1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Surfing the waves of globalization - Asia and financial lobalization in the context of the trilemma

28 682 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 443,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Surfing the waves of globalization - Asia and financial lobalization in the context of the trilemma

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

KHOA SAU ĐẠI HỌC

16/ Mai Văn Luông

+ Lớp : TCDN NGÀY 1 – K20

TP HCM năm 2012

Trang 2

Trang 4- 6

PHẦN II – CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN CỦA BỘ BA BẤT KHẢ THI (*)

1- Các khái niệm về bộ ba bất khả thi 2- Phân tích hồi quy

3- Đánh giá kết quả các mô hình cơ bản 3.1 Biến động đầu ra

3.2 Biến động lạm pháp 3.3 Mô hình lạm pháp trung bình 4- Những ảnh hưởng của Châu Á 5- Kết quả biến động đầu tư và biến động tỷ giá 6- Kết quả ở khía cạnh khác của hoạt động kinh tế vĩ mô 7- Một cách nhòn cụ thể hơn

Trang 7- 27

PHẦN III – KẾT LUẬN (*) Trang 27- 28

(*): Tên chương không có trong bài nghiên cứu mà do nhóm tự đặt để dễ theo dõi

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Việc lựa chọn bộ ba chính sách là Độc lập tiền tệ , Ổn định tỷ giá và Hội nhập tài chính

có liên quan đến mức biến động của đầu ra của nền kinh tế và mức độ lạm phát trung hạn như thế nào luôn là một câu hỏi cho các nhà phân tích kinh tế vĩ mô cũng như các chuyên gia tài chính

Bài nghiên cứu ‘’Surfing the Waves of Globalization: Asia and Financial Globalization in the Context of the Trilemma’’ của Joshua Aizeman và các cộng sự (2010) cho chúng ta thấy được một cái nhìn rất mới về bộ ba chính sách này

Do đó, trong phạm vi bài tiểu luận môn học Tài chính quốc tế nhóm 6 – TCDN K20 ngày 1 dựa trên bài nghiên cứu trên sẽ dịch thuật kết hợp phần đọc hiểu để đưa ra những vấn

đề mới của bộ ba chính sách cho mọi người cùng tham khảo, nghiên cứu

Trong điều kiện hạn chế về thời gian và rút gọn trong phạm vi một tiểu luận, bài viết chắc rằng có nhiều chỗ còn hạn chế, rất mong được sự góp ý của giáo viên hướng dẫn và các bạn đề bài viết được hoàn chỉnh hơn, xin chân thành cảm ơn

Trân trọng

Nhóm 06 học viên cao học TCDN – K20 – Ngày 1

Trang 4

PHẦN I TÓM TẮT & ÔN LƯỢC

tư hoặc thương mại phụ thuộc vào mức độ mở cửa của các nền kinh tế Trong khi độ ổn định cao hơn của tỷ giá hối đoái có thể làm ổn định tỷ giá hối đoái thực, nó cũng có thể làm biến động đầu tư, bởi vì hiệu ứng mở rộng biến động của chính sách ổn định tỷ giá đối với đầu tư có thể được triệt tiêu bằng cách sở hữu một lượng dự trữ ngoại hối lớn

Các kết quả của chúng tôi chỉ ra rằng các nhà tạo lập chính sách trong một nền kinh tế

mở thích theo đuổi mục tiêu ổn định tỷ giá hơn khi có một lượng lớn dự trữ ngoại hối Các nền kinh tế mới nổi ở khu vực châu Á được trang bị các dạng chính sách vĩ mô giúp các nền kinh

tế này làm giảm sự biến động của tỷ giá hối đoái thực Lượng dự trữ ngoại hối đáng kể của các nền kinh tế này dường như củng cố hiệu ứng ổn định hóa của việc lựa chọn chính sách bộ ba,

và qua đó góp phần giải thích hiện tượng tích trữ ngoại hối gần đây của các quốc gia trong khu vực châu Á

Trang 5

2/ ÔN LƯỢC

Như trong bài viết, chúng tôi không biết rằng của cuộc khủng hoảng toàn cầu sẽ kéo dài bao lâu và diễn biến như thế nào Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng đã đặt câu hỏi cho nền kiến trúc tài chính quốc tế hiện tại cũng như các chính sách kinh tế vĩ mô riêng lẻ – vấn đề này được chú trọng trong một loạt những cuộc họp G20 tại Washington, D.C., London, và Pittsburgh Bất kỳ cấu hình của kiến trúc tài chính quốc tế hoặc chính sách kinh tế vĩ mô nào cũng được xem xét thận trọng bởi các nhà hoạch định chính sách, họ không thể tránh khỏi việc đương đầu với Bộ Ba Bất Khả Thi – một lý thuyết cho rằng một quốc gia chỉ có thể lựa chọn đồng thời 2 trong 3 mục tiêu: độc lập tiền tệ, ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính – không thể chọn tất cả

Bộ ba bất khả thi được minh họa như hình tam giác Ba cạnh của tam giác là độc lập tiền tệ, ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính mô tả mục tiêu mong muốn tiềm năng, không thể cùng một lúc đạt được ba cạnh của tam giác, Ví dụ: Đỉnh của tam giác là “thị trường vốn đóng” kết hợp với việc tự chủ trong chính sách tiền tệ, tỉ giá hối đoái cố định nhưng không hội nhập tài chính

Lịch sử đã chỉ ra rằng hệ thống tài chính quốc tế cố gắng để đạt được sự kết hợp 2 trong

3 mục tiêu chính sách, như là hệ thống Gold Standard - sự thay đổi của vốn được đảm bảo và

tỷ giá hối đoái ổn định; Hệ thống Bretton Woods - với chính sách tự chủ tiền tệ & tỉ giá hối đoái ổn định Thực tế nền kinh tế đã thay đổi sự kết hợp như phản ứng lại cơn khủng hoảng hoặc sự kiện kinh tế diễn ra để ám chỉ rằng mỗi sự lựa chọn trong 3 chính sách có thể là sự lựa chọn đúng đắn hoặc sai lầm trong điều kiện kinh tế vĩ mô có quản lý

Chính sách tiền tệ càng độc lập cho phép các nhà làm chính sách ổn định kinh tế thông qua chính sách tiền tệ mà không lệ thuộc vào việc quản trị kinh tế vĩ mô, kết quả là ổn định và phát triển kinh tế Tuy nhiên, trong nền kinh tế với giá cả và tiền lương khắt khe, nhà hoạch định chính sách có thể thao túng sự biến động của tăng trưởng ( ít nhất là trong ngắn hạn ), vì vậy dẫn đến tăng sản lượng và giảm thiểu lạm phát Hơn thế nữa, nhà hoạch định chính sách tiền tệ có thể lạm dụng sự tự quản để cho phép lưu hành các khoản nợ tài chính dẫn đến mất ổn định kinh tế và kéo theo sự biến động trong tỉ lệ lạm phát

Vào thời kỳ khủng hoảng giữ cho tỷ giá hối đoái cố định cũng làm tăng lòng tin của các nhà hoạch định chính sách và vì thế dẫn đến sự tăng trưởng ổn định (Aizenman, etal., 2005) Tuy nhiên mức độ ổn định tỷ giá hối đoái càng cao cũng có thể giải phóng các nhà hoạch định

Trang 6

chính sách khỏi việc sử dụng tỷ giá hối đoái như là một công cụ để hấp thu các cú sốc bên ngoài Prasad (2008) chứng minh rằng sự khắt khe trong tỉ giá hối đoái sẽ làm cho các nhà hoạch định chính sách khó lòng mà thực hiện được các chính sách phù hợp với thực tế kinh tế

vĩ mô, họ có khuynh hướng thiên về việc tạo ra những bong bóng tài sản và bị phá vỡ bởi sức nóng của nền kinh tế Vì vậy, sự khắt khe trong ổn định tỷ giá có thể không chỉ làm cho sản lượng bốc hơi mà còn dẫn đến không phân phối được nguồn lực, mất cân bằng và sự phát triển không bền vững

Tự do hóa tài chính có lẽ là một vấn đề được tranh luận sôi nổi nhất và là chính sách được cân nhắc nhiều nhất trong bộ ba bất khả thi Một mặt thị trường tài chính mở có thể đem lại sự phát triển kinh tế bằng cách mở đường cho sự phân bổ nguồn lực hiệu quả, làm giảm sự bất cân xứng thông tin, nâng cao/bổ sung quỹ tiết kiệm nội địa, và giúp chuyển giao công nghệ hoặc kinh nghiệm quản trị Hơn nữa, việc tiếp cận thị trường vốn dễ dàng hơn giúp ổn định kinh tế nhờ vào việc chia sẻ rủi ro và đa dạng hóa danh mục vốn đầu tư Mặt khác, tự do hóa tài chính gây ra bất ổn định trong nền kinh tế, đặc biệt trong 2 thập kỷ vừa qua, bao gồm cả cuộc khủng hoảng hiện tại Dựa trên quan điểm này, việc hội nhập tài chính cũng có thể làm bốc hơi các dòng vốn xuyên biên giới, kết quả là sự dừng lại đột ngột hoặc đảo ngược dòng vốn, làm cho nền kinh tế bị tổn thương dẫn đến phá sản ( Kaminsky và Schmukler, 2006)

Vì vậy, học thuyết chỉ ra rằng mỗi sự lựa chọn chính sách trong bộ ba tài chính có thể là con dao hai lưỡi, cần được giải thích mở rộng và những điều tra thực nghiệm trên mỗi sự lựa chọn trong bộ ba chính sách Hơn nữa, có 3 cách để kết hợp 2 chính sách trong bộ ba chính sách, hiệu quả của mỗi sự lựa chọn chính sách có thể khác nhau phụ thuộc vào cách lựa chọn chính sách nào sẽ đi với nó Vì vậy, quan trọng là cần có những phân tích thực nghiệm về sự kết hợp của 3 loại chính sách này một cách có hệ thống và toàn diện

Trang 7

PHẦN II CÁC VẦN ĐỀ LIÊN QUAN CỦA BỘ BA BẤT KHẢ THI

1/ CÁC KHÁI NIỆM BỘ BA BẤT KHẢ THI

Mặc dù công nhận tính phổ biến của bộ ba bất khả thi nhưng hầu như chúng chưa từng được nghiên cứu một cách có hệ thống Nhiều bài nghiên cứu cho vấn đề này thường tập trung vào một hoặc hai biến của bộ ba bất khả thi,nhưng không cung cấp một phân tích toàn diện tất

cả các khía cạnh bộ ba chính sách Một phần là do thiếu các số liệu thích hợp để đo lường sự thành công trong chính sách bộ ba mục tiêu Aizenman và cộng sự (2008) vượt qua sự thiếu hụt này bằng cách phát triển một tập hợp chỉ số bộ ba bất khả thi, cho rằng thước đo mức độ mỗi một lựa chọn trong bộ ba chính sách được thực thi bởi nền kinh tế Sử dụng các chỉ số này, chúng tôi đã kiểm tra xem liệu các chỉ số tuyến tính có liên quan đến nhau hay không, và đã xác nhận rằng một sự thay đổi trong những biến bộ ba chính sách sẽ gây ra một sự thay đổi ngược chiều ở mức trung bình có trọng số của hai nhân tố còn lại Điều này có nghĩa, với những dự đoán mang tính lý thuyết, nền kinh tế phải đối mặt với sự đánh đổi giữa ba lựa chọn chính sách

Chúng tôi đã tạo ra “chỉ số bộ ba chính sách” cho hơn 170 nền kinh tế trong khoảng từ năm 1970 đến 2007 Chỉ số độc lập tiền tệ (MI) được dựa trên sự tương quan giữa lãi suất của một quốc gia với lãi suất của quốc gia cơ sở Chỉ số tỷ giá hối đoái cố định (ERS) là đối nghịch với tỷ giá hối đoái biến động, ví dụ độ lệch chuẩn của tỷ lệ khấu hao hàng tháng, được đo lường bằng sự khác biệt giữa tỷ giá hối đoái của nền kinh tế nội địa và những nền kinh tế cơ

sở Mức độ hội nhập tài chính được đo lường với Chinn-Ito (2006, 2008) chỉ số kiểm soát vốn (KAOPEN) Chi tiết về xây dựng các chỉ số thể hiện ở phụ lục 1

Quỹ đạo của các chỉ số bộ ba chính sách với các nhóm quốc gia có thu nhập khác nhau Đối với nền kinh tế công nghiệp hóa, việc mở cửa hội nhập tài chính đã được đẩy mạnh từ những năm đầu của thập niên 90 trong khi đó mức độ độc lập tiền tệ có xu hướng giảm Vào những năm cuối của thập niên 90, chính sách tỷ giá hối đoái cố định được thực hiện một cách đáng kể Tất cả những khuynh hướng này dường như phản ánh sự ra đời của đồng EURO vào năm 1999

Mặt khác, các nền kinh tế đang phát triển không thể hiện một sự khác biệt nào giữa các

Trang 8

chỉ số, và những sự khác biệt trước đây của chúng tùy thuộc vào liệu chúng là nền kinh tế mới nổi hay kém phát triển Đối với những nền kinh tế mới nổi, tỷ giá hối đoái cố định đã được cắt

bỏ một cách nhanh chóng từ thập niên 70 đến giữa thập niên 80 Sau khi cắt giảm khoảng đầu những năm của thập niên 80 (trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng nợ), việc hội nhập tài chính bắt đầu sử dụng đáng kể từ năm 1990 trở đi Đối với các nền kinh tế đang phát triển khác, tỷ giá hối đoái cố định giảm xuống chậm hơn, và hội nhập tài chính có khuynh hướng tăng lên chậm hơn Trong cả hai trường hợp, chính sách độc lập tiền tệ vẫn duy trì dược xu hướng tăng hoặc giảm ít hơn

Thật thú vị, đối với các quốc gia có nền kinh tế mới nổi, các chỉ số cho thấy hội tụ ở chính giữa thậm chí nếu không xuất hiện ở chính giữa thì cũng nằm xung quanh đó Kết quả này cho thấy rằng các nền kinh tế đang phát triển có thể đang cố gắng bám víu vào mức độ vừa phải của độc lập tiền tệ và hội nhập kinh tế trong khi đó vẫn duy trì ở mức cao hơn việc tỷ giá hối đoái cố định Nói cách khác, các nền kinh tế mới nổi đã dựa vào bộ ba bất khả thi trong khoảng thời gian trùng với thời gian khi một số các nền kinh tế này bắt đầu có một dự trữ khá lớn quốc tế (IR), có khả năng chống đỡ phát sinh đánh đổi từ bộ ba chính sách

Không có bất kỳ quan sát nào có khả năng ứng dụng đối với các nền kinh tế đang phát triển không phải là mới nổi (Hình 3c) Đối với nhóm nền kinh tế này, tỷ giá hối đoái cố định được tích cực theo đổi trong suốt một thời kỳ Ngược lại với các quốc gia có nền kinh tế thị trường mới nổi, tự do hóa tài chính không được áp dụng nhanh chóng trong nền kinh tế không phải thị trường mới nổi đang phát triển

Hơn nữa, Châu Á, đặc biệt là những nền kinh tế với thị trường mới nổi, nổi bật từ các nhóm địa lý khác của các nền kinh tế Bảng (a) trong hình 4 thể hiện các nền kinh tế Châu Á mới nổi, sự tập trung hội tụ 3 mục tiêu này không phải là hiện tượng mới Kể từ đầu những năm 1980, ba chỉ số này đã tập trung ở giữa Tuy nhiên, hầu hết thời gian từ trước tới nay, ngoại trừ cuộc khủng hoảng Châu Á vào những năm 1997-98, tỷ giá hối đoái cố định dường như là chính sách lựa chọn phổ biến nhất Trong những năm sau cuộc khủng hoảng thuộc thập niên 2000, các chỉ số này tách ra, nhưng dường như lại hội tụ lại vào những năm gần đây Đặc tính này không xuất hiện ở những nền kinh tế thị trường không phải là mới nổi (non – EMG) ở Châu Á (b) và Châu Mỹ La Tinh (c) Đối với các nước có nền kinh tế không phải là mới nổi ở Châu Á hoặc nền kinh tế đang phát triển khổng phải ở Châu Á, sự hội tụ trong bộ ba bất khả

Trang 9

thi là trường hợp điển hình trong thập kỷ qua

Thêm một chiều hướng nghiên cứu nữa về bộ ba bất khả thi để làm sáng tỏ thêm khái niệm này Điểm thêm vào ở đây là dự trữ ngoại hối quốc tế Kể từ cuộc khủng hoảng Châu Á năm 1997-98, các nền kinh tế đang phát triển, đặc biệt là ở Đông Á và Trung Đông, đang gia tăng lượng dự trữ ngoại hối Trung Quốc, một nước có lượng dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới,

dự trữ hiện tại khoảng 2 ngàn tỷ đô la Mỹ, chiếm 30% của thế giới Cuối năm 2008, 10 quốc gia có dự trữ ngoại hối lớn nhất là những nước có nền kinh tế đang phát triển, ngoại trừ Nhật Bản Chín nước có nền kinh tế đang phát triển, bao gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Cộng Hòa Liên Bang Nga, Đài Loan, nắm giữ 50% dự trữ ngoại hối của thế giới Trước tình hình này, có lập luận cho rằng nguyên nhân chính khiến cho dự trữ ngoại hối gia tăng nhanh chóng là để ổn định tỷ giá hối đoái Theo quan điểm khác, nền kinh tế tích lũy ngoại hối lớn để nhằm phối hợp được 3 mục tiêu giữa tỷ giá cố định, chính sách tiền tệ độc lập, và hội nhập tài chính

Ví dụ, một quốc gia theo đuổi một tỷ giá hối đoái cố định và chính sách tiền tệ độc lập

có thể cố gắng tự do hóa các giao dịch tài chính xuyên biên giới trong khi quyết định không từ

bỏ mức độ tỷ giá hối đoái cố định và chính sách tiền tệ độc lập hiện tại Đây là một sự phối hợp chính sách, tuy nhiên, có thể thúc đẩy các cơ quan tiền tệ để giữ một lượng lớn dự trữ ngoại hối để các nước có thể giữ cố định tỷ giá trong khi duy trì chính sách tiền tệ độc lập Hoặc, nếu một nền kinh tế với hội nhập tài chính và tỷ giá cố định đối mặt với nhu cầu cần một chính sách tiền tệ độc lập, có thể có khả năng thực hiện, mặc dù là tạm thời, miễn là nước đó nắm giữ một lượng lớn ngoại hối Như vậy, rõ ràng là người ta không thể thảo luận về vấn đề của bộ ba bất khả thi mà không kết hợp với vai trò của việc nắm giữ ngoại hối

Biểu đồ kim cương trong Hình 5 được sử dụng để theo dõi các mô hình thay đổi của cấu trúc bộ ba bất khả thi kết hợp với nắm giữ ngoại hối Cấu trúc của mỗi nước ngay lập tức đã được tóm tắt bằng một mô hình kim cương tổng quát, có bốn đỉnh đo lường độc lập tiền tệ, ổn định tỷ giá, tỷ lệ dự trữ ngoại hối trên GDP, và hội nhập tài chính Nguồn gốc được chuẩn hóa đại diện không độc lập tiền tệ, thả nổi tỷ giá, không dự trữ ngoại hối và độc lập tài chính Hình

5 tổng kết khuynh hướng của các nước công nghiệp hóa, các nước Châu Á đang nổi, các nước Châu Á có nền kinh tế mới nổi đang phát triển, các nước không phái Châu Á đang phát triển, các nước Châu Mỹ La Tinh có nền kinh tế đang nổi

Biểu đồ kim cương trong Hình 5 được sử dụng để theo dõi các mô hình thay đổi của

Trang 10

cấu trúc bộ ba bất khả thi kết hợp với nắm giữ ngoại hối Cấu trúc của mỗi nước ngay lập tức

đã được tóm tắt bằng một mô hình kim cương tổng quát, có bốn đỉnh đo lường độc lập tiền tệ,

ổn định tỷ giá, tỷ lệ dự trữ ngoại hối trên GDP, và hội nhập tài chính Nguồn gốc được chuẩn hóa đại diện không độc lập tiền tệ, thả nổi tỷ giá, không dự trữ ngoại hối và độc lập tài chính Hình 5 tổng kết khuynh hướng của các nước công nghiệp hóa, các nước Châu Á đang nổi, các nước Châu Á có nền kinh tế mới nổi đang phát triển, các nước không phái Châu Á đang phát triển, các nước Châu Mỹ La Tinh có nền kinh tế đang nổi

Trong hình 5 chúng ta có thể quan sát một lần nữa sự khác nhau của các cấu trúc bộ ba chính sách cho các nền kinh tế công nghiệp - một động thái hướng tới hội nhập tài chính ngày càng sâu rộng, tỷ giá hối đoái ổn định hơn, và độc lập tiền tệ yếu hơn trong những năm qua Tuy nhiên, nhóm nước này đã làm giảm mức độ dự trữ ngoại hối trong nhiều năm qua không giống như các nhóm nước khác Mỗi khi chúng ta dịch chuyển sự chú ý đến việc so sánh cấu hình bộ ba chính sách, Châu Á, đặc biệt là những nước có nền kinh tế thị trường mới nổi, xuất hiện sự khác nhau so với các nhóm nền kinh tế khác Biểu đồ kim cương của các nước Châu Á

có nền kinh tế mới nổi cho thấy sự hội tụ ở giữa được quan sát cho nhóm nền kinh tế mới nổi nói chung ở hình 3, là bằng chứng khá hiển nhiên cho nhóm các nền kinh tế này Đây không phải là một hiện tượng gần đây cho các nước có nền kinh tế mới nổi ở Châu Á Kể từ đầu những năm của thập niên 1980, ba chỉ số này được quần tụ trong phạm vi ở giữa, mặc dù tỷ giá hối đoái cố định là sự lựa chọn chính sách phổ biến nhất và mức độ độc lập tiền tệ đang giảm dần Đặc điểm này không xuất hiện cho nhóm các nước có nền kinh tế đang phát triển, mặc dù các nước đó là thuộc Châu Á hay không Mặt khác, nền kinh tế thị trường mới nổi Châu Mỹ La Tinh đã trải qua một phần phát triển khác biệt đặc trưng so với các nước Châu Á Quan trọng nhất, nhóm các nước Châu Á có nền kinh tế mới nổi khác xa so với các nước khác về độ lớn và tốc độ gia tăng dự trữ ngoại hối, điều này có thể tạo ra một sự nghi ngờ ý nghĩa của dự trữ ngoại hối lên bộ ba chính sách bất khả thi và hoạt động kinh tế vĩ mô

2/ PHÂN TÍCH HỒI QUY

Mặc dù việc mô tả đặc điểm về các chỉ số bộ ba bất khả thi ở trên cho phép chúng tôi quan sát sự phát triển của việc định hướng chính sách giữa các nền kinh tế, thì nó vẫn thất bại

để xác định những động lực của các nền kinh tế cho những thay đổi chính sách Vì thế, chúng

Trang 11

tôi nghiên cứu về phương diện kinh tế làm thế nào những chọn lựa đa dạng liên quan đến bộ ba chính sách tác động lên những mục đích cuối cùng của chính sách vĩ mô, là tăng trưởng kinh tế cao, sự ổn định trong tăng trưởng sản lượng, lạm phát thấp và sự ổn định lạm phát

Mô hình dự báo được đưa ra như sau:

y it = α o + α 1 TLM it + α 2 IR it + α 3 (TLM it x IR it ) + X it B + Z t Г + D i Ф + ε it (1)

y it được dùng để đo lường kết quả chính sách vĩ mô cho quốc gia i trong năm t,… chẳng hạn,

sự bất ổn sản lượng, sự bất ổn lạm phát, và mức độ lạm phát trung hạn [(15): sự tăng trưởng sản lượng đo bằng trung bình 5 năm của tỉ lệ tăng trưởng của sản lượng thực trên đầu người (dùng Penn World Table 6.2); sự bất ổn sản lượng được đo bằng độ lệch chuẩn 5 năm của tỉ lệ tăng trưởng sản lượng trên đầu người; sự bất ổn lạm phát là độ lệch chuẩn 5 năm của tỉ lệ lạm phát hàng tháng; và mức độ lạm phát trung hạn là trung bình 5 năm của tỉ lệ lạm phát hàng

tháng.] TLM it là một vectơ của bất kì hai trong số ba chỉ số của bộ ba bất khả thi, đó là, MI

(monetary independence - sự độc lập tiền tệ), ERS (exchange rate stability – sự ổn định tỉ giá),

và KAOPEN (financial openness – sự hội nhập tài chính) Aizenman và cộng sự (2008) đã chỉ

ra rằng ba thước đo này của bộ ba bất khả thi có quan hệ tuyến tính Do đó, cách gộp hai chỉ số đồng thời là thích hợp nhất, thay vì để từng cái riêng lẻ hoặc gộp cả ba [(16): Điều này nghĩa

là với mỗi biến phụ thuộc, sẽ có ba loại hồi quy được dự báo, đó là ba sự kết hợp khác nhau

của hai yếu tố trong bộ ba bất khả thi.] TR it là mức độ của IR (loại trừ vàng) dưới dạng tỉ số

trên GDP, và (TLM it x TR it ) là một dạng tương tác giữa các chỉ số bộ ba bất khả thi và mức độ

IR, để cho phép chúng tôi thấy sự bổ sung hay thay thế IR cho những quan điểm về chính sách khác

X it là một vectơ của các biến kiểm soát kinh tế vĩ mô bao gồm những biến được dùng nhiều

nhất trong lý thuyết Cụ thể hơn, để dự báo tăng trưởng kinh tế, X it gồm thu nhập liên quan (đối

với thu nhập thực tế trên đầu người của Mỹ - dựa vào Penn World Table (PWT)), dạng bậc hai của nó, sự hội nhập thương mại, cú sốc về điều khoản thương mại (TOT) được định nghĩa là

độ lệch chuẩn 5 năm của hội nhập thương mại nhân cho tăng trưởng TOT, chính sách tài khóa thay đổi chu kỳ (chi tiêu quá mức trong giai đoạn bùng nổ “booms” rồi thắt chặt trong suy thoái, được đo lường bởi tương quan giữa Hodrick-Prescott (HP) – chuỗi chi tiêu công ngược

xu hướng và HP – chuỗi GDP thực ngược xu hướng), trung bình 5 năm của tăng trưởng M2, sự tạo thêm tín dụng tư (dưới dạng phần trăm của GDP), tỉ lệ lạm phát, và sự bất ổn lạm phát,

Trang 12

cùng với một số biến đổi của các biến độc lập dựa vào dạng của biến phụ thuộc Z t là vectơ chỉ những cú sốc toàn cầu, bao gồm sự thay đổi lãi suất thực của Mỹ, khoảng cách sản lượng thế giới, và cú sốc giá dầu bị ảnh hưởng theo (được đo bởi log tỉ lệ của chỉ số giá dầu trên chỉ số

giá tiêu dùng thế giới) D t là một bộ biến giả đặc trưng, bao gồm một biến giả cho các nền kinh

tế xuất khẩu dầu mỏ và những biến giả thuộc khu vực Các biến giải thích xuất hiện liên tục mà

không có ý nghĩa thống kê thì sẽ bị mất đi trong quá trình dự báo ε it là một dạng sai số

Mô hình dự báo cũng được mở rộng bằng cách thêm vào một vectơ, ExtFin it, về tài trợ bên ngoài, bao gồm các dòng vốn vào bởi đầu tư trực tiếp nước ngoài ròng (FDI), các dòng vốn vào của danh mục đầu tư ròng, các dòng vốn vào ròng khác (đa phần là việc cho ngân hàng vay), nợ ngắn hạn, và tổng dịch vụ nợ Đối với dòng vốn ròng, chúng tôi dùng dữ liệu Thống kê tài chính quốc tế (IFS) và xác định chúng bằng công thức Nợ bên ngoài (bằng dòng vốn vào với dấu dương) trừ đi Tài sản (bằng dòng vốn vào với dấu âm) cho mỗi loại dòng vốn Giá trị âm nghĩa là một quốc gia có một dòng vốn ròng chảy ra ngoài đối với loại vốn đang xét

Nợ ngắn hạn là tỉ số tổng nợ bên ngoài trên tổng dịch vụ nợ và tổng nợ ngoài trên tổng thu nhập quốc gia (GNI) Cả hai biến được lấy từ Chỉ số phát triển thế giới (WDI)

Bộ dữ liệu được tổ chức thành các kỳ 5 năm 1972-1976, 1977-1981, 1982-1986,

1987-1991, 1992-1996, 1997-2001, 2002-2006 Tất cả các biến thay đổi theo thời gian được gộp thành bình quân 5 năm Mô hình hồi quy đã được thực hiện cho nhóm các quốc gia đang phát triển (LDC) Chỉ ra rằng nhóm quốc gia đang phát triển hiện đang nổi lên như những đối tượng chính trong nền kinh tế thế giới, và những quốc gia này có một vài điểm chung (trong trình độ cao của sự phát triển thuộc các định chế và / hoặc độ tập trung cao của hội nhập kinh tế, v.v…), chúng tôi cũng tập trung vào một phân nhóm gồm các nước đang phát triển với những thị trường mới nổi, hay chỉ gồm những nền kinh tế thị trường mới nổi (EMG) Mô hình dự báo cho tăng trưởng kinh tế được làm theo mô hình dùng bởi KOSE và cộng sự (2009), gọi là, mô hình Bình phương cực tiểu thông thường với hiệu ứng cố định và hệ thống GMM, và mô hình cho sự bất ổn sản lượng, sự bất ổn lạm phát, và mức độ lạm phát được dựa theo Aizenman và cộng sự (2008), chẳng hạn, mô hình hồi quy Robust mà thành phần ngoài mô hình làm giảm tác động của biến nảy sinh trong cả hai biến phụ thuộc và biến giải thích, ví dụ như sự bất ổn lạm phát

Trang 13

3/ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÁC MÔ HÌNH CƠ BẢN

Các tranh luận của nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá kết quả hồi quy về biến động sản lượng và mức độ lạm phát, đơn giản bởi vì đây là những điều mà các nhà làm chính sách cần quan tâm Trong một thử nghiệm sơ bộ, chúng tôi đã kiểm tra được sự tác động của các cấu hình bộ 3 chính sách lên mức tăng thu nhập bình quân đầu người bằng cách sử dụng mô hình tiêu dùng tiết kiệm giống như 1 nghiên cứu của Kose et al (2009)17 Có 3 phương pháp phân tích hồi quy đó là,

phương pháp pooled OLS (phương pháp bình phương bé nhất kết hợp tất cả các quan sát),

phương pháp hồi qui bất biến - Fixed Effects (với sai số chuẩn được nhóm theo từng quốc gia)

(Giải thích thêm: hồi quy bất biến - Mục đích hồi quy fixed-effect để loại bỏ các yếu tố không quan

sát được trong hồi quy, làm giảm vấn đề sai số), mô hình GMM (phương pháp dùng để ước lượng

tham số trong thống kê), kết quả là mang lại là có sự tương quan yếu giữa các biến bộ 3 bất khả thi

và thu nhập bình quân đầu người ở các nước phát triển và một phần ở các nền kinh tế thị trường mới nổi

Một trong những lý do cho kết quả tương quan yếu từ việc cấu hình bộ 3 chính sách bất khả thi trong mô hình hồi quy tăng trưởng có thể là những sự sắp xếp chính sách liên quan đến bộ 3 chính sách bất khả thi ảnh hưởng chủ yếu đến biến động sản lượng và lạm phát, và sau đó gián tiếp tác động lên tăng trưởng sản lượng Một nghiên cứu của Hnatkovska và Loayza (2005) đã cho rằng có mối tương quan nghịch giữa sự biến động của kinh tế vỹ mô và tăng trưởng kinh tế trong dài hạn,

và mối tương quan nghịch đó thể hiện rất rõ trong 2 thập kỷ vừa qua Tiếp theo chúng tôi sẽ trình bày và thảo luận những ước lượng về tính hiệu quả của cấu hình bộ 3 chính sách bất khả thi trên những vấn đề kinh tế vỹ mô khác cụ thể là những biến động, như biến động của lạm phát và mức

độ của lạm phát

17

Các biến giải thích cho mô hình ước lượng bao gồm thu nhập bình quân đầu người, mức đầu

tư trung bình so với GDP, years of schooling ( Barro and Lee, 2001), mức tăng dân số, mức độ mở cửa (tỷ lệ XNK so với GDP), tín dụng tư nhân (% so với GDP) như là 1 công cụ đo lường sự phát triển tài chính Các biến bộ 3 chính sách bất khả thi cũng giống như vậy

3.1 BIẾN ĐỘNG CỦA ĐẦU RA

Các kết quả dự toán được thể hiện trong bảng 1-1 và 1-2 Nhìn chung, biến kinh tế vĩ mô vẫn giữ các đặc điểm phù hợp với những gì đã được tìm thấy trong lý thuyết Trong hồi quy về biến động của đầu ra (thể hiện trong cột (1) đến (3) của các bảng 1-1 và 1-2), mức thu nhập

Trang 14

càng cao(so với Mỹ), biến động của đầu ra càng giảm, mặc dù hiệu quả là phi tuyến Biến động của đầu ra cũng có thể tăng cùng với một sự thay đổi trong tỷ lệ lãi suất thực tế, nó chỉ ra rằng lãi suất thực của Mỹ thể hiện gánh nặng thanh toán nợ của các nền kinh tế TOT càng cao, biến động đầu ra càng cao cho thấy rằng kinh tế học thực chứng phù hợp với Rodrik (1998), và Easterly, et al (2001) đã lập luận rằng biến động hàng hóa thế giới thông qua mở cửa thương

mại có thể tăng biến động đầu ra.(20) Các nền kinh tế với chính sách tài chính procyclical có

xu hướng trải qua những biến động của đầu ra nhiều hơn trong khi nền kinh tế với thị trường tài chính phát triển có xu hướng trải qua biến động đầu ra thấp hơn, mặc dù chúng không phải

là thống kê có ý nghĩa.(21)

Notes:

(20) Hiệu quả của mở cửa thương mại được tìm thấy có tác dụng không đáng kể cho tất cả các phân nhóm của các nền kinh tế và do đó giảm so với ước lượng Phát hiện này thể hiện các tranh cãi trong lý thuyết, trong đó cung cấp bằng chứng của cả hai cực: tác động dương (tức

là, biến động tăng cường) và tác động âm (tức là, biến động giảm) của mở cửa thương mại Các biến động tăng cường hiệu quả trong ý nghĩa của Easterly et al (2001) và Rodrik (1998) Đối với các biến động làm giảm hiệu quả của mở cửa thương mại, tham khảo Calvo et al (2004), Cavallo (2005, 2007), và Cavallo và Frankel (2004) Tác động của mở cửa thương mại vào biến động đầu ra cũng phụ thuộc vào các loại hình thương mại, tức là, cho dù đó là liên ngành công nghiệp thương mại (Krugman, năm 1993) hoặc trong nội bộ ngành công nghiệp- thương mại (Razin và Rose, 1994)

(21) Đối với các lý thuyết dự đoán về ảnh hưởng của sự phát triển tài chính, tham khảo Aghion, et al (1999) và Caballero và Krishnamurthy (2001) Đối với kết quả thực nghiệm, xem Blankenau, et al (2001) và Kose et al (2003)

Kết quả vẫn đúng với các nền kinh tế thị trường đang nổi mặc dù ý nghĩa thống kê có xu hướng yếu hơn

Trong bộ ba chỉ số, độc lập tiền tệ được tìm thấy có ảnh hưởng tiêu cực đến biến động sản lượng Độc lập tiền tệ càng lớn, biến động đầu ra của quốc gia có xu hướng trải nghiệm,

phản ánh tác động của thước đo sự ổn định.(22, 23) Mishkin và Schmidt-Hebbel (2007) thấy

rằng nền kinh tế thực hiện lạm phát mục tiêu- một hình thức tăng độc lập tiền tệ được tìm ra để giảm biến động đầu ra, và hiệu quả là lớn hơn trong số các thị trường mới nổi.(24) Tác động

Ngày đăng: 15/03/2014, 11:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm