khối lượng tiền dự trữ trong hệ thống ngân hàng và tác động một cách tốt nhất đến cơ số tiền tệ, lượng tiền cung ứng Như vậy, OMO đã tạo điều kiện cho NHTW hạn chế sử dụng các công cụ mang tính trực tiếp trong điều hành CSTT

Bên cạnh mục đích điều tiết vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng, thông qua mua bán GTCG trên thị trường mở, NHTW còn cấp tín hiệu cho thị trường về định hướng điều hành CSTT trong tương lai là nới lỏng hay thắt chặt Đặc biệt khi thực

Trang 20

hiện OMO thường xuyên và hiệu quả, lãi suất thị trường mở có ý nghĩa rất quan trọng trong việc định hướng, chỉ đạo lãi suất thị trường và qua đó NHTW có thể hạn chế những biến động của lãi suất thị trường

OMO là một công cụ CSTT có tính chủ động cao OMO do NHTW chủ động khởi xướng, khác với các nghiệp vụ cho vay hỗ trợ vốn khác của NHTW thường do các ngân hàng có nhu cầu vay vốn chủ động khởi xướng Như vậy, NHTW có thể chủ động thực hiện OMO theo định kỳ hoặc vào các thời điểm cần thiết OMO có thể được thực hiện linh hoạt xét trên góc độ về khối lượng cũng như thời gian giao dịch NHTW có thể thực hiện OMO ở quy mô lớn/nhỏ (khối lượng mua bán GTCG lớn/nhỏ) với thời hạn dài/ngắn tuỳ theo quyết định mua/bán GTCG

OMO có thể khắc phục được những hạn chế của các công cụ kiểm soát tiền tệ trực tiếp và các công cụ gián tiếp khác Các giao dịch OMO có tính hai chiều, qua

đó NHTW có thể bơm thêm tiền vào lưu thông hoặc rút tiền từ lưu thông, trong khi công cụ TCV chỉ có thể bơm thêm tiền vào lưu thông Mặt khác, với công cụ OMO, NHTW có thể chủ động hơn trong việc điều tiết lưu thông, không phụ thuộc nhiều vào ý muốn chủ quan của NHTM như trong công cụ TCV Qua việc tính toán và dự báo vốn khả dụng cũng như lượng tiền cung ứng, NHTW có thể biết chính xác được khối lượng tiền cần bơm thêm hoặc rút về từ lưu thông

1.2.4.2 Đối với các đối tác của ngân hàng trung ương

Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng trong cơ chế thị trường ngày càng đa dạng dẫn đến hoạt động quản lý và sử dụng vốn khả dụng cần phải chủ động và linh hoạt hơn Hiện nay trong cơ cấu nguồn vốn của các ngân hàng, tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn với thời gian dưới 12 tháng thường chiếm tỷ trọng từ 60-70% Vì vậy, vấn đề cấp bách hiện nay đối với các ngân hàng là làm thế nào để sử dụng vốn linh hoạt hiệu quả và giải quyết được khó khăn tạm thời về vốn khả dụng trong thời gian ngắn, không gây ách tắc trong thanh toán cũng như đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng

Thị trường mở là nơi các đối tác của NHTW được chủ động tham gia mua bán GTCG với NHTW và lãi suất thực sự là mang tính thị trường Thông qua thị trường

mở, các ngân hàng có thể sử dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để đầu tư vào các GTCG để thu được lợi tức và đáp ứng nhu cầu dự trữ thứ cấp Khi cần thiết, các ngân hàng có thể bán lại các GTCG này trên thị trường mở để giải quyết khó khăn

về nguồn vốn Các thành viên tham gia thị trường mở thường là các đối tác có độ tin cậy cao, nên việc mua bán GTCG trên thị trường mở có độ an toàn rất cao Bên cạnh đó, những điều kiện về chủng loại và chất lượng các GTCG được giao dịch trong OMO sẽ gián tiếp làm thay đổi danh mục đầu tư GTCG của các ngân hàng, từ

Trang 21

đó cải thiện theo hướng tích cực cơ cấu sử dụng vốn của ngân hàng, làm giảm dự trữ không sinh lợi và cải thiện bảng tổng kết tài sản của ngân hàng

Ngoài ra, OMO góp phần đa dạng hoá các nghiệp vụ kinh doanh của các TCTD Các TCTD không chỉ đơn thuần thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh truyền thống như cho vay, bảo lãnh, dịch vụ … mà còn sử dụng một nguồn vốn nhất định

để thực hiện nghiệp vụ kinh doanh mới là mua bán các GTCG OMO cũng thúc đẩy các mối quan hệ mang tính kinh doanh giữa các thành viên tham gia thị trường OMO do các ngân hàng tự nguyện tham gia thực hiện theo các nguyên tắc thị trường, không mang tính chất bắt buộc như DTBB và cũng không có tác động như một hình thức "đánh thuế" đối với hoạt động của các ngân hàng như DTBB Lãi suất trên thị trường mở cũng mang tính chất thị trường chứ không bị áp đặt như trong công cụ chiết khấu GTCG của NHTW

Như vậy, thị trường mở tạo điều kiện cho các ngân hàng sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi hiệu quả hơn và đa dạng hoá thêm các nghiệp vụ kinh doanh của các ngân hàng

1.2.4.3 Đối với nền kinh tế

Mặc dù thành viên của OMO chủ yếu là các tổ chức tín dụng, tài chính và NHTW nhưng OMO cũng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế

Thông qua việc phát hành, mua bán GTCG trên thị trường mở, các chủ thể của thị trường mở đã làm tăng thêm tính thanh khoản cho các GTCG này Điều này góp phần thúc đẩy các thị trường tài chính phát triển Từ đó, tạo điều kiện cho các trung gian tài chính thu hút vốn trong nền kinh tế và thay đổi thói quen tiết kiệm, tiêu dùng của các hộ gia đình trong nền kinh tế

Thị trường mở có sự gắn kết chặt chẽ với các thị trường tiền tệ, đặc biệt là thị trường nội tệ liên ngân hàng Sự phát triển của thị trường mở tác động mạnh đến sự hoàn thiện và phát triển của thị trường liên ngân hàng

Mặt khác, hiện nay Việt Nam đang trong quá trình mở cửa và hội nhập vào nền kinh tế thế giới Việt Nam phải thực hiện các cam kết yêu cầu của các tổ chức tài chính, tiền tệ, thương mại quốc tế hay các quốc gia phát triển, trong đó có yêu cầu về cải cách hệ thống ngân hàng và nâng cao tính minh bạch trong các hoạt động của NHTW Tại các quốc gia phát triển hay các quốc gia trong khu vực Đông Nam

á đều sử dụng OMO trong điều hành CSTT để đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô Chính vì vậy, việc sử dụng OMO là một điều kiện cần thiết để hội nhập nền kinh tế vào khu vực và thế giới

1.2.5 Thành viên nghiệp vụ thị trường mở

Trang 22

Thị trường mở là một thị trường có tính chất mở nên các thành viên thị trường rất đa dạng với các mục đích khác nhau Nhìn chung, mọi nhà đầu tư đều có thể là đối tác giao dịch với NHTW trong các giao dịch OMO nếu thoả mãn những tiêu chuẩn cụ thể của NHTW ở các nước Các tiêu chuẩn này nhằm mục đích: (i) Các đối tác phải đảm bảo độ tin cậy nhất định và (ii) Việc giao dịch với các đối tác phải

có hiệu quả xét trên khía cạnh can thiệp của NHTW Thông thường, thành viên OMO bao gồm:

1.2.5.1 Ngân hàng trung ương

NHTW là người tổ chức, xây dựng và vận hành hoạt động của thị trường mở theo các mục tiêu CSTT NHTW là người quyết định lựa chọn sử dụng các loại OMO và tần suất sử dụng OMO NHTW tham gia thị trường thông qua việc mua bán các GTCG nhằm tác động đến dự trữ của hệ thống ngân hàng để đảm bảo khả năng thanh toán và gián tiếp tác động đến các lãi suất thị trường theo mục tiêu CSTT NHTW cũng là người can thiệp thị trường khi cần thiết thông qua thực hiện chức năng người cho vay cuối cùng nhằm kiểm soát tiền tệ, đảm bảo đủ phương tiện thanh toán cho các TCTD cũng như nhu cầu tín dụng của nền kinh tế

Như vậy, NHTW tham gia thị trường mở không phải vì mục tiêu kinh doanh

mà để quản lý, chi phối, điều tiết thị trường làm cho CSTT được thực hiện theo các mục tiêu xác định của nó

1.2.5.2 Các đối tác của ngân hàng trung ương

1.2.5.2.1 Các ngân hàng thương mại

Các NHTM là thành viên chủ yếu tham gia OMO của NHTW và là đối tác quan trọng của NHTW xét trên 2 phương diện độ tin cậy và tính hiệu quả Các NHTM tham gia thị trường nhằm điều hoà vốn khả dụng để đảm bảo khả năng thanh toán và đầu tư các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để hưởng lãi

Sự tham gia của các NHTM trong các giao dịch OMO có ý nghĩa quan trọng xét trên góc độ hiệu quả CSTT do: (i) NHTM là trung gian tài chính lớn nhất, có mạng lưới hoạt động rộng NHTM đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế, nhất là ở các nước đang phát triển; (ii) Hơn nữa NHTM vừa là người đi vay, vừa là người cho vay trên thị trường tiền tệ

1.2.5.2.2 Các tổ chức tài chính phi ngân hàng

Tại một số quốc gia, các tổ chức tài chính phi ngân hàng cũng được tham gia OMO Các công ty bảo hiểm, công ty tài chính, quỹ đầu tư, hội tiết kiệm … coi thị trường mở như là nơi kiếm thu nhập thông qua việc sử dụng vốn nhàn rỗi để mua bán các GTCG

1.2.5.2.3 Các nhà giao dịch sơ cấp

Trang 23

Các nhà giao dịch sơ cấp tham gia vào OMO với tư cách là người trung gian trong việc mua bán các GTCG giữa NHTW và các đối tác khác Các nhà giao dịch

sơ cấp có thể là các NHTM, công ty chứng khoán, công ty tài chính Thực tế ở nhiều nước, 70% giao dịch can thiệp của NHTW trên thị trường mở được thực hiện thông qua các nhà giao dịch sơ cấp Khi đó, NHTW chỉ thực hiện mua bán GTCG với các nhà giao dịch sơ cấp Và để thực hiện được vai trò này, các nhà giao dịch sơ cấp phải có nguồn vốn đủ mạnh đáp ứng yêu cầu quy định của NHTW và phải sẵn sàng thực hiện vai trò người tạo lập thị trường trong tất cả các phiên đấu thầu tín phiếu kho bạc

1.2.6 Hàng hoá của nghiệp vụ thị trường mở

Các loại GTCG được sử dụng trong các giao dịch OMO ở các nước có khác nhau Tại Anh, Mỹ, OMO được hiểu là nghiệp vụ mua bán các chứng khoán Chính phủ của NHTW nhưng chủng loại các GTCG của Chính phủ được sử dụng lại phong phú hơn ở một số nước khác như Nhật Bản, úc, Pháp Hơn nữa, tại một số nước chỉ cho phép các GTCG ngắn hạn được sử dụng trong OMO, nhưng tại một số nước khác thì các GTCG dài hạn cũng được sử dụng làm hàng hoá của OMO Như vậy, OMO không giới hạn cụ thể về chủng loại cũng như thời hạn các GTCG giao dịch, nhưng bao gồm những loại chủ yếu sau:

1.2.6.1 Tín phiếu kho bạc

Tín phiếu kho bạc là loại chứng khoán Chính phủ được phát hành nhằm mục đích bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách trong năm tài chính Thời hạn của tín phiếu kho bạc thường dưới 12 tháng Đây là loại hàng hoá chủ yếu của OMO ở hầu hết thị trường mở các nước vì một số lý do sau: (i) Có tính thanh khoản cao, (ii) Được phát hành định kỳ với khối lượng lớn và đáp ứng nhu cầu can thiệp của NHTW với mức độ và quy mô khác nhau

Việc sử dụng tín phiếu kho bạc trong OMO có một số ưu điểm nhất định Khi NHTW bán tín phiếu kho bạc thay cho việc phát hành tín phiếu NHTW để thực hiện CSTT thắt chặt thì gánh nặng về thực hiện CSTT sẽ chuyển sang ngân sách và được thể hiện rõ ràng trên số liệu ngân sách Mặt khác khi thị trường tiền tệ chưa phát triển, số dư tín phiếu kho bạc lại khá lớn thì việc sử dụng tín phiếu kho bạc để thực hiện CSTT sẽ giảm rủi ro của việc phân tách thị trường

1.2.6.2 Tín phiếu ngân hàng trung ương

Tín phiếu NHTW là loại GTCG ngắn hạn do NHTW phát hành để làm công

cụ cho OMO Việc sử dụng tín phiếu NHTW làm hàng hoá trên thị trường mở có một số ưu điểm như tăng cường tính độc lập của NHTW trong việc thực thi CSTT

và là công cụ linh hoạt cho việc quản lý vốn khả dụng

Trang 24

Tuy nhiên, việc phát hành tín phiếu NHTW để thực thi CSTT sẽ làm cho chi phí hoạt động của NHTW tăng lên, mặc dù NHTW hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận Việc sử dụng tín phiếu NHTW đòi hỏi phải có sự phối hợp nhất định với Bộ Tài chính Khi NHTW và Bộ Tài chính đồng thời phát hành tín phiếu NHTW và tín phiếu kho bạc, nếu lãi suất chênh lệch thì các đối tác trên thị trường mở sẽ tập trung mua loại tín phiếu có lãi suất cao hơn Khi đó sẽ có sự phân khúc giữa thị trường tín phiếu kho bạc và thị trường tín phiếu NHTW, làm cho mục đích phát hành các GTCG này không đạt được và có thể làm giảm hiệu quả tác động của 2 loại hàng hoá này

1.2.6.3 Trái phiếu Chính phủ

Trái phiếu chính phủ là giấy nhận nợ dài hạn do Chính phủ phát hành nhằm mục đích huy động vốn cho ngân sách Mặc dù là GTCG dài hạn có thời hạn lên đến 10-30 năm nhưng trái phiếu Chính phủ được sử dụng khá rộng rãi trong các giao dịch OMO ở một số nước bởi tính an toàn, ổn định trong phát hành và khối lượng phát hành thường lớn, có khả năng tác động trực tiếp giá cả trên thị trường tài chính

1.2.6.4 Trái phiếu Chính quyền địa phương

Tương tự như trái phiếu Chính phủ, nhưng trái phiếu chính quyền địa phương khác về thời hạn và các điều kiện ưu đãi về thuế thu nhập từ trái phiếu và thường do các chính quyền địa phương lớn phát hành Sự can thiệp của NHTW thông qua việc mua bán loại trái phiếu này cũng tương tự như trái phiếu Chính phủ

1.2.6.5 Chứng chỉ tiền gửi

Chứng chỉ tiền gửi (CD) là giấy nhận nợ của ngân hàng hay tổ chức tài chính phi ngân hàng phát hành, xác nhận một món tiền đã được gửi vào ngân hàng với một kỳ hạn và lãi suất nhất định Thời hạn của CD có thể từ 7 ngày đến 7 năm nhưng thường là ngắn hạn CD được sử dụng khá phổ biến trên thị trường tiền tệ do các nhà đầu tư có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền khi cần thiết mà không phải rút tiền gửi trước hạn

1.2.7 Phương thức giao dịch của nghiệp vụ thị trường mở

1.2.7.1 Các loại giao dịch của nghiệp vụ thị trường mở

Có 2 loại giao dịch trên thị trường mở là giao dịch không hoàn lại (mua bán hẳn) và giao dịch (mua bán) có kỳ hạn

1.2.7.1.1 Giao dịch không hoàn lại (mua bán hẳn)

Giao dịch không hoàn lại (mua bán hẳn) là các giao dịch mua bán GTCG của NHTW theo phương thức mua đứt, bán đoạn trên cơ sở giá thị trường Theo phương thức này, quyền sở hữu của GTCG là đối tượng giao dịch được chuyển sang cho

Trang 25

NHTW hoặc ngược lại cho các thành viên tham gia giao dịch Do vậy tác động của giao dịch này đối với dự trữ ngân hàng thường là dài hạn

1.2.7.1.2 Giao dịch mua bán có kỳ hạn

Phương thức giao dịch này thường được sử dụng cho mục đích giao dịch tạm thời thông qua các hợp đồng mua lại (Repos) hoặc hợp đồng mua lại đảo ngược Repos được sử dụng khi NHTW thực hiện mua GTCG với thoả thuận là sau một thời gian ngắn trong tương lai người bán sẽ mua lại các GTCG đó Repos đảo ngược được sử dụng khi NHTW thực hiện bán GTCG với thoả thuận người mua sẽ bán lại vào một ngày xác định trong tương lai Thông thường, Repos và Repos đảo ngược được sử dụng trong một khoảng thời gian ngắn với mục đích điều tiết vốn khả dụng của các NHTM một cách linh hoạt Giao dịch theo hợp đồng Repos thực chất là một khoản cho vay của NHTW có bảo đảm bằng các GTCG có tính thị trường cao

Các giao dịch mua bán có kỳ hạn được sử dụng chủ yếu trong OMO do các lý do: (i) Đây là công cụ có hiệu quả nhất để bù đắp hoặc triệt tiêu những ảnh hưởng không dự tính trước đến dự trữ ngân hàng, (ii) Chi phí giao dịch thấp hơn các giao dịch mua bán hẳn, (iii) Thích hợp trong trường hợp các định hướng của CSTT không hoàn hảo dẫn đến phải sử dụng các giải pháp khắc phục, (iiii) Làm giảm bớt thời gian thông báo, do đó mà giảm bớt biến động của thị trường trước các quyết định hàng ngày của NHTW

1.2.7.2 Phương thức đấu thầu của nghiệp vụ thị trường mở

Các giao dịch OMO thường được thực hiện thông qua 2 phương thức đấu thầu

là đấu thầu khối lượng và đấu thầu lãi suất

1.2.7.2.1 Đấu thầu khối lượng

Đấu thầu khối lượng là phương thức đấu thầu với lãi suất được NHTW công

bố trước NHTW công bố khối lượng tiền cần mua hoặc cần bán bằng phương thức đấu thầu và ấn định mức lãi suất thực hiện NHTW công bố điều kiện đặt thầu để các thành viên đăng ký số tiền dự thầu trên cơ sở chấp thuận mức lãi suất đã xác định trước Sau khi mở thầu NHTW sẽ xác định tỷ lệ giá trị đạt thầu và phân bổ cho từng tổ chức tham gia đặt thầu

Việc phân bổ thầu được tiến hành thực hiện như sau: Trước hết toàn bộ số lượng đăng ký dự thầu được cộng lại với nhau Nếu tổng khối lượng đặt thầu nhỏ hơn hoặc bằng khối lượng NHTW chào mua/chào bán thì toàn bộ các đơn dự thầu đều được phân bổ theo khối lượng đặt thầu Nếu tổng khối lượng đặt thầu lớn hơn

Trang 26

khối lượng NHTW chào mua/chào bán thì khối lượng trúng thầu của từng thành viên được phân bổ tỷ lệ thuận với khối lượng đặt thầu của thành viên đó Các đơn

dự thầu sẽ được phân bổ như sau:

Tỷ lệ % phân bổ thầu: k = A/

1

n i i

b

 trong đó:

- A: là khối lượng NHTW chào mua/chào bán

- n: là tổng số thành viên tham gia dự thầu

- bi là khối lượng đặt thầu của thành viên thứ i

- k là tỷ lệ phân bổ thầu

Trên cơ sở xác định được tỷ lệ k, khối lượng trúng thầu của thành viên thứ i (Wi) được xác định như sau:

Wi = k x bi1.2.7.2.2 Đấu thầu lãi suất

Theo phương thức đấu thầu lãi suất thì các thành viên tham gia tự đăng ký số tiền ứng với mỗi mức lãi suất do tự mình lựa chọn

- Trường hợp NHTW cần cung ứng tiền thêm vào lưu thông thông qua việc mua GTCG, các đơn dự thầu được sắp xếp theo thứ tự và được phân bổ theo các mức lãi suất từ cao xuống thấp Nghĩa là những đơn dự thầu ứng với lãi suất cao sẽ được ưu tiên phân bổ trước cho đến khi khối lượng phân phối được sử dụng hết Nếu tại mức lãi suất thấp nhất được chấp nhận, khối lượng đăng ký dự thầu lớn hơn khối lượng được phân phối thì quá trình phân bổ như sau:

Gọi: - A: là khối lượng NHTW chào mua/chào bán

- rt : là mức lãi suất thứ t được đăng ký

- b(rt)i là khối lượng đặt thầu của thành viên thứ i ứng với mức lãi suất rt

- b(rt) là tổng khối lượng đặt thầu của các thành viên ứng với mức lãi

suất rt

- rm là mức lãi suất cuối cùng được chấp nhận

Đối với trường hợp NHTW đấu thầu để bơm thêm vốn khả dụng cho hệ thống ngân hàng thì: r1  rt  rm

- k(rm) là tỷ lệ % trúng thầu được phân bổ tại mức lãi suất cuối cùng

Trang 27

Trên cơ sở xác định được tỷ lệ k(rm), khối lượng trúng thầu của thành viên thứ

i (Wi) tại mức lãi suất rm được xác định như sau:

1.2.8 Các nhân tố ảnh hưởng tới sự vận hành nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng trung ương

OMO là một công cụ CSTT có tính chất tự nguyện theo các nguyên tắc thị trường và linh hoạt nên sự vận hành của OMO phụ thuộc nhiều vào các yếu tố xuất phát từ bản thân NHTW và từ các thành viên thị trường

1.2.8.1 Nhân tố chủ quan

1.2.8.1.1 Dự báo về vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng

Với vai trò tổ chức, xây dựng và điều hành các hoạt động OMO, trên cơ sở dự báo các diễn biến tiền tệ, tình hình vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng, NHTW quyết định thời điểm, khối lượng chào mua-bán GTCG, thời hạn và phương thức giao dịch OMO nhằm điều tiết thị trường tiền tệ theo mục tiêu đã xác định

Khi dự báo vốn khả dụng dư thừa trong ngắn hạn, NHTW sẽ thực hiện các phiên chào bán GTCG hoặc phát hành tín phiếu NHTW nhằm thu hút và hấp thụ vốn khả dụng

dư thừa của hệ thống ngân hàng Trường hợp dự báo vốn khả dụng thiết hụt thì NHTW

sẽ thực hiện chào mua GTCG hoặc chứng chỉ tiền gửi để cung ứng vốn cho hệ thống ngân hàng Vì vậy, việc quyết định thực hiện các phiên giao dịch OMO và kết quả giao dịch OMO phụ thuộc rất nhiều vào độ chính xác của việc dự báo vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng Nếu việc dự báo vốn khả dụng của NHTW phù hợp với thực tế diễn biến thị trường thì khả năng tham gia phiên giao dịch OMO của các ngân hàng sẽ cao hơn Nếu dự báo sai hoặc ngược chiều thì kết quả giao dịch OMO sẽ rất thấp hoặc không

có đối tác nào khác tham gia giao dịch OMO

1.2.8.1.2 Các quy định về nghiệp vụ thị trường mở

Nhìn chung, nghiệp vụ thị trường mở rất đa dạng về hình thức giao dịch, hàng hoá giao dịch, tần suất giao dịch, đối tác giao dịch, kỳ hạn giao dịch Các quy định về OMO này đều có tác động nhất định đến sự vận hành của OMO

Hiện nay, OMO thường được NHTW thực hiện dưới các hình thức chủ yếu sau:

Trang 28

NHTW mua hẳn hoặc bán hẳn GTCG, NHTW mua hoặc bán có kỳ hạn các GTCG, NHTW phát hành tín phiếu NHTW, cầm cố các chứng chỉ tiền gửi, cho vay không có bảo đảm hoặc hoán đổi ngoại tệ Việc quyết định sử dụng các hình thức nào phụ thuộc vào thực tế diễn biến thị trường và sự phát triển của NHTW và hệ thống ngân hàng tài chính Hình thức mua bán có kỳ hạn GTCG là hình thức giao dịch OMO chủ yếu tại nhiều NHTW xuất phát từ tính linh hoạt của hình thức này và tiết kiệm chi phí giao dịch Hơn nữa, NHTW sử dụng hình thức này có thể khắc phục dễ dàng các sai lầm của mình Bên cạnh đó, hàng hoá của OMO thường là các GTCG có thu nhập cố định (lãi suất cố định) và tính thanh khoản cao như chứng khoán của chính phủ, tín phiếu NHTW Vấn đề nổi lên gần đây là sự thiếu hụt các GTCG đủ điều kiện giao dịch trên thị trường mở của các ngân hàng, xuất phát từ quy mô thị trường trái phiếu chính phủ nhỏ Ngoài ra, các giao dịch hoán đổi ngoại tệ cũng chỉ được thực hiện tại một số quốc gia

Một quy định nữa của NHTW cũng tác động đến sự vận hành OMO là quy định về đối tác tham gia thị trường Tại nhiều quốc gia, chỉ có các ngân hàng mới được giao dịch trên thị trường mở Tuy nhiên tại Ấn Độ và Ba Lan thì các đối tác chủ yếu lại là các nhà giao dịch sơ cấp Tại Hàn Quốc thì ngân hàng, công ty tín thác và đầu tư, công ty chứng khoán cũng là các đối tác trên thị trường mở Chính vì vậy, quy định về đối tác thị trường

mở của NHTW tác động rất lớn tới sự sôi động và quy mô hoạt động của thị trường 1.2.8.2 Các nhân tố khách quan

1.2.8.2.1 Trình độ phát triển của thị trường tiền tệ quốc gia

OMO là công cụ có tính chất tự nguyện theo các nguyên tắc thị trường, không có tính chất bắt buộc Chính vì vậy, hoạt động OMO không chỉ phụ thuộc vào NHTW mà còn bị chi phối bởi môi trường kinh tế vĩ mô, hành vi của công chúng, sự tham gia thị trường và nhu cầu giao dịch của các ngân hàng

Các ngân hàng tham gia OMO nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản và mục tiêu lợi nhuận từ việc kinh doanh GTCG Để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của mình, các ngân hàng có thể thực hiện việc bán các GTCG, vay từ các tổ chức tài chính, tín dụng khác trên thị trường vốn hoặc vay từ NHTW Việc giao dịch trên thị trường mở phụ thuộc vào khả năng đáp ứng nhu cầu thanh khoản của ngân hàng thông qua thị trường tiền tệ và thường được lựa chọn cuối cùng bởi vì các lý do phi kinh tế Khả năng tìm kiếm các nguồn vốn khác của ngân hàng phụ thuộc nhiều vào trình độ phát triển của thị trường tiền tệ quốc gia

Chính vì vậy, nếu ngân hàng có thể đáp ứng được nhu cầu thanh khoản của mình trên thị trường tiền tệ qua việc huy động các nguồn vốn mới, bán các tài sản, vay các ngân hàng khác, … hoặc thông qua các công cụ khác thì việc giao dịch OMO tại NHTW

sẽ giảm thiểu.Khi đó khả năng tác động của OMO sẽ bị hạn chế

Trang 29

1.2.8.2.2 Hàng hoá thị trường mở do các ngân hàng nắm giữ

Để tham gia thị trường mở, nhất là khi cần bổ sung nguồn vốn, các ngân hàng phải nắm giữ một lượng hàng hoá nhất định về cả khối lượng và chủng loại phù hợp với điều kiện và nhu cầu giao dịch của NHTW Chỉ khi các hàng hoá nắm giữ của ngân hàng phù hợp với nhu cầu giao dịch của NHTW thì các ngân hàng mới có thể tham gia giao dịch OMO

Khi thực hiện giao dịch OMO, NHTW thường yêu cầu sử dụng các GTCG có độ rủi ro rất thấp và tính thanh khoản cao Chính vì vậy, các GTCG do Bộ Tài chính hay chính NHTW phát hành thường được NHTW ưu tiên chấp thuận Các GTCG này thường được nắm giữ bởi các ngân hàng có tiềm lực tài chính mạnh, quy mô lớn hoặc nguồn vốn dồi dào Bên cạnh đó, NHTW cũng chấp thuận các GTCG khác như: GTCG

do Chính phủ các nước phát triển phát hành, GTCG do chính quyền địa phương phát hành hoặc GTCG do các tổ chức tín dụng, tài chính có độ tín nhiệm cao phát hành Chính vì vậy, danh mục GTCG được chấp thuận sử dụng trong giao dịch OMO càng đa dạng thì các ngân hàng cũng có thêm sự lựa chọn trong cơ cấu đầu tư GTCG nhằm đảm bảo tính thanh khoản và khả năng sinh lợi

1.3 KHẢO CỨU SỰ VẬN HÀNH NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA MỘT SỐ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI VIỆT NAM

1.3.1 Sự vận hành OMO của NHTW các nước phát triển

1.3.1.1 Ngân hàng Nhật Bản

Ngân hàng Nhật Bản (BOJ) là NHTW của Nhật Bản, có một quá trình lịch sử thực hiện mua bán GTCG khá lâu năm từ thời kỳ trước chiến tranh Tuy nhiên lúc đầu các hoạt động OMO được thực hiện rất hạn chế trong những trường hợp ngoại

lệ để hỗ trợ cho hoạt động tái cấp vốn của BOJ

Đến tháng 11/1962, BOJ bắt đầu thực hiện mua bán GTCG một cách linh hoạt hơn cùng với việc áp dụng hạn mức tín dụng nhằm đa dạng hoá các công cụ điều hành CSTT, đồng thời ổn định thị trường tiền tệ Thông qua các hoạt động mua bán GTCG trên thị trường mở, BOJ cung ứng khối lượng tiền cần thiết cho phát triển kinh tế thay cho việc cung ứng tiền qua kênh TCV như trước đây Dần dần OMO đã trở thành một trong các công cụ CSTT được BOJ sử dụng thường xuyên và ngày càng quan tọng trong thực thi CSTT

Hàng hoá được sử dụng đầu tiên trong OMO là các GTCG có tính thanh khoản cao như trái phiếu và tín phiếu Chính phủ Hiện nay ngoài các chứng khoán Chính phủ, BOJ còn sử dụng các trái phiếu công ty làm hàng hoá cho các giao dịch này Tuy nhiên, đến nay thị trường tín phiếu, trái phiếu Chính phủ vẫn là cơ sở quan

Trang 30

trọng cho các hoạt động của thị trường mở của Nhật Bản Đặc biệt là trên thị trường đấu thầu tín phiếu, trái phiếu Chính phủ, BOJ được phép thực hiện vai trò là người mua cuối cùng Điều này giúp cho BOJ luôn có công cụ chủ động điều hoà thị trường tiền tệ mà không nhất thiết phải phát hành tín phiếu NHTW

Ban đầu phương thức giao dịch được áp dụng trong OMO của BOJ là giao dịch mua bán có kỳ hạn thông qua các hợp đồng mua lại theo lãi suất cố định Sua

đó phương thức giao dịch được chuyển sang thực hiện trên cơ sở mua bán GTCG theo giá thị trường, thông qua hình thức đấu thầu nhằm nâng cao khả năng điều chỉnh lãi suất trên thị trường Việc tổ chức đấu thầu không chỉ được thực hiện theo định kỳ mà BOJ còn tổ chức đấu thầu nhanh, trong đó khối lượng GTCG mà NHTW cần mua được xác định và thực hiện ngay trong một ngày Điều này góp phần nâng cao tính linh hoạt của thị trường

Đối tác của BOJ chủ yếu là các ngân hàng Ban đầu BOJ thực hiện mua bán GGCG trực tiếp với các ngân hàng Hiện nay, BOJ đã thực hiện các giao dịch OMO chủ yếu thông qua các nhà giao dịch sơ cấp và chỉ giới hạn trong phạm vi các ngân hàng mà không bao gồm các trung gian tài chính phi ngân hàng và các doanh nghiệp Vì vậy, tác động của OMO tại Nhật Bản không mạnh như tại các NHTW của các nước phát triển khác trên thế giới

1.3.1.2 Cục dự trữ liên bang Mỹ

Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed, NHTW của Mỹ) bắt đầu thực hiện OMO từ cuối những năm 1920 Khi đó, OMO được sử dụng như một công cụ hỗ trợ thực hiện cho vay chiết khấu của Fed Nhưng đến nay, OMO được coi là công cụ CSTT linh hoạt, có hiệu quả và quan trọng nhất của Fed vì hoạt động OMO có tính chất quyết định đến sự thay đổi dự trữ của hệ thống ngân hàng và lãi suất thị trường Để điều hành OMO, Fed đã thành lập Uỷ ban nghiệp vụ thị trường mở (FOMC) Theo định kỳ 6 tuần/lần, FOMC họp bàn phân tích các diễn biến kinh tế - tiền tệ và các yếu tố ảnh hưởng để đưa ra các quyết định về mục tiêu tăng trưởng M1, M2 và lãi suất liên ngân hàng định hướng, lãi suất chiết khấu từ đó quyết định khối lượng GTCG giao dịch trên thị trường mở, phương thức giao dịch và thời hạn giao dịch Fed lựa chọn những chứng khoán có tính thanh khoản và độ an toàn cao làm công cụ thực hiện OMO nhằm đạt được mục tiêu điều tiết vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng một cách có hiệu quả nhất Chứng khoán Chính phủ Mỹ (đặc biệt

là tín phiếu kho bạc) là công cụ chủ yếu được sử dụng trong các giao dịch OMO do

có khối lượng giao dịch trên thị trường lớn, có tính thanh khoản và độ an toàn cao Thời hạn của các chứng khoán Chính phủ được giao dịch trên thị trường khá đa dạng, từ dưới 01 năm đến trên 10 năm

Trang 31

Đối tác giao dịch chủ yếu của Fed là các ngân hàng Tuy nhiên hầu hết các giao dịch OMO thực hiện thông qua các nhà giao dịch chứng khoán chính phủ chuyên nghiệp (ngân hàng)

Tuỳ theo từng điều kiện cụ thể mà Fed áp dụng hình thức mua bán hẳn hoặc mua bán có kỳ hạn, thông qua hình thức đấu thầu lãi suất Các giao dịch mua bán hẳn thường được sử dụng khi việc dự báo các nhân tố ảnh hưởng đến mức dự trữ của các NHTM như khối lượng tiền ngoài lưu thông, khả năng chi tiêu của Chính phủ … cho thấy mức dự trữ cần được tiếp tục điều chỉnh trong một thời gian dài Ngoài ra khi cần tăng dự trữ, bên cạnh việc mua hẳn, Fed có thể sử dụng thêm hình thức cho trả trước hạn các chứng khoán Thực chất cả 2 nghiệp vụ mua bán hẳn và thanh toán trước hạn chứng khoán đều có tác động giống nhau

Trong trường hợp dự báo cho thấy cần thay đổi tạm thời dự trữ của các ngân hàng, hoặc không dự báo được chính xác mức độ cũng như thời hạn biến động của

dự trữ, Fed có thể thực hiện phương thức mua bán có kỳ hạn ngắn thông qua các hợp đồng Repos, với thời gian thường không quá 15 ngày

1.3.2 Sự vận hành OMO của Ngân hàng Thái Lan

Ngân hàng Thái Lan (BOT, NHTW của Thái Lan) thực hiện OMO thông qua mua bán GTCG với các thành viên (bao gồm các NHTM, tất cả các định chế tài chính khác và một số DNNN)

Hàng hoá sử dụng trong các OMO bao gồm các chứng khoán chính phủ, tín phiếu NHTW và trái phiếu DNNN được Bộ Tài chính bảo lãnh phát hành và được gửi tại NHTW Tại Thái Lan, do số dư trái phiếu chính phủ giảm mạnh trong một vài năm qua từ tình trạng ngân sách nhà nước bội thu và nhiều trái phiếu chính phủ

đã được thanh toán trước hạn nên BOT đã mở rộng giao dịch bằng chứng khoán khác và tự phát hành tín phiếu NHTW để tạo điều kiện thuận lợi cho OMO

Phương thức giao dịch OMO chủ yếu của BOT là các giao dịch có kỳ hạn thông qua các hợp đồng repo Thậm chí đã có thời gian BOT dựa hoàn toàn vào hình thức giao dịch mua bán có kỳ hạn thông qua các hợp đồng mua bán lại trên thị trường thứ cấp mà không thực hiện các hoạt động OMO trên thị trường sơ cấp Nhưng sau này, khi số dư trái phiếu chính phủ giảm mạnh, BOT cũng thực hiện việc đấu thầu tín phiếu NHTW trên thị trường mở

Do thị trường tiền tệ có quy mô nhỏ và tính cạnh tranh giữa các thành viên so với các nước phát triển, phạm vi hoạt động OMO của BOT tương đối rộng Mặc dù vậy, sự hạn chế về hàng hoá cũng như sự phát triển thị trường chưa hoàn hảo làm cho tác động có thể thiệp của BOT thông qua OMO còn hạn chế Hiện nay, hoạt động OMO của BOT vẫn còn hai hạn chế chủ yếu:

Trang 32

Thứ nhất là, BOT chưa thực hiện OMO năng động vơi mục đích thay đổi mức

dự trữ của các ngân hàng theo các mục tiêu của CSTT, mà chủ yếu thực hiện OMO nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường

Thứ hai là, quy mô và mức độ biến động của các luồng vốn quốc tế ngày càng

tăng khiến cho BOT tăng cường quy mô hoạt động OMO nhằm bù đắp lại những biến động của các nhân tố khác gây ra đối dự trữ của các ngân hàng (mà cụ thể là nhằm bù đắp lại việc bơm/hút đồng Baht của Quỹ ổn định tỷ giá)

Khác với các nước khác, thị trường tài chính Thái Lan bị ảnh hưởng mạnh bởi nguồn vốn đầu tư nước ngoài Để đảm bảo CSTT độc lập, BOT phải sử dụng OMO một cách tích cực để điều chỉnh luồng vốn này Một sự điều tiết có hiệu quả trong trường hợp này đòi hỏi phải có sự kết hợp chặt chẽ hoạt động có thể thiệp của NHTW trên thị trường mở với chính sách lãi suất và chính sách tỷ giá Đây là vấn

đề mà BOT đang phải đương đầu, để đảm bảo tính hiệu quả của CSTT

Hiện nay, Thái Lan đang thực hiện hai chiến lược nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của OMO:

Trước tiên, BOT đưa ra thêm nhiều công cụ thực hiện OMO nhằm tăng cường

khả năng can thiệp của NHTW cả thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối Chẳng hạn BOT đã phát hành các tín phiếu NHTW vào các ngày thứ sáu hàng tuần Danh mục các GTCG đủ điều kiện sử dụng trên thị trường mua lại sẽ được mở rộng bao gồm cả các trái phiếu của các DNNN không được Bộ Tài chính bảo lãnh phát hành Nghiệp vụ swap cũng được coi như một phương tiện khác để thực hiện việc bơm hay rút tiền Baht thông qua sử dụng USD

Thứ hai, BOT coi việc thiết lập một hệ thống các nhà giao dịch sơ cấp như

một kênh bổ sung thực hiện thị trường mở Theo kế hoạch, bước đầu, BOT sẽ có lựa chọn một số các NHTM, các công ty tài chính và các công ty chứng khoán thực hiện vai trò các đối tác không chính thức mua bán các GTCG với NHTW Chứng khoán được giao dịch giữa NHTW và các đối tác này sẽ giới hạn, chỉ gồm chứng khoán chính phủ, trái phiếu NHTW và các trái phiếu DNNN Trong giai đoạn này, các định chế tài chính thực hiện vai trò các nhà giao dịch sơ cấp không chính thức

sẽ không phải chấp nhận thực hiện nghĩa vụ cụ thể nào Tuy nhiên, các hoạt động kinh doanh và tạo lập thị trường của các đối tác này sẽ được đánh giá làm cơ sở lựa chọn tiếp các nhà giao dịch sơ cấp chính thức Khi được chỉ định chính thức, các nhà giao dịch sẽ phải chấp nhận các nghĩa vụ nào đó như tham gia đều đặn vào các phiên đấu thầu trái phiếu NHTW hàng tuần và thực hiện vai trò tạo lập thị trường đối với trái phiếu Chính phủ và trái phiếu NHTW thông qua việc sẵn sàng chào giá hai chiều đối với BOT và các đối tượng khác (gồm các thể chế tài chính và các nhà

Ngày đăng: 15/03/2014, 11:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.2. Cơ chế tác động của OMO qua lãi suất - Nghiên cứu nghiệp vụ thị trường mở của NHNN VN giai đoạn 2007-2011
Sơ đồ 1.2. Cơ chế tác động của OMO qua lãi suất (Trang 17)
Sơ đồ 1.1. Cơ chế tác động của OMO tới dự trữ ngân hàng - Nghiên cứu nghiệp vụ thị trường mở của NHNN VN giai đoạn 2007-2011
Sơ đồ 1.1. Cơ chế tác động của OMO tới dự trữ ngân hàng (Trang 17)
Bảng 2.1. Số lượng thành viên thị trường mở qua các năm - Nghiên cứu nghiệp vụ thị trường mở của NHNN VN giai đoạn 2007-2011
Bảng 2.1. Số lượng thành viên thị trường mở qua các năm (Trang 45)
Bảng 2.2: Tình hình hoạt động NV thị trường mở 6 tháng đầu năm 2011 - Nghiên cứu nghiệp vụ thị trường mở của NHNN VN giai đoạn 2007-2011
Bảng 2.2 Tình hình hoạt động NV thị trường mở 6 tháng đầu năm 2011 (Trang 50)
Bảng 2.3: Lượng tiền cung ứng ròng qua nghiệp vụ thị trường mở - Nghiên cứu nghiệp vụ thị trường mở của NHNN VN giai đoạn 2007-2011
Bảng 2.3 Lượng tiền cung ứng ròng qua nghiệp vụ thị trường mở (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w