Hơn nửa thế kỷ qua, các nhà khoa học đã nghiên cứu việc tổ chức và quản lý thông tin trên những bình diện sau: Xây dựng chính sách quốc gia về thông tin khoa học công nghệ; Về quản lý nh
Trang 1BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐẩY MạNH HOạT ĐộNG THÔNG TIN VớI VIệC CảI CáCH NềN HàNH CHíNH QuốC GIATRONG GIAI ĐOạN HIệN NAY
HÀ NỘI, THÁNG 3-2010
MôC LôC
Trang 2Mở đầu 2
Chương 1 Cơ sở lý luận của việc đẩy mạnh hoạt động
thông tin với cải cách hành chính quốc gia
14
1.2 Đẩy mạnh hoạt động thông tin với cải cách hành chính
quốc gia trong điều kiện kinh tế tri thức
27
1.3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về cải cách
hành chính quốc gia và đẩy mạnh hoạt động thông tin
Chương 2 Thực trạng hoạt động thông tin với cải
cách hành chính quốc gia ở Việt Nam
55
2.1 Thực trạng hoạt động thông tin góp phần thúc đẩy cải
cách hành chính ở nước ta
55
2.2 Hoạt động thông tin với việc hiện đại hoá nền hành chính
quốc gia và xây dựng chính phủ điện tử
89
Chương 3 Phương hướng và giải pháp chủ yếu đẩy
mạnh hoạt động thông tin phục vụ cải cách hành
Trang 31 Tính cấp thiết của đề tài
Từ đầu thế kỷ XX, V.I Lênin đã từng khẳng định: không có thông tin thì không thể có tiến bộ trong bất kỳ một lĩnh vực nào của khoa học, kỹ thuật và sản xuất vật chất Đại văn hào Maksim Gorki đã từng viết: Sức mạnh và sự giàu có của một dân tộc không phải là ở chỗ có nhiều đất đai, rừng, gia súc và các loại quặng quí mà là ở số lượng và chất lượng những con người có học thức, có lòng yêu tri thức, ở sự nhạy bén và năng động của trí tuệ Sức mạnh của một dân tộc không những nằm trong vật chất, mà phần hết sức quan trọng là nằm trong trí tuệ
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người từ xưa đến nay, chưa bao giờ thông tin lại đóng vai trò to lớn và bao trùm đến vậy Khó có thể hình dung được một lĩnh vực hoạt động nào của con người lại không cần đến thông tin
Lý luận mác xít cho rằng, nắm được công cụ sản xuất thì mới nắm được quyền hành Công cụ sản xuất mà ngày nay người công nhân cần nắm
để làm chủ lấy mình không phải là những công cụ “bỏ trong thùng hay như công cụ của xí nghiệp trong thời công nghiệp ống khói Nó là thứ vật dụng nằm trong đầu óc của công nhân”1 Đó là thông tin, tri thức, là nguồn chủ yếu sáng tạo ra của cải và quyền lực
Thông tin, tri thức là thứ của cải không bao giờ hết Nếu như đất đai, máy móc có thể chỉ cấp được cho một số cá nhân thôi, thì thông tin, tri thức cùng lúc có thể có nhiều người sử dụng Và nếu vận dụng thích đáng thì có thể lại sinh ra nhiều tri thức mới Tri thức lấy không bao giờ hết và dùng không bao giờ cạn
Trang 4
Trong Hội thảo quốc tế về chủ đề “Sử dụng tri thức phục vụ phát
triển”, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm đã phát biểu rằng: “Hiện nay 2/3
dân số trên thế giới còn sống trong nghèo đói, lạc hậu bởi thiếu vốn, thiếu các nguồn lực để phát triển, đặc biệt là tri thức khoa học – công nghệ” Khoảng cách to lớn về tri thức, trong đó có tri thức khoa học – công nghệ,
sự bất bình đẳng về tiếp cận thông tin đặt các nước đang và chậm phát triển trước những nhiệm vụ vô cùng khó khăn: phải tự nhận thức và tự đổi mới chính mình để xây dựng được năng lực tiếp thu kho tàng tri thức nhân loại,
để vượt qua nghèo đói, lạc hậu và tiến tới phát triển, tham gia vào sáng tạo tri thức mới
Từ những thập niên cuối của thế kỷ XX, sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ mà mũi nhọn là công nghệ thông tin đã và đang tác động đến mọi nền kinh tế, mọi chế độ xã hội trên phạm vi toàn cầu Một xã hội thông tin, một nền kinh tế tri thức bắt đầu hình thành Trong nền kinh tế
đó, thông tin là tất cả, thành công của công việc là nhờ vào “tư liệu thông tin, chứ chẳng phải là nhờ vào số tiền anh có Tri thức có quyền lực lớn nhất trong giao dịch”1 Việc tìm kiếm, khai thác và sử dụng hiệu quả thông tin có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển và thành công của mỗi cá nhân, tập thể, cộng đồng và quốc gia Thực tiễn xã hội đang chứng tỏ rằng, lợi thế so sánh sẽ thuộc về quốc gia nào có năng lực tổ chức khai thác với hiệu quả cao nhất các nguồn thông tin và tri thức hiện có của nhân loại Ở Việt Nam, nhu cầu phát triển trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi phải huy động được mọi nguồn lực, trong đó nguồn lực thông tin là vô cùng quan trọng
Cải cách nền hành chính quốc gia là một đòi hỏi thường xuyên, luôn được coi là nhiệm vụ chính trị hàng đầu của bất kỳ quốc gia nào bởi vì
1 A Toffler Thăng trầm quyền lực, Nxb Thanh niên, T.1, tr.61.
Trang 5nhiệm vụ này vừa đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vừa tác động thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã đánh dấu bước đổi mới quan trọng trong nhận thức và tư duy Với sự đổi mới sáng suốt đó, Việt Nam đã vượt qua thử thách gian nan và đi lên Con đường đi đến đổi mới không hề đơn giản Đó là kết quả của cả quá trình nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, đổi mới tư duy, dựa trên những thông tin khoa học, thông tin lý luận
về thời đại, về cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, về những nhận thức mới đối với chủ nghĩa Mác – Lênin, những vấn đề lý luận về kinh tế thị trường; vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, với tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, bài học kinh nghiệm của các nước anh em, các nước phát triển, đang phát triển, Trong suốt chặng đường đổi mới đó, thông tin, tri thức luôn là nguồn lực vô giá của Việt Nam
“Khi cơ chế thuận thì một sự thông minh biến thành mười sự thông minh Cơ chế chưa thuận thì một sự hư hỏng kéo theo hàng nghìn sự hư hỏng Quy luật phi tuyến ấy sẽ rất nghiệt ngã nhấn chìm các cộng đồng yếu kém, nhưng cũng mở ra cơ hội và khả năng nhảy vọt thần kỳ cho những cộng đồng thông minh và biết giá trị của trí tuệ thời nay”1
Ba mươi năm trước, các nhà khoa học Tây Âu đã từng phát hiện ra rằng họ thua kém Mỹ về kinh tế, khoa học, kỹ thuật không phải do thiếu
người tài, mà chủ yếu do không có cơ chế quản lý thông minh để có thể
huy động và phát huy hết mọi tài năng trong xã hội
Ở Đông Á, với cơ chế quản lý thông minh, Hàn Quốc và Singapore,
Hồng Kông đã đuổi kịp thế giới phát triển chỉ sau 30 năm Đạt được thành công đó, không phải nhờ người dân 3 nước này thông minh hơn người dân
1Hoàng Tuỵ Trí tuệ cộng đồng: Chìa khoá vào kinh tế tri thức Báo Người Lao động,
Trang 6các nước khác, mà là những nhà lãnh đạo, quản lý của đất nước, những nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách của đất nước đã luôn quan tâm đến cải cách hành chính, tìm ra được cơ chế quản lý thích hợp để phát huy tiềm năng của dân tộc
Những tấm gương đó luôn là bài học kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam trong suốt chặng đường đổi mới
Theo Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010, đến năm 2010, hệ thống hành chính về cơ bản được cải cách phù hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nội dung chủ yếu của cải cách bao gồm: Cải cách thể chế; Cải cách
tổ chức bộ máy hành chính; Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; Cải cách tài chính công
Toàn cầu hoá buộc các cộng đồng phải đoàn kết lại Sự thông minh của từng người chỉ phát huy được thông qua sự thông minh tập thể, sự thông minh hệ thống của cả cộng đồng Sự thông minh hệ thống của cả cộng đồng là nguồn trí tuệ cộng đồng, là nguồn cộng năng tạo ra sức mạnh
to lớn đưa cộng đồng vươn lên
Từng người dân thông minh, từng nhà khoa học giỏi, sẽ chưa đủ Điều hết sức quan trọng, mấu chốt của sự thành công là một cơ chế quản lý
có thể tập hợp và phát huy được khả năng của mỗi người, hỗ trợ họ không ngừng phát triển tri thức trong suốt cuộc đời hoạt động, có cơ chế biến xã hội thành xã hội học tập suốt đời, thường xuyên trao đổi, chuyển giao, vận dụng, sản xuất và phát triển tri thức Tất cả những con người tài giỏi đó sẽ chỉ được phát huy mọi khả năng, tài trí trong môi trường kinh tế - xã hội
lành mạnh và thoáng đãng, tạo nên bởi cơ chế quản lý thông minh, biết
khuyến khích mọi sáng kiến chủ động, mọi tài năng sáng tạo,biết hạn chế, loại trừ mọi yếu tố, mọi xu hướng tiêu cực
Trang 7Bước vào thời kỳ cách mạng mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thông tin khoa học cung cấp những thông tin như thế nào, con đường, cách thức thông tin ra sao để góp phần đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, cải tiến sự quản lý của Nhà nước, cải cách hành chính? Kinh nghiệm của các nước đi trước cho thấy, trong thời đại kinh tế tri thức, không dựa vào trí tuệ, học vấn thì khó có thể vươn lên Việc khơi dậy và phát huy mọi tiềm năng trí tuệ của dân tộc là vấn đề quan trọng, song tổ chức, khai thác triệt để mọi tiềm năng ấy cho sự phát triển của đất nước nhờ một cơ chế quản lý thông minh là điều vô cùng quan trọng, không thể thiếu Đó là bài toán không hề đơn giản, trong đó, thông tin, tri thức, công nghệ thông tin đóng vai trò hết sức quan trọng Hiện nay, Việt Nam đang tích cực đổi mới, cải cách hành chính Nghiên cứu vấn đề đẩy mạnh hoạt động thông tin phục vụ cải cách hành chính là một trong những vấn đề hết sức cấp thiết
2 Tình hình nghiên cứu
Lịch sử của thông tin đã có từ xa xưa, song mãi đến những năm 40 của thế kỷ XX, thông tin mới vươn lên để trở thành một mũi nhọn của thời đại Nhất là sau khi nhà bác học Mỹ C Shanon vào năm 1948 tìm ra lý thuyết thông tin, khái niệm “thông tin” và các phương pháp nghiên cứu có liên quan tới thông tin mới được sử dụng rộng rãi trong hầu khắp các lĩnh vực của tự nhiên và đời sống xã hội
Từ sự mở đầu gian truân nhưng đầy hứa hẹn đó, cho đến nay, hơn nửa thế kỷ, loài người đã nghiên cứu thông tin trên nhiều bình diện Chúng tôi tạm sơ bộ khái quát một số bình diện chính như sau:
2.1 Nghiên cứu trên bình diện lý luận về thông tin
* Về khái niệm và loại hình thông tin có các nhà nghiên cứu khoa
học tiêu biểu như: R V L Hartley, người đầu tiên tóm tắt khái niệm thông
Trang 8tin vào năm 1924 và sau đó năm 1950, ông và C E Shanon (người Mỹ) đã hoàn thiện khái niệm thông tin trên quan điểm toán học Năm 1971, nhà triết học Xôviết A D Ursul trình bày chi tiết khái niệm thông tin trên quan điểm thực tiễn và lịch sử N Winner đã xem xét khái niệm thông tin trên quan điểm điều khiển học J M Ziman đã mô tả thông tin như một hình thức cơ bản của sự tồn tại vật chất bên cạnh không gian, thời gian và vận động Từ những năm 60 của thế kỷ XX và những năm gần đây, người ta tập trung nghiên cứu thông tin trên quan điểm triết học và quan điểm xã hội (J
M Ziman 1965; Jukov 1971; Ursul 1971 và một số người khác)
Một trong những cách nhìn hiện đại là xem quá trình thông tin dưới
góc độ phản ánh Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh
nghiệm phê phán” V I Lênin viết: “Mọi vật chất đều có thuộc tính họ hàng
với cảm giác, là thuộc tính phản ánh” Như vậy, thuộc tính phản ánh là thuộc tính vốn có sẵn trong vật chất Trong đó, nói đến thông tin phải nói đến hai ngôi: ngôi thứ nhất có nhiệm vụ phản ánh, ngôi thứ hai có nhiệm
vụ cảm thụ phản ánh đó Tuy nhiên, không nên hiểu đơn thuần khái niệm thông tin đồng nhất với khái niệm phản ánh Thông tin là khái niệm tồn tại
và hiện diện trong mọi vật, phản ánh quan hệ giữa hai ngôi: nguồn tin và người dùng tin
* Về sự hình thành và phát triển của thông tin học Những năm 90
của thế kỷ XX, người ta càng nói nhiều hơn về sự ra đời của xã hội thông tin và nền kinh tế dựa trên tri thức (GS Nick Moore, ) với những đặc trưng cơ bản: Thông tin được coi là nguồn lực phát triển quan trọng nhất; Việc sử dụng thông tin ngày càng được mở rộng trong cộng đồng; Ra đời phát triển ngành công nghiệp mới ở ngay trong nền kinh tế: ngành công nghiệp thông tin
Tài liệu nghiên cứu về thông tin học ngày càng nhiều Theo thống
kê, toàn thế giới hàng năm công bố gần 10 ngàn tên tài liệu khác nhau về
Trang 9các vấn đề của thông tin học Hơn nửa thế kỷ qua, các nhà khoa học đã đạt được những thành tích đáng kể, lý giải được nhiều quy luật, phần nhiều là những quy luật riêng về hiện tượng thông tin, về quá trình và hệ thống thông tin, về môi trường của hoạt động thông tin
* Những nghiên cứu về xã hội thông tin
Bước vào thập niên 60, 70 của thế kỷ XX, các nhà khoa học Hoa Kỳ
mà đại diện là F Machlup, D Bell và M Porat đã đi tiên phong trong việc nghiên cứu có hệ thống về xã hội thông tin và nền kinh tế thông tin Năm
1962, trong công trình có tên gọi “Sản xuất và phổ biến kiến thức ở Hoa
Kỳ”, F Machlup cho biết rằng, ngành công nghiệp kiến thức Hoa Kỳ vào
năm 1958 đã chiếm tới 29% tổng sản phẩm xã hội, với 31% tổng lao động đang hoạt động của cả nước Đến năm 1990, con số này là: ở Mỹ - 47,4%;
ở Anh – 45,8%; ở Pháp – 45,1%; ở Đức – 40,0% tổng lao động đang làm việc Theo sự xác định của tác giả, nền công nghiệp ấy bao gồm giáo dục, nghiên cứu, xuất bản và truyền thanh, truyền hình Năm 1967, D Bell nói đến sự xuất hiện của xã hội hậu công nghiệp với nguồn lực quan trọng nhất
để phát triển thuộc về thông tin và kiến thức Năm 1974, trong luận án tiến
sĩ của mình, M Porat nghiên cứu một cách chi tiết về khu vực thông tin Các nhà khoa học đã phân chia các quốc gia theo mức độ thông tin thành:
Xã hội thông tin cao; Xã hội thông tin trung bình; Xã hội thông tin thấp
2.2 Nghiên cứu trên bình diện tổ chức và quản lý thông tin
Trong lĩnh vực này, có lẽ, người đầu tiên quan tâm nghiên cứu là Lênin Ngày 14/6/1921, Hội đồng Dân uỷ đã phê chuẩn Sắc lệnh do Lênin
ký “Về việc nhập và phân phối tài liệu nước ngoài”, đồng thời thành lâp
Uỷ ban Liên cơ quan trung ương về việc mua và phân phối tài liệu nước ngoài (viết tắt là KOMINOLIT) Với những chức năng và nhiệm vụ rõ ràng, KOMINOLIT thực chất trở thành cơ quan thông tin khoa học đầu tiên của Nhà nước xôviết Sau Lênin, nhiều nhà khoa học Nga đã đạt được
Trang 10những thành tích nhất định trong lĩnh vực nghiên cứu thông tin, nhất là trên bình diện tổ chức và quản lý Hơn nửa thế kỷ qua, các nhà khoa học đã nghiên cứu việc tổ chức và quản lý thông tin trên những bình diện sau: Xây dựng chính sách quốc gia về thông tin khoa học công nghệ; Về quản lý nhà nước trong lĩnh vực thông tin khoa học; Nghiên cứu các mô hình tổ chức hoạt động thông tin khoa học công nghệ; Nghiên cứu trường hợp các nhà sản xuất cơ sở dữ liệu; Nghiên cứu về tác động của thị trường và vai trò của nhà nước đối với việc phát triển hoạt động thông tin; Nghiên cứu về việc hiện đại hoá thư viện truyền thống; Nghiên cứu việc xây dựng thư viện số với cổng thông tin tích hợp; Nghiên cứu, phân tích và thiết kế hệ thống thông tin; Những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng chính phủ điện tử; Nghiên cứu về quản trị thông tin và công nghệ thông tin; Mô hình,
tổ chức, quản lý thông tin – tư liệu trong cơ quan lý luận; Những vấn đề an ninh thông tin,v.v
2.3 Nghiên cứu trên bình diện đào tạo cán bộ thông tin
Giữa những năm 60 thế kỷ XX, Viện sĩ A I Berg đã dự báo, thông tin sẽ trở thành khái niệm dẫn đầu trong các khoa học của thế kỷ XXI Từ
đó đến nay, rất nhiều tổ chức viện, trường đại học, các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu lĩnh vực đào tạo cán bộ thông tin
Trường Đại học Tổng hợp Harverd (Mỹ) nhiều năm đã tiến hành một chương trình nghiên cứu toàn diện về chính sách nguồn lực thông tin Các viện sĩ Liên Xô (cũ) V M Gluscov, V A Traspesnicov đã đề nghị coi chỉ tiêu “trang bị thông tin” trong nền kinh tế và xã hội quan trọng như các chỉ tiêu “trang bị kỹ thuật”, “trang bị năng lượng”
Ở Việt Nam, nhiều năm nay, các trường như Đại học Văn hoá, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Dân lập Đông Đô, đã tổ chức nghiên cứu và biên soạn các chương trình
Trang 11đào tạo hệ cử nhân và sau đại học về chuyên ngành thông tin học Những
cố gắng ban đầu đã có kết quả khả quan
2.4 Nghiên cứu vai trò và tác động của thông tin
Là một dạng “tài nguyên” với những đặc điểm như: số lượng vô tận, luôn luôn được bổ sung, đổi mới và càng được sử dụng càng thêm phong phú, thông tin khoa học giúp con người sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
và tiềm lực kinh tế - xã hội Chính vì vậy, vai trò và tác động của thông tin được các nhà khoa học hết sức quan tâm
Trong những năm 90 thế kỷ XX, nhiều cuộc hội thảo, hội nghị chuyên đề liên quan tới vấn đề thông tin phục vụ phát triển do UNESCO bảo trợ đã được tổ chức ở nhiều khu vực trên thế giới Các chủ đề đã được thảo luận liên quan đến hội nghị chuyên môn gồm: Các tiền đề thông tin phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; Xác định người dùng tin và khả năng khai thác thông tin quốc gia; Các nguồn lực trong lĩnh vực thông tin phục
vụ phát triển - gồm 3 lĩnh vực chủ yếu để phát triển hoạt động thông tin: nguồn nhân lực, nguồn thông tin tư liệu và các phương tiện kỹ thuật; Thông tin phục vụ phát triển có tính chất công khai và hạn chế; Chiến lược tổ chức
hệ thống các cơ quan thông tin thích hợp trong quá trình phát triển
2.5 Thông tin với cải cách nền hành chính quốc gia
Về vấn đề này, rải rác có những công trình nghiên cứu từng khía
cạnh của vấn đề như: Tin học hoá quản lý hành chính nhà nước với quá
trình cải cách hành chính hiện nay (TS Đinh Hữu Phí); Đề xuất một số biện pháp để đẩy mạnh cải cách hành chính (ThS Phạm Thanh Trung); Phát triển bền vững và xã hội thông tin: các xu hướng, vấn đề và mâu thuẫn (A Levin – Nga); Bản chất thông tin của quá trình xây dựng quan điểm quản lý hành chính (Phan Huy Quế); Chính phủ điện tử - lý luận và
Trang 12thực tiễn (Trung tâm Thông tin khoa học và Công nghệ quốc gia Tổng
luận khoa học),
Ngoài những bình diện chủ yếu trên, các nhà khoa học trong nước và trên thế giới còn nghiên cứu rất nhiều bình diện khác của thông tin, thế
nhưng vấn đề thông tin với việc cải cách nền hành chính quốc gia vẫn là
vấn đề còn bỏ ngỏ, ít được bàn tới, chưa có đề tài nào nghiên cứu chuyên sâu
3 Mục tiêu nghiên cứu
* Về lý luận
Làm rõ hệ thống cơ sở lý luận về thông tin, hoạt động thông tin khoa học, thông tin lý luận, thông tin và công nghệ thông tin, nguồn lực công nghệ thông tin, nguồn lực tri thức; mối quan hệ giữa thông tin với cải cách nền hành chính quốc gia; vai trò hoạt động thông tin với cải cách nền hành chính quốc gia
* Về thực tiễn
- Khái quát thực trạng hoạt động thông tin đối với công tác lãnh đạo, quản lý nhà nước, cải cách nền hành chính quốc gia trong thời gian gần đây
- Đánh giá hiệu quả của thông tin đối với cải cách nền hành chính quốc gia
- Rút ra bài học kinh nghiệm về đẩy mạnh hoạt động thông tin với cải cách nền hành chính quốc gia
- Xây dựng hệ thống giải pháp khả thi đẩy mạnh hoạt động thông tin nhằm góp phần tích cực cải cách nền hành chính quốc gia trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trang 134 Nội dung và phạm vi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của việc đẩy mạnh hoạt động thông tin
với cải cách hành chính quốc gia
- Chương 2: Thực trạng hoạt động thông tin với cải cách hành chính
quốc gia ở Việt Nam
- Chương 3: Phương hướng và giải pháp chủ yếu đẩy mạnh hoạt
động thông tin phục vụ cải cách hành chính ở Việt Nam
Trong khuôn khổ một đề tài cấp bộ, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu việc đẩy mạnh hoạt động thông tin phục vụ cho cải cách hành chính quốc gia trong thời gian gần đây, đặc biệt là để góp phần hiện đại hoá nền hành chính quốc gia, xây dựng chính phủ điện tử, thực hiện Đề án Đơn giản hoá thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010 (Đề án 30)
5 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp luận mác xít với quan điểm thực tiễn, biện chứng, lịch sử, khách quan để nghiên cứu về lý luận và thực tiễn của vấn đề thông tin, phát triển thông tin, ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông phục vụ cải cách nền hành chính quốc gia
Đề tài tiếp cận từ góc độ thông tin học Thế kỷ XXI là thế kỷ kinh tế
tri thức chiếm vị trí chủ đạo Trong nền kinh tế đó, năng lực đổi mới của quốc gia có liên quan đến tiền đồ và vận mệnh của dân tộc Cải cách hành chính là công việc thường xuyên của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới Hoạt động thông tin gắn bó mật thiết với việc tìm kiếm tri thức, sản xuất và phổ biến tri thức, giao lưu, trao đổi tri thức, góp phần đẩy mạnh dân chủ nên nó ngày càng trở thành hệ thống trợ giúp không thể thiếu hỗ trợ nâng cao năng
Trang 14lực đổi mới quốc gia nói chung cũng như cải cách hành chính quốc gia nói riêng
Đề tài tiếp cận từ góc độ quản lý nhà nước Cải cách hành chính ở
Việt Nam là công việc mới mẻ, diễn ra trong điều kiện thiếu kiến thức và kinh nghiệm về quản lý hành chính nhà nước trong bối cảnh mới – kinh tế tri thức, toàn cầu hoá, khu vực hoá – có nhiều vấn đề vừa phải làm, vừa học hỏi, vừa phải rút kinh nghiệm, kể cả kinh nghiệm trong và ngoài nước Việc hình thành quan niệm và những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo công cuộc cải cách hành chính, việc đề ra những nội dung, phương hướng, chủ trương, giải pháp thực hiện trong từng giai đoạn là một quá trình tìm tòi sáng tạo không ngừng, là một quá trình nhận thức liên tục, thống nhất trong tiến trình đổi mới, trong đó thông tin và tri thức đóng vai trò hết sức quan trọng
Ngoài ra, Đề tài còn vận dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: Thống kê; Điều tra; Phân tích - Tổng hợp; Phân tích văn bản; Đối chiếu – So sánh,
6 Lực lượng nghiên cứu
Tham gia thực hiện đề tài gồm các cán bộ nghiên cứu của Trung tâm Thông tin khoa học, các nhà khoa học trong lĩnh vực thông tin, quản lý nhà nước, cải cách hành chính trong và ngoài Học viện
Trang 15CH¦¥NG 1
C¥ Së Lý LUËN CñA VIÖC §ÈY M¹NH HO¹T §éNG TH¤NG
TIN víi C¶I C¸CH HµNH CHÝNH quèc gia
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1.1 Thông tin, tri thức, quan hệ giữa thông tin và tri thức
Có nhiều định nghĩa khác nhau về thông tin
Thông tin được hiểu là thông báo, là tin tức, là tri thức được lựa
chọn về các sự vật, hiện tượng được con người xử lý và sử dụng vào hoạt động có định hướng, có mục đích của mình dưới các hình thức thích hợp
Theo cách hiểu này, khái niệm thông tin bao hàm các yếu tố cơ bản là tin,
vật mang tin, quy trình chuyển tải tin, chủ thể xử lý và người sử dụng tin
Trong thực tế, các yếu tố nói trên có hình thức biểu hiện cụ thể, đa dạng, luôn luôn biến đổi trong những không gian, thời gian nhất định và có tác động lẫn nhau một cách biện chứng
Theo Từ điển An toàn thông tin Anh - Việt và Việt – Anh, thông tin là
(1) Bất kỳ một sự truyền thông hoặc thu nhận tri thức nào như các sự kiện,
dữ liệu hoặc các ý kiến, bao gồm các dạng số, đồ hoạ hoặc dạng tường thuật, cho dù bằng miệng hay lưu giữ trên phương tiện bất kỳ, kể cả các cơ
sở dữ liệu máy tính hoá, giấy, vi dạng hoặc băng từ (2) Thuật ngữ “dữ liệu”, “thông tin”, “tài liệu”, “hồ sơ” và “vấn đề” được xem như đồng nghĩa
và có thể dùng trao đổi cho nhau Chúng chỉ mọi dữ liệu bất chấp dạng vật
lý của nó (ví dụ, dữ liệu ở các bản in trên giấy, băng, đĩa hoặc chồng đĩa, trong các chíp nhớ, bộ nhớ truy nhập ngẫu nhiên (RAM), trong bộ nhớ chỉ đọc (ROM), vi phim hoặc vi thẻ, trên các đường truyền thông và ở các thiết
bị đầu cuối hiển thị (3) Tri thức vốn chưa biết đối với người nhận trước khi nhận được nó Thông tin chỉ có thể được suy ra từ dữ liệu chính xác, hợp
Trang 16thời, thích hợp và bất ngờ (4) Các ý nghĩa gán cho dữ liệu bởi các quy ước được thừa nhận dùng trong biểu diễn nó Nếu nội dung của một thông báo
đã được biết trước khi nhận nó thì không có thông tin mới nào được truyền tải1
Như vậy, thông tin nằm trong hệ thống các phạm trù của lý luận nhận thức, là một loại hình của lĩnh vực hoạt động tinh thần, gắn liền với con người và hoạt động của con người với tư cách là chủ thể thông tin Thông tin cũng là một khái niệm cơ bản và quan trọng của khoa học, vừa là một tiềm lực khoa học, vừa là một sản phẩm khoa học
Nội dung của thông tin hàm chứa tri thức Nhưng tri thức được
chuyển tải trong hoạt động thông tin là tri thức được lựa chọn Tri thức là nội dung cơ bản của ý thức con người, có liên quan đến sự phản ánh một thuộc tính chung của mọi đối tượng vật chất Song sự phản ánh của tri thức không giống như sự phản ánh vật lý, hoá học ở vật chất vô cơ; cũng không giống như sự phản ánh ở động vật cấp thấp Sự phản ánh của ý thức là sự phản ánh tích cực, có sự lựa chọn ở con người, thông qua cơ quan phản ánh
là bộ óc người - một dạng vật chất có tổ chức cao nhất Sự phản ánh ở con người không trực tiếp đưa đến tri thức mà phải qua một quá trình nhận thức, quá trình tư duy với nhiều hình thức, với các cấp độ khác nhau của sự phản ánh, bằng lao động và ngôn ngữ tác động đến đối tượng vật chất “bị phản ánh”, nhằm cải tạo tự nhiên, tái tạo lại hiện thực theo tính chất và theo nhu cầu thực tiễn xã hội
Quan hệ giữa tri thức và thông tin là quan hệ tương tác Tri thức
chuyển hoá thành thông tin và thông tin lại trở thành nguyên liệu, tiền đề cho tri thức mới mà cơ sở sâu xa là thực tiễn, là hiện thực khách quan Sự
1Ban Từ điển Từ điển an toàn thông tin Anh - Việt và Việt – Anh Nxb Khoa học và
kỹ thuật, H., 2001, tr 317
Trang 17phân biệt giữa tri thức và thông tin cũng có tính chất tương đối, tri thức ở chủ thể này lại là thông tin ở chủ thể kia và ngược lại
Hoạt động thông tin được thực hiện theo một quy trình nhất định
Quy trình này vừa có tính khách quan, vừa có tính chủ quan Tính khách quan là ở chỗ dù muốn hay không muốn, quy trình đó tồn tại và vận hành một cách độc lập bảo đảm thực hiện sự chuyển hoá tri thức thành thông tin
và thông tin thành tri thức và chuyển tải đến người dùng tin Tính chủ quan của quy trình thông tin là ở chỗ mức độ và hiệu quả sự chuyển hoá và chuyển tải phụ thuộc vào các chủ thể thông tin mà các chủ thể này không đồng nhất về nhu cầu, lợi ích, mục đích nhận thức,
Vật mang tin là hình thức chứa đựng thông tin Một nội dung thông
tin có thể chứa đựng ở nhiều vật mang tin và một vật mang tin có thể chứa đựng nhiều nội dung thông tin Có thể coi nội dung thông tin là “linh hồn”, còn vật mang tin là “vỏ” của thông tin
Hiện nay, nền kinh tế công nghiệp truyền thống đang từng bước quá
độ lên một nền kinh tế mới – đó là nền kinh tế dựa trên cơ sở tri thức, gọi
tắt là nền kinh tế tri thức, lấy hoạt động sản xuất, xử lý, phổ biến và sử
dụng thông tin làm nội dung chính để tạo dựng nên một nền văn minh mới của nhân loại Trong nền kinh tế đó, thông tin trở thành nguồn tài nguyên
chủ chốt của mọi nền kinh tế quốc gia, khi các nền kinh tế đó phát triển tới giai đoạn mà nội dung “thông tin” bao trùm mọi hoạt động sản xuất và kinh doanh, tổ chức và quản lý, trong đó thông tin chiếm một tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng sản phẩm quốc dân (từ hơn 60% GDP trở lên) của một nước
1.1.2 Thông tin khoa học
Thông tin khoa học là loại thông tin lôgic được thu thập trong quá trình nhận thức thế giới, phản ánh đúng đắn những quy luật của thế giới khách quan và được vận dụng trong thực tiễn xã hội
Trang 181.1.3 Tài nguyên thông tin
Tài nguyên thông tin của một cơ quan thông tin có thể được hiểu là
vốn tài liệu của cơ quan đó Đó là một tập hợp có hệ thống những xuất bản
phẩm và những vật mang tin khác nhau tồn tại dưới dạng tư liệu văn bản,
tư liệu điện tử, được lựa chọn phù hợp với tính chất, loại hình và chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đó
a Xét về chất liệu vật mang tin, vốn tài liệu có thể được chia làm hai loại cơ bản sau:
* Vốn tài liệu văn bản gồm các loại tài liệu bằng văn bản như: sách,
báo, tạp chí, luận văn, luận án, các đề tài nghiên cứu, các số liệu thống kê, Hiện tại, vốn tài liệu này chiếm tỷ lệ lớn trong các cơ quan thông tin
* Vốn tài liệu điện tử gồm những tư liệu được lưu trữ dưới dạng số
(các loại tài liệu được lưu giữ trên băng từ, đĩa CD-ROM, ) sao cho có thể truy nhập được bằng các thiết bị xử lý dữ liệu Vốn tài liệu này thường bao gồm:
- Các cơ sở dữ liệu phục vụ khai thác trực tuyến của thư viện và các trung tâm thông tin: Mục lục tra cứu công cộng trực tuyến (OPAC)
- CD-ROM chứa các cơ sở dữ liệu chuyên ngành được phục vụ riêng
lẻ hay trên mạng máy tính
- Nguồn tư liệu do được số hoá và tập hợp dưới hình thức bộ sưu tập
số của cơ quan thông tin
- Các tạp chí, sách, tài liệu điện tử trên mạng Internet mà các cơ quan
có thể đặt mua như tạp chí, tài liệu in và sẽ được cấp quyền truy cập
b Xét về mức độ công bố hay không công bố, vốn tài liệu có thể được chia làm hai loại
* Vốn tài liêu được công bố
Trang 19- Trước hết, đó là những tài liệu do các nhà xuất bản ấn hành bằng văn bản được phân phối qua các kênh phát hành chính thức như nhà xuất bản, các công ty, các đại lý phát hành, mà cơ quan thông tin thu thập được thông qua việc mua, được biếu, tặng, trao đổi, Loại này chiếm tỷ trọng lớn trong các loại vốn tài liệu hiện có ở các cơ quan thông tin
- Thứ hai, gồm các tài liệu điện tử do các cơ quan thông tin, cơ quan nghiên cứu khoa học, các công ty, sản xuất dưới dạng băng từ, các đĩa CD-ROM, các xuất bản điện tử trên mạng Internet, được truy cập miễn phí hoặc các cơ quan thông tin có thể mua quyền truy cập,
* Vốn tài liệu không được công bố hay còn gọi là tài liệu “xám”, tài
liệu nội sinh do các cơ quan chính phủ, các viện nghiên cứu tạo ra trong quá trình nghiên cứu, hoạt động, Đó thường là các đề tài nghiên cứu, các báo cáo, các chương trình, dự án, các luận văn, luận án, Loại tài liệu này tuy chiếm tỷ trọng nhỏ, số bản ít (thường chỉ là 1 bản in, hoặc đĩa CD, hoặc một bộ gồm cả 2 loại trên) nhưng nội dung thông tin hết sức đa dạng, phong phú, hàm lượng khoa học cao, có ý nghĩa lớn đối với người dùng tin
1.1.4 Cơ sở dữ liệu
Cơ sở dữ liệu – Database là cấp tổ chức cao nhất của dữ liệu Cơ sở
dữ liệu là tập hợp các dữ liệu về các đối tượng cần được quản lý, được lưu trữ đồng thời trên các vật mang tin của máy tính điện tử và được quản lý theo một cơ chế thống nhất, nhằm giúp cho việc truy cập và xử lý dữ liệu được dễ dàng và nhanh chóng, đầy đủ
Cơ sở dữ liệu bao gồm một tệp hoặc một tập hợp các tệp dữ liệu Thông tin trong các tệp này có thể chia nhỏ thành các biểu ghi, mỗi biểu ghi lại bao gồm một hoặc nhiều trường Sử dụng từ khoá, các lệnh tìm tạo bởi các toán tử tìm tin, người dùng tin có thể nhanh chóng lựa chọn ra các biểu ghi thoả mãn yêu cầu tìm tin đặt ra
Trang 20Có nhiều cách phân loại cơ sở dữ liệu khác nhau
a Căn cứ theo bản chất của thông tin được lưu giữ, người ta phân
biệt ba loại cơ sở dữ liệu chính sau:
* Cơ sở dữ liệu thư mục bao gồm các dữ liệu thư mục (tác giả, nhan
đề, các yếu tố xuất bản, các đặc trưng số lượng, ), các chỉ số phân loại, tóm tắt, chú giải, từ khoá, cho phép người sử dụng truy nhập trực tiếp và tức thì các thông tin thư mục trong kho dữ liệu và thông tin cần tìm hiển thị ngay trên màn hình Đồng thời nó cũng cho phép tạo ra nhiều sản phẩm trung gian như các ấn phẩm thư mục, các tạp chí tóm tắt, các bộ phiếu mục lục,
* Cơ sở dữ liệu dữ kiện chứa các thông tin cấp một Đó là các số liệu
hay các dữ kiện cụ thể về các đối tượng, các quy trình hoặc các phương pháp (thường là dưới dạng số, ngoài ra cũng được trình bày dưới dạng văn bản, hình ảnh, biểu đồ, đồ thị, ) Những thông tin này đã được xử lý, biên tập và có thể dùng trực tiếp, không cần tới một nguồn dữ liệu bổ sung nào
* Cơ sở dữ liệu toàn văn chứa các thông tin cung cấp toàn bộ văn
bản tài liệu
b Căn cứ theo loại hình tài liệu có các cơ sở dữ liệu sau: cơ sở dữ
liệu sách, cơ sở dữ liệu tạp chí, cơ sở dữ liệu về phát minh, sáng chế, cơ sở
dữ liệu các công trình khoa học,
Ngày nay, cơ sở dữ liệu là bộ phận không thể thiếu được trong các
hệ thống thông tin
1.1.5 Công nghệ thông tin
Có nhiều định nghĩa về công nghệ thông tin
Theo Từ điển an toàn thông tin Anh - Việt và Việt – Anh, công nghệ
thông tin là sự thu nhận, xử lý, lưu giữ và phổ biến thông tin tiếng nói, hình ảnh, văn bản và số nhờ sự kết hợp dựa trên vi điện tử của tin học, viễn
Trang 21thông và video Công nghệ thông tin nảy sinh như một công nghệ tách riêng nhờ sự quy tụ của các kỹ thuật tin học, viễn thông và video, tin học cung cấp khả năng xử lý và lưu giữ thông tin, viễn thông cung cấp phương tiện để truyền thông nó và video cung cấp thiết bị hiển thị hình ảnh chất lượng cao Sự quy tụ đó đã được xúc tác nhờ sẵn có các linh kiện và thiết bị
vi điện tử phức tạp, tin cậy và chi phí có hiệu quả Các phát triển tổng thể trong điện tử học cũng đã kích thích việc tìm kiếm những tiêu chuẩn quốc
tế chung, nhất là trong tin học và viễn thông, mở đường cho các ứng dụng quy mô lớn của công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và các quá trình xử lý thông tin Theo quan niệm này, thì công nghệ thông tin là hệ thống các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hoá, của con người1
Công nghệ thông tin là động lực nòng cốt và xung kích của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, dẫn dắt nhân loại bước vào kỷ nguyên trí tuệ
Các tiêu chuẩn đánh giá an toàn công nghệ thông tin và an toàn thông tin theo Uỷ ban Cộng đồng Châu Âu đưa ra gồm 8 tiêu chí:
- Nhận dạng và xác thực – các chức năng thiết lập và kiểm chứng mã nhận dạng đã khai báo của một người sử dụng;
- Kiểm soát truy nhập – các chức năng kiểm soát luồng thông tin giữa những người sử dụng, giữa các quá trình và các đối tượng và việc sử
1Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương Ban Khoa giáo Trung ương Ứng dụng và
phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
Trang 22dụng các tài nguyên của những đối tượng đó kể cả quản trị và kiểm chứng các quyền truy nhập;
- Phân định trách nhiệm – các chức năng ghi việc thi hành các quyền
để thực hiện các hoạt động an toàn có liên quan;
- Kiểm toán – các chức năng phát hiện và điều tra các biến cố mà có thể đe doạ đối với an toàn;
- Tái sử dụng đối tượng – các chức năng kiểm soát việc tái sử dụng các đối tượng dữ liệu;
- Độ chính xác – các chức năng đảm bảo tính đúng đắn và tính nhất quán của thông tin có liên quan tới an toàn;
- Độ tin cậy của dịch vụ - các chức năng đảm bảo tính nhất quán và mức độ sẵn sàng của dịch vụ;
- Trao đổi dữ liệu – các chức năng đảm bảo sự an toàn của dữ liệu trong quá trình truyền qua các kênh truyền thông
1.1.6 Truyền thông
Truyền thông là quá trình chuyển thông tin theo các phương tiện khác nhau từ một điểm, người hoặc thiết bị tới một điểm, người, hoặc thiết
bị khác1
1.1.7 Kết cấu hạ tầng thông tin quốc gia
Kết cấu hạ tầng thông tin quốc gia là hệ thống các mạng truyền thông, máy tính, các cơ sở dữ liệu, các phương tiện điện tử dân dụng, sẵn sàng đưa đến những lượng thông tin to lớn với mọi hình thức thể hiện, sử dụng mọi lúc và ở bất kỳ đâu, do đó nó tạo ra những phương thức hoạt động hoàn toàn mới cho con người
1Ban Từ điển Từ điển an toàn thông tin Anh - Việt và Việt – Anh Nxb Khoa học và
kỹ thuật, H., 2001, tr 117
Trang 23Cơ sở dữ liệu thủ tục hành chính trên Website:
http://csdl.thutuchanhchinh.vn là một trong những thành tố của kết cấu hạ tầng thông tin quốc gia
Theo Đại từ điển tiếng Việt 1 , hành chính thuộc phạm vi quản lý của
Nhà nước theo luật định, thuộc về công văn, giấy tờ, kế toán trong cơ quan nhà nước
Trong Hành chính học đại cương, các tác giả lại có cách định nghĩa khác Theo nghĩa rộng, hành chính là những biện pháp tổ chức và điều
hành của các tổ chức, các nhóm, các đoàn thể, hợp tác trong hoạt động của
mình để đạt được mục tiêu chung Theo nghĩa hẹp, hành chính, là hoạt
động quản lý các công việc nhà nước, xuất hiện cùng với nhà nước
Như vậy, theo các cách tiếp cận trên thì hành chính đều có điểm
chung là hoạt động tổ chức, quản lý, điều hành, là hoạt động có mục đích, phục vụ lợi ích chung Đa số các hoạt động hành chính là hoạt động của cơ quan nhà nước
Các lý giải trong cuốn Hành chính học đại cương về khái niệm hành
chính có lẽ phù hợp với phương pháp tiếp cận của khoa học hành chính hơn Bởi vì, trong lịch sử phát triển của hành chính học - bộ môn khoa học
về hành chính, đặc biệt là trong thời đại ngày nay, khái niệm đó được sử dụng một cách phổ biến, rộng rãi Hành chính được coi như một phương
Trang 24tiện không thể thiếu mà các tổ chức cần phải sử dụng để thực hiện có hiệu quả mục tiêu của mình Như vậy, theo cách lý giải trên, có thể đưa ra khái niệm về hành chính như sau:
Hành chính là một hoạt động trong lĩnh vực tổ chức, quản lý và điều hành được tiến hành trên cơ sở ràng buộc bởi những quy tắc nhất định do nhà nước hoặc do các chủ thể khác quy định hoặc thừa nhận, có tính chất bắt buộc, áp đặt hoặc mệnh lệnh nhằm đạt tới một mục đích phục vụ cho lợi ích chung đã được xác định
1.1.9 Cải cách hành chính
Do chế độ chính trị khác nhau, do trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các nước khác nhau, đồng thời do có sự khác biệt trong quan điểm và các cách tiếp cận khác nhau nên giữa các nước có cách hiểu khác nhau về cải cách hành chính
Trong cuốn Hành chính học đại cương, cải cách hành chính được lý
giải theo hai nghĩa:
Theo nghĩa rộng, cải cách hành chính là một quá trình thay đổi cơ
bản lâu dài, liên tục cơ cấu quyền lực hành pháp và tất cả các hoạt động có
ý thức của bộ máy nhà nước nhằm đạt được sự hợp tác giữa các bộ phận và
cá nhân vì mục đích chung của cộng đồng và xã hội Đồng thời, phối hợp các nguồn lực để tạo ra hiệu lực và hiệu quả quản lý các sản phẩm phục vụ nhân dân thông qua các phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực Theo cách phân tích này, cải cách hành chính là những thay đổi được xây dựng
có chủ định nhằm cải tiến cơ bản các khâu trong hoạt động quản lý của bộ máy nhà nước như lập kế hoạch, cải cách thể chế, tổ chức, công tác cán bộ, tài chính công, điều hành, phối hợp, kiểm tra và đánh giá
Theo nghĩa hẹp, cải cách hành chính là quá trình thay đổi nhằm nâng
cao hiệu lực và hiệu quả hành chính, cải tiến tổ chức, chế độ và phương
Trang 25pháp hành chính cũ, xây dựng chế độ và phương pháp hành chính mới trong lĩnh vực quản lý của bộ máy hành chính nhà nước
Trong các tài liệu của Liên Hợp Quốc về cải cách hành chính thì đó chính là những cố gắng có chủ định nhằm đưa những thay đổi cơ bản vào
hệ thống hành chính nhà nước thông qua những cải cách có hệ thống hoặc các phương thức để cải tiến ít nhất một trong bốn yếu tố cấu thành của nền hành chính công: 1 Thể chế; 2 Cơ cấu; 3 Đội ngũ công chức; 4 Tiến trình
Ở nước ta, căn cứ vào Nghị quyết Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Khoá VII, Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp hành Trung ương Khoá X, có thể hiểu cải cách hành chính là trọng tâm của công cuộc tiếp tục xây dựng và kiện toàn Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm những thay đổi có chủ định nhằm hoàn thiện thể chế của nền hành chính; cơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành của bộ máy hành chính các cấp và đội ngũ cán bộ công chức để nâng cao hiệu lực, năng lực
và hiệu quả hoạt động của nền hành chính phục vụ nhân dân tốt hơn
1.1.10 Thủ tục hành chính là một quy phạm pháp luật quy định
trình tự về thời gian, về không gian khi thực hiện một thẩm quyền nhất định của bộ máy nhà nước, là cách thức giải quyết công việc của các cơ quan nhà nước trong mối quan hệ với các cơ quan, tổ chức và cá nhân công dân
Thủ tục hành chính là cơ sở và là điều kiện cần thiết để cơ quan nhà nước giải quyết công việc của công dân và các tổ chức theo pháp luật Cải cách thủ tục hành chính là điều kiện cần thiết để tăng cường, củng cố mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân, tăng cường sự tham gia quản lý nhà nước của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và các doanh nghiệp, các tổ chức theo pháp luật
Trang 261.1.11 Chính phủ điện tử
Chính phủ điện tử là chính phủ sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để tăng cường khả năng truy nhập và cung cấp các dịch vụ của chính phủ tới các công dân, các doanh nghiệp và các nhân viên chính phủ 24/24 giờ, 7/7 ngày trong tuần và ở bất kỳ nơi đâu
Các dịch vụ của chính phủ điện tử có thể chia làm 2 nhóm chính:
Một là, các dịch vụ giữa chính phủ với công dân/ doanh nghiệp như
cung cấp các thông tin trực tuyến chính xác, toàn diện về các luật lệ, quy chế, chính sách và các dịch vụ trực tuyến về công chứng, đăng ký lập doanh nghiệp, đăng ký nhân khẩu,
Hai là, các dịch vụ liên quan trong chính phủ và các dịch vụ nội bộ
từng cơ quan chính phủ được gọi chung là tác nghiệp chính phủ, có thể kể đến việc quản lý, lưu trữ, khai thác, xử lý công văn, tài liệu, các biểu báo, các chuẩn, thống kê, giúp cho chính phủ có những quyết sách hợp lý
Nhóm thứ hai là cơ sở tạo điều kiện cho nhóm thứ nhất hoạt động hiệu quả hơn Hai nhóm này có quan hệ biện chứng với nhau, cần xác định
rõ mục tiêu để xác định phạm vi giải quyết từng nhóm ở mức độ phù hợp với yêu cầu công việc, hiệu quả kinh tế, nhưng luôn phải lấy người dân làm trung tâm
Chính phủ điện tử là chiến lược chủ chốt cho xã hội thông tin và nhiều quốc gia đã coi đây là một trong những nhân tố quan trọng nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh
1.1.12 Cổng giao dịch thông tin điện tử (Portal)
Xét theo khía cạnh công nghệ thông tin, Portal là điểm truy cập với giao diện Web cho phép người dùng khai thác hiệu quả một khối lượng lớn thông tin và dịch vụ Đó là nền tảng công nghệ cho phép tích hợp thông tin
và các ứng dụng chạy trên Web, đồng thời, cung cấp khả năng tuỳ biến cho
Trang 27từng đối tượng sử dụng, cho phép khai thác thông tin nhanh nhất, hiệu quả nhất và thân thiện nhất
Portal là bước phát triển kế tiếp của công nghệ Web Sự khác biệt chính giữa Portal và Website là: Website được xây dựng như một đơn vị thông tin độc lập, còn Portal được thiết kế trở thành trung tâm tích hợp thông tin, ứng dụng và dịch vụ mạng Với Portal, người dùng có thể tìm được mọi dịch vụ cần thiết để khai thác và xử lý thông tin và chỉ cần đăng nhập một lần theo cơ chế một cửa
1.1.13 Cổng chính phủ điện tử (e-government portal)
Cổng chính phủ điện tử là nơi mà mọi người dân đều có thể truy nhập được và được thụ hưởng các dịch vụ công cộng trực tuyến một cách bình đẳng Mọi công dân và doanh nghiệp được coi như khách hàng và chính phủ được coi như một doanh nghiệp thống nhất Các công dân/doanh nghiệp có thể truy nhập dịch vụ công qua một cổng duy nhất – đây chính là khái niệm “một cửa” - từ bất kỳ thiết bị hỗ trợ nào, tại bất kỳ đâu và vào bất cứ lúc nào
Mỗi cổng chính phủ điện tử đều có thể vận hành ở ba cấp độ phức tạp khác nhau
Mức thứ nhất, đơn giản nhất là chỉ cung cấp thông tin một chiều và
không hỏi đáp (Information – Web Presence and Publishing), chúng ta cũng đã khá quen thuộc với loại dịch vụ này thông qua các trang Web tại Việt Nam Vấn đề ở đây là những thông tin có giá trị thực sự với người dân hay không
Mức thứ hai, là mức giao dịch, xử lý (transaction – single agency
systems), nghĩa là hệ thống cung cấp những dạng mẫu đơn giản, nhận những yêu cầu, xử lý và đưa ra kết quả, nhưng việc xử lý chỉ liên quan đến
hệ thống của một cơ quan, tổ chức nào đó
Trang 28Mức thứ ba, được coi là mức cao nhất, mức tích hợp (Intergation –
Intergration Across Multiple Agencies), nghĩa là người dân không cần biết đến mức độ phức tạp, cồng kềnh của chính phủ tổng thể ra sao, bất kể họ ở đâu, bất kỳ lúc nào, tại một “điểm dừng” (one stop) họ cũng có thể giải quyết được những việc liên quan đến nhiều bộ ngành khác nhau của chính phủ
1.2 ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN VỚI CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH QUỐC GIA TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ TRI THỨC
Toàn cầu hoá đã tạo ra những thách thức to lớn cho các dân tộc, đồng thời cũng mở ra những cơ hội và khả năng nhảy vọt thần kỳ cho những cộng đồng thông minh và biết giá của trí tuệ
Ngay từ những năm 1970, người Nhật đã cho rằng “thời đại thông tin
đã đến rồi” và tin tưởng rằng, thông tin, tri thức mới là chìa khoá để mở cổng “bá quyền kinh tế” thế kỷ XXI Đúng như Winston Churchil từng nói:
“Đế quốc tương lai sẽ được thiết lập bằng tri thức”1
Năm 1992, Drucker đã nêu ý kiến rằng, thế giới hiện nay đang trong
sự thay đổi, hướng tới xã hội tri thức: “Trong xã hội này, tri thức là nguồn tài nguyên chủ chốt cho các cá nhân và cho toàn thể nền kinh tế Đất đai, lao động và vốn – các nhân tố truyền thống của sản xuất – không biến mất
đi, nhưng chúng trở thành phụ trợ Chúng ta có thể thu được chúng và thu được dễ dàng, với điều kiện là có tri thức chuyên dụng Tuy nhiên, tri thức chuyên dụng này bản thân nó lại không tạo ra cái gì cả Nó có thể trở nên năng suất hơn chỉ khi nó tích hợp được vào một nhiệm vụ Và đó là lý do tại sao xã hội tri thức cũng là xã hội của các tổ chức: mục đích và chức năng của mọi tổ chức, kinh doanh hay không kinh doanh, đều là việc tích hợp của tri thức chuyên dụng vào nhiệm vụ chung”
1A Toffler Thăng trầm quyền lực, T.1, tr.29-31
Trang 29Mặc dù có vẻ như ai cũng hiểu vai trò quan trọng của thông tin và tri thức và “cuộc bùng nổ thông tin” đã diễn ra từ lâu, nhưng các nhà kinh tế thế giới đã ước tính, do thông tin còn ở mức hạn chế nên các nhà khoa học phải dành khoảng 30-50% thời gian làm việc cho các công việc không đúng chức năng và ở nhiều nước từ 40-70% ngân sách đầu tư cho khoa học không có hiệu quả vì sự trùng lặp trong nghiên cứu Đó là chưa kể đến những tổn thất do chậm trễ áp dụng các tiến bộ khoa học và những thành quả nghiên cứu vào sản xuất
Thông tin là nguồn tài nguyên vô tận, luôn luôn được bổ sung, đổi mới và càng được sử dụng càng thêm phong phú Đặc biệt, thông tin khoa học và công nghệ đã giúp cho con người sử dụng có hiệu quả tiềm năng kinh tế của mỗi nước, bao gồm con người, tài nguyên thiên nhiên, trang bị
kỹ thuật, tiền vốn, trình độ quản lý, để từ đó góp phần làm biến đổi cơ cấu lực lượng sản xuất xã hội, nâng cao năng suất lao động
Hiện nay, thế giới coi tri thức như nguồn tài nguyên chủ chốt Đất đai, khoáng sản lao động và vốn trước đây vẫn được coi là những nguồn tài nguyên chính của các quốc gia Không có chúng thì thậm chí tri thức cũng không thể phát huy tác dụng được Không có chúng thì ngay cả quản lý cũng không thể thực hiện được Nhật Bản là một thí dụ đặc trưng, nguồn tài nguyên thiên nhiên của nước này rất nghèo nàn, nhưng họ rất chú trọng tri thức và quản lý nên Nhật Bản đã trở thành quốc gia giàu có thứ hai trên thế giới “Tri thức đã trở thành nguồn tài nguyên duy nhất, chứ không phải tài nguyên thiên nhiên là nguồn duy nhất Nó làm thay đổi nền tảng, cấu trúc của xã hội Nó tạo ra những sự năng động xã hội mới Nó tạo ra sự năng
Trang 30động kinh tế mới Nó tạo ra sự năng động chính trị mới”1 Người quản lý là người chịu trách nhiệm về ứng dụng và hiệu quả của tri thức
Ngày nay, nhân loại đang vươn tới một nền kinh tế tri thức, một xã hội thông tin hiện đại, trong xã hội như vậy, thông tin, tri thức là nguồn lực tiềm tàng không bao giờ vơi cạn Nó được coi là nhân tố động lực cho sự phát triển Nhà bác học N Winner từng nói: “Sống hiệu quả là sống với thông tin” Các đại gia kinh tế ở phố Wall (Wall Street) thì coi thông tin là
“thứ hàng hoá có giá trị nhất mà họ biết” Trong xã hội học tập, thông tin liên quan nhiều tới giáo dục và báo chí Cả ba hoạt động: giáo dục, báo chí, thông tin đều đối mặt với việc vận chuyển tri thức của con người trong xã hội
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ và nền kinh tế thị trường làm cho hoạt động thông tin trong xã hội ngày càng trở nên sôi động và phức tạp, thông tin trở thành một loại nguồn lực và hàng hoá Thông tin ngày càng nhiều, nhu cầu thông tin càng cấp thiết đòi hỏi phải được thoả mãn nhanh nhất đã đặt ra thách thức vượt qua sự hạn chế của các phương pháp truyền thống và kinh nghiệm xử lý thông tin từ trước đến nay của con người
Các chính phủ ngày càng nhận ra rằng, con đường phía trước trong quá trình phát triển nằm trong tiến bộ của việc xây dựng tri thức và chia sẻ tri thức Cải cách hành chính cũng không nằm ngoài dòng chảy đó Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, việc quản lý tri thức ngày càng
có điều kiện thuận lợi để xây dựng, phổ biến, quản lý thông tin – tri thức, đưa nguồn tài nguyên quan trọng này vào phục vụ con người, phục vụ đắc lực cho cải cách hành chính
1 Consultative Committee on International Telegraphy and Telephony Recommendation
X 509: The Directory – Authentication Framework, 1998
Trang 311.3 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH QUỐC GIA VÀ ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN
1.3.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về cải cách hành chính quốc gia
Cải cách hành chính quốc gia là một đòi hỏi thường xuyên, là nhiệm
vụ quan trọng hàng đầu của bất kỳ quốc gia nào nhằm mục tiêu đáp ứng yêu cầu và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Việc hình thành quan niệm và những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo công cuộc cải cách hành chính cũng như việc đề ra những nội dung, phương hướng, chủ trương, giải pháp thực hiện trong từng giai đoạn là một quá trình tìm tòi sáng tạo không ngừng, là một quá trình nhận thức liên tục, thống nhất trong tiến trình đổi mới được khởi đầu từ Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986
Từ xác định những nguyên nhân của tình hình khủng hoảng kinh tế –
xã hội trầm trọng, Đại hội VI đã chỉ rõ nguyên nhân của mọi nguyên nhân
là công tác tổ chức và đề ra chủ trương thực hiện một cuộc cải cách lớn về
tổ chức bộ máy các cơ quan nhà nước theo phương hướng: xây dựng và thực hiện một cơ chế quản lý nhà nước thể hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động ở tất cả các cấp Thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, tổ chức bộ máy nhà nước đã được sắp xếp lại một bước theo hướng gọn nhẹ, bớt đầu mối Tuy nhiên, nhìn chung tổ chức và biên chế của bộ máy nhà nước vẫn còn quá cồng kềnh, nặng nề
Cải cách nền hành chính nhà nước đã trở thành nội dung trọng tâm của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá VII) Ngày 23/01/1995 Hội nghị đã ra Nghị quyết về “tiếp tục xây dựng và hoàn thiện
Trang 32Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính”
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách hành chính là nhất quán từ Đại hội VII, được tiếp tục khẳng định tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII với việc xác định cải cách nền hành chính nhà nước là trọng tâm của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước trong những năm trước mắt, công cuộc cải cách hành chính phải dựa trên cơ sở pháp luật và tiến hành đồng bộ trên các mặt: cải cách thể chế hành chính, tổ chức bộ máy và xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức hành chính
Tiếp đó, tháng 6/1997, Hội nghị lần thứ Ba Ban Chấp hành Trung ương (Khoá VIII) đã ban hành Nghị quyết về phát huy quyền làm chủ của nhà nước, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh và Nghị quyết về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Ngày 26/2/1998, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Cán bộ, Công chức, tạo cơ sở pháp lý để xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực, trình độ cho cả
hệ thống chính trị theo yêu cầu của giai đoạn phát triển mới của đất nước
Nghị quyết của Quốc hội khoá X kỳ họp thứ 6 (11/1999) xác định đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước được coi là khâu đột phá để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm
2000
Đại hội IX (năm 2001) bên cạnh việc khẳng định mục tiêu xây dựng nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hoá đã đưa ra một loạt chủ trương, giải pháp có ý nghĩa quan trọng trong cải cách hành chính thời gian tới như điều chỉnh chức năng và cải tiến phương thức hoạt động của Chính phủ, nguyên tắc bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; phân công, phân cấp; tách cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công; tiếp tục cải cách doanh nghiệp
Trang 33nhà nước, tách rõ chức năng quản lý nhà nước với sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực; thiết lập trật tự kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng…
Ngày 17/9/2001, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định phê duyệt
Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010
với mục tiêu là: Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững
mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước Đến
năm 2010, hệ thống hành chính về cơ bản được cải cách phù hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nội dung chủ yếu của cải cách bao gồm: Cải cách thể chế; Cải cách tổ chức bộ máy hành chính; Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; Cải cách tài chính công
Thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai
đoạn 2001-2010, trong những năm qua, chúng ta đã từng bước hoàn thiện
hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo lập môi trường pháp lý và hoàn thiện khuôn khổ thể chế cho cơ chế quản lý mới trên các mặt đời sống, kinh tế - xã hội
Theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá X), trong những năm tới, cải cách hành chính phải hướng tới mục tiêu tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa; xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại; đội ngũ cán bộ công chức có đủ phẩm chất và năng lực; hệ thống các cơ quan nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội
Trang 34nhập kinh tế quốc tế; đáp ứng tốt yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước Để thực hiện mục tiêu đó phải thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cải cách hành chính
- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế
- Tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, xem đây là khâu đột phá để tạo môi trường thuận lợi, minh bạch cho hoạt động của nhân dân
và doanh nghiệp
- Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ và các cơ quan hành chính nhà nước
- Tiếp tục cải cách chế độ công vụ, công chức
- Cải cách tài chính công
- Đẩy mạnh hiện đại hoá nền hành chính
1.3.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về đẩy mạnh hoạt động thông tin
Trước sự xuất hiện của kinh tế tri thức, Việt Nam đang đối diện với những cơ hội và thách thức Thời đại mới đòi hỏi Việt Nam phải nắm bắt
cơ hội, ra sức phát triển nền kinh tế lấy tri thức và thông tin làm cơ sở, thực hiện sự phát triển hài hoà công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phấn đấu tiến dần lên con đường tri thức hoá trong tương lai
Công tác thông tin kể từ khi ra đời đã gắn bó mật thiết với việc loài người tìm kiếm tri thức, sản xuất tri thức Ngày nay nó càng trở thành hệ thống trợ giúp không thể thiếu đối với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, phát triển kinh tế - xã hội, quản lý xã hội
Trang 35Ở nước ta, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chỉ thị, nghị định và luật nhằm đẩy mạnh và phát triển công tác thông tin Cụ thể là:
- Từ năm 1971, trong Hội nghị Khoa học kỹ thuật toàn quốc lần thứ nhất, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đặt vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ thông tin
- Năm 1972, Nghị quyết 89/CP của Chính phủ về công tác thông tin khoa học kỹ thuật cũng nêu rõ vấn đề này Nghị quyết này đã mở đầu cho
sự hình thành và phát triển hệ thống thông tin khoa học công nghệ rộng khắp trong cả nước
- Quyết định 133/QĐ ngày 2 tháng 4 năm 1985 của Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Nhà nước (Nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) ban hành kèm theo Quy định thống nhất về tổ chức và hoạt động thông tin khoa học
kỹ thuật Trên cơ sở văn bản này, hoạt động của toàn hệ thống thông tin khoa học công nghệ quốc gia đã được tăng cường toàn diện
- Năm 1991, Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Chỉ thị số 95/CT ngày 4/4/1991 về công tác thông tin khoa học và công nghệ Văn bản này nhấn mạnh về quy hoạch phát triển hệ thống, xây dựng tiềm lực: thông tin, cán bộ, đầu tư kỹ thuật và đảm bảo kinh phí,
- Năm 1993, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết của Chính phủ số 49/CP về phát triển công nghệ thông tin ở nước ta trong những năm 1990
- Năm 2000, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Chỉ thị số 58 CT/TW ngày 17/10/2000 “Về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, tiếp đó, Văn phòng Trung ương Đảng ra Công văn số 5035 CV/VPTW “Về việc hướng dẫn, tổ chức, triển khai thực hiện Chỉ thị số 58 CT/TW của Bộ Chính trị”
Trang 36- Tiếp theo Chỉ thị của Bộ Chính trị là Luật Khoa học và Công nghệ được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 9/6/2000 và có hiệu lực từ ngày 01/10/2001 Luật này mở ra một giai đoạn mới về chất trong khung khổ pháp lý đối với hoạt động thông tin Điều 45 của Luật này nêu rõ: “Chính phủ đầu tư xây dựng hệ thống thông tin khoa học quốc gia hiện đại, đảm bảo thông tin đầy đủ và kịp thời về các thành tựu khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực khoa học công nghệ trong nước và trên thế giới”
- Nhằm quán triệt, hướng dẫn chi tiết Luật Khoa học và Công nghệ, ngày 31/8/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định Chính phủ số 159/2004/NQ-CP về hoạt động thông tin khoa học công nghệ Trong đó, tại Khoản 8, Điều 3 đã nêu rõ nội dung hoạt động thông tin khoa học công nghệ đối với các cơ quan thông tin: “Xây dựng các cơ sở dữ liệu tổng hợp, chuyên đề và các trang thông tin điện tử về khoa học công nghệ, ứng dụng và phát triển công nghệ tiên tiến trong hoạt động thông tin khoa học công nghệ”
Quyết tâm xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính trên Website http://csdl.thutuchanhchinh.vn là một trong những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong đẩy mạnh công tác thông tin phục vụ phát triển đất nước nói chung và cải cách hành chính nói riêng
Để triển khai Nghị định 159/2004/NĐ-CP, Bộ Khoa học và Công nghệ đã và đang chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng những văn bản hướng dẫn cụ thể về một số điều Những văn bản nêu trên
đã và sẽ tạo ra một khuôn khổ pháp lý đảm bảo cho hoạt động thông tin khoa học phát triển nhanh, đúng hướng và hiệu quả
Đánh giá về tình hình thông tin nước ta, Nghị quyết 49/CP của Chính phủ đã viết: “Nước ta hiện nay cơ bản vẫn là một nước lạc hậu về thông tin; chưa thiết lập được hệ thống thông tin tin cậy và chưa đáp ứng kịp thời cho
Trang 37quản lý và điều hành bộ máy nhà nước từ trung ương tới địa phương; thiếu thông tin trong nước cũng như từ nước ngoài cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác của xã hội”
Nghị quyết Đại hội X đã xác định mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” mà trong những năm đầu thế kỷ XXI chúng ta phấn đấu: “sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng
ta xác định phải gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu
tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đại hội X cũng đã khẳng định: “huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” Một trong những nguồn lực đó trong quá trình phát triển hiện nay chính là nguồn lực thông tin
Như vậy, cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập khu vực và quốc tế, Đảng và Nhà nước ta ngày càng thấy rõ hơn tầm quan trọng của thông tin đối với phát triển kinh tế - xã hội, đánh giá đúng thực trạng và năng lực cũng như xu hướng phát triển hoạt động thông tin ở Việt Nam nên đã ban hành hàng loạt văn bản quan trọng, có giá trị vạch đường, định hướng cho phát triển hoạt động thông tin, góp phần đắc lực thúc đẩy công cuộc đổi mới đất nước đạt kết quả tốt
1.4 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHỦ YẾU VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH QUỐC GIA Ở VIỆT NAM
1.4.1 Mục tiêu của cải cách hành chính ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trang 38Hoạt động của nền hành chính nhà nước là quản lý xã hội trên các lĩnh vực của đời sống xã hội thông qua hệ thống luật pháp, và các thể chế của nền hành chính nhà nước Cải cách hành chính nhà nước là quá trình cải cách:
a các yếu tố bên trong của hệ thống hành chính nhà nước (cơ cấu tổ chức, con người, mối quan hệ giữa các cơ cấu tổ chức, );
b cải cách phương thức tác động của hệ thống hành chính nhà nước đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
Mục tiêu của cải cách hành chính nhà nước là nhằm làm cho nhà nước giảm cồng kềnh, trùng chéo, nhưng ít tốn kém hơn, gần dân hơn, trong sạch hơn, có tính cạnh tranh hơn, và cuối cùng phải đạt được hiệu lực, hiệu quả trong quá trình quản lý xã hội1 Hiệu lực, hiệu quả là mục đích cuối cùng và cao nhất trong các mục tiêu cải cách hành chính nhà nước Hiệu lực được hiểu là kết quả đạt được; còn hiệu quả được hiểu là hiệu suất giữa kết quả đạt được (hiệu lực) và chi phí trong quá trình quản lý
xã hội nói chung, và trong mỗi hoạt động quản lý nói riêng
Như vậy, mục tiêu chung của cải cách hành chính là nhằm tăng hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước Trên thế giới, bất kỳ một quốc gia nào
dù chế độ chính trị như thế nào, thì bộ máy nhà nước của quốc gia đó đều phải thực hiện chức năng quản lý, điều hành toàn xã hội, tức là giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân và giữa nhân dân với nhau Bản thân bộ máy nhà nước không có mục đích tự thân mà nó chỉ là công cụ, phương tiện để thực hiện đường lối, chính sách của một chế độ chính trị nhất định
Mục tiêu của cải cách hành chính ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
là đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà
1Nhà nước trong thế giới đang thay đổi Báo cáo phát triển thế giới năm 1998 của Ngân
hàng Thế giới (sách dịch)
Trang 39nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại; đội ngũ cán bộ, công chức có
đủ phẩm chất và năng lực; hệ thống các cơ quan nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế; đáp ứng tốt yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước 1
1.4.2 Yêu cầu của cải cách hành chính ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Hiệu lực, hiệu quả của cải cách hành chính nhà nước phải được gắn liền với nhau nhằm đạt được hiệu quả trong tổng thể chung của xã hội Đây chính là điểm khó nhất của cải cách hành chính nhà nước2 Do đó, yêu cầu đặt ra đối với quá trình cải cách hành chính nhà nước hiện nay ở nước ta là:
- Cải cách hành chính phải đáp ứng yêu cầu hoàn thiện nhanh và đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nâng cao hiệu quả của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; phát huy dân chủ trong đời sống xã hội; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và sự tham gia của mọi người dân vào tiến trình phát triển của đất nước
- Cải cách hành chính nói chung, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính phải bảo đảm tạo thuận lợi nhất cho nhân dân, doanh nghiệp và góp phần tích cực chống quan liêu, phòng và chống tham nhũng, lãng phí
- Xây dựng tổ chức bộ máy hành chính tinh, gọn, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, phân định rõ trách nhiệm giữa các cơ quan, giữa các cấp
có chính quyền, giữa chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn, giữa tập thể và người đứng đầu cơ quan hành chính; hoạt động có kỷ luật, kỷ cương và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước
1
Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp hành Trung
ương khoá X Nxb Chính trị quốc gia, tr 157, 158
Trang 40- Cải cách hành chính phải đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức có phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm và tận tuỵ phục vụ nhân dân
- Cải cách hành chính phải hướng tới xây dựng một nền hành chính hiện đại, ứng dụng hiệu quả thành tựu phát triển của khoa học – công nghệ, nhất là công nghệ thông tin
1.4.3 Nội dung cải cách hành chính ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Để thực hiện hiệu quả mục tiêu mà Đại hội Đảng X đề ra: “Đẩy mạnh cải cách hành chính công, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về kinh tế, xã hội”, “hiện đại hoá nền hành chính nhà nước”1, cải cách hành
chính cần tập trung vào các nội dung: (1) cải cách thể chế, luật pháp và thủ
tục hành chính; (2) cải cách tổ chức bộ máy hành chính; (3) cải cách hệ thống công vụ, trong đó đặc biệt quan tâm đến vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước theo yêu cầu cải cách hành chính tổng thể giai đoạn 2001-2010; (4) cải cách tài chính công
a Cải cách thể chế, luật pháp và thủ tục hành chính
- Đẩy nhanh việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế, pháp luật, đặc biệt là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và các thể chế pháp quyền xã hội chủ nghĩa
- Đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật
- Bảo đảm việc tổ chức thực thi pháp luật nghiêm minh của cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức
1 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Nxb
Chính trị quốc gia, H., 2006, tr.253