VD: Người mẹ nói với con gái mình: “Con năm nay 28 tuổi rồi đó!’’ -Phát ngôn này ngoài nghĩa tường minh người mẹ muốn nói với đứa con gái của mình về tuổi của cô ấy thì nghĩa hàm ẩn của
Lịch sử nghiên cứu 2 3 Mục đích nghiên cứu 3
Truyện cười có nguồn gốc từ rất sớm trong quá trình phát triển của loài người, dù thời điểm chính xác vẫn chưa được khẳng định Có thể nói truyện cười ra đời cùng với sự tồn tại của con người, phát sinh từ nhu cầu trao đổi tư tưởng và tình cảm cũng như giao tiếp xã hội đầu tiên Chính sự giao tiếp hài hước này đã hình thành và nuôi dưỡng thể loại truyện cười qua các thế hệ, trở thành một phần quan trọng của văn hóa giao tiếp và đời sống tinh thần.
Trong thời gian tìm hiểu và nghiên cứu, tôi nhận thấy có không ít công trình nghiên cứu về truyện cười dưới góc độ ngữ dụng học Những công trình này phân tích ngữ context giao tiếp, quan hệ giữa người kể và người nghe, cùng các nghĩa hàm ẩn để lý giải vì sao một câu chuyện cười có sức hấp dẫn và cách người nghe diễn giải, phản ứng khác nhau tùy tình huống Đồng thời, chúng xem xét các yếu tố ngữ dụng như ngụ ý hàm ẩn (implicature), công bằng trong đối thoại và cách trình bày để đánh giá hiệu quả kể chuyện cũng như tác động của hài hước đối với việc truyền đạt thông điệp.
1 Các công trình nghiên cứu về cấu trúc truyện cười dân gian Việt Nam:
1.1: Trịnh Sâm ,”Nghệ thuật tổ chức văn bản trong truyện cười bác
Ba Phi”, Ngôn ngữ, số 12, năm 2000
Trong bài nghiên cứu, ông đã chỉ ra cách tổ chức cấu trúc và sử dụng một số thủ pháp nghệ thuật trong Truyện cười Thông qua 56 truyện cười về Bác Ba Phi, Trịnh Sâm đã chỉ ra bốn cấu trúc tổ chức văn bản: cấu trúc tuyến tính, cấu trúc đảo trình tự, cấu trúc song hành và cấu trúc hỗn hợp; đồng thời nêu bật một số thủ pháp như tăng tiến, khuếch đại và chuẩn bị ngữ cảnh Tác giả tập trung vào hai cấu trúc chủ đạo là cấu trúc tuyến tính và cấu trúc đảo trình tự.
1.2 Trần Hoàng, “Những sắc thái độc đáo của tiếng cười dân gian
Nam Bộ qua truyện kể BaPhi”, Ngôn ngữ, số 8, năm 2002
Trong bài viết, tác giả Trần Hoàng chỉ ra các biện pháp gây cười tiêu biểu như ngoa dụ, một số biện pháp tu từ và giọng điệu mang tính khẩu ngữ người Nam Bộ cùng với từ ngữ địa phương Những biện pháp này được xem là các yếu tố chung và thường xuyên được sử dụng để tạo nên yếu tố gây cười, cho thấy cách kết hợp hình ảnh ngôn từ, nhịp điệu và sắc thái miền Nam để tăng tính hài hước cho câu chữ và câu chuyện.
Trong bài viết 'Tiếng cười trong phong cách ngôn ngữ của Bác qua tác phẩm bằng Tiếng Việt' đăng trên Ngôn ngữ số 2 năm 1980, Bùi Khắc Viện cho rằng có hai biện pháp gây cười chủ yếu: biện pháp ngôn ngữ học và biện pháp phi ngôn ngữ học Biện pháp ngôn ngữ học là phương tiện đặc thù để khai thác truyện cười, đồng thời ông chỉ ra một số biện pháp nghệ thuật để tạo tiếng cười trong truyện cười dân gian, như chơi chữ và tương phản Biện pháp phi ngôn ngữ học bao gồm các thao tác lựa chọn và sắp xếp các chi tiết nhằm tăng hiệu quả gây cười.
2 Các công trình nghiên cứu hàm ý hội thoại và hiện tượng mơ hồ trong truyện cười dân gian Việt Nam:
Trong bài 2.1, Nguyễn Đức Dân với bài “Hiện tượng mơ hồ trong nghệ thuật gây cười” đăng trên Người Hà Nội số 51 (1987) cho rằng hiện tượng mơ hồ không chỉ được dùng trong các câu truyện cười và nụ cười ngắn gọn mà còn là yếu tố cấu thành nên nhiều câu chuyện cười; từ đó thấy rõ rằng các truyện cười Việt Nam thường dựa trên hiện tượng mơ hồ về ngôn ngữ.
2.2: Nguyễn Thị Hoàng Yến , “Hàm ý hội thoại trong các truyện cười dân gian:Khoe của và Hai kiểu áo ” , Ngôn ngữ , số 8, năm 2002
Phân tích tiếng cười trong các truyện này nhằm làm rõ đặc tính của truyện cười và nhận diện các yếu tố cấu thành sự hài hước Hàm ý hội thoại được xem là một phần không thể thiếu, góp phần tạo nên yếu tố gây cười và làm cho tác phẩm có sức sống Những nhận định này giúp người đọc hiểu rõ cách tác giả khai thác ngôn ngữ, nhịp điệu và đối thoại để tăng tương tác và cảm nhận hài hước trong mỗi truyện.
Và em cũng tìm được khá nhiều các công trình khác về truyện cười những mang tính biên soạn và tuyển tập như:
1 Đinh Gia Khách, NXB Giáo dục, năm 2002: “ Văn học dân gian Việt
Nam’’ Nội dung chủ yếu tìm hiểu và tiếng cười trong tập truyện cười
Tiếng cười mua vui giải trí,tiếng cười mỉa mai,phê phán, sâu cay,
2 Hoàng Tiến Tựu, NXB Giáo dục, năm 2002: “ Văn học dân gian Việt
Tiếng cười dân gian Việt Nam là một công trình phân tích sâu sắc về truyện cười của dân tộc, được Trương Chính và Phong Châu trình bày trong cuốn sách Tiếng cười dân gian Việt Nam (NXB Lao động - Xã hội, 2006) Tài liệu nêu khái quát truyện cười và các đối tượng tiếp nhận, đồng thời làm rõ các biện pháp gây cười được dân gian sử dụng, từ ngữ, châm biếm và các hình thức kể chuyện hài Bên cạnh đó, tác giả giải thích ý nghĩa của tiếng cười trong xã hội, cho thấy tiếng cười dân gian vừa giải trí vừa phản ánh đời sống và tư duy của cộng đồng, đồng thời có tác dụng phê phán hiện tượng xã hội, điều chỉnh chuẩn mực và gắn kết cộng đồng trong bối cảnh lịch sử và văn hóa Việt Nam.
Trong cuốn Tiếng cười Việt Nam (NXB Văn – Sử - Địa, 1957) của Văn Tân, tác giả nêu ra các biện pháp gây cười và chỉ ra các kỹ thuật hài hước phổ biến như phóng đại, kịch tính, tiếu lâm và cả các yếu tố mang tính tục, cho thấy đặc trưng và cách thức tạo nên tiếng cười của văn hóa Việt Nam.
Trong Truyện tiếu lâm của Nguyễn Hồng Phong (NXB Văn – Sử - Địa, 1957), tác giả chỉ ra các đặc điểm gây cười gồm: khai thác triệt để mâu thuẫn trái tự nhiên, sắp đặt mâu thuẫn ở thế tương phản để tạo hiệu ứng cười, và dùng phương pháp nói ngoa phóng đại cùng lối nói thắt nút.
Khóa luận nghiên cứu và phân tích sự vi phạm phương châm hội thoại trong các truyện cười dân gian Việt Nam, từ đó chỉ ra và giải thích cơ chế tạo nghĩa hàm ẩn trong truyện cười Bằng cách phân tích sâu các ví dụ văn bản, công trình làm rõ cách ngữ cảnh, giọng điệu và cấu trúc câu kích thích người đọc nhận diện các ý nghĩa ngầm, đồng thời làm sáng tỏ mối liên hệ giữa hài hước và nghĩa hàm ẩn Kết quả cho thấy các chiến lược ngôn ngữ trong truyện cười dân gian Việt Nam đóng vai trò then chốt trong việc hình thành nghĩa hàm ẩn và tác động đến nhận thức của người đọc.
Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4.1: Nghiên cứu lí luận về Ngữ dụng học và truyện cừi dân gian Việt Nam
4.2: Miêu tả và phân tích truyện cười có vi phạm phương châm hội thoại
Phạm vi nghiên cứu bao gồm phân tích nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn trong truyện cười được tạo ra từ các cơ chế ngôn ngữ và giao tiếp, nhằm chỉ ra cách thức hài hước được thể hiện qua sự khác biệt giữa nghĩa trực tiếp và nghĩa ẩn Đồng thời, nghiên cứu xem xét các trường hợp vi phạm quy tắc phương châm hội thoại và tác động của những vi phạm đó đến sự hiểu biết và cảm nhận hài của người đọc Nghiên cứu tập trung vào truyện cười dân gian Việt Nam để làm rõ đặc trưng ngôn ngữ, cơ chế truyền đạt ý nghĩa và giá trị văn hóa của thể loại này.
6 PHƯƠNG PHÁP NGHÊN CỨU: Phân tích diễn ngôn, chuyên gpia, tổng hợp, thống kê, phân tích,…
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI :
Toàn bộ phần lý thuyết và cơ sở lý luận của đề tài được xây dựng dựa trên tham khảo cuốn giáo trình “Ngữ dụng học” của Đỗ Hữu Châu và Đỗ Việt Hùng, làm nền tảng cho các khía cạnh khái niệm, nguyên lý và phương pháp phân tích ngữ dụng trong nghiên cứu.
NXB Đại học Sư Phạm, ngày 4 tháng 1 năm 2007
1 Khái quát về nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn
Muốn nghiên cứu về đề tài trước hết ta cần hiểu nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn là gì?
- Nghĩa trực tiếp do các yếu tố ngôn ngữ đem lại được gọi là nghĩa tường minh
- Các nghĩa nhờ suy ý mới nắm bắt được gọi là nghĩa hàm ẩn
VD: Người mẹ nói với con gái mình:
“Con năm nay 28 tuổi rồi đó!’’
Câu nói này vừa nhắc tới tuổi của con gái vừa ẩn chứa thông điệp xã hội về áp lực kết hôn tại Việt Nam: “Năm nay con đã 28 tuổi rồi, hãy mau lo việc lấy chồng ổn định gia đình đi chứ” Nó cho thấy quan niệm con gái 28 tuổi chưa lấy chồng được xem là muộn và mong con tìm một tổ ấm ổn định thông qua hôn nhân Bài viết phân tích sự xung đột giữa kỳ vọng cá nhân và chuẩn mực xã hội, đồng thời làm sáng tỏ vai trò của người mẹ trong quá trình trưởng thành của con gái và tác động của những câu nói như vậy đối với quyết định sống ở Việt Nam.
2 Phân loại tổng quát nghĩa hàm ẩn
Nghĩa hàm ẩn có 2 loại:Tiền giả định
*Tiền giả định là những căn cứ cần thiết để người nói tạo ra ý nghĩa tường minh trong phát ngon của mình
Hàm ngôn là tập hợp những nội dung có thể suy ra từ một phát ngôn cụ thể, dựa trên nghĩa tường minh và tiền giả định kèm theo Nó gồm những ý nghĩa ẩn được người nghe suy luận từ ngữ, ngữ cảnh và mối quan hệ giữa người nói và người nghe Khi phân tích hàm ngôn, ta quan tâm đến những gì được ám chỉ, chứ không chỉ những gì được nói ra trực tiếp Việc nhận diện hàm ngôn giúp làm rõ thông điệp thực sự mà phát ngôn muốn truyền tải và cách nó được hiểu trong từng hoàn cảnh giao tiếp Do đó, nắm bắt hàm ngôn là chìa khóa để diễn giải đúng nghĩa và cải thiện hiệu quả giao tiếp.
VD:”Hôm qua mẹ thấy con đã đi chơi với một người bạn nam đến 11h đêm mới về đó”
-Nghĩa tường minh:Tối hôm qua người con đã đi chơi với một bạn nam đến 11h đêm
+Tiền giả định: >Cô con gái có một cuộc hẹn vào tối hôm qua
>Đối với con gái Việt Nam đi chơi với một bạn nam vào buổi tối đến 11h đêm là không tốt
+Hàm ngôn: Người mẹ muốn nhắc nhở con gái rằng “hãy dừng lại ngay việc đó, đừng để nó tiếp diễn lần thứ hai”
3.Tiền giả định và hàm ngôn
Tiền giả định và hàm ngôn nằm trong phạm trù rộng hơn là nghĩa hàm ẩn của phát ngôn; cả hai đều không được nói ra một cách tường minh mà chỉ được nắm bắt thông qua thao tác suy nghĩ của người nghe Cho đến nay, việc phân biệt tiền giả định và hàm ngôn vẫn là một vấn đề then chốt trong ngữ dụng học, vì chúng ảnh hưởng trực tiếp đến cách hiểu và diễn giải ý nghĩa trong giao tiếp.
Và để phân biệt tiền giả định và hàm ngôn chúng ta cố thể dựa vào những đặc điểm sau:
3.1 Quan hệ với nghĩa tường minh:
Tiền giả định là những hiểu biết được xem là mặc nhiên tồn tại và được các nhân vật giao tiếp thừa nhận một cách tự động, làm căn cứ để người nói xây dựng nghĩa tường minh trong phát ngôn của mình Chúng được xem như nền tảng ngữ nghĩa giúp câu văn thể hiện ý nghĩa một cách rõ ràng dựa trên một hệ giả định chung Theo quan điểm này, tiền giả định luôn được coi là đúng, trừ khi người nói đặt ra một phát ngôn dựa trên một tiền giả định sai hoặc bịa đặt Vì vậy, việc phân tích phát ngôn cần nhận diện tiền giả định để hiểu đúng ngữ cảnh và ý nghĩa thực sự của thông điệp.
Hàm ngôn là những hiểu biết hàm ẩn có thể suy ra từ nghĩa tường minh và tiền giả định của nghĩa tường minh
Nếu không có nghĩa tường minh và tiền giả định của nó, không thể suy ra được nghĩa hàm ngôn thích hợp
VD: “Hôm nay lại uống trà sữa à anh?”
- Tiền giả định : Hôm qua, thậm trí là mấy ngày liên tục trước thì chàng trai đều mời cô gái uống trà sữa
- Nghĩa tường minh: Cho đến ngày hôm nay thì chàng trai vẫn tiếp tục mời cô gái uống trà sữa
Từ tiền giả định và nghĩa tường minh trên thì cô gái muốn dẫn tới hàm ngôn:
- Em không muốn đi chơi với anh nữa
- Em không muốn uống nữa
- Uống nhiều rồi , khá nhàm chán em muốn đổi thức uống khác,…
3.2: Quan hệ với hình thức ngôn ngữ tạo nên phát ngôn
- một phát ngôn có thể có nhiều tiền giả định nhưng chỉ có một hoặc một số dính líu đến ( quan yếu với) nghĩa tường minh của phát ngôn
Theo C Kerbrat Orecchionni, tiền giả định được hiểu như toàn bộ những thông tin không được truyền đạt một cách tường minh nhưng vẫn được tự động thể hiện qua hình thức tổ chức của phát ngôn có sẵn trong hệ thống ngôn ngữ của tổ chức phát ngôn, bất kể hoàn cảnh phát ngôn ra sao Định nghĩa này làm nổi bật đặc điểm về sự tồn tại ngầm của nghĩa trong giao tiếp, nơi thông tin ẩn được cấu trúc và đưa vào lời nói thông qua cơ chế tổ chức phát ngôn, chứ không nằm ở sự diễn đạt rõ ràng của nội dung.
: Tiền giả định nhấn mạnh một tính chất ‘’ bất tất phải bàn cãi của nó’’ phải có quan hệ với các yếu tố ngôn ngữ đánh dấu nó
Tiền giả định tương đối ít lệ thuộc vào ngữ cảnh, trong khi hàm ngôn lại lệ thuộc sâu sắc vào ngữ cảnh và không nhất thiết phải được đánh dấu bằng các dấu hiệu ngôn ngữ Hiểu sự khác biệt này giúp làm rõ cách người nói gửi ý định và ý nghĩa trong giao tiếp, đồng thời cung cấp nền tảng cho nội dung SEO liên quan đến ngôn ngữ học, pragmatics và hàm ngôn.
VD: Tôi đã không đi tập gym một tháng nay rồi
+ Cơ thể tôi thấy uể oải
+ Vóc dáng tôi xấu quá
3.3: Lượng tin và tính năng động hội thoại
- Nhiều tác giả cho rằng bởi tiền giả định là những điều ‘’bất tất phải bàn cãi
‘’ cho nên không có tính thông tin Qủa vậy, tiền giả định là những hiểu biết mà người nói và người nghe có chung, dựa vào đó mà tạo nên ý nghĩa tường minh và hàm ngôn, cho nên không phải là cái mới , do đó có lượng tin thấp
- Trong một văn bản như đã biết, những điều nói ở tiền ngôn được xem là tiền giả định cho những phát ngôn sau, bởi vậy thong tin mà tiền giả định cung cấp đẫ là quan yếu ở tiền ngôn , không còn có thể quan yếu đối với phát ngôn đang xem xét
Để phân tích một phát ngôn, cần phân biệt giữa hiệu quả thông tin và lượng tin Trong một phát ngôn, tiền đề hoặc giả định có thể không đạt hiệu quả thông tin nhưng vẫn mang lượng tin đáng kể Lượng tin này không quyết định hiệu quả thông tin của phát ngôn được xem xét, nhưng lại cần thiết để giải thích và làm rõ mức độ hiệu quả thông tin của phát ngôn ấy.
Mặt khác, tiền giả định không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả thông tin như mong đợi Chúng ta đã phân tích các nghĩa hàm ẩn cố ý và các nghĩa hàm ẩn tồn tại trong ý định truyền tin của phát ngôn Trong trường hợp hàm ẩn cố ý gắn với tiền giả định, chính tiền giả định lại có hiệu quả thông tin cao hơn là nghĩa tường minh và hàm ngôn.
Trong giao tiếp, tính năng động của hội thoại phụ thuộc vào tiền giả định, nghĩa tường minh và hàm ngôn Nghĩa tường minh và hàm ngôn thường có mức độ động thoại cao hơn tiền giả định, vì chúng mang lại sự rõ ràng ngữ nghĩa và ngữ cảnh hàm ý cho cuộc đối thoại Chính sự khác biệt này cho thấy nghĩa tường minh và hàm ngôn đóng vai trò là một giai đoạn quan trọng giúp hội thoại tiến lên một bước mới, tăng khả năng hiểu biết và kết nối giữa người nói và người nghe.
Tiền giả định mang tính khác biệt và ngay cả khi nó là ý đồ có chủ đích, nó vẫn có thể là một bước để tiếp tục cuộc hội thoại; tuy nhiên, nếu cuộc trò chuyện cứ dựa vào những giả định đó, cuộc đối thoại sẽ giật lùi, rơi vào vòng luẩn quẩn và thậm chí dẫn đến cãi vã, làm hỏng nội dung cuộc đối thoại và khiến cuộc trao đổi không tiến lên được 3.4: Phản ứng đối với các dạng phát ngôn sẽ định hình cách xử lý thông tin và điều chỉnh ngôn ngữ để duy trì sự giao tiếp hiệu quả.
Trong ngôn ngữ học, những tiền giả định đóng vai trò nghĩa ngầm và là đối tượng truyền báo chính của phát ngôn Khi phát ngôn biến đổi hoặc được diễn nghĩa lại, các tiền giả định thường có một số đặc điểm phổ biến, nổi bật nhất là tính kháng phủ định: chúng vẫn tồn tại và được nhận thức ngay cả khi nội dung câu bị phủ định hoặc diễn giải theo hướng phủ định Bên cạnh đó, mức độ rõ ràng của ngữ nghĩa, khả năng bị bác bỏ trong ngữ cảnh giao tiếp và mức độ liên kết với thực tế mà người nói chấp nhận cũng là những đặc điểm quan trọng, giúp người nghe nhận diện và đánh giá thông điệp một cách nhất quán với mục đích truyền đạt.