1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN KINH TẾ ĐẦU TƯ THỰC TRẠNG CỦA ĐẦU TƯ TẠO TÁC ĐỘNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN COVID 19

27 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 263,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 Chương 1. Cơ sở lý thuyết 2 1.1. Đầu tư tác động xã hội (Social Impact Investment) 2 1.1.1. Định nghĩa đầu tư tác động xã hội (Social Impact investment – SII) 2 1.1.2. Đặc điểm của Social Impact Investment (SII) 2 1.1.3. Hệ sinh thái đầu tư tạo tác động xã hội 3 1.2. Định nghĩa của một vài thuật ngữ trong bài làm 3 1.2.1. Doanh nghiệp tạo tác động xã hội – SIB 3 1.2.2. Vốn đối ứng 3 Chương 2. Thực trạng về đầu tư tác động xã hội ở Việt Nam giai đoạn Covid-19 4 2.1. Các chính sách, cơ chế khuyến khích các dự án SII 4 2.1.1. Các chính sách hỗ trợ trước giai đoạn Covid – 19 4 2.1.2. Dự án ISEE-COVID - “Hỗ trợ Hệ sinh thái các doanh nghiệp tạo tác động xã hội tại Việt Nam ứng phó với COVID-19” 5 2.2. Những lĩnh vực đầu tư tiềm năng và đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội, môi trường 6 2.2.1. Lĩnh vực năng lượng mặt trời 6 2.2.2. Lĩnh vực năng lượng điện gió 8 2.3. Thực trạng 11 Chương 3. Đánh giá tác động của các dự án SII đến nền kinh tế giai đoạn COVID-19 và các khó khăn mà các dự án SII đang gặp phải 14 3.1. Tác động của các dự án SII đến nền kinh tế giai đoạn COVID-19 14 3.2. Các khó khăn mà các dự án SII đang gặp phải 16 KẾT LUẬN 18 TÀI LIỆU THAM KHẢO 19   DANH MỤC BẢNG Bảng 1:Các dự án đầu tư lĩnh vực Năng lượng mặt trời trên khắp cả nước 7 DANH MỤC HÌNH Hình 1.Biểu đồ thể hiện tổng công suất lắp đặt năng lượng điện gió 8 Hình 2. Xu hướng năng lượn tái tạo ở Châu Á và top 5 quốc gia có tổng công suất lắp đặp điện gió lớn nhất Châu Á năm 2021 9 Hình 3: Thống kê khảo sát lượng doanh nghiệp lãi, lỗ và hòa vốn (%) 12 2. LỜI MỞ ĐẦU Cùng với sự phát triển và chuyển dịch không ngừng của xã hội hiện đại, nền kinh tế không chỉ đơn thuần tạo ra lợi nhuận mà còn mang lợi lợi ích cho tập thể, cho cộng đồng. Vì lý do này mà đầu tư tạo tác động xã hội (Social Impact Investment) đã và đang trở thành xu hướng ngày càng gia tăng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, hướng tới sự phát triển bền vững và nhu cầu của người tiêu dùng hiện đại. Cụ thể hơn, mục tiêu chính của SII là đạt được tác động tích cực đến xã hội hoặc môi trường, đồng thời vẫn thu được lợi tức tài chính. Giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2021, bối cảnh khi đại dịch Covid có những chuyển biến phức tạp chính là dấu hiệu cho thấy các chính phủ, các quốc gia nên có những biện pháp phát triển kinh tế bền vững, tức là tập trung thúc đẩy kinh tế song song với việc giải quyết một vấn đề xã hội cụ thể của cộng đồng. Nhận thức được điều này, ngày càng có nhiều các nhà đầu tư, các doanh nghiệp chuyển hướng tiến hành các dự án đầu tư tạo tác động xã hội, hướng đến chiến lược phát triển dài hạn. Bằng chứng là theo Financial Times, số vốn đầu tư vào tạo tác động xã hội đã tăng gấp đôi trong vòng 5 năm trở lại. Việt Nam cũng không phải ngoại lệ. Rất nhiều mô hình doanh nghiệp xã hội – mô hình “lai” giữa hai loại hình tổ chức phi chính phủ/ phi lợi nhuận và doanh nghiệp ra đời, theo đó là những dự án liên quan tới giải quyết vấn đề xã hội. Số lượng doanh nghiệp xã hội và các doanh nghiệp có liên quan đến yếu tố xã hội ở Việt Nam vào khoảng 50.000 (theo VnEconomy). Trong khoảng thời gian diễn biến của Coronavirus, việc các doanh nghiệp tập trung vào những dự án phát triển kinh tế tạo tác động tích cực đến cộng đồng không chỉ góp phần tăng trưởng GDP cả nước mà còn đem lại nhiều lợi ích về lâu về dài. Vì vậy, qua bài tiểu luận này, chúng em muốn cung cấp cho người đọc những kiến thức cụ thể về thực trạng của đầu tư tạo tác động xã hội (SII) tại Việt Nam trong giai đoạn Covid-19, đồng thời đánh giá những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực mà các dự án đầu tư tác động xã hội (SII) đem lại. Do sự hạn chế về thời gian và kiến thức trong quá trình tìm kiếm câu trả lời cho các câu hỏi, bài tiểu luận chúng em chắc hẳn vẫn gặp nhiều sai sót. Chúng em mong sẽ nhận được các góp ý của cô để bài làm được hoàn thiện hơn. Chúng em xin chân thành cảm ơn!  1Chương 1. Cơ sở lý thuyết 11.1. Đầu tư tác động xã hội (Social Impact Investment) 11.1.1. Định nghĩa đầu tư tác động xã hội (Social Impact investment – SII) Đầu tư tác động xã hội (còn được gọi là “đầu tư xã hội” hoặc “đầu tư tác động”) là việc chuyển tiền có hoàn trả với mục đích tạo ra tác động xã hội tích cực. Thường có một khoản lợi nhuận liên quan đến khoản đầu tư, đó chính là số tiền được hoàn trả và nó có thể khác với số tiền đã đầu tư. Những người tham gia vào đầu tư tác động xã hội được gọi là “nhà đầu tư xã hội”. Tuy nhiên, điều này có thể đề cập đến hai vai trò riêng biệt. Chủ sở hữu tài sản sở hữu một tài sản (tiền) mà họ muốn đầu tư để nó lớn lên theo thời gian. Số tiền đầu tư ban đầu thường được gọi là “vốn” hoặc “tiền gốc”, trong khi sự tăng trưởng trên số tiền đó được gọi là “tiền lãi” hoặc “lợi tức”. Các nhà quản lý quỹ thay mặt chủ sở hữu tài sản quản lý tiền (đổi lại phí) theo cách đáp ứng sở thích của chủ sở hữu, gồm cả tác động xã hội và khẩu vị rủi ro. Một số chủ sở hữu tài sản có thể quản lý tiền của riêng họ. 11.1.2. Đặc điểm của Social Impact Investment (SII) SII không giống như đầu tư có đạo đức hay đầu tư có trách nhiệm. Loại hình đầu tư này nhằm tránh bất kỳ tác động tiêu cực nào (ví dụ như không đầu tư vào các công ty vũ khí hoặc dầu mỏ). Nhưng nó không nhất thiết phải chủ động tìm cách tạo ra tác động tích cực. Đầu tư tác động xã hội có tính “chủ định” tức là các nhà đầu tư chủ động tìm kiếm cơ hội để tạo ra tác động xã hội. SII vẫn là đầu tư. Số tiền được trả có thể hoàn trả (có nghĩa là có kỳ vọng rằng số tiền được đưa ra sẽ quay trở lại), thường là sẽ có lợi nhuận (nghĩa là các nhà đầu tư có thể nhận lại một số tiền lớn hơn so với số tiền họ đã ban đầu). Điều này phân biệt nó với hoạt động từ thiện hoặc trợ cấp, nơi không có kỳ vọng hoàn trả. Đầu tư tác động xã hội cũng được phân biệt bởi những cam kết mà nhà đầu tư thực hiện để báo cáo về tác động xã hội mà đầu tư của họ tạo ra. Thông thường, đầu tư tác động xã hội được sử dụng để giúp một tổ chức đạt được mục đích xã hội của nó. Nó cũng có thể được sử dụng để tài trợ cho việc cung cấp các hợp đồng dựa trên kết quả với các chính phủ hoặc người trả kết quả, như trong trường hợp trái phiếu tác động. 11.1.3. Hệ sinh thái đầu tư tạo tác động xã hội OECD (2019) đã giới thiệu Khung thị trường đầu tư tác động xã hội. Khuôn khổ này đã mô tả hệ sinh thái của đầu tư tác động xã hội bao gồm 3 nhóm chủ thể: (i) Các nhà đầu tư (bên cung); (ii) Bên nhận đầu tư (bên cầu); (iii) Người hỗ trợ/bên trung gian. Đây cũng chính là các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động và sự phát triển của đầu tư tác động xã hội. 11.2. Định nghĩa của một vài thuật ngữ trong bài làm 11.2.1. Doanh nghiệp tạo tác động xã hội – SIB Doanh nghiệp tạo tác động xã hội (Social Impact Business - SIB) là nhóm các tổ chức, doanh nghiệp thông qua hoạt động thương mại, giải pháp kinh doanh để tạo tác động tích cực lên xã hội và môi trường. Các nhà nghiên cứu nhận định loại hình doanh nghiệp này bao gồm cả những đơn vị kinh doanh xã hội, khởi nghiệp tạo tác động xã hội và kinh doanh với người có thu nhập thấp. 11.2.2. Vốn đối ứng Vốn đối ứng là khoản vốn đóng góp của phía Việt Nam (bằng hiện vật hoặc tiền) trong chương trình, dự án sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi nhằm chuẩn bị và thực hiện chương trình, dự án, được bố trí từ nguồn ngân sách trung ương, ngân sách địa phương, chủ dự án tự bố trí, vốn đóng góp của đối tượng thụ hưởng và các nguồn vốn hợp pháp khác theo khoản 20 Điều 3 Nghị định 56/2020/NĐ-CP về quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài. 1Chương 2. Thực trạng về đầu tư tác động xã hội ở Việt Nam giai đoạn Covid-19 12.1. Các chính sách, cơ chế khuyến khích các dự án SII 12.1.1. Các chính sách hỗ trợ trước giai đoạn Covid – 19 Khi các doanh nghiệp đầu tư tạo tác động xã hội vào những lĩnh vực, địa bàn hoặc cho đối tượng được khuyến khích thì được hưởng các chính sách ưu đãi liên quan tùy thuộc vào lĩnh vực, địa bàn hay đối tượng mà doanh nghiệp lựa chọn. Các chính sách ưu đãi đặc thù như đầu tư trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công, bảo vệ môi trường, đầu tư tại địa bàn miền núi, hay cho nhóm đối tượng yếu thế (người nghèo, người khuyết tật, đồng bào vùng sâu vùng xa, …). Đối với mô hình doanh nghiệp xã hội (DNXH) đăng ký theo Luật Doanh nghiệp 2014 được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ theo Nghị định số 96/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp. Cụ thể là: - Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thành lập DNXH có mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng. - DNXH được hưởng các ưu đãi và hỗ trợ đầu tư theo quy định của pháp luật. DNXH được tiếp nhận viện trợ phi chính phủ nước ngoài để thực hiện mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường theo quy định của pháp luật về tiếp nhận viện trợ phi chính phủ nước ngoài. Các DNXH hoạt động trong lĩnh vực xã hội và môi trường, có thể được hưởng các chính sách ưu đãi về xã hội hóa theo Nghị quyết 05 và Nghị định 69 của Chính phủ…. Đó là: Chính sách ưu đãi về cơ sở hạ tầng và đất đai - Cơ sở thực hiện xã hội hóa được thuê dài hạn với giá ưu đãi (không bao gồm tiền thuê đất, tiền đền bù giải phóng mặt bằng và tiền lãi của cơ sở kinh doanh nhà, cơ sở hạ tầng). - Được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất đã hoàn thành giải phóng mặt bằng theo các hình thức: (a) Giao đất không thu tiền sử dụng đất; (b) Cho thuê đất và miễn tiền thuê đất; (c) Giao đất có thu tiền sử dụng đất và được miễn tiền sử dụng đất. - Cơ sở thực hiện xã hội hóa được miễn lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn với đất; được miễn các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến quyền sử dụng đất, tài sản gắn với đất.   Chính sách ưu đãi về thuế: - Áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 10% trong suốt thời gian hoạt động. - Được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm, kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 5 năm tiếp theo. - Các dịch vụ y tế, khám chữa bệnh, dạy học, nhập khẩu máy móc thiết bị cho nghiên cứu khoa học, hàng viện trợ... không phải đối tượng nộp thuế VAT. - Được ưu đãi về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Chính sách ưu đãi về tín dụng: Được vay vốn tín dụng đầu tư hoặc hỗ trợ sau đầu tư theo quy định về tín dụng đầu tư của nhà nước. 12.1.2. Dự án ISEE-COVID - “Hỗ trợ Hệ sinh thái các doanh nghiệp tạo tác động xã hội tại Việt Nam ứng phó với COVID-19” Bên cạnh những chính sách ưu đãi, hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư tạo tác động xã hội thông thường như đã đề cập ở trên, trong giai đoạn Covid 19 vừa rồi, dự án: “Hỗ trợ Hệ sinh thái các doanh nghiệp tạo tác động xã hội tại Việt Nam ứng phó với COVID-19”- dự án ISEE-COVID, sẽ được thực hiện trong ba năm với tổng kinh phí là 3,1 triệu đô la Canada chủ yếu do Bộ Các vấn đề toàn cầu Canada tài trợ, và vốn đối ứng từ UNDP và Chính phủ Việt Nam nhằm khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp tạo tác động xã hội tại Việt Nam tăng cường sức chống chịu và khả năng phục hồi của các doanh nghiệp tạo tác động xã hội và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội và giới của COVID-19 đối với các nhóm dễ bị tổn thương, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em gái vào cuối năm 2021. Dự án sẽ áp dụng cách tiếp cận hệ sinh thái để giải quyết những thách thức mang tính hệ thống và liên kết mà các doanh nghiệp tạo tác động xã hội phải đối mặt. Dự án sẽ giúp tăng cường năng lực của chính các SIB; nâng cao năng lực và sự phối hợp giữa các tổ chức trung gian hỗ trợ SIB; và tăng cường năng lực hoạch định chính sách để tạo điều kiện thuận lợi cho các SIB phát triển. Dự án ưu tiên hỗ trợ các SIB trong bốn ngành bị ảnh hưởng nặng nề bởi COVID-19, đó là nông nghiệp bền vững, du lịch bền vững, giáo dục và y tế. Đây cũng là những lĩnh vực có lực lượng lao động nữ lớn và nhiều SIB cung cấp các giải pháp sáng tạo nhằm giảm tỷ lệ nghèo đói ở phụ nữ và trẻ em gái. Dự án mới dự kiến sẽ hỗ trợ 300 SIB tiếp cận vốn ban đầu và thị trường, từ đó tạo ra 9.000 việc làm tiềm năng cho những người thuộc nhóm dễ bị tổn thương. 90 SIB sẽ được hưởng lợi từ việc tăng doanh thu và phát triển kế hoạch đối phó với đại dịch COVID-19 và các cú sốc trong tương lai. 105 SIB sẽ có kế hoạch kinh doanh lồng ghép giới, môi trường và biến đổi khí hậu. Đồng thời, dự án sẽ hỗ trợ xây dựng hoặc sửa đổi ít nhất bốn chính sách đáp ứng giới, và thiết lập mạng lưới doanh nghiệp tạo tác động xã hội với ít nhất 100 thành viên. Mạng lưới sẽ hỗ trợ thí điểm hệ thống quản lý và đo lường tác động cho 5-10 SIB. 12.2. Những lĩnh vực đầu tư tiềm năng và đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội, môi trường 12.2.1. Lĩnh vực năng lượng mặt trời Bất chấp những gián đoạn do dịch bệnh Covid – 19 gây ra, đầu tư tạo tác động xã hội ở Việt Nam vẫn thu hút sự chú ý đặc biệt đến từ các nhà đầu tư tư nhân và chính phủ bởi những tác động tích cực mà nó đem lại cho nền kinh tế lẫn xã hội. Đặc biệt ở mảng năng lượng tái tạo, theo một báo cáo năm 2019 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, các chỉ số ô nhiễm ở Hà Nội đã đạt mức cao lịch sử trước khi đại dịch xảy ra. Các dự án đầu tư vào năng lượng tái tạo đang có xu hướng đi lên trong giai đoạn Covid – 19 vừa qua do phù hợp với quy hoạch phát triển năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 gắn với phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường. Theo Cơ quan năng lượng Tái tạo Quốc tế (IRENA), trong năm 2021, Việt Nam thuộc top 10 quốc gia có công suất lắp đặt năng lượng mặt trời lớn nhất với tổng công suất lắp đặt đạt 16,660.490 MW. Mặc dù công suất lắp đặt không thay đổi so với năm 2020 nhưng đây có thể coi là một bước khởi đầu thành công trong quá trình chuyển đổi khỏi việc sử dụng năng lượng than đá. Khả năng cao Việt Nam sẽ thu hút một lượng vốn lớn đến từ các nhà đầu tư, kèm theo đó là chính sách ưu đãi của chính phủ góp phần giúp quá trình thẩm định dự án nhanh chóng thông qua. Bên cạnh những quyền lợi đó, Việt Nam còn có lợi thế về địa hình và khí hậu như mức độ toả nhiệt từ năng lượng mặt trời đều đặn qua các mùa; hơn 3.000 km đường bờ biển; tốc độ gió trung bình hằng năm là 6m/s và tổng số giờ chiếu ánh nắng mặt trời mỗi năm là hơn 2.500 giờ. Ngoài những lợi thế và cơ hội trên, các doanh nghiệp địa phương cũng kết nối, hợp tác và nhận được lượng vốn tài trợ lớn đến từ những công ty có kinh nghiệm trong lĩnh vực năng lượng tái tạo như Orsted (Denmark), Hitachi (Japan), and Enterprise Energy (Singapore). Bảng 1: Các dự án đầu tư lĩnh vực Năng lượng mặt trời trên khắp cả nước STT Tên dự án Công suất Vốn đầu tư (tỷ đồng) Vị trí Tình trạng dự án 1 Ea Nam 400 MW 16.500 Ea H”leo, Dak Lak Đang thực thi 2 Tân Thuận (ngoài khơi) 75 MW 2.950 Đầm Dơi, Cà Mau Đang thực thi 3 Trung Nam 151,95 MW 4.000 Thuận Bắc, Ninh Thuận Đang vận hành 4 La Gàn (ngoài khơi) 3500 MW 270.000 Bình Thuận Chưa được thực thi 5 Kê Gà (ngoài khơi) 3400 MW 270.000 Hàm Thuận Nam, Bình Thuận Chưa được thực thi 6 Tân Phú Đông 150 MW 4.500 Gò Công Đông, Tiền Giang Đang thực thi 7 Xuân Thiện - Ea Súp 600 MW 20.000 Ea Súp, Dak Lak Đang vận hành 8 CMX Renewable Energy 168 MWp 3.700 Ninh Sơn, Ninh Thuận Đang thực thi 9 Hoà Hội 257 MWp 5.000 Phú Hoà, Phú Yên Đang vận hành 12.2.2. Lĩnh vực năng lượng điện gió Bên cạnh các dự án lắp đặt Năng lượng mặt trời, điện gió cũng là một trong những lĩnh vực thu hút nguồn vốn đầu tư tư nhân và sự ủng hộ của chính phủ do Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt năng lượng trầm trọng, kể cả những đập thuỷ điện lớn cũng đã được đưa vào khai thác hết trong khi những đập thuỷ điện nhỏ thì không đảm bảo lợi ích mang lại so với thiệt hại môi trường mà nó gây ra. Hơn nữa, Việt Nam chịu tác động từ biến đổi khí hậu nghiêm trọng do tác động của hiệu ứng nhà kính gây ra nên sẽ càng quan tâm đến đầu tư sản xuất điện gió, nhằm đáp ứng được nhu cầu năng lượng trong nước đang tăng vọt. Hình 1.Biểu đồ thể hiện tổng công suất lắp đặt năng lượng điện gió của Việt Nam ở ngoài khơi và trong đất liền từ năm 2011 – năm 2020 Nguồn: IRENA Biểu đồ trên cho thấy sự tăng vọt công suất lắp đặt các dự án điện gió ở Việt Nam vào năm 2021, gấp gần 10 lần so với các năm trước đây, đạt 3.124 MW bao gồm cả các dự án ở đất liền và ngoài khơi. Điều này giúp cho Việt Nam lần đầu tiên vượt qua Thái Lan, trở thành top 5 quốc gia có tổng công suất lắp đặt điện gió lớn nhất châu Á vào năm 2021. Hình 2. Xu hướng năng lượng tái tạo ở Châu Á và top 5 quốc gia có tổng công suất lắp đặt điện gió lớn nhất Châu Á năm 2021 Nguồn: IRENA Sự tăng vọt trên cũng cho thấy một bước ngoặt lớn của Việt Nam, bước ra khỏi cách khai thác năng lượng truyền thống với nhiều rủi ro về vấn đề ô nhiễm môi trường, vấn đề thiếu hụt nguồn tài nguyên là năng lượng than đá. Theo Tạp chí Công thương, với định hướng phát triển nền kinh tế xanh bền vững, phù hợp với những cam kết quốc tế, thời gian qua, Chính phủ cũng đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích phát triển nguồn năng lượng tái tạo, trong đó có năng lượng gió, như: Quyết định số 2068/QĐ - TTg ngày 25/11/2015 phê duyệt Chiến lược Phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quyết định số 39/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 10/9/2018 về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện gió tại Việt Nam; Quy hoạch Phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Quy hoạch điện VIII) đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhiệm vụ tại Quyết định số 1264/QĐ-TTg ngày 01/10/2019; Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhiệm vụ tại Quyết định số 1743/QĐ-TTg ngày 03/12/2019; Nghị quyết số 55 - NQ/TW ngày 11/02/2020 của Bộ Chính trị về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trong giai đoạn hơn 2 thập kỷ vừa qua, một hệ thống các cơ chế, chính sách cho phát triển năng lượng tái tạo, trong đó có năng lượng gió đã được xây dựng và từng bước hoàn thiện với những ưu đãi về giá cho các nhà đầu tư, nhà sản xuất, tạo động lực thúc đẩy cho sự phát triển của thị trường năng lượng tái tạo tại Việt Nam nói chung và điện gió nói riêng. Tiềm năng phát triển điện gió của Việt Nam vẫn còn rất lớn, đa dạng và phong phú, vì vậy cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện những cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển mạnh mẽ điện gió tại Việt Nam để phục vụ đời sống kinh tế - xã hội của đất nước.

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG VIỆN KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

-*** -TIỂU LUẬN KINH TẾ ĐẦU TƯ

THỰC TRẠNG CỦA ĐẦU TƯ TẠO TÁC ĐỘNG XÃ HỘI Ở

VIỆT NAM GIAI ĐOẠN COVID 19

Trang 3

MỤC LỤC

1.1 Đầu tư tác động xã hội (Social Impact Investment) 2

1.1.1 Định nghĩa đầu tư tác động xã hội (Social Impact investment – SII) 2 1.1.2 Đặc điểm của Social Impact Investment (SII) 2

2.2 Những lĩnh vực đầu tư tiềm năng và đóng góp quan trọng trong phát triển

Chương 3 Đánh giá tác động của các dự án SII đến nền kinh tế giai đoạn COVID-19 và các khó khăn mà các dự án SII đang gặp phải 14 3.1 Tác động của các dự án SII đến nền kinh tế giai đoạn COVID-19 14

Trang 5

2 LỜI MỞ ĐẦU

Cùng với sự phát triển và chuyển dịch không ngừng của xã hội hiện đại, nềnkinh tế không chỉ đơn thuần tạo ra lợi nhuận mà còn mang lợi lợi ích cho tập thể, chocộng đồng Vì lý do này mà đầu tư tạo tác động xã hội (Social Impact Investment) đã

và đang trở thành xu hướng ngày càng gia tăng trên thế giới nói chung và Việt Namnói riêng, hướng tới sự phát triển bền vững và nhu cầu của người tiêu dùng hiện đại

Cụ thể hơn, mục tiêu chính của SII là đạt được tác động tích cực đến xã hội hoặc môitrường, đồng thời vẫn thu được lợi tức tài chính

Giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2021, bối cảnh khi đại dịch Covid có nhữngchuyển biến phức tạp chính là dấu hiệu cho thấy các chính phủ, các quốc gia nên cónhững biện pháp phát triển kinh tế bền vững, tức là tập trung thúc đẩy kinh tế songsong với việc giải quyết một vấn đề xã hội cụ thể của cộng đồng Nhận thức được điềunày, ngày càng có nhiều các nhà đầu tư, các doanh nghiệp chuyển hướng tiến hành các

dự án đầu tư tạo tác động xã hội, hướng đến chiến lược phát triển dài hạn Bằng chứng

là theo Financial Times, số vốn đầu tư vào tạo tác động xã hội đã tăng gấp đôi trongvòng 5 năm trở lại

Việt Nam cũng không phải ngoại lệ Rất nhiều mô hình doanh nghiệp xã hội –

mô hình “lai” giữa hai loại hình tổ chức phi chính phủ/ phi lợi nhuận và doanh nghiệp

ra đời, theo đó là những dự án liên quan tới giải quyết vấn đề xã hội Số lượng doanhnghiệp xã hội và các doanh nghiệp có liên quan đến yếu tố xã hội ở Việt Nam vào

khoảng 50.000 (theo VnEconomy) Trong khoảng thời gian diễn biến của Coronavirus,

việc các doanh nghiệp tập trung vào những dự án phát triển kinh tế tạo tác động tíchcực đến cộng đồng không chỉ góp phần tăng trưởng GDP cả nước mà còn đem lạinhiều lợi ích về lâu về dài

Vì vậy, qua bài tiểu luận này, chúng em muốn cung cấp cho người đọc những

Trang 6

1.1 Cơ sở lý thuyết

1.1.1 Đầu tư tác động xã hội (Social Impact Investment)

1.1.1.1 Định nghĩa đầu tư tác động xã hội (Social Impact investment – SII)

Đầu tư tác động xã hội (còn được gọi là “đầu tư xã hội” hoặc “đầu tư tác động”)

là việc chuyển tiền có hoàn trả với mục đích tạo ra tác động xã hội tích cực Thường

có một khoản lợi nhuận liên quan đến khoản đầu tư, đó chính là số tiền được hoàn trả

và nó có thể khác với số tiền đã đầu tư

Những người tham gia vào đầu tư tác động xã hội được gọi là “nhà đầu tư xãhội” Tuy nhiên, điều này có thể đề cập đến hai vai trò riêng biệt Chủ sở hữu tài sản

sở hữu một tài sản (tiền) mà họ muốn đầu tư để nó lớn lên theo thời gian Số tiền đầu

tư ban đầu thường được gọi là “vốn” hoặc “tiền gốc”, trong khi sự tăng trưởng trên sốtiền đó được gọi là “tiền lãi” hoặc “lợi tức” Các nhà quản lý quỹ thay mặt chủ sở hữutài sản quản lý tiền (đổi lại phí) theo cách đáp ứng sở thích của chủ sở hữu, gồm cả tácđộng xã hội và khẩu vị rủi ro Một số chủ sở hữu tài sản có thể quản lý tiền của riêng

họ

1.1.1.2 Đặc điểm của Social Impact Investment (SII)

SII không giống như đầu tư có đạo đức hay đầu tư có trách nhiệm Loại hình đầu

tư này nhằm tránh bất kỳ tác động tiêu cực nào (ví dụ như không đầu tư vào các công

ty vũ khí hoặc dầu mỏ) Nhưng nó không nhất thiết phải chủ động tìm cách tạo ra tácđộng tích cực

Đầu tư tác động xã hội có tính “chủ định” tức là các nhà đầu tư chủ động tìm kiếm cơ hội để tạo ra tác động xã hội.

SII vẫn là đầu tư Số tiền được trả có thể hoàn trả (có nghĩa là có kỳ vọng rằng số

tiền được đưa ra sẽ quay trở lại), thường là sẽ có lợi nhuận (nghĩa là các nhà đầu tư cóthể nhận lại một số tiền lớn hơn so với số tiền họ đã ban đầu) Điều này phân biệt nóvới hoạt động từ thiện hoặc trợ cấp, nơi không có kỳ vọng hoàn trả

Đầu tư tác động xã hội cũng được phân biệt bởi những cam kết mà nhà đầu tư thực hiện để báo cáo về tác động xã hội mà đầu tư của họ tạo ra

Thông thường, đầu tư tác động xã hội được sử dụng để giúp một tổ chức đạt được mục đích xã hội của nó Nó cũng có thể được sử dụng để tài trợ cho việc cung

Trang 7

cấp các hợp đồng dựa trên kết quả với các chính phủ hoặc người trả kết quả, như trongtrường hợp trái phiếu tác động.

1.1.1.3 Hệ sinh thái đầu tư tạo tác động xã hội

OECD (2019) đã giới thiệu Khung thị trường đầu tư tác động xã hội Khuôn khổnày đã mô tả hệ sinh thái của đầu tư tác động xã hội bao gồm 3 nhóm chủ thể: (i) Cácnhà đầu tư (bên cung); (ii) Bên nhận đầu tư (bên cầu); (iii) Người hỗ trợ/bên trunggian Đây cũng chính là các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động và sự phát triển của đầu

tư tác động xã hội

1.1.2 Định nghĩa của một vài thuật ngữ trong bài làm

1.1.2.1 Doanh nghiệp tạo tác động xã hội – SIB

Doanh nghiệp tạo tác động xã hội (Social Impact Business - SIB) là nhóm các tổchức, doanh nghiệp thông qua hoạt động thương mại, giải pháp kinh doanh để tạo tácđộng tích cực lên xã hội và môi trường Các nhà nghiên cứu nhận định loại hình doanhnghiệp này bao gồm cả những đơn vị kinh doanh xã hội, khởi nghiệp tạo tác động xãhội và kinh doanh với người có thu nhập thấp

1.1.2.2 Vốn đối ứng

Vốn đối ứng là khoản vốn đóng góp của phía Việt Nam (bằng hiện vật hoặc tiền)trong chương trình, dự án sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi nhằm chuẩn bị và thựchiện chương trình, dự án, được bố trí từ nguồn ngân sách trung ương, ngân sách địaphương, chủ dự án tự bố trí, vốn đóng góp của đối tượng thụ hưởng và các nguồn vốnhợp pháp khác theo khoản 20 Điều 3 Nghị định 56/2020/NĐ-CP về quản lý và sử dụngvốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài

Trang 8

1.2 Thực trạng về đầu tư tác động xã hội ở Việt Nam giai đoạn Covid-19

1.2.1 Các chính sách, cơ chế khuyến khích các dự án SII

1.2.1.1 Các chính sách hỗ trợ trước giai đoạn Covid – 19

Khi các doanh nghiệp đầu tư tạo tác động xã hội vào những lĩnh vực, địa bànhoặc cho đối tượng được khuyến khích thì được hưởng các chính sách ưu đãi liên quantùy thuộc vào lĩnh vực, địa bàn hay đối tượng mà doanh nghiệp lựa chọn Các chínhsách ưu đãi đặc thù như đầu tư trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công, bảo vệ môitrường, đầu tư tại địa bàn miền núi, hay cho nhóm đối tượng yếu thế (người nghèo,người khuyết tật, đồng bào vùng sâu vùng xa, …)

Đối với mô hình doanh nghiệp xã hội (DNXH) đăng ký theo Luật Doanh nghiệp

2014 được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ theo Nghị định số 96/2015/NĐ-CP quyđịnh chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp Cụ thể là:

- Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thành lập DNXH

có mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộngđồng

- DNXH được hưởng các ưu đãi và hỗ trợ đầu tư theo quy định của pháp luật DNXHđược tiếp nhận viện trợ phi chính phủ nước ngoài để thực hiện mục tiêu giải quyết cácvấn đề xã hội, môi trường theo quy định của pháp luật về tiếp nhận viện trợ phi chínhphủ nước ngoài

Các DNXH hoạt động trong lĩnh vực xã hội và môi trường, có thể được hưởng cácchính sách ưu đãi về xã hội hóa theo Nghị quyết 05 và Nghị định 69 của Chính phủ…

Đó là:

Chính sách ưu đãi về cơ sở hạ tầng và đất đai

- Cơ sở thực hiện xã hội hóa được thuê dài hạn với giá ưu đãi (không bao gồm tiềnthuê đất, tiền đền bù giải phóng mặt bằng và tiền lãi của cơ sở kinh doanh nhà, cơ sở

hạ tầng)

- Được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất đã hoàn thành giải phóng mặt bằng theocác hình thức: (a) Giao đất không thu tiền sử dụng đất; (b) Cho thuê đất và miễn tiềnthuê đất; (c) Giao đất có thu tiền sử dụng đất và được miễn tiền sử dụng đất

Trang 9

- Cơ sở thực hiện xã hội hóa được miễn lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sử dụng đất,quyền sở hữu tài sản gắn với đất; được miễn các khoản phí, lệ phí khác liên quan đếnquyền sử dụng đất, tài sản gắn với đất

Trang 10

Chính sách ưu đãi về thuế:

- Áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 10% trong suốt thời gian hoạt động

- Được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm, kể từ khi có thu nhập chịu thuế

và giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 5 năm tiếp theo

- Các dịch vụ y tế, khám chữa bệnh, dạy học, nhập khẩu máy móc thiết bị cho nghiêncứu khoa học, hàng viện trợ không phải đối tượng nộp thuế VAT

- Được ưu đãi về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Chính sách ưu đãi về tín dụng: Được vay vốn tín dụng đầu tư hoặc hỗ trợ sau

đầu tư theo quy định về tín dụng đầu tư của nhà nước

1.2.1.2 Dự án ISEE-COVID - “Hỗ trợ Hệ sinh thái các doanh nghiệp tạo tác động

xã hội tại Việt Nam ứng phó với COVID-19”

Bên cạnh những chính sách ưu đãi, hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư tạo tác động

xã hội thông thường như đã đề cập ở trên, trong giai đoạn Covid 19 vừa rồi, dự án:

“Hỗ trợ Hệ sinh thái các doanh nghiệp tạo tác động xã hội tại Việt Nam ứng phó vớiCOVID-19”- dự án ISEE-COVID, sẽ được thực hiện trong ba năm với tổng kinh phí là3,1 triệu đô la Canada chủ yếu do Bộ Các vấn đề toàn cầu Canada tài trợ, và vốn đốiứng từ UNDP và Chính phủ Việt Nam nhằm khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệptạo tác động xã hội tại Việt Nam tăng cường sức chống chịu và khả năng phục hồi củacác doanh nghiệp tạo tác động xã hội và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội và giớicủa COVID-19 đối với các nhóm dễ bị tổn thương, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em gáivào cuối năm 2021

Dự án sẽ áp dụng cách tiếp cận hệ sinh thái để giải quyết những thách thức mangtính hệ thống và liên kết mà các doanh nghiệp tạo tác động xã hội phải đối mặt Dự án

sẽ giúp tăng cường năng lực của chính các SIB; nâng cao năng lực và sự phối hợp giữacác tổ chức trung gian hỗ trợ SIB; và tăng cường năng lực hoạch định chính sách đểtạo điều kiện thuận lợi cho các SIB phát triển

Dự án ưu tiên hỗ trợ các SIB trong bốn ngành bị ảnh hưởng nặng nề bởi

COVID-19, đó là nông nghiệp bền vững, du lịch bền vững, giáo dục và y tế Đây cũng là những

Trang 11

lĩnh vực có lực lượng lao động nữ lớn và nhiều SIB cung cấp các giải pháp sáng tạonhằm giảm tỷ lệ nghèo đói ở phụ nữ và trẻ em gái.

Dự án mới dự kiến sẽ hỗ trợ 300 SIB tiếp cận vốn ban đầu và thị trường, từ đótạo ra 9.000 việc làm tiềm năng cho những người thuộc nhóm dễ bị tổn thương 90 SIB

sẽ được hưởng lợi từ việc tăng doanh thu và phát triển kế hoạch đối phó với đại dịchCOVID-19 và các cú sốc trong tương lai 105 SIB sẽ có kế hoạch kinh doanh lồngghép giới, môi trường và biến đổi khí hậu Đồng thời, dự án sẽ hỗ trợ xây dựng hoặcsửa đổi ít nhất bốn chính sách đáp ứng giới, và thiết lập mạng lưới doanh nghiệp tạotác động xã hội với ít nhất 100 thành viên Mạng lưới sẽ hỗ trợ thí điểm hệ thống quản

lý và đo lường tác động cho 5-10 SIB

1.2.2 Những lĩnh vực đầu tư tiềm năng và đóng góp quan trọng trong phát triển

kinh tế, xã hội, môi trường

1.2.2.1 Lĩnh vực năng lượng mặt trời

Bất chấp những gián đoạn do dịch bệnh Covid – 19 gây ra, đầu tư tạo tác động

xã hội ở Việt Nam vẫn thu hút sự chú ý đặc biệt đến từ các nhà đầu tư tư nhân vàchính phủ bởi những tác động tích cực mà nó đem lại cho nền kinh tế lẫn xã hội Đặcbiệt ở mảng năng lượng tái tạo, theo một báo cáo năm 2019 của Bộ Tài nguyên và Môitrường, các chỉ số ô nhiễm ở Hà Nội đã đạt mức cao lịch sử trước khi đại dịch xảy ra.Các dự án đầu tư vào năng lượng tái tạo đang có xu hướng đi lên trong giai đoạnCovid – 19 vừa qua do phù hợp với quy hoạch phát triển năng lượng quốc gia đến năm

2030, tầm nhìn đến năm 2045 gắn với phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường

Theo Cơ quan năng lượng Tái tạo Quốc tế (IRENA), trong năm 2021, ViệtNam thuộc top 10 quốc gia có công suất lắp đặt năng lượng mặt trời lớn nhất với tổngcông suất lắp đặt đạt 16,660.490 MW

Trang 12

Mặc dù công suất lắp đặt không thay đổi so với năm 2020 nhưng đây có thể coi

là một bước khởi đầu thành công trong quá trình chuyển đổi khỏi việc sử dụng nănglượng than đá Khả năng cao Việt Nam sẽ thu hút một lượng vốn lớn đến từ các nhàđầu tư, kèm theo đó là chính sách ưu đãi của chính phủ góp phần giúp quá trình thẩmđịnh dự án nhanh chóng thông qua Bên cạnh những quyền lợi đó, Việt Nam còn có lợithế về địa hình và khí hậu như mức độ toả nhiệt từ năng lượng mặt trời đều đặn quacác mùa; hơn 3.000 km đường bờ biển; tốc độ gió trung bình hằng năm là 6m/s vàtổng số giờ chiếu ánh nắng mặt trời mỗi năm là hơn 2.500 giờ Ngoài những lợi thế và

cơ hội trên, các doanh nghiệp địa phương cũng kết nối, hợp tác và nhận được lượngvốn tài trợ lớn đến từ những công ty có kinh nghiệm trong lĩnh vực năng lượng tái tạonhư Orsted (Denmark), Hitachi (Japan), and Enterprise Energy (Singapore)

Bảng 1: Các dự án đầu tư lĩnh vực Năng lượng mặt trời trên khắp cả nước STT Tên dự án Công suất Vốn đầu tư

Trang 13

Chưa được thực thi

6 Tân Phú Đông 150 MW 4.500 Gò Công Đông, Tiền

168 MWp 3.700 Ninh Sơn, Ninh Thuận Đang thực thi

9 Hoà Hội 257 MWp 5.000 Phú Hoà, Phú Yên Đang vận hành

1.2.2.2 Lĩnh vực năng lượng điện gió

Bên cạnh các dự án lắp đặt Năng lượng mặt trời, điện gió cũng là một trongnhững lĩnh vực thu hút nguồn vốn đầu tư tư nhân và sự ủng hộ của chính phủ do ViệtNam đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt năng lượng trầm trọng, kể cả nhữngđập thuỷ điện lớn cũng đã được đưa vào khai thác hết trong khi những đập thuỷ điệnnhỏ thì không đảm bảo lợi ích mang lại so với thiệt hại môi trường mà nó gây ra Hơnnữa, Việt Nam chịu tác động từ biến đổi khí hậu nghiêm trọng do tác động của hiệuứng nhà kính gây ra nên sẽ càng quan tâm đến đầu tư sản xuất điện gió, nhằm đáp ứngđược nhu cầu năng lượng trong nước đang tăng vọt

Trang 14

Hình 1.Biểu đồ thể hiện tổng công suất lắp đặt năng lượng điện gió của Việt Nam ở ngoài khơi và trong đất liền từ năm 2011 – năm 2020

Trang 15

Hình 2 Xu hướng năng lượng tái tạo ở Châu Á và top 5 quốc gia có tổng công

suất lắp đặt điện gió lớn nhất Châu Á năm 2021

Nguồn: IRENA

Sự tăng vọt trên cũng cho thấy một bước ngoặt lớn của Việt Nam, bước ra khỏicách khai thác năng lượng truyền thống với nhiều rủi ro về vấn đề ô nhiễm môi trường,vấn đề thiếu hụt nguồn tài nguyên là năng lượng than đá

Theo Tạp chí Công thương, với định hướng phát triển nền kinh tế xanh bền vững,phù hợp với những cam kết quốc tế, thời gian qua, Chính phủ cũng đã ban hành nhiều

cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích phát triển nguồn năng lượng tái tạo, trong đó cónăng lượng gió, như: Quyết định số 2068/QĐ - TTg ngày 25/11/2015 phê duyệt Chiếnlược Phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm2050; Quyết định số 39/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 10/9/2018 về

cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện gió tại Việt Nam; Quy hoạch Phát triển điện lựcquốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Quy hoạch điện VIII) đã đượcThủ tướng Chính phủ phê duyệt nhiệm vụ tại Quyết định số 1264/QĐ-TTg ngày01/10/2019; Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìnđến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhiệm vụ tại Quyết định số1743/QĐ-TTg ngày 03/12/2019; Nghị quyết số 55 - NQ/TW ngày 11/02/2020 của BộChính trị về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đếnnăm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Trong giai đoạn hơn 2 thập kỷ vừa qua, một hệ thống các cơ chế, chính sáchcho phát triển năng lượng tái tạo, trong đó có năng lượng gió đã được xây dựng vàtừng bước hoàn thiện với những ưu đãi về giá cho các nhà đầu tư, nhà sản xuất, tạođộng lực thúc đẩy cho sự phát triển của thị trường năng lượng tái tạo tại Việt Nam nóichung và điện gió nói riêng Tiềm năng phát triển điện gió của Việt Nam vẫn còn rấtlớn, đa dạng và phong phú, vì vậy cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung và hoàn

Ngày đăng: 23/10/2022, 17:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w