Nội dung chính bao gồm 3 phần: Phần 1: Tổng quan về nợ nước ngoài Phần 2: Thực trạng quản lý và sử dụng nợ nước ngoài của Việt Nam Phần 3: Các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
Lê Thanh Xuân Hoàng Hải Yến Đặng Thị Kim Yến Hoàng Anh Linh
HÀ NỘI, THÁNG 12- 2012
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đang chồng chất lên vai các quốc gia gánh nặng
nợ nần do họ phải đi vay để chi tiêu và giải cứu nền kinh tế Hy Lạp đã chìm ngập trongkhủng hoảng nợ, kéo theo nhiều nước trong khu vực đồng tiền chung Euro cũng có nguy cơrơi vào khủng hoảng nợ Mức độ nợ của Việt Nam nếu tính trên GDP thì đang được đánhgiá là vẫn ở mức an toàn Tuy nhiên tấm gương khủng hoảng nợ của Argentina vẫn còn rất
rõ ràng, mặc dù tỷ lệ nợ/GDP của Argentina còn thấp hơn so với ngưỡng an toàn nhưng doquản lý và sử dụng kém hiệu quả nên vẫn rơi vào khủng hoảng nợ
Vì thế, vấn đề cấp thiết đặt ra cho Việt Nam hiện nay là phải thực hiện quyết liệt việcnâng cao hiệu quả trong quản lý và sử dụng nguồn vốn vay từ nước ngoài để tránh nguy cơ
rơi vào khủng hoảng nợ Chính vì thế nhóm 8 đã tìm hiểu đề tài: “Tăng cường hiệu quả quản lý và sử dụng và hoàn trả nợ nước ngoài tránh nguy cơ khủng hoảng nợ”.
Nội dung chính bao gồm 3 phần:
Phần 1: Tổng quan về nợ nước ngoài
Phần 2: Thực trạng quản lý và sử dụng nợ nước ngoài của Việt Nam
Phần 3: Các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nợ nước ngoài của ViệtNam
Mặc dù nhóm đã rất cố gắng tìm hiểu để thực hiện đề tài một cách tốt nhất, song vẫnkhông thể tránh khỏi thiếu sót Nhóm em rất mong nhận được sự góp ý của thầy để có thểhoàn thiện thêm đề tài này
Nhóm em xin chân thành cảm ơn thầy!
Trang 3PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ NỢ NƯỚC NGOÀI 1.1 Khái niệm về nợ nước ngoài
Theo khái niệm thông thường: nợ nước ngoài là tổng số tiền mà 1quốc gia có tráchnhiệm và bị ràng buộc phải thanh toán cho các chủ thể có quyền sở hữu chính thức đối vớikhoản tiền đó
Đối với Việt Nam, Nợ nước ngoài là các khoản vay ngắn hạn, trung han hoặc dài hạn(có hoặc ko phải trả lãi) do Nhà nước VN, Chính phủ VN, hoặc DN là pháp nhân VN, kể cả
DN có vốn ĐTNN vay của tổ chức quốc tế, của CP, của ngân hàng nước ngoài hoặc của tổchức và cá nhân nước ngoài khác (bên cho vay nước ngoài)
Theo Khoản 8 Điều 2 Quy chế vay và trả nợ nước ngoài (Ban hành kèm theo Nghị định
số 134/2005/NĐ-CP ngày 1 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ) thì: “Nợ nước ngoài của
quốc gia là số dư của mọi nghĩa vụ hiện hành (không bao gồm nghĩa vụ nợ dự phòng) về trả nợ gốc và lãi tại một thời điểm của các khoản vay nước ngoài tại Việt Nam Nợ nước ngoài của quốc gia bao gồm nợ nước ngoài của khu vực công và nợ nước ngoài của khu vực tư nhân”.
Nợ nước ngoài của khu vực công: bao gồm nợ nước ngoài của Chính phủ, nợ nước
ngoài (nếu có) của chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nợ nước ngoàicủa các doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức tài chính, tín dụng nhà nước và các tổ chứckinh tế nhà nước trực tiếp vay nước ngoài
Nợ nước ngoài của Chính phủ: là số dư mọi nghĩa vụ nợ hiện hành (không bao gồm
nghĩa vụ nợ dự phòng) về trả gốc và lãi tại một thời điểm của các khoản vay nước ngoàicủa Chính phủ
Nợ nước ngoài của khu vực tư nhân: là nợ nước ngoài của các doanh nghiệp, tổ chức
kinh tế thuộc khu vực tư nhân
Nghĩa vụ nợ dự phòng: là các nghĩa vụ nợ tiềm ẩn, hiện tại chưa phát sinh nhưng có thể
phát sinh khi xảy ra một trong các điều kiện đã được xác định trước (ví dụ: khi người đượcbảo lãnh không trả được một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ nợ, bị phá sản )
Như vậy, theo cách hiểu này nợ nước ngoài là tất cả các khoản vay mượn của tất cả cácpháp nhân Việt Nam đối với nước ngoài và không bao gồm nợ của các thể nhân (nợ của cánhân và hộ gia đình)
Trong cuốn Thống kê nợ nước ngoài: Hướng dẫn tập hợp và sử dụng do nhóm công tácliên ngành của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) thì khái niệm nợ nước ngoài được hiểu như sau:
“Tổng nợ nước ngoài tại bất kỳ thời điểm nào là số dư nợ của các công nợ thường xuyên
Trang 4thực tế, không phải công nợ bất thường, đòi hỏi bên nợ phải thanh toán gốc và/hoặc lãi tạimột (số) thời điểm trong tương lai, do đối tương cư trú tại một nền kinh tế nợ đối tượngkhông cư trú” Theo khái niệm này, khái niệm nợ nước ngoài không tách rời khái niệm đốitượng cư trú.
Như vậy xét về bản chất không có sự khác biệt đáng kể trong định nghĩa nợ nước ngoàicủa quốc gia và quốc tế Tuy nhiên định nghĩa về nợ nước ngoài của quốc tế rõ ràng hơn
1.2 Phân loại nợ nước ngoài
Việc phân loại nợ nước ngoài có một vai trò quan trọng trong việc công tác theo dõi,đánh giá và quản lý nợ có hiệu quả
Phân loại theo chủ thể đi vay: nợ công và nợ tư nhân được Chính phủ bảo lãnh, nợ tư
nhân
- Nợ công và nợ tư nhân được Chính phủ bảo lãnh
Nợ công được định nghĩa là các nghĩa vụ nợ của các khu vực công và bao gồm nợ củakhu vực công cùng với nợ của khu vực tư nhân được khu vực công bảo lãnh
Nợ nước ngoài của khu vực tư nhân được công quyền bảo lãnh được xác định là cáccông nợ nước ngoài của khu vực tư nhân mà dịch vụ trả nợ được bảo lãnh theo hợp đồngbởi một đối tượng thuộc khu vực công cư trú tại cùng một nền kinh tế với bên nợ đó
lý một cách chặt chẽ như nợ dài hạn Tuy nhiên nếu nợ ngắn hạn không trả được sẽ gây mất
ổn định cho hệ thống ngân hàng Đặc biệt khi tỷ trọng nợ ngắn hạn trong tổng nợ có xuhướng tăng phải hết sức thận trọng vì luồng vốn rút ra đột ngột có thể gây bất ổn cho nền tàichính quốc gia
- Nợ dài hạn
Nợ dài hạn là những công nợ có thời gian đáo hạn gốc theo hợp đồng hoặc đã gia hạnkéo dài trên một năm tính từ ngày ký kết vay nợ cho tới ngày đến hạn khoản thanh toán cuối
Trang 5cùng Nợ dài hạn là loại nợ được quan tâm quản lý nhiều hơn do khả năng tác động lớn đến
nền tài chính quốc gia
Phân loại theo loại hình vay: vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vay thương mại
- Vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
Theo định nghĩa của Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD), hỗ trợ phát triểnchính thức bao gồm các chuyển khoản song phương (giữa các Chínhphủ) hoặc đa phương(từ các tổ chức quốc tế cho Chính phủ), trong đó ít nhất 25% tổng giá trị chuyển khoản làcho không phát triển chính thức đôi khi kèm theo những điều kiện ràng buộc khiến cái giáphải trả tăng lên đáng kể
- Vay thương mại: Khác với vay hỗ trợ phát triển chính thức, vay thương mại không có
ưu đãi cả về lãi suất và thời gian ân hạn, lãi suất vay thương mại là lãi suất thị trường tài
chính quốc tế và thường thay đổi theo lãi suất thị trường Chính vì vậy, vay thương mạithường có giá khá cao và chứa đựng nhiều rủi ro Việc vay thương mại của Chính phủ phảiđược cân nhắc hết sức thận trọng và chi quyết định vay khi không còn cách nào khác
Phân loại nợ theo chủ thể cho vay:
Nợ đa phương và nợ song phương Nợ đa phương đến chủ yếu từ các cơ quan củaLiên hợp quốc, Ngân hàng Thế giới (WB),Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), các ngân hàng pháttriển trong khu vực, các cơ quan đa phương như OPEC và liên chính phủ Trong khi đó, nợsong phương đến từ Chính phủ một nước như các nước thuộc tổ chức OECD và các nướckhác hoặc đến từ một tổ chức quốc tế nhân danh một Chính phủ duy nhất dưới dạng hỗ trợtài chính, viện trợ nhân đạo bằng hiện vật
1.3 Vai trò của nợ nước ngoài
1.3.1 Đối với kinh tế - xã hội trong nước
Tác động tích cực
- Vay nợ nước ngoài tạo ra nguồn vốn bổ sung cho quá trình tăng trưởng và phát triểnkinh tế Đối với các nước đang phát triển đang trong quá trình công nghiệp hóa và thực hiệncông cuộc xóa đói giảm nghèo thì việc vay nợ nước ngoài đóng vai trò quan trọng trongthực hiện mục tiêu đó
- Góp phần hỗ trợ các nước vay nợ tiếp thu được công nghệ tiên tiến, học hỏi đượckinh nghiệm quản lý của các nhà tài trợ nước ngoài Do trình độ phát triển kinh tế- xã hội vàgióa dục khoa học ở các nước đang phát triển rất thấp cho nên các nước này ít có khả năngphát triển công nghệ mới Trong điều kiện đó, các nguồn công nghệ hiện đại được đưa vàothông qua nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) đóng vai trò quan trọng: IDC Việt Nam
đã dẫn số liệu thống kê trong một nghiên cứu mới nhất của Tập đoàn dữ liệu quốc tế (IDC),
Trang 6mang tựa đề "Dự báo và phân tích xu hướng công nghệ thông tin, viễn thông Myanmar năm
2012 - 2016: Tổng quan về cơ hội công nghệ thông tin, viễn thông sắp tới" Dự báo tổng giátrị trường công nghệ thông tin sẽ đạt 268,45 triệu đô la Mỹ vào năm 2016, tương ứng tỷ lệtăng trưởng trung bình hằng năm (CAGR) là 14% trong giai đoạn 2011-2016
- Việc vay nợ nước ngoài làm tăng thêm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư trongnước, góp phần thu hút, mở rộng các hoạt động đầu tư phát triển kinh tế ở các nước pháttriển Phần lớn các nguồn vốn vay nợ nước ngoài được đầu tư để xây dựng, cải tạo, nângcấp cơ sở hạ tầng, hoàn thiện hệ thống luật pháp và các chính sách kinh tế của các nước đivay, tăng cường năng lực quản lý, do đó góp phần làm tăng mức độ hấp dẫn của môi trườngđầu tư của các nước con nợ Đối với các nước đang phát triển, do tỉ lệ tích lũy trong nướcthấp cho nên nguồn vốn sử dụng cho hoạt động xây dựng cơ bản, hoàn thiện khung pháp lýchủ yếu dựa vào nguồn hỗ trợ từ bên ngoài
- Việc vay nợ nước ngoài còn là yếu tố góp phần chuyển đổi, hoàn thiện cơ cấu kinh
tế, đưa nền kinh tế tham gia tích cực vào quá trình phân công lao động quốc tế và góp phầncải thiện cán cân thanh toán quốc tế Việc vay nợ thường được tập trung vào việc giải quyếtnhững vấn đề cấp bách đặt ra cho nền kinh tế, đặc biệt là phát triển ngành công nghệ cao,các ngành cần vốn đầu tư lớn, hình thành nền tảng cho việc phát triển những ngành mũinhọn, các ngành có lợi thế so sánh và khả năng cạnh tranh quốc tế cao Việc vay vốn nướcngoài còn giúp vào việc bù đắp sự thâm hụt trong cán cân này nhằm bảo đảm cân bằng đốingoại của các quốc gia
- Giúp thu hút lao động, tạo việc làm, giải quyết một phần nạn thất nghiệp
- Việc vay nợ nước ngoài nhiều sẽ làm giảm trách nhiệm của Chính phủ và dân cư.Khi xuất hiện nhu cầu về vay vốn nước ngoài, thay vì việc khai thác các nguồn nội lực, cácChính phủ đi vay sẽ dễ dàng chọn phương án dựa vào các nguồn ngoại lực Ngoài ra, saukhi vay được nguồn vốn nước ngoài, các nước đang phát triển và kém phát triển lại chi tiêumột cách lãng phí
- Việc vay nợ tràn lan không được tính toán kĩ lưỡng còn có thể gây ra sự phụ thuộccủa nước con nợ vào nước chủ nợ Các khoản nợ nước ngoài nhất là các khoản vay hỗ trợphát triển chính thức (ODA) luôn kèm theo những điều kiện ràng buộc về mục đích sửdụng, nguồn cung ứng, thời hạn…
- Nguồn vốn đi vay nếu được sử dụng không có hiệu quả có thể dẫn đến tình trạng sửdụng lãng phí nguồn tài nguyên, ô nhiễm môi trường và còn gây ra tình trạng nợ nần trong
Trang 7tương lai Như vậy việc vay nợ tràn lan sẽ làm cho các nước đang và kém phát triển phá hủytài nguyên hữu hạn của mình, đánh mất lợi thế vốn có khi tham gia vào phân công lao độngquốc tế
- Gây ra sự phân hóa, tăng khoảng cách phát triển giữa các vùng và giữa các tầng lớpdân cư với nhau, bất ổn xã hội càng lớn
- Có thể làm tăng các vấn đề về tệ nạn xã hội, dịch bệnh
1.3.2 Đối với việc mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại
Việc vay nợ nước ngoài góp phần thúc đẩy các quan hệ hợp tác và ràng buộc chặt chẽgiữa các quốc gia với nhau Trước hết, đó là các quan hệ ràng buộc về mặt pháp lý giữa cácquốc gia Không phải các quốc gia nào cũng có thể dễ dàng vay nợ nước ngoài Việc vay nợthường kéo theo những cam kết chặt chẽ về mặt chính sách, tài sản hoặc các ràng buộc khác
mà những cam kết này thường dễ dẫn các nước đi vay rơi vào tình trạng phụ thuộc vào cácnước cho vay Điều này đòi hỏi các nước đi vay phải có chiến lược vay nợ hợp lý Đồngthời, các nước này cũng cần điều chỉnh các chính sách để phục vụ có hiệu quả cho việc vaytrả nợ nước ngoài Đây là quá trình gắn bó có hiệu quả các quan hệ kinh tế trong nước vớicác quan hệ kinh tế với bên ngoài, thúc đẩy việc phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại,
mở rộng quá trình hội nhập nền kinh tế quốc gia vào nền kinh tế thế giới
1.4 Các chỉ tiêu đánh giá nợ nước ngoài
1.4.1 Các chỉ tiêu đánh giá mức độ nợ nước ngoài
Để đánh giá mức độ nợ của nước ngoài, các chỉ tiêu thường được các tổ chức quốc tếthường dùng là:
Khả năng hoàn trả nợ vay nước ngoài
Tổng nợ/Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá dịch vụ: Chỉ tiêu này biểu diễn tỷ lệ nợnước ngoài bao gồm nợ tư nhân, nợ được Chính phủ bảo lãnh trên thu nhập xuất khẩu hànghoá và dịch vụ Ý tưởng sử dụng chỉ tiêu này là nhằm phản ánh nguồn thu xuất khẩu hànghoá và dịch vụ là phương tiện mà một quốc gia có thể sử dụng để trả nợ nước ngoài Nhữngkhó khăn khi sử dụng chỉ tiêu này là: Nguồn thu xuất khẩu dễ biến động từ năm này sangnăm khác, ngoài ra cũng có những phương án khác để nước con nợ có thể sử dụng để trả nợnước ngoài mà không nhất thiết phải tăng xuất khẩu
Tỷ lệ nợ nước ngoài so với thu nhập quốc gia
Nợ/GNI: Đây là chỉ tiêu đánh giá khả năng trả nợ thông qua thu nhập quốc dân đượctạo ra Hay nói cách khác, nó phản ánh khả năng hấp thụ vốn vay nước ngoài
Trang 8Thông thường các nước đang phát triển thường đánh giá cao giá trị đồng nội tệ hoặc
sử dụng chế độ đa tỷ giá dẫn tới làm giảm tình trạng trầm trọng của nợ Do vậy, tình trạng
nợ có thể không được đánh giá đúng mức
Tỷ lệ trả nợ
Tổng nợ phải trả hàng năm/Kim ngạch thu xuất khẩu: Còn gọi là tỷ lệ dịch vụ nợ (nợgốc và lãi phải thanh toán so với giá trị xuất khẩu) Đây là một tiêu chí quan trọng, phản ánhquan hệ giữa nghĩa vụ nợ phải trả so với năng lực xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ của quốcgia đi vay
Tỷ lệ trả lãi
Tổng lãi phải trả hàng năm/Kim ngạch thu xuất khẩu: Còn gọi là tỷ lệ dịch vụ lãi hay
tỷ lệ giữa tổng lãi phải trả so với kim ngạch xuất khẩu Một quốc gia phải thanh toán lãi vớimức lãi suất được quy định trong cam kết cho vay, thông thường lãi này được trích từ thunhập xuất khẩu Quốc gia mắc nợ trong quá khứ thì hiện tại và tương lai họ sẽ trích thu nhập
từ xuất khẩu càng nhiều, hạn chế khối lượng ngoại tệ dành cho nhập khẩu Đây là chỉ tiêutốt nhất để đánh giá nợ vì không đề cập đến gánh nặng nợ mà còn chỉ ra chi phí vay nợ, điềunày ngầm hiểu như hiệu quả sử dụng vốn vay có cao hơn chi phí lãi vay hay không
1.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá cơ cấu nợ nước ngoài
Cơ cấu nợ hàm chứa những thông tin quan trọng về mức độ rủi ro của việc vay nợ.Thông thường rủi ro sẽ cao khi tỷ trọng nợ ngắn hạn, tỷ lệ nợ thương mại và tỷ lệ nợsong phương cao Các chỉ tiêu đánh giá cơ cấu gồm:
- Nợ ngắn hạn/Tổng nợ: Phản ánh tỷ trọng các khoản nợ cần thanh toán trong thời
gian nhỏ hơn một năm trong tổng nợ Tỷ lệ này càng cao, áp lực trả nợ càng lớn
- Nợ ưu đãi/Tổng nợ: Tỷ lệ này càng cao, gánh nặng nợ nước ngoài càng nhẹ.
- Nợ đa phương/Tổng nợ: Các khoản nợ đa phương thường nhằm mục đích hỗ trợ, ít
mưu cầu về lợi nhuận, do đó việc tăng cường nợ đa phuơng trong tổng nợ phản ánh tìnhhình nợ nước ngoài của một nước thay đổi theo chiều hướng tốt
Trang 9PHẦN II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VÀ HOÀN TRẢ NỢ NƯỚC
NGOÀI CỦA VIỆT NAM 2.1 Thực trạng nợ nước ngoài của Việt Nam
2.1.1 Quy mô nợ
Trong cơ cấu nợ công Việt Nam thì có tới 30% vay nợ nước ngoài và 70% nợ nội
địa Theo Bản tin nợ nước ngoài số 7 do Bộ Tài chính vừa ban hành, Yên Nhật là đồng tiền
vay chính của Việt Nam Tổng dư nợ nước ngoài của Chính phủ và được Chính phủ bảolãnh năm 2010 hơn 32,5 tỷ USD, tăng 4,6 tỷ USD so với năm 2009 Trong đó, nợ của Chínhphủ là 27,86 tỷ USD, bằng 85,7% tổng dư nợ
So với GDP 2010, tổng dư nợ nước ngoài chiếm 42,2%, tăng so với con số 39% củanăm 2009 Đây cũng là tỷ lệ nợ nước ngoài/GDP lớn nhất từ 2006 Trong cơ cấu nợ nướcngoài, nợ của khu vực công chiếm phần lớn và chiếm tới 31,1% GDP 2010
Cũng theo bản tin này, dự trữ ngoại hối năm 2010 chỉ bằng 187% tổng dư nợ ngắnhạn Trong khi đó, con số này của năm 2009 là 290%, năm 2008 la 2.808% và năm 2007 lêntới 10.177%
Các khoản vay của nước ta chủ yếu có lãi suất cố định từ 1 - 2,99%/năm Tuy nhiên,khoản vay có lãi suất cao từ 6 - 10%/năm trong năm 2010 đạt 1,89 tỷ USD, gấp hơn 2 lầnnăm 2009
Các chủ nợ chính của Chính phủ Việt Nam là Nhật Bản, Pháp, ADB, IDA Trong
đó, số nợ với những đơn vị nắm giữ trái phiếu Việt Năm năm 2010 đã tăng lên hơn 2 tỷUSD so với hơn 1 tỷ USD của năm 2009
Cũng theo bản tin này, tổng trả nợ 2010 của nước ta đạt 1,67 tỷ USD (con số năm
2009 là 1,29 tỷ USD), trong đó trả nợ lãi và phí là 616,2 triệu USD
- Tổng NNNG / GDP = 41.5 % (Nguồn: Bộ Tài Chính) tính đến 31/12/2011
- Tổng NNNG khu vực công/GDP >30% (Khu vực chính phủ và được chính phủ bảo lãnh.
- So với GDP tỷ lệ NNNG tăng chậm đến 2007 và giảm xuống chạm đáy vào 2008 là
25.1% Nguyên nhân là do cuộc khủng hoảng TC từ Mỹ lan dần ra toàn thế giới,các nguồn vay trở nên khó khăn hơn hay bị cắt giảm đáng kể trong khi GDP vẫn
Trang 10tăng nhẹ.
- Tuy nhiên, cùng với nhu cầu phục hồi kinh tế thế giới thì lượng vốn vay đã tăng trở
lại do các nhà đầu tư tin tưởng hơn và cũng phải kể đến những nỗ lực của chính phủtrong mối quan hệ song , đa phương
- Nhưng từ 2010 đến nay tỷ lệ NNN có xu hướng giảm: 1 phần do GDP vẫn tăng
trưởng mức 5%, ngoài ra tỉ lệ giải ngân ngày một thấp hơn do nc ta chuyển từ ncnghèo lên trung bình mức cam kết tài trợ giảm dần Một nguyên nhân nữa do dự trữngoại hối đang trong těnh trạng thấp 187% so với
- Như vậy việc nợ nước ngoài của Việt Nam vẫn nằm trong phạm vi giới hạn an toàn
theo Nghị quyết của Quốc hội (kiểm soát dư nợ công đến năm 2015 dưới 65%GDP, nợ Chính phủ, nợ quốc gia dưới 50% GDP)
- “Theo đánh giá của các tổ chức tài chính quốc tế như WB, IMF, Việt Nam là nước
có mức nợ nằm trong tầm kiểm soát và không nằm trong nhóm các nước có gánhnặng về nợ (HIPCs)”- Bộ Tài chính cho biết.Theo Ngân hàng Thế giới (tài liệudùng cho cuộc họp Hội nghị các nhà tài trợ ngày 7 tháng 12 năm 2010), Như vậy
nợ công theo cách tính của Việt Nam nằm vào ranh giới của ngưỡng an toàn 50 %
2.1.2 Cơ cấu nợ
a) Theo chủ nợ:
Nợ song phương và nợ đa phương chiếm tỷ trọng tuyệt đối Theo báo cáo31/12/2010 nợ song phương là 46,66%, nợ đa phương là 44,59%, người nắm giữ tráiphiếu 7,26%, các ngân hàng thương mại 1,2 %, các chủ tư nhân khác là 0,3%
Chủ nợ song phương (Đơn vị: Triệu USD)
Trang 11đối tác quan trọng nhất và lâu dài Mặt khác Nhật Bản cũng coi Việt Nam
là đối tác chiến lược lâu dài đảm bảo lợi ích cho cả 2 bên
o Bên cạnh đó Pháp, Trung Quốc liên tục cho Việt Nam vay với số lượngngày một lớn hơn trong việc tăng cường quan hệ về mọi mặt giữa 2 bên
Chủ nợ đa phương (Đơn vị: Triệu USD)
o Khác với nợ song phương để đánh giá xu hướng ngoại giao thì nợ đaphương phản ánh uy tín của một quốc gia trong khu vực nói riêng và trêntrường quốc tế nói chung Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy tổng lượngcho vay của các tổ chức trên thế giới cho Việt Nam vay ngày một tăngchứng tỏ uy tín của Việt Nam đang ngày một cải thiện
b) Theo chủ thể đi vay
Nợ nước ngoài của chính phủ và được chính phủ bảo lãnh 2005-2010 chiếm tỉ trọnglớn (Nguồn:Bộ Kế hoạch-Đầu tư)
Trang 12Vốn vay nước ngoài của các vùng, miền
Từ đồ thị trên ta thấy nguồn vốn vay của địa phương chủ yếu là ở khu vực đồng bằngBắc Bộ(34,4%).Nó phù hợp với quy hoạch phát triển vùng,miền trên địa bàn cả nước vì khuvực này có tiềm năng kinh tế lớn nhưng chưa được khai thác hiệu quả
Nợ nước ngoài của khu vực tư nhân: Tập trung hầu hết ở khu vực các doanh nghiệpFDI Các dn này vay nước ngoài từ công ty mẹ hoặc từ ngần hàng FDI Về con sốtuyệt đối, báo cáo của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, dư nợ cuối kỳ vay vốn nướcngoài của DN FDI năm 2009 là 4.275 triệu USD, năm 2010 là 4.545 triệu USD và 9tháng đầu năm 2011 là 4.800 triệu USD giai đoạn 2009 - 2011, mức vay trung, dàihạn nước ngoài của các DN FDI chiếm 50 - 60% trong tổng số vốn vay trung, dàihạn nước ngoài không có bảo lãnh của Chính phủ
Tỷ trọng nợ nước ngoài của khu vực chính phủ bảo lãnh và khu vực tư nhân có xuhướng tăng Nguyên nhân là do các chủ thể đi vay năng động, chủ động hơn trong việc tiếpcận với nguồn vốn vay Nó là tín hiệu tốt của giai đoạn tiếp theo trong quá trình hội nhậpsâu của Việt Nam
c) Theo thời hạn đi vay
Theo Bộ Tài chính, phần lớn các khoản vay nước ngoài của Chính phủ là các khoản vay
có thời gian dài, từ 20-40 năm, thời gian ân hạn từ 5-10 năm, lãi suất khoảng từ 2,5%/năm Điển hình là các khoản vay của:
0,75% WB có thời hạn 40 năm, trong đó có 10 năm ân hạn, mức lãi suất là 0,75%/năm;
- Các khoản vay của ADB có thời hạn 30 năm, 10 năm ân hạn, lãi suất 1%/năm;
Trang 13Các khoản vay của
- Nhật Bản có thời hạn 30 năm, 10 năm ân hạn và mức lãi suất khoảng từ 1 đến2%/năm)
Trong cơ cấu, nợ ngắn hạn chỉ chiếm khoảng 2 tỉ USD tương đương khoảng 6%NNN khu vực công
d) Theo hình thức vay
Vay nợ ODA: Vốn hỗ trợ phát triển cho đến cuối năm 2011, tổng số tài trợ cam kết
cho Việt Nam lên đến hơn 64 tỷ USD, số giải ngân hơn 34 tỷ, chiếm 53% tổng số
ODA cam kết (theo Vụ Kinh Tế đối ngoại, Bộ Kế hoạch Đầu tư) Theo hình thức
vay: ODA chiếm 75%, vay thương mại (ngoài ODA) và các khoản vay khác chiếm 25%
Từ 1993-2010, tổng vốn ODA được các nhà tài trợ cam kết dành cho VN đạt tới hơn 64
tỉ USD Riêng các nhà tài trợ tại Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho VN (CG) năm
2010 vào đầu tháng 12.2010 là 7,88 tỉ USD, năm 2011 mặc dù ký cam kết trên 8 tỉ usdnhưng giải ngân được khoảng 3.6 tỉ USD Trong số 51 nhà tài trợ thường xuyên, có 28song phương và 23 đa phương, chủ yếu là Nhật Bản,Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngânhàng Phát triển châu Á (ADB), chiếm khoảng 80% tổng giá trị ODA đã ký kết Nhật Bản,Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế(IMF), các tổ chức của Liên Hợp Quốc (UN), các tổ chức phi chính phủ (NGO) và nhiềunhà tài trợ song phương khác.Nhật Bản đang là nhà tài song phương lớn nhất cho VN tronghơn 17 năm qua (trong 7,88 tỉ USD vốn cam kết đầu tháng 12.2010, Nhật Bản có mức camkết là 1,76 tỉ USD) WB giữ vị trí là nhà cung cấp ODA đa phương lớn nhất Mức cam kếttrong hội nghị tháng 12.2010 đạt tới 2,6 tỉ USD ADB là 1,5 tỉ USD
Số liệu Cam kết, ký kết, giải ngân qua các năm
Lượng ODA hằng năm vẫn ngày một tăng Tỷ lệ ODA được giải ngân so với cam kết ban đầu có xu hướng tăng nhẹ Cụ thể năm 2011 vừa qua Việt Nam được giải ngân 3.65 tỷ USD so với cam kết gần 8 tỷ USD
Vay do phát hành trái phiếu quốc tế:
o Đợt phát hành trái phiếu quốc tế đầu tiên tại Việt Nam: Năm 2005, thời cơ
đã đến khi các yếu tố “thiên-thời-địa” chín muồi: Kinh tế trong nước pháttriển, nợ nước ngoài ở mức an toàn, thị trường tài chính thế giới ổn địnhcộng với nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển ngày một lớn 27/10/2005, Việt
Trang 14Nam phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế (tại New York) đã thànhcông mỹ mãn với số tiền đặt mua lên tới 4,5 tỷ USD, cao gấp 6 lần trị giáchào bán là 750 triệu USD với lãi suất 7,125%/năm và có thời hạn là 10năm Ở đợt phát hành lần này, Tổng công ty công nghiệp tàu thủy ViệtNam (Vinashin) là doanh nghiệp đầu tiên đã được lựa chọn giải ngân.
o Đợt phát hành trái phiếu quốc tế lần thứ 2 tại Việt Nam: Việt Nam phát
hành 1 tỷ USD trái phiếu Chính phủ (TPCP) ra thị trường quốc tế với kỳhạn mở rộng 10-30 năm, lãi suất dưới 7% cũng rất thành công vào năm
2007 Số tiền này cho 4 đơn vị (Tập đoàn Dầu khí VN, Tổng công ty Hànghải Việt Nam, Tổng công ty Sông Đà và Tổng công ty Lắp máy VN) vay lại
để thực hiện đầu tư các dự án Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, Dự án mua tàuvận tải, Dự án thủy điện Xê Ca Mản 3 và Nhà máy Thủy điện Hủa Na
o Đợt phát hành trái phiếu quốc tế lần thứ 3 tại Việt Nam: Ngày 26/01/2010,
Việt Nam đã phát hành thành công 1 tỷ USD trái phiếu Chính Phủ thời hạn
10 năm trên thị trường quốc tế với lợi tức 6,95% Số tiền thu được từ đợtphát hành 1 tỷ USD trái phiếu quốc tế này được tập trung vào các mục tiêu:Hoàn trả vốn ngân sách Nhà Nước, Giao Bộ Kế hoạch & Đầu tư phối hợp
Bộ Tài chính lựa chọn dự án phù hợp (dự kiến cho các Tập đoàn Dầu khí,Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, Tổng công ty Sông Đà và Tổng Công tylắp máy Việt Nam đầu tư bổ sung các dự án lọc hóa dầu Dung Quất, dự ánxây dựng thủy điện Xê Ca Mản 3, nhà máy thủy điện Hủa Na và mua tàuvận tải biển) Hoàn thành chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ươngthông qua mua bán TPCP, tác động trực tiếp đến lượng cung tiền và cácbiến số kinh tế vĩ mô
Mặc dù 3 lần phát hành trái phiếu với tổng giá trị 2.75 tỉ usd nhưng chỉ là con số rất
nhỏ so với cùng các quốc gia đang phát triển VD như Indonesia , philipin thì còn quá nhỏ.Nhưng với mức lãi suất quanh mốc 7% rất cao như vậy thì đây lại là một điều đáng mừng.Việt Nam khó tiếp cận với mức lại suất thấp hơn nguyên do là trên thị trường thứ cấp tráiphiếu của Việt Nam có tính thanh khoản rất kém
2.2 Thực trạng quản lý và sử dụng nợ nước ngoài tại Việt Nam
2.2.1 Thực trạng quản lý nợ nước ngoài
a) Cơ quan quản lý
Hiện nay Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Nhà nước đang là cơquan được giao nhiệm vụ quản lý nợ của Việt Nam
Bộ Tài chính mà cụ thể là Vụ Tài chính đối ngoại thực hiện các chức năng như đàmphán các hiệp định vay nợ, ký kết hiệp định, theo dõi giải ngân và chuyển các đề nghị thanhtoán chi trả nợ cho Kho bạc nhà nước và chuẩn bị các báo cáo nợ trên cơ sở các thông tinđược đăng ký khác và các báo cáo này về các khoản vay nợ trực tiếp, được bảo lãnh và chovay lại
Trang 15Ngân hàng nhà nước: thay mặt Chính phủ, đàm phán các khoản nợ đa phương với 3
tổ chức tài chính quốc tế là ADB, IMF, WB và chuyển các hiệp định chính thức đã ký sang
Bộ Tài chính; quản lý vay, trả nợ của các doanh nghiệp
Bộ Kế hoạch và Đầu tư: sẽ lập dự thảo nhu cầu hàng năm về vay ODA, xây dựngdanh mục các dự án chương trình được phê duyệt, đàm phán và ký kết các hiệp định khung
về ODA và chuyển cho Bộ Tài chính để dàn xếp các hiệp định vay nợ cụ thể Theo dõi đánhgiá việc sử dụng ODA và tiến hành báo cáo về ODA
Tuy nhiên, trách nhiệm và phạm vi quản lý của từng cơ quan lại chưa rõ ràng và có
sự chồng chéo lẫn nhau Điều đó thể hiện ở các điểm sau:
Việc xây dựng chiến lược và kế hoạch vay trả nợ:
o Luật Ngân sách Nhà nước quy định Bộ Tài chính là cơ quan xây dựng chiếnlược, kế hoạch vay trả nợ trong nước và nước ngoài
o Quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài quy định Bộ Kế hoạch và Đầu tư là
cơ quan chịu trách nhiệm xây dựng chiến lược quốc gia về vay và trả nợ nướcngoài, đồng thời tổng hợp kế hoạch dài hạn về vay và trả nợ nước ngoài của
cả nước
Chồng chéo giữa các đơn vị của Bộ Tài chính:
o Vụ Ngân sách Nhà nước: có nhiệm vụ chủ trì phối hợp với các đơn vị thốngnhất quản lý nợ quốc gia;
o Vụ Tài chính đối ngoại: có trách nhiệm thống nhất quản lý vay và trả nợ nướcngoài của Chính phủ và của quốc gia
o Kho bạc Nhà nước: có nhiệm vụ “nghiên cứu xây dự thảo đề án, chínhsách, chế độ về huy đông vốn trong nước và ngoài nước… thông quaphát hành công trái, trái phiếu Chính phủ”
o Vụ Tài chính đối ngoại có nhiệm vụ “Nghiên cứu, đề xuất và tổ chức thựchiện các phương án huy động vốn nước ngoài trên thị trường vốn quốc tế củaChính phủ”
Như vậy chúng ta thấy có sự chồng chéo giữa các đơn vị trong chức năng quản lý nợnói chung cũng như nợ nước ngoài nói riêng Chính vì thế nó làm mất đi tính thống nhấttrong các chính sách quản lý nợ và giảm hiệu quả quản lý
b) Cơ chế quản lý
Nợ nước ngoài của Việt Nam hiện nay đang được quản lý thông qua khung thể chế,chính sách và biện pháp kỹ thuật
Khung thể chế
Trang 16Khía cạnh thể chế của quản lý nợ nước ngoài gồm ba phần gắn kết chặt chẽ vớinhau: khung pháp lý hướng dẫn hoạt động vay và trả nợ, sắp xếp thể chế quản lý nợ và cácchức năng mà các cơ quan quản lý cần đảm bảo nhằm quản lý nợ hiệu quả Trong đó,khung pháp lý trong hệ thống quản lý nợ hiệu quả thể hiện ý chí, quan điểm của Chínhphủ trong vay và trả nợ có thể chi phối cơ cấu tổ chức quản lý nợ, cơ chế trao đổi thôngtin, cơ sở vật chất và con người nhằm đảm bảo thực thi chức năng quản lý nợ.
o Khung pháp lý: bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý vay
và trả nợ nước ngoài như Luật quản lý nợ công 2009, Luật Ngân sách Nhà nước,nghị định 134/2005 về Quy chế vay và trả nợ nước ngoài, các Quyết định của Bộ Tàichính về quản lý nợ vay,…
o Thể chế quản lý: hệ thống quản lý nợ bao gồm các cấp quản lý từ Trung ương xuốngđịa phương, bao trùm các hoạt động từ phân tích dữ liệu nợ đưa ra các dự đoán vĩ
mô, hoạch định chính sách kế hoạch vay và trả nợ, thực hiện các hoạt động quản lý,
Biện pháp kỹ thuật
Kỹ thuật quản lý nợ chú trọng vào quản lý quy mô và cơ cấu nợ nước ngoài Việcquản lý quy mô, cơ cấu nợ nước ngoài hiệu quả nhằm xác định một cơ cấu vay hợp lý, giảmgánh nặng trả nợ tập trung tại một thời điểm, đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợsắp đến hạn Quản lý quy mô và cơ cấu nợ bao gồm bốn vấn đề trong đó ba yếu tố then chốt
và gắn kết với nhau chặt chẽ nhất là khả năng trả nợ, nhu cầu vay mượn và nguồn tài trợ Cả
ba vấn đề này đều thể hiện tính kế hoạch hóa của việc vay mượn
- Nhu cầu vay vốn: được xây dựng phù hợp với chính sách kinh tế vĩ mô trong từngthời kỳ để đảm bảo sử dụng vốn vay theo đúng định hướng ưu tiên phát triển kinh tế đã đề
ra Nhu cầu vay mượn được dự đoán thông qua việc dự tính các khoản phải chi trong tươnglai, đồng thời cũng phải tính toán đến khả năng trả nợ sau này Nếu tính toán sai nhu cầuvay mượn thì sẽ ảnh hưởng xấu đến khả năng trả nợ trong tương lai
Trang 17- Khả năng trả nợ: được tính toán dựa trên phân tích dư nợ hiện tại, nguồn trả nợtrong tương lai, cơ cấu nợ, các điều kiện kinh tế vĩ mô,…
- Nguồn tài trợ: các khoản vay hình thành từ các nguồn như viện trợ không hoàn lại,vay ưu đãi, vay thương mại Các nước đang phát triển thường tìm kiếm những khoản việntrợ không hoàn lại và các khoản vay ưu đãi để giảm gánh nặng trả nợ Nước ta chủ yếu nhậnnguồn tài trợ từ ODA với nhiều ưu đãi, tuy nhiên từ năm 2010 nước ta đã ra khỏi danh sáchcác nước nghèo nên sẽ không còn nhận được những khoản vay với điều kiện ưu đãi nữa.Điều này đòi hỏi các cơ quan quản lý phải tích cực hơn nữa trong việc tìm kiếm nhữngnguồn tài trợ ưu đãi và đầu tư vào những dự án có hiệu quả
Đánh giá hiệu quả của công tác quản lý nợ nước ngoài
Một quốc gia được coi là có công tác quản lý nợ tốt khi mức độ ổn định và bền vữngcủa nợ cao, thỏa mãn mức giới hạn an toàn của các tổ chức thế giới
Theo phương pháp của World Bank, để đánh giá mức độ ổn định và bền vững của nợ
sẽ dựa vào các tiêu chí như: tỷ lệ nợ nước ngoài/xuất khẩu, tỷ lệ nợ nước ngoài/ thu Ngânsách Nhà nước, nợ/GDP
Tiêu chí đánh giá tính bền vững của nợ của World Bank Tiêu chí (%) Không bền vững Trung bình Bền vững
Nguồn: Ngân hàng phát triển Châu Á, Bản tin nợ nước ngoài số 7
Theo như kết quả trên có thể nói nợ của Việt Nam có tính ổn định và bền vững, đápứng được ngưỡng an toàn của các tổ chức thế giới Có thể nói trước mắt Việt Nam chưa thểxảy ra khủng hoảng nợ như Thái Lan, Mexico, Argentina,… Mặc dù vẫn có những tồn tạitrong việc quản lý nợ nhưng đây có thể coi là sự cố gắng của các cơ quan quản lý trong việcnâng cao chất lượng quản lý nợ
Trang 18Tuy nhiên về sức mạnh thể chế và chính sách trong quản lý nợ của Việt Nam lạiđang bị đánh giá ở mức yếu kém Các quốc gia có chính sách và thể chế tốt thì có khả năngchống đỡ được mức nợ cao hơn so với mức ổn định nợ cơ bản.
Cách tiếp cận này đưa ra giá trị mức ngưỡng dựa vào tỷ lệ nợ để làm cơ sở đánh giáthể chế và chính sách của một quốc gia Dựa vào giá trị ngưỡng, World Bank phân loại ra 3mức thực hiện chính sách: kém, vừa và mạnh
Mức ngưỡng phụ thuộc vào chính sách và thể chế
NPV/thu NSNN 200% 275% 350%
Nguồn: World Bank
Theo đánh giá của WB thì từ năm 2006 – 2010 các tỷ lệ trên của Việt Nam đều nămtrong mức ngưỡng kém, cho thấy khung chính sách và thể chế của nước ta ít có khả năngchống đỡ với mức nợ cao
Nguyên nhân sự yếu kém trong vấn đề quản lý nợ là do chúng ta chưa có 1 cơ quanthống nhất về quản lý nợ dẫn đến sự chồng chéo trong chức năng, nhiệm vụ giữa các cơquan quản lý Điều này gây ra sự thiếu nhất quán, không đồng bộ trong vấn đề quản lý nợ.Thêm vào đó, các văn bản pháp lý về quản lý nợ nước ngoài cũng chưa thống nhất, chưađiều chỉnh đầy đủ các đối tượng trong việc quản lý nợ nước ngoài
2.2.2 Thực trạng sử dụng vốn vay
a) Nguồn vốn ODA
Trong những năm qua, nhiều dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA đã hoàn thành vàđược đưa vào sử dụng góp phần nâng cao, phát triển cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, tạo điềukiện tăng trưởng kinh tế Về mặt xã hội các dự án góp phần xóa đói, giảm nghèo, gia tăngcông ăn việc làm cho xã hội, cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân