1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tiểu luận MÔN HÀNH CHÍNH CÔNG ĐỀ TÀI THỂ CHẾ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

25 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 281,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thể chế hành chính Nhà nước: là toàn bộ các quy định, quy tắc do nhà nước banhành để tạo khuôn khổ pháp lý cho tổ chức và hoạt động của các chủ thể quản lý hànhchính nhà nước, và tạo khu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng

TPHCM, ngày 20 tháng 6 năm 2021

Trang 3

Nhận xét của giảng viên

….

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 4

MỤC LỤC

A LỜI MỞ ĐẦU

B NỘI DUNG

I Khái niệm thể chế hành chính Nhà nước

1 Khái niệm………

2 Các yếu tố cấu thành thể chế hành chính Nhà nước………

II Các vai trò của thể chế hành chính Nhà nước………

1 Cơ sở pháp lý của quản lý hành chính Nhà nước………

2 Cơ sở để xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước và thực hiện chức năng quản lý nhà nước đã được phân công (Hành pháp hành động)………

3 Cơ sở xác lập nhân sự trong các cơ quan hành chính Nhà nước………

4 Thể chế hành chính Nhà nước là cơ sở xây dựng quan hệ cụ thể giữa Nhà nước và công dân, giữa Nhà nước và các tổ chức xã hội……….

III Các yếu tố quyết định thể chế hành chính Nhà nước 1 Chế độ chính trị……….

2 Nền kinh tế và vai trò của hành chính nhà nước trong quản lý kinh tế………

3 Yếu tố truyền thống, lịch sử, văn hóa………

4 Ảnh hưởng của văn hoá bên ngoài………

C KẾT LUẬN

D TÀI LIỆU THAM KHẢO

II

Trang 5

I Khái niệm thể chế hành chính Nhà nước.

1 Khái niệm.

Thể chế: Là tổng hợp các quy định, nguyên tắc, các điều luật được sử dụng để chiphối, định hướng sự phát triển của một tổ chức hay một nhà nước trong những lĩnh vựcnhất định

Thể chế hành chính Nhà nước: là toàn bộ các quy định, quy tắc do nhà nước banhành để tạo khuôn khổ pháp lý cho tổ chức và hoạt động của các chủ thể quản lý hànhchính nhà nước, và tạo khuôn khổ pháp lý cho các chủ thể hành chính nhà nước ( ở đây

là các cơ quan, các cán bộ, công chức có thẩm quyền) thực hiện chức năng quản lý nhànước đối với xã hội

2 Các yếu tố cấu thành thể chế hành chính Nhà nước.

Với quan niệm về thể chế hành chính Nhà nước như trên, thể chế hành chình Nhànước được cấu thành từ các yếu tố:

Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý hành chính nhà nước trên tất cảcác lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao

Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

và cơ cấu tổ chức của bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở;

Ví dụ:

Thông tư số 04/2008/TT-BNV của Bộ Nội vụ ngày 04/06/2008 về việc Hướng dẫnchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của sở Nội vụ, phòng Nội vụ thuộcUBND cấp tỉnh, cấp huyện

Nghị định Số 61/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10 tháng 8 năm 2012 Quy địnhchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ

Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định chế độ công vụ và công chứcnhà nước

Ví dụ:

Quyết định số 73/2011/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ : Về việc quy định một

số chế độ phụ cấp đặc thù đối với công chức, viên chức, người lao động trong các cơ

sở y tế công lập và chế độ phụ cấp chống dịch

Trang 6

Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và

cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức

Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định mối quan hệ giữa các cơ quanhành chính nhà nước với cá nhân, tổ chức trong việc phục vụ nhân dân như: Hệ thốngcác quy định nhằm giải quyết những tranh chấp hành chính giữa công dân với nền hànhchính thông qua khiếu nại, khiếu kiện hành chính và hệ thống các thủ tục hành chínhnhằm giải quyết các quan hệ giữa nhà nước với công dân và với các tổ chức xã hội

II Các vai trò của thể chế hành chính Nhà nước

1 Cơ sở pháp lý của quản lý hành chính Nhà nước

Hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính Nhà nước là sự tác động của quyền lực Nhà nước đến các chủ thể trong xã hội: công dân và tổ chức, thể nhân hay pháp nhân, công pháp hay tư pháp (công quyền), mang đắc trưng cưỡng bức kết hợp với thuyết phục, giáo dục Hành chính nhà nước phải hợp pháp và đòi đỏi công dân, tổ chức xã hội phải thực hiện pháp luật

Hệ thống hành chính của Nhà nước ta quản lý theo pháp luật, phân biệt lợi ích công, lợi ích tập thể và lợi ích của cá nhân được tổ chức trong một hệ thống quyền lực nhà nước thống nhất Sự phân chia khu vực công, khu vực tư, quản lý khu vực công và khu vực tư trong xã hội hiện đại, phát triển với nền hành chính phục vụ xã hội, phục vụ công dân cần theo nguyên tắc công và tư đan xen Nhà nước và nhân dân cùng làm, theo quan điểm “xã hội hóa” các hoạt động các hoạt động dịch vụ lợi ích công công cộng: có thể hiểu là cái gì Nhà nước làm tốt hơn thì Nhà nước đảm nhận, cái gì các thành phần kinh tế - xã hội khác và tư nhân làm tốt hơn, hiệu quả hơn thì Nhà nước giao cho các thành phần kinh tế đó làm, không phân biệt thuộc Nhà nước hay tư nhân Nhà nước, hệ thống hành chính nhà nước đóng vai trò là người cầm lái, giám sát, kiểm tra, kiểm soát việc tuân thủ pháp luật của mọi hoạt động được tiền hành bởi các thần phần, các chủ thể khác nhau trong xã hội

Trang 7

Thể chế hành chính nhà nước với một hệ thông pháp luật (gồm luật, các văn bản pháp quy dưới luật) do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, là cơ sở pháp lýcho các cơ quan hành chính nhà nước các cấp thực hiện quản lý, bảo đảm thống nhất quản lý nhà nước trên phạm vi quốc gia.

Hệ thống văn bản pháp luật ngày càng được bổ sung, hoàn chỉnh, hoàn thiện Nhà nước ngày càng hướng đến một Nhà nước dân chủ, hiện đại, pháp quyền với ý nghĩa đầy đủ của nó thì tính hiệu lực của các thể chế Nhà nước và thể chế hành chính Nhà nước ngày càng được nâng cao

Hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu lực của pháp luật là yếu tố đảm bảo cho hệ thống hành chính Nhà nước quản lý tốt đất nước theo hướng: Nhà nước quản lý Nhà nước bằng pháp luật và mọi công dân, mọi thành phần kinh tế và mọi tổ chức xã hội bình đẳng trước pháp luật

Ví dụ:

Từ năm 1946 đến nay, nước ta đã có 5 lần sửa đối hiến pháp để hệ thống pháp quyền

Xã hội Chủ nghĩa của nước ta ngày càng hoàn thiện và quyền lợi của nhân dân ngày càng được đảm bảo Như GS Hoàng Thế Liên nhấn mạnh: 5 bản Hiến pháp của nước

ta (Hiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980, năm 1992 có sửa đổi bổ sung vào năm

2001 và Hiến pháp năm 2013) là 5 nấc thang lớn vươn tới dân chủ và Nhà nước pháp quyền, đồng thời thể hiện sự nhận thức, tiếp cận ngày càng đầy đủ hơn học thuyết về nhà nước pháp quyền hiện đại

2 Cơ sở để xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước và thực hiện chức năng quản

lý nhà nước đã được phân công (Hành pháp hành động).

Một trong những vấn để trong việc quản lý hành chính của mọi quốc gia chính là vấn

đề quyền lực, phân chia quyền lực, thực thi quyền lựcgiữa các cơ quan Nhà nước cũngnhư các cơ quan chính quyền

Trong nhà nước hiện đại, hiến pháp chính là đạo luật cơ bản xác định những thể thứcgiành và thực thi quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước nó quy định về thể chế chínhtrị, tức là tổng thể các vấn đề nguồn gốc, chủ thể và cơ chế phân bố quyền lực giữa các

cơ quan, quyết định các thể thức liên hệ với nhau trong các mối quan hệ ngang-dọc, trên-dưới

Trang 8

Hiến pháp nước ta (1992) quy định cụ thể Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân, vì dân Tất cả quyên lực nhà nước đều thuộc về nhân dân

mà nên tảng chính là sự liên minh của các giai cấp công nhân, nônng dân, tri thức xác lập mọi hoạt động của của các cơ quan Nhà nước, xã hội đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản việt Nam Quyền lực nhà nước từ nhân dân và được nhân dân trao cho Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu và chịu trách nhiệm trước nhân dân Thể chế lập hiến gắn liền với Quốc hội trong việc lập hiến, lập pháp Hiếp pháp quy định cụ thể các tổ chức, cơ quan thực hiện các quyên lập pháp, hành pháp tư pháp Quy định tổ chức bộ máy Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở đó là nền tảng của sự ra đời của các thể chế chi tiết hơn (Chính phủ, bộ, chính quyền địa phương)

Thể chế tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước là một vấn dề được nhiều quốc gia quan tâm dựa trên quan điểm quy tắc nhất định Các thức tổ chức phải được thể chế hóa trong văn bản pháp luật của Nhà nước thể chế hành chính nhà nước về tổ chức xácđịnh cụ thể các chực năng, nhiệm vụ, quyền hạn, thẩm quyền, trách nhiệm cũng như các phương tiện vật chất, nhân sự cho các cấp hoạt động

Thể chế hành chính nhà nước quy định sự phân chia quyền hạn giữa các cơ quan hành chính của Chính phủ Trung ương và giữa các cấp một cách cụ thể: chính phủ Trung ương các bộ có quyền trên những vấn đề gì; hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân ở địa phương có quyền gì mối quan hệ giữa các cơ quan hành chính Trung ương

và giữa Trung ương với các cấp chính quyền địa phương Thẩm quyền về việc ban hành các văn bản pháp luật như thế nào,…

Thể chế hành chính nhà nước càng rõ ràng thì cơ cấu tổ chức các cơ quan hành chính

bộ máy Nhà nước càng rõ ràng gọn lẹ việc thiếu các quy định cụ thể khoa học trong việc phân chia quyền hàn trách nhiệm, nghĩa vụ trong hoạt động quản lý Nhà nước của các cơ quan hành chính Nhà nước sẽ làm cho bộ máy hành chính Nhà nước cồng kềnh , chức năng nhiệm vụ, chồng chéo và sẽ dẫn đến hoạt động kém hiệu quả không năng suất vấn đề phân chia quyền hạn trong việc trong tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước là cơ sở cho việc xác định:

Cơ quan hành chính Nhà Trung ương nước cần bao nhiêu Bộ, bao nhiêu đàu mối thực hiện chức năng quản lý nhà Nước thống nhất trên tất cả lĩnh vực

Trang 9

Có bao nhiên đơn vị chính quyền câp tỉnh- thành phố trực thược Trung ương; huyện,quận, thị xã, xã, thị trấn; những căn cứ chính trị, kinh tế, xã hội và những tiêu chí để xác định số lượng và quy mô của đơn vị hành chinh – lãnh thổ.

Nghiên cứu chia một cách khoa học chức năng, quyền hạn của bộ máy hành chính Nhà nước để huy động cao nhất mọi khả năng của các chủ thể trong hoạt động quản lý

là một trong những vấn đề và là một trong những nội dung quan trọng của thể chế hànhchính Nhà nước

3 Cơ sở xác lập nhân sự trong các cơ quan hành chính Nhà nước

Thể chế hành chính nhà nước chính là một yếu tố để xác định nhân sự trong các cơquan hành chính nhà nước ta hiện nay Yếu tố con người trong các tổ chức nói chung

và trong các cơ quan hành chính nhà nước nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng Nếu như chức năng, nhiệm vụ không được xác định một cách rõ ràng, khoa học thìkhó có thể bố trí hợp lý được từng người vào các chức vụ cụ thể Thể chế hành chínhkhông cụ thể, khoa học sẽ không thể bố trí được cán bộ, công chức hành chính vàođúng vị trí, những người có năng lực, có trình độ sẽ không được bố trí đúng vị trí;trong khi đó có thể bày ra quá nhiều đơn vị với chức năng, nhiệm vụ chồng chéo hoặcquá vụn vặt, gây ra sự lãng phí…

Thể chế hành chính nhà nước khi được hiểu rõ có thể xác định hệ thống các hoạtđộng cụ thể: ai phải làm cái gì, được trao quyền gì và phải làm như thế nào, do đó cóthể bố trí được đội ngũ nhân sự hợp lý

Ví dụ:

Theo điều 8 Luật số 22/2008/QH12 của Quốc hội: LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

có nêu rõ nghĩa vụ của CBCC đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân: trùng thành với Đảng, Nhà nước; bảo vệ danh dự Tổ quốc; tôn trọng, tận tụy phục vụ nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, … hay là điều 11 của luật trên có nêu rõ quyền của CBCC như: được đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ, được pháp luật bảo vệ, được Nhà nướcbảo đảm tiền lương, …

Trang 10

Ngoài ra thông qua thể chế hành chính có thể quy định về số lượng nhân sự cần có

để đảm bảo không có quá nhiều nhân sự cho một cơ quan hoặc một tổ chức không cần thiết

Ví dụ: Chính phủ đưa ra nghị định quy định về chính sách tinh giản (cắt giảm) biên chế vừa để giảm về số lượng CBCC, giảm chi phí hành chính, giảm ngân sách nhà nước, vừa làm cho cơ cấu, số lượng, chất lượng của đội ngũ CBCC, nhất là chất lượng chuyên môn, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp ngày một nâng cao

4 Thể chế hành chính Nhà nước là cơ sở xây dựng quan hệ cụ thể giữa Nhà nước và công dân, giữa Nhà nước và các tổ chức xã hội

Công chức trong bộ máy hành chính Nhà nước không chỉ là người có quyền mệnh lệnh mà còn là “công bộc” của dân, người đầy tớ của dân Các tổ chức và công dân đòi hỏi là Nhà nước ban hành các quyết định, tổ chức thực hiện các quyết định để đáp ứng các loại yêu cầu của dân

Nếu quan hệ giữa Nhà nước với công dân và các tổ chức xã hội không được xác lập

cụ thể, đầy đủ bằng một hệ thống thể chế đúng đắn thì Nhà nước và hành chính Nhà nước sẽ tổ chức xã hội theo sở thích tùy tiện của người được Nhà nước trao quyền quản lý

Muốn tạo ra một Nhà nước mạnh thì cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa 2 mặt đối lập của thể chế của nền hành chính

Xét trên phương diện Nhà nước có chức năng tạo ra luật với các văn bản lập quy để quản lý Nhà nước, quản lý xã hội thì đây là mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân

và các tổ chức xã hội mang ý nghĩa không bình đẳng và có tính bắt buộc, cưỡng bức

Nhà nước có trách nhiệm đáp ứng đầy đủ mọi yêu cầu chính đáng của công dân và các tổ chức xã hội được pháp luật ghi nhận Đây là mối quan hệ công dân, tổ chức xã hội là khách hàng và khách hàng là thượng đế nên Nhà nước phải đáp ứng các yêu cầu đòi hỏi của công dân trong khuôn khổ pháp luật

Thể chế hành chính xác định mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân cũng phản ánhtính chất tập trung dân chủ trong hoạt động quản lý Nhà nước Xét về bản chất, Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Người dân có quyền và

Trang 11

nghĩa vụ tham gia vào hoạt động quản lý Nhà nước trong khuôn khổ pháp luật Mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân được thấm nhuần trong phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” Sức mạnh và hiệu lực của thể chế hành chính phụ thuộc vào giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân và các tổ chức xã hội.

Ví dụ:

Từ nhiều năm qua, Ðảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách xã hội, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển bền vững, ổn định chính trị - xã hội, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta Hệ thống pháp luật và chính sách phát triển các lĩnh vực xã hội ngày càng được bổ sung và hoàn thiện.Nguồn lực đầu tư phát triển các lĩnh vực xã hội ngày càng lớn, được tăng cường đầu tư

từ ngân sách nhà nước và các nguồn lực xã hội khác Các lĩnh vực xã hội đạt được nhiều thành tựu quan trọng Ðời sống vật chất và tinh thần của người có công, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số được cải thiện, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân và sự ổn định chính trị - xã hội

III Các yếu tố quyết định thể chế hành chính Nhà nước

1 Chế độ chính trị

Nhà nước trước hết là công cụ trong tay giai cấp thống trị để giúp giai cấp đó thựchiện các mục tiêu chính trị của mình Do đó, mọi hoạt động của nhà nước đều khôngthể đi ngược lại các mục tiêu chính trị Các quy định về sự điều tiết của nhà nước đốivới xã hội cũng phải phù hợp với những định hướng chính trị trong xã hội Chính vìvậy, những định hướng chính trị có ảnh hưởng to lớn tới toàn bộ hệ thống thể chế nhànước nói chung và thể chế nhà nước hành chính nói riêng

Chế độ chính trị của quốc gia (tổ chức quyền lực Nhà nước và quan hệ giữa quyềnlực Nhà nước với xã hội dân sự) có ý nghĩa quyết định trong việc tổ chức chính quyềnNhà nước và thể chế hành chính Nhà nước Các phương thức tổ chức Nhà nước: tậpquyển, phân quyền, tản quyền, tập trung, mang tính chính trị cũng ảnh hưởng lớn đếnthể chế hành chính Nhà nước Chế độ chính trị của Nhà nước do bản chất của hệ thốngchính trị quốc gia đó quyết định

Do đó bản chất chính trị, cơ cấu tổ chức hệ thống Nhà nước, vấn đề phân bố quyềnlực Nhà nước ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung của thể chế hành chính Nhà nước

Trang 12

Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam có vai trò trung tâm của quyền lực chính trịthể hiện ý chí nhân dân Nhà nước là bộ máy trực tiếp thực thi quyền lực của nhân dân

và là thiết chế biểu hiện và tập trung quyền lực của Đảng cầm quyền

Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là tổ chức duy nhất trong hệ thống chính trị cóquyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật từ Hiến pháp đến các quy chế cụ thể

để thể hiện ý chí và thực hiện quyền lực của nhân dân Dân chủ XHCN ở nước ta cũngđược thể hiện qua việc đảm bảo thực thi quyền lực Nhà nước dân chủ, công khai theopháp luật và bằng pháp luật Thể chế hành chính Nhà nước của nước ta mang tính chất

và nội dung chính trị của nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền con người và quyềncông dân được luật pháp quy định và cũng vì vậy, cơ quan Nhà nước, trực tiếp là cơquan hành chính Nhà nước phải tuân thủ thể chế hành chính do mình đề ra và trong quátrình đề ra các thể chế hành chính phải tôn trọng pháp luật Mặt khác, các cơ quan hànhchính Nhà nước phải tạo điều kiện để công dân thực hiện và chấp hành nghiêm chỉnhquy định hợp pháp của các cơ quan hành chính Nhà nước (thể chế hành chính Nhànước)

Ví dụ:

Tại Điều 2 Hiến pháp 2013 khẳng định:

“Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng

là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Quyềnlực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhànước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”

Ngày đăng: 23/10/2022, 14:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w