1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận tương tác xã hội (xã hội học)

15 60 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 123,4 KB
File đính kèm Tuong tac xa hoi.rar (4 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT MÔN XÃ HỘI HỌC ĐẠI CƯƠNG ĐỀ TÀI TƯƠNG TÁC XÃ HỘI Nhóm thực hiện Giảng viên TS Mai Linh Hà Nội, 2022 MỤC LỤC DANH SÁCH THÀNH VIÊN 1 MỤC LỤC 2 NỘI DUNG 3 I Lờ.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT

ĐỀ TÀI: TƯƠNG TÁC XÃ HỘI

Nhóm thực hiện :

Giảng viên : TS Mai Linh

Hà Nội, 2022

Trang 2

MỤC LỤC

DANH SÁCH THÀNH VIÊN 1

MỤC LỤC 2

NỘI DUNG 3

I Lời mở đầu: 3

II Nội dung chính: 3

1 Khái niệm tương tác xã hội 3

2 Đặc điểm của tương tác xã hội 4

3 Các lý thuyết về tương tác xã hội 4

3.1 Lý thuyết tương tác biểu trưng 4

3.1.1 Khái niệm tương tác biểu trưng 4

3.1.2 Các lý thuyết tương tác biểu trưng 5

3.2 Lý thuyết trao đổi xã hội 6

3.3 Lý thuyết kịch 9

3.4 Phương pháp dân tộc học về tương tác xã hội 10

4 Các loại hình tương tác xã hội 11

4.1 Phân loại dựa vào mối liên hệ xã hội giữa các chủ thể hành động 10

4.2 Phân loại theo dạng hoạt động chung 11

4.3 Phân loại theo chủ thể hành động trong tương tác 11

4.4 Phân loại theo mục tiêu, ý nghĩa các tương tác 13

III Kết luận: 14

TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 3

NỘI DUNG

I Lời mở đầu:

Xã hội học có nguồn gốc từ lâu đời nhưng nó chỉ mới thực sự trở thành môn khoa học độc lập vào khoảng những năm 30 của thế kỉ XIX Vào thời điểm đó cùng với

sự phát triển nhanh chóng của khoa học tự nhiên, sự vươn lên mạnh mẽ của kỹ thuật công nghiệp và sự biến đổi về mọi mặt đời sống xã hội do chủ nghĩa tư bản tạo ra, các tri tức của khoa học xã hội cũng bắt đầu phát triển, đặc biệt là xã hội học Xã hội học tách khỏi triết học trở thành một môn khoa học độc lập, khắc phục được tính trừu tượng

xa rời thực tế đáp ứng được nhu cầu của xã hội Xã hội học có nhiều cấp độ khác nhau tuỳ vào phạm vi xem xét

Có thể định nghĩa xã hội học như một cộng đồng người có mối quan hệ mật thiết với nhau trong đời sống, sản xuất và trong điều kiện phạm vi nhất định

Albert Camus từng cho rằng: “ Tất cả những điều có giá trị trong xã hội đó là các mối quan hệ giữa con người với con người” Đúng như vậy, trong điều kiện phát triển nhanh chóng của xã hội ngày nay, các mối quan hệ, sự tác động, tương tác, ảnh hưởng lẫn nhau giữa người với người là yếu tố không thể không nhắc đến Là ngành khoa học nghiên cứu những tri thức về xã hội của loài người, xã hội học đã và đang đi sâu vào các mối quan hệ đó Điều đó được biểu hiện rõ nhất ở sự tương tác xã hội

II Nội dung chính:

1 Khái niệm tương tác xã hội

Tương tác xã hội là tác động qua lại giữa cá nhân, nhóm xã hội với tư cách là chủ thể xã hội

Xã hội theo góc nhìn của xã hội học đó là một tập hợp người, một tập thể người

có mối quan hệ gắn bó với nhau trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nó là sự biểu hiện tổng hoà các mối quan hệ xã hội

Một xã hội là một tập hợp người có sự phân công lao động, tồn tại qua thời gian sống trên một địa bàn lãnh thổ cùng chia sẻ những mục đích chung, cùng thực hiện những nhu cầu sản xuất, của tái sản xuất ra của cải vật chất, nhu cầu an ninh và nhu cầu tinh thần Do vậy, con người muốn tồn tại trong một xã hội thì phải biết xã hội vận hành như thế nào trong hoạt động và mối quan hệ xã hội của mình

Tương tác xã hội là một khái niệm được quy từ hai khái niệm quan hệ xã hội và hoạt động xã hội, nó nói lên rằng mỗi hoạt động có mục đích của con người chỉ trở thành hoạt động xã hội khi nó nằm trong và thông qua một số mối quan hệ giữa các chủ thể hoạt động, mặt khác khái niệm tương tác xã hội nói lên rằng mỗi quan hệ xã hội đều gắn với một hoạt động xã hội nhất định

Trang 4

Khi nói tới hệ thống tương tác xã hội thì không thể không nói tới con người của quan hệ xã hội và con người của hoạt động xã hội hay đó là chủ thể xã hội Cả chủ thể, quan hệ xã hội và hoạt động xã hội có mối quan hệ với nhau nhưng mỗi yếu tố lại có tính chất đặc thù riêng Đó là một tập hợp tối thiểu để xem xét hiện tượng và quá trình

xã hội

Tương tác xã hội là một quá trình trong đó chúng ta tác động và chịu sự tác động của những người xung quanh chúng ta Việc nghiên cứu tương tác xã hội trong đời sống hàng ngày là một lĩnh vực cơ bản của xã hội học, làm sáng tỏ các thể chế và

hệ thống xã hội lớn hơn, cũng như các khía cạnh khác của đời sống xã hội.1

2 Đặc điểm của tương tác xã hội

- Là hành động xã hội liên tục Ở đây là hành động xã hội cơ sở, tiền đề của tương tác xã hội, là sự đáp lại của một chủ thể này với một chủ thể khác trên hai cấp độ: vi mô và vĩ mô

- Vừa là chủ thể, vừa là khách thể trong quá trình tương tác và đều chịu ảnh hưởng của các giá trị, chuẩn mực xã hội, của những tiểu văn hóa, thậm chí là các phần văn hóa khác nhau

- Trong tương tác, mỗi người đều chịu những lực tương tác khác nhau, có ý nghĩa khác nhau và đều có sự tác động khác nhau Như vậy, tương tác vừa tạo nên những khuôn dáng mỗi người, vừa tạo nên sự hợp tác và bất hợp tác mỗi người.2

3 Các lý thuyết về tương tác xã hội

3.1 Lý thuyết tương tác biểu trưng

3.1.1 Khái niệm tương tác biểu trưng

Tương tác biểu trưng là một phần của tương tác xã hội cho rằng các cá nhân trong quá trình tương tác qua lại với nhau không phản ứng đối với các hành động trực tiếp của người khác mà đọc và lý giải chúng

Theo khái niệm thì chúng ta luôn tìm được những ý nghĩa gán cho mỗi hành động cử chỉ đó tức là các biểu tượng Chỉ khi chúng ta đặt mình vào vị trí của đối tượng tương tác, ta mới có thể hiểu hết ý nghĩa của những phát ngôn, những cử chỉ, hành động của họ Tất cả những vật thể, hình ảnh, hành động, cử chỉ xung quanh chúng ta có thể được con người gán cho những ý nghĩa và trở thành biểu tượng trong giao tiếp Ví dụ khi cha mẹ không đồng ý với hành động của trẻ thì cha mẹ sẽ lắc đầu hoặc đồng ý thì sẽ gật đầu…

1 TS Võ Văn Kiệt (2015), Giáo trình xã hội học đại cương, tài liệu lưu hành nội bộ, tr.127

2Th.S Kiều Văn Đạt (2013), Tài liệu giảng dạy Môn Xã hội học đại cương, tài liệu lưu hành nội bộ, tr.31.

Trang 5

Lý thuyết tương tác biểu trưng cũng không bỏ qua hệ thống biểu tượng quan trọng bậc nhất trong quá trình tương tác giữa các cá nhân đó là ngôn ngữ nói và viết Bởi quá trình tương tác rất phong phú và đa dạng các biểu tượng bằng gán cho không thể diễn đạt được hết những suy nghĩ, hành động của các đối tượng trong quá trình giao tiếp nên rất các biểu tượng quy ước như ngôn ngữ nói và viết ví dụ như là nếu không có biểu tượng thì chúng ta sẽ không có khái niệm về người tuyển dụng, giáo viên, cô chú.3

3.1.2 Các lý thuyết về tương tác biểu trưng

Lý thuyết tương tác biểu trưng có nhiều quan điểm khác nhau nhưng nổi bật nhất là 2 quan điểm của Herbert Blumer và Mead

Quan điểm 1, theo Mead thì trẻ học cách tương tác với những người khác thông qua sự bắt chước và thấm nhuần một hệ thống chung các biểu tượng và cho phép có được sự thoả ước xã hội về ý nghĩa cho đến khi nào trẻ có thể hành động tương tác theo các vai trò khác nhau.4

Quan điểm 2, theo Herbert Blumer, thì tương tác luận biểu trưng dựa trên ba luận đề sau:

Thứ nhất, Con người hành động dựa trên cơ sở các ý nghĩa mà họ gán cho các đối

tượng và sự kiện hơn là hành động nhằm phản ứng lại với những kích thích bên ngoài như các động lực xã hội hay với những kích thích bên trong như các bản năng

Thứ hai, các ý nghĩa nảy sinh từ quá trình tương tác hơn là có ngay từ khi bắt đầu

và định hình hành động tương lai Các ý nghĩa được sáng tạo, cải biến, phát triển

và thay đổi trong các tình huống tương tác hơn là được cố định và xác định trước

Thứ ba, các ý nghĩa là kết quả của những thủ tục lý giải mà các chủ thể thực hiện

trong bối cảnh tương tác Bằng việc đóng vai trò của người khác, chủ thể lý giải các ý nghĩa và ý định của người khác Bằng cơ chế "tự tương tác", các cá nhân biến cải hoặc thay đổi các xác định của họ về tình huống xảy ra Như vậy, các ý nghĩa chỉ đạo hành động nảy sinh trong quá trình tương tác thông qua một chuỗi những thủ tục lý giải 5

3 PGS.TS.Nguyễn Thị Thu Hà, PGS.TS.Hoàng Thu Hương, Đào Thúy Hằng (2016), Giáo trình Xã hội học đại cương - Chương 4: Hàng động xã hội, tương tác xã hội, quan hệ xã hội, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, tr.150.

4 Henslin, J M (2006), Essentials of sociology: A down-to-earrth approach: Allyn and Bacons, a Person

Company.

5 Cultural Diversity of India (2011), Một số nội dung của lý thuyết tương tác tượng trưng,

http://culturaldiversity-india.blogspot.com/2011/02/mot-so-noi-dung-cua-ly-thuyet-tuong-tac.html

Trang 6

Ví dụ: Minh thực hiện hành động cầm tay Phương thì để có thể phản ứng lại thì

Phương phải hiểu ý nghĩa hành động của Minh Khi đã giải mã hoạt động cầm tay của Minh thì Phương mới có những phản ứng lại với hoạt động của Minh

 Tóm lại, Blumer nhấn mạnh rằng con người là những chủ thể tích cực, hành động trên cơ sở những ý nghĩa mà họ gán cho vào tương tác xã hội của họ Đây

là quá trình xã hội trong đó đời sống nhóm, nó tạo ra và xác nhận các quy tắc, chứ không phải các quy tắc tạo ra và xác nhận đời sống nhóm

 Tương tác biểu trưng phân tích cách chúng ta ứng xử dựa vào cách chúng ta định nghĩa vào bản thân mình vào người khác Tương tác biểu trưng không chỉ là một luận điểm cho rằng bản thân chúng ta là một biểu tượng – nó được hiểu là chúng

ta biết được những gì về bản thân Bản thân chúng ta là một biểu tượng thay đổi : khi chúng ta tương tác với người khác chúng ta điều chỉnh quan điểm về việc chúng ta là ai dựa trên việc chúng ta giải mã phản ứng người khác

3.2 Lý thuyết trao đổi xã hội

Nhìn tương tác xã hội như là một sự trao đổi xã hội là quan điểm của lý thuyết trao đổi xã hội với hai đại diện tiêu biểu là George C Homans (1910 – 1989) và Peter Blau (1918 – 2002). 

Theo Homans, các cá nhân hành động tuân theo nguyên tắc trao đổi các giá trị vật chất và tinh thần Như vậy sẽ xuất hiện hai trạng thái hành động trong tương tác, hành động cho và hành động nhận Cá nhân thực hiện hành động cho nhiều lần với người khác, thì sẽ có xu hướng tâm lý muốn được nhận lại nhiều lần Ngược lại, cá nhân được nhận nhiều từ người khác sẽ cảm thấy bị tác động bởi một áp lực

vô hình của sự nhận và cho Từ đó xuất hiện xu hướng cân bằng giữa trao và nhận của các cá nhân trong quá trình tương tác Homans gọi đó là sự cân bằng chi phí, tâm lý chung của các cá nhân là mong muốn nhận được những phần thưởng lớn nhất so với những chi phí đã bỏ ra Trong thực tế cuộc sống xã hội, quá trình tương tác theo hình trao đổi xã hội rất phổ biến, bởi toàn bộ các tương tác xã hội là một tập hợp phức tạp của các trao đổi.6

Các mệnh đề trao đổi của Homans:

 Mệnh đề thành công: với mọi hành động của con người, hành động cụ

thể nào càng thường xuyên được thưởng thì nhiều khả năng con người

sẽ lặp lại hành động đó

6 Hoàng Quốc Tuấn, Đặng Thị Minh Lý (2011), Xã hội học đại cương (Giáo trình dùng cho đào tạo đại học từ

xa), tr.40.

Trang 7

Ví dụ: một người sẽ thường đưa ra lời khuyên hơn nếu người đó nhận

được sự khen thưởng, hưởng ứng, hài lòng của mọi người trong quá khứ

 Mệnh đề tác nhân: nếu trong quá khứ một tác nhân cụ thể hay một tập

hợp các tác nhân diễn ra trong một dịp nào đó là cơ hội mà hành động con người được thưởng thì sau đó, tác nhân hiện tại càng tương đồng với tác nhân quá khứ, nhiều khả năng con người sẽ thực hiện lại hành động

đó hoặc thực hiện một hành động tương tự

Ví dụ: một người đi làm gặp đường tắc, người đó tìm được con đường

mới thông thoáng hơn thì lần sau họ sẽ có xu hướng đi con đường mới tìm được đó

 Mệnh đề giá trị: kết quả của hành động càng có giá trị đối với con người

thì nhiều khả năng con người sẽ thực hiện hành động đó

Ví dụ: thành quả của việc giảm cân là có một thân hình đẹp cân đối vì vậy

con người sẽ có khả năng thực hiện chế độ ăn uống hợp lý kết hợp với tập thể dục để đạt được mục tiêu của mình

 Mệnh đề sự tước đoạt/sự thỏa mãn: một phần thưởng cụ thể trong quá

khứ càng thường xuyên lặp lại ở hiện tại thì phần thưởng đó càng trở nên ít có giá trị hơn đối với con người 

Ví dụ: Một học sinh được thưởng 5 quyển vở vì đạt kết quả cao trong học

tập nhưng lần nào đạt kết quả cao cũng được thưởng 5 quyển vở lâu dần học sinh đó sẽ chán và không còn hứng thú nữa

 Mệnh đề về sự công kích/tán thành: Khi hành động của một con người

không nhận được phần thưởng mà người đó mong đợi hoặc nhận được

sự trừng phạt mà người đó không mong đợi, người đó sẽ giận dữ và nhiều khả năng sẽ thực hiện hành động công kích và kết quả của hành vi như vậy trở nên có giá trị với người đó hơn

Khi hành động của một người nhận được phần thưởng mong đợi, đặc biệt phần thưởng lớn hơn so với mong đợi hoặc không nhận được sự trừng phạt mà anh ta trông chờ, anh ta sẽ hài lòng và nhiều khả năng sẽ thực hiện hành vi được tán thành và kết quả hành vi như vậy sẽ trở nên

có giá trị với anh ta hơn

 Mệnh đề duy lý: khi lựa chọn hành động, con người sẽ chọn một hành

động mà theo nhận thức của họ vào thời điểm ấy, giá trị của kết quả, xác suất nhận được kết quả của hành động đó lớn hơn. 

Trang 8

Ví dụ: giữa việc đi làm và việc đi học, nhiều sinh viên sẽ chọn đi học vì

theo họ nếu cố gắng học tập, họ sẽ có được kết quả cao từ đó ra trường sẽ

có cơ hội việc làm tốt hơn, làm đúng chuyên ngành của mình hơn thay vì

đi làm công việc không liên quan đến ngành mình học. 

 Từ các mệnh đề trên, Homans chỉ ra rằng hành vi lựa chọn nghề nghiệp của con người đều có tính quy luật, tức là chịu sự chi phối có tính tất yếu bên trong của mỗi thành phần và mỗi kiểu loại nghề nghiệp khác nhau Vì các hoạt động nghề nghiệp của con người được thúc đẩy bởi khát vọng để đạt được những phần thưởng và tránh các chi phí vô ích, đồng thời kích thích nghề nghiệp phát triển theo hướng vi mô và nâng cao giá trị nghề nghiệp trong xã hội Nếu trong quá trình hoạt động nghề nghiệp, con người thực hiện một cách có khoa học, mang tính chuyên môn hóa cao và nhiệt tình với nghề nghiệp thì kết quả hoạt động nghề nghiệp của con người sẽ được nâng cao hơn, từ đó giúp con người hòa nhập vào các quan hệ xã hội thuận lợi hơn, đây là sự mong đợi của con người trong thực hiện nghề nghiệp mà họ

đã chọn và không muốn phải biến đổi Tuy nhiên, với sự tương tác của con người trong các quan hệ xã hội, nếu hoạt động nghề nghiệp bị suy giảm giá trị, gây thiệt thòi cho người lao động và không đem lại lợi ích tối ưu cho họ thì chủ thể có xu hướng thay đổi nghề nghiệp Đây là một hành vi lựa chọn hiện thực trên thực tế chứ không phải trên ý niệm, vì bản chất của con người luôn có xu hướng nhân bội giá trị kết quả hành động của mình thông qua hoạt động nghề nghiệp.7

Nguyên lý trao đổi ngầm của Blau:

 Nguyên lý duy lý: lợi ích con người mong chờ từ người khác trong việc

tạo ra một hoạt động cụ thể càng nhiều, càng có nhiều khả năng họ tạo

ra hoạt động đó

 Nguyên lý trao đổi qua lại: Con người trao đổi càng nhiều phần thưởng

với người khác, nghĩa vụ đối xứng xuất hiện và chỉ dẫn trao đổi tiếp theo của họ Nghĩa vụ đối ứng của mối quan hệ trao đổi càng bị vi phạm, càng có khuynh hướng một bên bị tước đoạt thừa nhận những vi phạm chuẩn mực của sự trao đổi qua lại

 Nguyên lý công bằng: Những mối quan hệ trao đổi được thiết lập càng

nhiều, càng có nhiều khả năng chúng bị chi phối bởi chuẩn mực trao đổi

7TS Phạm Minh Anh (2016), Một số lý thuyết Xã hội học trong nghiên cứu biến đổi cơ cấu xã hội – nghề nghiệp,

Viện Xã hội học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/quoc-te/item/1640-mot-so-ly-thuyet-xa-hoi-hoc-trong-nghien-cuu-bien-doi-co-cau-xa-hoi-nghe-nghiep.html

Trang 9

công bằng Các chuẩn mưucj cân bằng càng ít được nhận ra trong một cuộc troa đổi, có khuynh hướng một bên bị tước đoạt thừa nhận những

vi phạm tiêu cực các chuẩn mực

 Nguyên lý vị lợi ích cận biên: các phần thưởng càng được mong đợi

nhiều sắp xuất hiện trong một hoạt động cụ thể, hoạt động đó càng có ít giá trị và ít khả năng nó xuất hiện

 Nguyên lý mất cân bằng: một số quan hệ trao đổi càng ổn định và cân

bằng giữa các đơn vị xã hội, các mối quan hệ trao đổi khác có nhiều khả năng trở nên mất cân bằng và không ổn định

3.3 Lý thuyết kịch

Lý thuyết kịch hay còn gọi là lý thuyết kiềm chế biểu cảm (đại diện tiêu

biểu của lý thuyết này là Ervings Goffman), quan niệm rằng: toàn bộ đời sống xã

hội là một tấn kịch khổng lồ với những diễn viên vừa đóng vai khán giả, vừa đóng vai nhân vật

Quan điểm kịch hóa là một trong những mô hình xã hội học tách ra từ các

lý thuyết xã hội học khác vì nó không xem xét nguyên nhân của hành vi con người nhưng nó phân tích bối cảnh Trong một mô hình kịch hóa, tương tác xã hội được phân tích về cách mọi người sống cuộc sống của họ như những diễn viên biểu diễn trên một sân khấu.8 Luận điểm then chốt của lý thuyết kịch là kiềm chế biểu cảm, nghĩa là trong những tình huống cụ thể, cá nhân cố gắng tạo

ra và duy trì một trạng thái biểu cảm phù hợp nhất (đóng kịch) Nói cách khác, con người ta thường xuyên dùng mặt nạ – trừ khi người đó ở một mình, khi mang mặt nạ, cá nhân phải chú ý hành động sao cho phù hợp với mặt nạ đó Vì vậy, Goffman cho rằng, quá trình tương tác xã hội là một chuỗi vô tận gồm các bước (hay chu kỳ): Mang mặt nạ – Tháo bỏ mặt nạ – Sự chân thành giả tạo – Tháo bỏ mặt nạ. Và tất nhiên quá trình tương tác xã hội chỉ diễn ra theo chu kỳ này khi có sự giám sát của những người xung quanh Lý thuyết kịch là một quan điểm tiêu cực về tương tác giữa con người với con người

Các cá nhân khi xuất hiện trước mặt nhau luôn không thành thật với nhau, họ có thể vui cười, có thể khóc với nhau, nhưng tất cả những biểu cảm đó đều được tạo ra có chủ ý làm hài lòng người khác Nhưng cũng có những khi họ hành động trái ngược với sự mong đợi của người khác.9

8 Xã hội học Việt Nam, Lý thuyết Kịch hóa https://sites.google.com/site/xahoihocsociology/cac-khai-niem-ly-thuyet-xa-hoi-hoc/lt/ly-thuyet-tuong-tac-bieu-trung/ly-thuyet-kich-hoa

9 Hoàng Quốc Tuấn, Đặng Thị Minh Lý (2011), Xã hội học đại cương (Giáo trình dùng cho đào tạo đại học từ

xa), tr.40.

Trang 10

3.4 Phương pháp dân tộc học về tương tác xã hội

Phương pháp luận dân tộc học là quan điểm do Harold Garfinkel đề xuất vào những năm 1960 Phương pháp luận dân tộc học được xây dựng để tìm hiểu làm thế nào mà mọi người (thành viên) xây dựng thế giới của họ Phương pháp luận dân tộc học nghiên cứu những cách thức mà con người sử dụng trong quá trình tương tác hàng ngày, đặc biệt là những điều mà con người nói ra Do đó, phương pháp này nghiên cứu những quy tắc hiển nhiên điều khiển sự tương tác giữa con người với con người trong cuộc sống hàng ngày Thực chất, những quy tắc hiển nhiên trong giao tiếp là những quy ước ngầm về việc nhận thức tình huống tương tác Những quy ước ngầm này chứa đựng rất nhiều thông tin, nhưng trong quá trình tương tác, các cá nhân vẫn hiểu mà không cần giải thích dài dòng Điều này lý giải hiện tượng vì sao những người quen biết nhau lâu ngày, khi giao tiếp thường nói rất ngắn hoặc nói tắt vẫn hiểu nhau Như vậy những quy tắc ngầm, hiển nhiên có ý nghĩa giúp chúng ta tiết kiệm được thời gian, sức lực trong cuộc sống Mỗi một cộng đồng có một hệ thống các quy ước riêng mà những cá nhân ở các cộng đồng khác không thể hiểu được Do đó để thực hiện tương tác xã hội thuận lợi ở cộng đồng mới, cá nhân phải thâm nhập và học hỏi

4 Các loại hình tương tác xã hội

4.1 Phân loại dựa vào mối liên hệ xã hội giữa các chủ thể hành động

 Sự tiếp xúc không gian: các cá nhân chỉ có vị trí không gian quan sát gần nhau,

mối liên hệ xã hội hầu như chưa có

Ví dụ: sinh viên khóa 66 tham gia câu lạc bộ trường Đại học Luật -  ĐHQG Hà

Nội, họ đi sinh hoạt câu lạc bộ và cùng nhau có mặt tại câu lạc bộ

 Sự tiếp xúc tâm lý: đã xuất hiện sự quan tâm, để ý lẫn nhau giữa các cá nhân

trong tương tác

Ví dụ: trong câu lạc bộ kể trên, một số thành viên câu lạc bộ thông qua tìm hiểu

và biết được thông tin về nhau như quê quán, sở thích, ước mơ,… thấy đồng cảm nên có cảm tình và muốn thân thiết với nhau

 Sự tiếp xúc xã hội: đã hình thành sự hoạt động chung.

Ví dụ: các thành viên trong câu lạc bộ đã có sự liên hệ trao đổi công việc hay cùng

tham gia làm việc nhóm của câu lạc bộ

 Sự tương tác: đó là việc thực hiện hành động và hành động đáp trả của các chủ thể.

Các hành động này có mục đích tạo ra những phản ứng tương tác từ phía đối tác

Ngày đăng: 23/10/2022, 16:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w