1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Về khái niệm “công lý” trong chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 tại Việt Nam pot

20 484 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 242,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công lý, ngay sau khi thành lập nhà nước cách mạng nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hết sức quan tâm đến nhiệm vụ của chính quyền nhân dân t

Trang 1

KHOA HỌC PHÁP LÝ

Về khái niệm “công lý” trong chiến lược cải cách tư pháp đến

năm 2020 tại Việt Nam

Trang 2

Đặt vấn đề

Công lý là một khái niệm xuất hiện trong lĩnh vực triết học từ thời Hy Lạp cổ đại và được phát triển mạnh mẽ trong nền khoa học pháp lý ngày nay Những tư tưởng, khát vọng về một nền công lý đích thực đã được Nguyễn Ái Quốc - người sáng lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà truyền bá về Việt Nam từ năm 1925 trong tác phẩm “Bản án Chế

độ thực dân Pháp”(Chương VIII - Công lý) Với nhận thức đúng đắn

về tầm quan trọng của công lý, ngay sau khi thành lập nhà nước cách mạng nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hết sức quan tâm đến

nhiệm vụ của chính quyền nhân dân trong việc bảo vệ và thực thi công lý Điều 47 Sắc lệnh số 13 của Chủ tịch nước ngày 24 tháng 01 năm 1946 quy định cách tổ chức toà án và các ngạch thẩm phán trong

nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã khẳng định “Các vị thẩm phán

sẽ chỉ trọng pháp luật và công lý” Điều 25 Sắc lệnh này quy định:

Khi các Phụ thẩm nhậm chức, tại phiên toà đầu, ông Chánh án sẽ mời

các Phụ thẩm tuyên thệ, nội dung lời tuyên thệ là “Tôi thề trước Công

lý và nhân dân rằng tôi sẽ suy xét cẩn thận những án đem ra xử,

không hề ăn hối lộ, vị nể, vì sợ hãi hay vì tư lợi hay thù oán riêng mà bênh vực hay làm hại một bị can nào Tôi sẽ cứ công bằng mà xét định mọi việc…” Có thể nói, công lý và bảo vệ công lý đã trở thành

vũ khí tư tưởng, chính trị, pháp lý sắc bén ngay từ những ngày đầu của Nhà nước cách mạng nhân dân

Qua quá trình tổng kết lý luận và thực tiễn sau 20 năm đổi mới, một trong những nội dung đặc trưng của Nhà nước pháp quyền XHCN đã được Đảng và Nhà nước ta thừa nhận là yêu cầu tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự

do của mỗi người Trên cơ sở đó, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02

Trang 3

tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 đã một phần hiện thực hoá nội dung đặc trưng nói trên với yêu cầu hệ thống tư pháp phải được hoàn thiện để hướng tới mục tiêu bảo vệ công lý, lẽ phải, lẽ công bằng “Các cơ quan tư pháp phải

thật sự là chỗ dựa của người dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con

người”, “Xây dựng nền tư pháp vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh,

bảo vệ công lý…” Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI

của Đảng ta (năm 2011) cũng đã tiếp tục khẳng định yêu cầu bảo vệ công lý trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng

về “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” Từ định hướng quan trọng này, Dự thảo Hiến pháp năm 1992 (Sửa đổi) của Uỷ ban Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 đã dự kiến bổ sung, làm sáng tỏ nhiệm vụ của Toà án nhân

dân trước yêu cầu bảo vệ công lý: “Toà án nhân dân có nhiệm vụ bảo

vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” Như vậy,

trước yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, công lý và bảo vệ công lý đã trở thành một trong những mục tiêu cơ bản, xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng

và Nhà nước ta và là một giá trị tiến bộ xã hội nhân văn, bền vững được toàn xã hội thừa nhận và hướng tới

1 Khái niệm “công lý” trong nền khoa học pháp lý thế giới

Khái niệm công lý là khái niệm thu hút được nhiều sự quan tâm và tranh luận của các nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực triết học, đạo đức học, chính trị học, luật học và tôn giáo trong suốt chiều dài lịch sử

Trang 4

hàng ngàn năm của nền văn minh nhân loại Theo cách hiểu truyền thống, công lý là khái niệm chỉ áp dụng trong quá trình tương hỗ, khi hành động của một cá nhân này hướng tới người khác Câu hỏi về công lý (justice) và bất công (injustice) chỉ xuất hiện khi có nhiều cá nhân và có những sự kiện thực tế liên quan đến quá trình tương tác với người khác Trong nền khoa học pháp lý thế giới, công lý là khái niệm có nội hàm khá năng động, tuỳ thuộc vào từng nền văn hoá và từng giai đoạn phát triển của xã hội trong lịch sử

Từ góc độ lịch sử, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra các phân đoạn phát triển của công lý Theo đó, công lý trong giai đoạn thứ nhất của xã hội

sơ khai được thể hiện khá rõ nét bằng sự trả thù cá nhân, bằng luật báo thù, dĩ oán báo oán Công lý đã luôn được coi là vấn đề cốt tử trong tâm thức của các nhà làm luật từ thời cổ đại Trong bộ luật

Hammurabi của nhà nước lưỡng hà được ban hành trong khoảng thời gian từ năm 1792 đến năm 1750.TCN, công lý được được hiểu là yêu cầu áp dụng hình phạt ngang bằng với thiệt hại mà kẻ phạm tội gây ra,

đó chính là nguyên tắc báo thù Talion (mắt đền mắt, răng đền răng) Theo đánh giá, đây là một bộ luật mà nguyên tắc Talion được áp dụng một cách triệt để, tàn khốc và cứng nhắc một cách cực đoan Ví dụ một người thợ xây làm chết con của chủ nhà thì con của người thợ xây phải bị giết theo nguyên tắc báo thù Talion.[1]

Giai đoạn thứ hai của sự phát triển nhận thức về công lý là thay sự báo thù bằng bồi thường, phạt vạ, để nhằm giữ yên ổn, hoà hảo trong nội

bộ các bộ tộc, bộ lạc Một ví dụ sinh động về cách phạt vạ khá cẩn thận, tỉ mỉ của người Abysinie trong giai đoạn này như sau: “Nếu một đứa nhỏ trên cây té xuống đúng vào một đứa bạn của nó, làm cho đứa này chết thì mẹ của đứa chết có quyền sai một đứa khác leo lên cây

Trang 5

rồi buông tay cho rớt xuống đúng đầu đứa phạm tội” Đến giai đoạn thứ ba, để ngăn chặn các cuộc trả thù cá nhân, toà án đã được thành lập để thẩm định, đánh giá các mức độ thiệt hại, từ đó hoà giải, điều đình, phân xử các xung đột giữa các cá nhân trong xã hội Công lý và

tư pháp xét xử đã vững bước song hành từ những bước phát triển của lịch sử văn minh nhân loại như vậy.[2]

Trong nền văn minh Hy Lạp cổ đại - cái nôi của văn minh phương Tây, công lý được cho rằng bắt nguồn từ trật tự xã hội, một xã hội ổn định, có trật tự sẽ thúc đẩy sự phát triển của công lý và ngược lại, một nền công lý mạnh mẽ sẽ thúc đẩy một xã hội trật tự, ổn định Plato, nhà triết học Hy Lạp xuất sắc, đã đặt những luận giải của mình về công lý chủ yếu trong các tranh luận về vấn đề đạo đức Khi bị chỉ trích với các luận điểm cho rằng đạo đức là phát minh của kẻ yếu nhằm vô hiệu hoá quyền lực của kẻ mạnh và công lý không phải là đạo đức của người xuất chúng mà là thứ đạo đức nô lệ, người ta chỉ trích sự bất công chỉ khi người ta là nạn nhân chứ không phải bị lương tâm cắn rứt Sức mạnh chính là lẽ phải và công lý chính là quyền lợi của kẻ mạnh Đáp lại những luận điểm nêu trên, Plato cho rằng đây là những vấn đề đạo đức căn bản, những lý thuyết căn bản về luân lý Ông nhấn mạnh công lý là một sự quan hệ giữa cá nhân, tuỳ thuộc vào

tổ chức xã hội và do đó cần được nghiên cứu đồng thời, song song với

cơ cấu xã hội chứ không thể được nghiên cứu như một thái độ cá nhân Chúng ta chỉ có thể hình dung một quốc gia công bằng thì

chúng ta mới đủ yếu tố định nghĩa một cá nhân công bằng Theo

Plato, công lý là một khái niệm thể hiện phẩm hạnh và sự hài hoà của cộng đồng, là kết quả của sự đồng tâm hợp tác giữa những cá nhân có đức hạnh tham gia giải quyết các vấn đề của cộng đồng và quốc gia

Trang 6

Công lý liên quan trực tiếp đến sự tiết chế và khả năng tự kiểm soát của mỗi cá nhân Công lý là một vấn đề giản dị nếu con người cũng giản dị, rời xa lòng tham lam và sự xa hoa và sống theo đúng chức phận của mình Công lý xuất phát từ sự hài hoà và nó hướng tới

những người khác thông qua những hành vi nhân hậu và tử tế.[3]

Còn theo Aristotle, một trong những người thầy có ảnh hưởng nhất đối với bộ môn triết học chính trị, thì công lý cốt ở việc đối xử bình đẳng với những người ngang nhau và bất bình đẳng với những người không ngang hàng, tương xứng với sự khác nhau về địa vị của họ Theo ông, công lý được chia thành “công lý cải tạo” - nơi mà toà án sửa chữa một lỗi lầm do một bên phạm phải đối với bên khác và

“công lý phân phối” - cách thức, nỗ lực cố gắng để công bằng với mỗi người, đúng theo những gì mà người đó xứng đáng Theo Aristotle, công lý phân phối chính là mối quan tâm chủ yếu, hàng đầu của các nhà lập pháp Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng luật pháp và công

lý là hai khái niệm không hoàn toàn đồng nhất, thậm chí, trong một số

xã hội, luật pháp đôi khi đi chệch hướng hoặc đối nghịch với công

lý.[4]

Người La Mã tiếp tục phát triển khái niệm về công lý với nhận định rằng luật pháp là tổng hợp các quyền cá nhân Công lý được xem là yêu cầu bắt buộc trao cho con người những quyền của họ Tuy nhiên, người La Mã cũng không còn coi công lý là một chức năng của xã hội

mà coi công lý là một nội dung và là khía cạnh pháp lý của xã hội Nội dung này được thể chế hoá trong các chức năng của các thiết chế bảo vệ các quyền của từng cá nhân đơn lẻ hơn là dành sự quan tâm xã hội cho tất các công dân Khái niệm về công lý tương giao ra đời khi

sự trao đổi các giá trị, lợi ích giữa các cá nhân phát triển một cách

Trang 7

mạnh mẽ với nguyên tắc là tôi trao một lợi ích cho bạn thì bạn trao một lợi ích cho tôi Một hợp đồng trao đổi là một hành động của công

lý tương giao tự nguyện mà trong đó mỗi người đều nhận được những giá trị lớn hơn với giá trị tương ứng mà anh ta đã trao đi Mục đích của công lý tương giao là duy trì sự bình đẳng về quyền giữa các cá nhân, bảo vệ sự tự do và nhấn mạnh trách nhiệm của từng cá nhân trong cộng đồng xã hội

Trong truyền thống pháp luật tự nhiên, công lý được hiểu là yêu cầu, đòi hỏi mỗi cá nhân hoặc nhóm được hưởng những gì mà họ xứng đáng Công lý là quyền mà tạo hoá ban cho con người Đây là khái niệm mang tính tổng quát và tuyệt đối, các quy định luật pháp, các nguyên tắc, luật lệ, quy tắc chỉ là những cố gắng nhằm hệ thống, hiện thực và cụ thể hoá khái niệm này Công lý chỉ có thể giành được

thông qua chế độ pháp quyền chứ không phải thông qua sự cai trị của con người Không có công lý thì sẽ không có những đạo luật khách quan và hệ quả là các cá nhân sẽ lệ thuộc vào kẻ cai trị Chế độ pháp quyền ở đây được hiểu là nhà nước phải bị chế ước bởi những quy định đã được ấn định trước hoặc được đoán định trước và mọi người đều bị quản lý bởi cùng các đạo luật

Truyền thống pháp luật tự nhiên cho rằng công lý và bất công không phụ thuộc vào luật thực định (human/positive law) Augustine, nhà triết học có ảnh hưởng lớn đầu tiên thời trung cổ, cho rằng công lý cao hơn nhà nước và là vĩnh cửu Công lý tự nhiên cao hơn luật pháp Luật pháp không công bằng thì không phải là luật pháp (Unjust laws are not laws) Thomas Aquinas, nhà triết học và thần học Italia trong truyền thống kinh viện chủ nghĩa, cũng cho rằng trong thực tế những đạo luật nhân định có thể công bằng hay không công bằng Công lý là

Trang 8

khái niệm cơ sở, có nội hàm rộng hơn khái niệm luật pháp Những giá trị của công lý cung cấp những tiêu chí quan trọng cơ bản để đánh giá, thẩm định các đạo luật thực định Một đạo luật công bằng là một đạo luật dựa trên và không đối lập với các quyền tự nhiên Bất công chính

là những hành vi liên quan đến việc vi phạm các quyền tự nhiên như các tội giết người, hành hung, trộm cắp, bắt cóc, nô lệ, hiếp dâm, gian lận hoặc các hành vi gây ảnh hưởng sai lệch nhất định đến sự phân phối thịnh vượng, thu nhập Không có cách phân phối cụ thể nào được coi là công bằng hoặc không công bằng từ sự lựa chọn của các cá nhân Sự phân phối lợi ích và chi phí chỉ được coi là công bằng nếu người đó được tự do lựa chọn trao đổi với người khác

Luật pháp và công lý có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Luật pháp phục vụ công lý nếu nó giúp tạo dựng sự bình yên và bảo vệ các

quyền cá nhân của con người bị vi phạm Công lý không có sự nâng

đỡ của luật pháp sẽ trở lên yếu đuối, mờ nhạt Luật pháp không dựa trên các giá trị của công lý sẽ trở lên tàn bạo, hà khắc Đạo luật

Đracông năm 621 TCN là một ví dụ điển hình về sự khắc nghiệt của luật pháp khi nó không dựa trên nền tảng những giá trị công lý, ví dụ như chỉ phạm tội trộm cắp vặt như lấy trộm rau quả cũng bị xử tử, từ

đó, “luật Đracông” trở thành thuật ngữ được dùng để chỉ những bộ luật hoặc pháp lệnh hà khắc, tàn bạo, phi nhân tính.[5] Do Luật pháp

có thể tự nó lạm dụng quyền lực để vi phạm các quyền con người hoặc nhằm vi phạm các quyền của bên thứ ba nên luật pháp, ngoài việc thể hiện ý chí nhà nước của giai cấp thống trị xã hội, cần phải phản ánh được đầy đủ nhu cầu, lợi ích của toàn xã hội, phải “vang vọng tiếng dân” và phải chuyển tải đầy đủ những giá trị tiến bộ của lương tri, đạo đức, các giá trị nhân văn, nhân đạo, dân chủ, công lý,

Trang 9

công bằng, lẽ phải, bảo đảm và bảo vệ các quyền con người

Tính công bằng trong quá trình áp dụng luật pháp cũng có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ công lý Một đạo luật được coi là áp dụng một cách công bằng nếu nó được áp dụng một cách công khai, minh bạch, không thiên vị và nhất quán Bất công sẽ xảy ra nếu những trường hợp tương tự như nhau không được xử lý bằng một cách thức như nhau Luật pháp cần xử lý với các trường hợp như nhau với cách thức như nhau trừ khi có các tình tiết khác

Trong xã hội hiện đại, những giải thích về công lý có khuynh hướng tập trung vào công lý phân phối với mục tiêu làm thế nào để xã hội có thể phân phối một cách công bằng nhất những gánh nặng và phúc lợi của đời sống xã hội, từ đó đã đưa khái niệm công lý mang tính thực tiễn và chính trị hơn là một quan niệm siêu hình trước đây F.A

Hayek, một trong những kiến trúc sư chính của cuộc xây dựng lại chủ nghĩa tự do, khẳng định sự tương đồng giữa tính “mù” của công lý và cạnh tranh, theo ông, công lý và cạnh tranh đều không thiên vị ai và pháp luật chính là công lý hình thức.[6] Còn John Rawls, đại biểu nổi tiếng của chủ nghĩa tự do của Mỹ, đã định nghĩa công lý là lẽ phải, điều thiện và là phẩm hạnh tối cao của con người Công lý là sự công bằng và công lý chính là chuẩn mực của một xã hội lý tưởng Chuẩn mực của công bằng trong một thể chế xã hội cụ thể chính là nguyên tắc phân chia quyền lợi và nghĩa vụ cho mỗi cá nhân Theo ông, công bằng chỉ có được khi con người tự nguyện cùng tham dự vào quá trình hợp tác xã hội để làm sao mỗi cá nhân giành được lợi ích nhiều hơn so với khi họ sống đơn lẻ.[7]

Trong tác phẩm xuất bản gần đây tại Việt Nam “ Công lý: Đâu là việc

đúng nên làm?”[8], giáo sư Michael Sandel của Đại học Harvard cho

Trang 10

rằng câu hỏi một xã hội có công bằng hay không chính là câu hỏi về cách phân phối những điều chúng ta được hưởng thụ: Thu nhập và sự giàu có, Trách nhiệm và quyền lợi, Quyền lực và cơ hội, Chức vụ và danh dự Một xã hội công bằng phân phối những thứ này đúng cách, mỗi người nhận đúng phần mình đáng được hưởng Nhưng câu hỏi khó khăn là ai xứng đáng được hưởng gì và vì sao? Từ cách đặt vấn

đề này, người ta đã xác định ba cách phân phối theo 03 cách tiếp cận

về phúc lợi, tự do và đạo đức

(1) Xuất phát điểm từ yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và sự thịnh vượng chung, từ đó đóng góp, mang lại phúc lợi cho mỗi người,

thuyết vị lợi, một triết thuyết quan trọng đã lý giải một cách sâu sắc nhất về công lý từ khía cạnh tại sao và bằng cách nào chúng ta nên tối

đa hoá hạnh phúc, tìm kiếm hạnh phúc lớn nhất cho nhiều người nhất (2) Cách tiếp cận thứ hai là triết thuyết về tự do với mục đích cố gắng kết nối công lý với tự do Cách tiếp cận này đặt trọng tâm và nhấn mạnh cần phải tôn trọng các quyền cá nhân Tư tưởng công lý có nghĩa là tôn trọng một số quyền phổ quát (một số quyền tự do của con người) được chấp nhận ngày càng rộng rãi trên thế giới ngày nay (3) Từ khía cạnh khuyến khích đạo đức, triết thuyết về công lý nhấn mạnh những giằng xé, mẫu thuẫn khó khăn trước những nhận định, đánh giá về đạo đức và lối sống tốt đẹp Công lý phải gắn liền với những đức tính và quan niệm về lối sống tốt đẹp

Các nghiên cứu ngày nay liên quan đến công lý trong lĩnh vực tư pháp xét xử cho rằng các thủ tục tố tụng chính là những cơ chế, những công

cụ xã hội giúp các cá nhân tiếp cận được công lý Nếu các cơ chế tố tụng không đủ mạnh và hiệu quả thì có thể làm vô hiệu hoá quá trình thực thi các quyền cơ bản của các cá nhân Các cơ chế tố tụng phải

Ngày đăng: 15/03/2014, 11:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm