Ở hệ thống này, khi công tắc điều khiển đèn ở vị trí “AUTO”, thì cảm biến điều khiển đèn tự động sẽ xác định mức độ ánh sáng và hệ thống sẽ tự động bật đèn đầu khi trời tối.. Một số xe c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP QUẢNG NINH
Nguyễn Bá Thiện
GIÁO TRÌNH THỰC TẬP ĐIỆN Ô TÔ F2
(LƯU HÀNH NỘI BỘ)
Quảng Ninh- 2017
Trang 2Để đáp ứng kịp thời yêu cầu của nhiệm vụ đào tạo, Trường ĐHCN Quảng Ninh tổ chức biên soạn cuốn giáo trình Thực tập Điện ô tô F2 Sách được dùng làm tài liệu giảng dạy và học tập cho sinh viên chuyên ngành Công nghệ Kỹ thuật Ô tô trong nhà trường và làm tài li ệu tham khảo cho những người làm công tác kĩ thuật trong ngành ô tô, kỹ thuật viên thiết kế
Trong qúa trình biên soạn chúng tôi đã rất cố gắng để cuốn sách đảm bảo được tính khoa học, hiện đại và gắn liền với thực tế về sự phát triển của ngành công nghiệp sản xuất ô tô Nhưng do khả năng có hạn và những hạn chế về thời gian và những điều kiện khách quan khác, cuốn giáo trình chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khiếm khuy ết
Chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp của các bạn đọc và đồng nghiệp để lần tái bản sau được hoàn chỉnh hơn
Nhóm tác gi ả
Trang 3Đèn sương mù phía trước (Fog lamps):
Trong điều kiện sương mù, nếu sử dụng đèn đầu chính có thể tạo ra vùng ánh sáng chói phía trước gây
trở ngại cho các xe đối diện và người đi đường Nếu sử dụng đèn sương mù sẽ giảm được tình trạng
này Dòng cung cấp cho đèn sương mù thường được lấy sau relay đèn kích thước
Đèn sương mù phía sau (Rear fog guard):
Đèn này dùng để báo hiệu cho các xe phía sau nhận biết trong điều kiện tầm nhìn hạn chế Dòng cung cấp cho đèn này được lấy sau đèn cốt (Dipped beam) Một đèn báo được gắn vào tableau để báo hiệu cho tài xế khi đèn sương mù phía sau hoạt động
Giúp cho người lái xe ra tín hiệu báo rẽ và báo tình trạng hư hỏng của xe cho các xe khác tránh, như khi động cơ chết máy giữa đường
Người lái không thể nhận ra được các đèn hậu, đèn phanh bị cháy Hệ thống cảnh báo đèn phía sau thông báo cho người lái biết các bóng đèn hậu hoặc đèn phanh bị cháy nhờ một đèn cảnh báo trên bảng đồng hồ táp lô Hệ thống này được điều khiển bởi cảm biến báo hư hỏng đèn và thường được lắp trong khoang hành lý Relay báo hư hỏng đèn xác định tình trạng đèn bị cháy bằng cách so sánh các điện áp khi đèn hoạt động bình thường hoặc khi bị hở mạch
Trang 4Ở hệ thống này, chỉ có đèn đầu hoặc cả các đèn đầu và đèn hậu tự động bật sáng khi động cơ nổ máy ở ban ngày, do đó các xe khác có thể nhìn thấy
Ở một số nước vì lý do an toàn luật qui định bắt buộc phải có hệ thống này trên xe Tuổi thọ của bóng đèn sẽ bị rút ngắn nếu đèn bật liên tục với cường độ sáng như ban đêm Để nâng cao tuổi thọ của đèn, mạch điện được thiết kế sao cho cường độ sáng của đèn giảm đi khi hệ thống DRL hoạt động
“ACC” hay không có chìa trong ổ khoá điện, thì hệ thống này sẽ thông báo cho người lái biết rằng đèn vẫn đang ở trạng thái bật bằng chuông báo hoặc sẽ tự động tắt các đèn
Khi trời tối cần phải bật đèn pha, thường người lái chỉ phải bật công tắc điều khiển đèn Ở hệ thống này, khi công tắc điều khiển đèn ở vị trí “AUTO”, thì cảm biến điều khiển đèn tự động sẽ xác định mức độ ánh sáng và hệ thống sẽ tự động bật đèn đầu khi trời tối Cảm biến điều khiển đèn tự động được đặt ở đầu trên của bảng táp lô Một số xe không có vị trí AUTO ở công tắc điều khiển đèn Trong trường hợp này, hệ thống điều khiển đèn tự động hoạt động khi ở vị trí OFF
Xe bị nghiêng đi tuỳ theo điều kiện chất tải (số lượng hành khách hoặc lượng hành lý) Đó là lý do tại sao đèn đầu làm loá mắt tài xế của các xe đối diện ở hệ thống này, việc vặn công tắc điều khiển góc chiếu sáng đèn đầu sẽ điều chỉnh được góc đèn đầu theo phương thẳng đứng Một số xe có hệ thống điều khiển góc độ chiếu sáng đèn đầu tự động sẽ tự động điều chỉnh các đèn đầu để đạt được góc chiếu sáng theo phương thẳng đứng tối ưu
Các bóng đèn đầu cao áp, phóng điện qua khí Xenon cho ánh sáng trắng và vùng chiếu sáng rộng hơn
so với khí halogen Tuổi thọ của bóng đèn cũng dài hơn là một trong những đặc điểm của đèn đầu phóng điện
Trang 5
Vào ban đêm rất khó nhìn ổ khoá điện hoặc khu vực sàn xe trong bóng tối của cabin Hệ thống này sẽ
bật đèn chiếu sáng khu vực ổ khoá điện hoặc các đèn trong xe với một thời gian nhất định sau khi đã
đóng các cửa xe, làm cho việc tra chìa khoá vào ổ khoá điện hoặc thực hiện các thao tác bằng chân
được dễ dàng hơn (chỉ khi công tắc đèn trần ở vị trí DOOR) Thời gian chiếu sáng thay đổi tuỳ thuộc
vào kiểu xe
1.2 Vị trí
Hình 9 Vị trí của các bộ phận trong hệ thống chiếu sáng và tín hiệu
Hệ thống chiếu sáng và tín hiệu có các bộ phận sau đây:
1 Đèn đầu, đèn sương mù phía trước
2 Cụm đèn phía sau, đèn sương mù phía sau
3 Công tắc điều khiển đèn và độ sáng: công tắc đèn xinhan, công tắc đèn sương mù phía trước
và phía sau
4 Đèn xi nhan và đèn báo nguy
5 Công tắc đèn báo nguy hiểm
6 Bộ nhấp nháy đèn xinhan
Trang 67 Cảm biến báo hư hỏng đèn
8 Relay tổ hợp
9 Cảm biến điều khiển đèn tự động
10 Công tắc điều khiển góc chiếu sáng đèn đầu
11 Bộ chấp hành điều khiển góc chiếu sáng đèn đầu
và làm bốc hơi dây tóc (oxy trong không khí tác dụng với volfram ở nhiệt độ cao gây ra hiện tượng đen bóng đèn và sau một thời gian rất ngắn, dây tóc sẽ bị đứt)
Hình 10 Bóng đèn loại dây tóc
Khi hoạt động ở một điện áp định mức, nhiệt độ dây tóc lên đến 2.300o
C và tạo ra ánh sáng trắng Nếu cung cấp cho đèn một điện áp thấp hơn định mức, nhiệt độ dây tóc và ánh sáng phát ra sẽ giảm xuống Ngược lại, nếu cung cấp cho đèn một điện thế cao hơn, chẳng bao lâu sẽ làm bốc hơi dây volfram, gây
ra hiện tượng đen bóng đèn và đốt cháy cả dây tóc
Dây tóc của bóng đèn công suất lớn (như đèn đầu) được chế tạo để hoạt động ở nhiệt độ cao hơn Cường độ ánh sáng tăng thêm khoảng 40% so với đèn dây tóc thường bằng cách điền đầy vào bóng đèn một lượng khí trơ (argon) với áp suất tương đối nhỏ
2.1 1.2 Bóng đèn halogen:
Suốt quá trình hoạt động của bóng đèn thường, sự bay hơi của dây tóc tungsten là nguyên nhân làm vỏ thủy tinh bị đen làm giảm cường độ chiếu sáng Mặc dù có thể giảm được quá trình này bằng cách đặt dây tóc trong một bóng thủy tinh có thể tích lớn hơn Tuy nhiên, cường độ ánh sáng của bóng đèn loại này bị giảm nhiều sau một thời gian sử dụng
Vấn đề nêu trên đã được khắc phục với sự ra đời của bóng đèn halogen, có công suất và tuổi thọ cao hơn bóng đèn thường Đây là loại đèn thế hệ mới có nhiều ưu điểm so với đèn thế hệ cũ như: Đèn halogen chứa khí halogen như iode hoặc brôm Các chất khí này tạo ra một quá trình hoá học khép kín: Iode kết hợp với vonfram (hay Tungsten) bay hơi ở dạng khí thành iodur vonfram, hỗn hợp khí này không bám vào vỏ thủy tinh như bóng đèn thường mà thay vào đó sự chuyển động thăng hoa sẽ mang hỗn hợp này trở về vùng khí nhiệt độ cao xung quanh tim đèn (ở nhiệt độ cao trên 14500
C) thì nó sẽ tách thành 2 chất: vonfram bám trở lại tim đèn và các phần tử khí halogen được giải phóng trở về dạng khí Quá trình tái tạo này không chỉ ngăn chặn sự đổi màu bóng đèn mà còn giữ cho tim đèn luôn hoạt động ở điều kiện tốt trong một thời gian dài
Trang 7Hình 11 Bĩng đèn halogen
Bĩng đèn halogen phải được chế tạo để hoạt động ở nhiệt độ cao hơn 250oC
Ở nhiệt độ này khí halogen mới bốc hơi Người ta sử dụng phần lớn thủy tinh thạch anh để làm bĩng vì loại vật liệu này chịu được nhiệt độ và áp suất rất cao (khoảng 5 đến 7 bar) làm cho dây tĩc đèn sáng hơn và tuổi thọ cao hơn bĩng đèn thường Thêm vào đĩ, một ưu điểm của bĩng halogen là chỉ cần một tim đèn nhỏ hơn so với bĩng thường cho phép điều chỉnh tiêu điểm chính xác hơn so với bĩng bình thường
Chức năng của gương phản chiếu là định hướng lại các tia sáng Một gương phản chiếu tốt sẽ tạo ra sự phản xạ, đưa tia sáng đi rất xa từ phía đầu xe
Bình thường, gương phản chiếu cĩ hình dạng parabol, bề mặt được được đánh bĩng và sơn lên một lớp vật liệu phản xạ như bạc (hay nhơm) Để tạo ra sự chiếu sáng tốt, dây tĩc đèn phải được đặt ở vị trí chính xác ngay tiêu điểm của gương nhằm tạo ra các tia sáng song song Nếu tim đèn đặt ở các vị trí ngồi tiêu điểm sẽ làm tia sáng đi trệch hướng, cĩ thể làm lĩa mắt người điều khiển xe đối diện
Đa số các loại xe đời mới thường sử dụng chĩa đèn cĩ hình chữ nhật, loại chĩa đèn này bố trí gương phản chiếu theo phương ngang cĩ tác dụng tăng vùng sáng theo chiều rộng và giảm vùng sáng phía trên gây lĩa mắt người đi xe ngược chiều
Hình 12 Chĩa đèn hình chữ nhật
Cách bố trí tim đèn được chia làm 3 loại: loại tim đèn đặt trước tiêu cự, loại tim đèn đặt ngay tiêu cự
và tim đèn đặt sau tiêu cự
Hình 13 Cách bố trí tim đèn
Đèn chiếu sáng hiện nay cĩ 2 hệ là: Hệ châu Âu và hệ Mỹ
Dây tĩc tim c ốt Thạch anh
Dây tĩc tim pha Phần che
Gương phản chiếu phụ
Gương phản chiếu chính
Vị trí bóng đèn
Trang 8 Hệ châu Âu:
Hình 14 Đèn hệ châu Âu
Dây tĩc ánh sáng gần (đèn cốt) gồm cĩ dạng thẳng được bố trí phía trước tiêu cự, hơi cao hơn trục quang học và song song trục quang học, bên dưới cĩ miếng phản chiếu nhỏ ngăn khơng cho các chùm ánh sáng phản chiếu làm lố mắt người đi xe ngược chiều Dây tĩc ánh sáng gần cĩ cơng suất nhỏ hơn dây tĩc ánh sáng xa khoảng 30-40% Hiện nay miếng phản chiếu nhỏ bị cắt phần bên trái một gĩc 150
, nên phía phải của đường được chiếu sáng rộng và xa hơn phía trái
Hình dạng đèn thuộc hệ Châu Âu thường cĩ hình trịn, hình chữ nhật hoặc hình cĩ 4 cạnh Các đèn này thường cĩ in số “2” trên kính Đặt trưng của đèn kiểu Châu Âu là cĩ thể thay đổi được loại bĩng đèn
và thay đổi cả các loại thấu kính khác nhau phù hợp với đường viền ngồi của xe
Hệ Mỹ:
Hình 15 Đèn hệ Mỹ
Đối với hệ này thì hai dây tĩc ánh sáng xa và gần cĩ hình dạng giống nhau và bố trí ngay tại tiêu cự của chĩa, dây tĩc ánh sáng xa được đặt tại tiêu điểm của chĩa, dây tĩc ánh sáng gần nằm lệch phía trên mặt phẳng trục quang học để cường độ chùm tia sáng phản chiếu xuống dưới mạnh hơn Đèn kiểu Mỹ luơn luơn cĩ dạng hình trịn, đèn đuợc chế tạo theo kiểu bịt kín
Hiện nay hệ Mỹ cịn sử dụng hệ chiếu sáng 4 đèn pha, hai đèn phía trong (chiếu xa) lắp bĩng đèn một
dây tĩc cơng suất 37,5W ở vị trí trên tiêu cự của chĩa, hai đèn phía ngồi lắp bĩng đèn hai dây tĩc, dây tĩc chiếu sáng xa cĩ cơng suất 35,7W nằm tại tiêu cự của chĩa, dây tĩc chiếu sáng gần 50W lắp ngồi tiêu cự của chĩa Như vậy khi bật ánh sáng xa thì 4 đèn sáng với cơng suất 150W, khi chiếu gần thì cơng suất là 100W
Thay thế bĩng đèn:
Bĩng đèn một đầu sợi đốt đơn: Dùng cho bĩng đèn xinhan hay đèn lùi
Bĩng đèn một đầu sợi đốt kép: Dùng cho bĩng đèn hậu hay phanh Nĩ được gắn 2 sợi đốt cĩ cơng suất
Ánh sáng pha Gương phản
Phần che
Trang 9Hình 36 Thay thế bóng đèn dây tóc
Thay thế: Ấn bóng đèn về phía đui để nhả khóa chốt đế ra khỏi rãnh đui đèn, quay bóng và kéo nó ra
Làm ngược lại để lắp bóng mới vào
Bóng đèn hậu hình chêm sợi đốt đơn: Dùng cho bóng đèn xinhan hay đèn lùi v.v
Bóng đèn đui hình chêm sợi đốt kép: Dùng cho bóng đèn hậu hay phanh Nó được gắn 2 sợi đốt có
công suất khác nhau
Hình 37 Thay thế bóng đèn hình chêm
Thay thế: Chỉ cần kéo bóng ra bằng ngón tay và ấn bóng mới vào
Dùng làm bóng đèn trong xe và đèn cửa
Hình 38 Thay thế bóng đèn hai đầu
Thay thế: Ấn để mở một trong hai cực của đui và kéo bóng ra Để lắp bóng mới vào, hãy đặt một đầu
của bóng đèn vào lỗ trên đui, rồi ấn đầu kia vào lỗ còn lại
Trang 10Do bóng đèn haloden nóng hơn so với đèn thường khi sử dụng, bóng đèn sẽ bị vỡ nếu dầu hay mỡ dính vào bề mặt Hơn nữa, muối từ mồ hôi người có thể bám vào thạch anh Vì lý do đó, hãy cầm vào phần đui đèn khi thay bóng đèn để tránh các vết vân tay không chạm vào các thạch anh
Hình 39 Thay thế bóng đèn đầu
Có hai loại hệ thống đèn hậu: loại đèn hậu được nối trực tiếp vào công tắc điều khiển đèn và loại có relay đèn hậu
- Loại nối trực tiếp
Khi công tắc điều khiển đèn được vặn về vị trí “TAIL”, thì các đèn hậu bật sáng
Khi công tắc điều khiển đèn vặn về vị trí “TAIL”, thì dòng điện đi vào phía cuộn dây của relay đèn hậu Relay đèn hậu được bật lên và đèn sáng
Hình 16 Hệ thống đèn hậu
Có hai loại hệ thống đèn đầu khác nhau tuỳ theo chúng có thiết bị điện như relay đèn đầu và relay điều chỉnh độ sáng Nhìn chung khi công tắc điều chỉnh độ sáng ở vị trí “FLASH”, thì mạch điện được cấu tạo để bật sáng các đèn ngay cả khi công tắc điều khiển đèn ở vị trí OFF
Khi xoay công tắc điều khiển đèn về vị trí HEAD (LOW), đèn đầu (chiếu gần) bật sáng
Khi xoay công tắc về vị trí HEAD (HIGH), thì đèn chiếu xa bật sáng và đèn chỉ báo đèn chiếu xa trên bảng điều khiển cũng bật sáng
Trang 11pha Đèn đầu FLASH (Nháy pha)
Khi công tắc điều khiển đèn dịch chuyển về vị trí FLASH thì đèn đầu chiếu xa sẽ bật sáng
Hình 17 Hệ thống đèn đầu không có relay điều khiển
Hình 18 Sơ đồ công tắc điều khiển đèn đầu loại dương chờ
Hoạt động:
Khi bật công tắc LCS (Light Control Switch) ở vị trí Tail: Dòng điện đi từ: accu W1 A2 A11
mass, cho dòng từ: accu cọc 4’, 3’ cầu chì đèn mass, đèn đờmi sáng
Khi bật công tắc sang vị trí HEAD thì mạch đèn đờmi vẫn sáng bình thường, đồng thời có dòng từ: accu W2 A13 A11 mass, relay đóng 2 tiếp điểm 3 và 4 lúc đó có dòng từ: accu 4’, 3’ cầu chì đèn đầu hoặc cốt, nếu công tắc đảo pha ở vị trí HU, đèn đầu sáng lên Nếu công tắc đảo pha
Trang 12Ta có thể dùng relay 5 chân để thay cho công tắc chuyển đổi pha cốt, nếu vậy thì công tắc sẽ bền hơn
vì lúc này dòng qua công tắc là rất bé phải qua cuộn dây của relay
Hình 19 Sơ đồ mạch điều khiển đèn kiểu âm chờ
Trong trường hợp này ta thấy công tắc vẫn làm việc như một công tắc bình thường nhưng cách đấu dây hoàn toàn khác, với nguyên lý làm việc như sau:
Khi bậc công tắc LCS ở vị trí HEAD đèn đờmi sáng, đồng thời có dòng: accu W2 A13 A11 mass, relay đóng 2 tiếp điểm 3 và 4 lúc đó có dòng từ: accu 4, 3 W3 A12 Nếu công tắc chuyển pha ở vị trí HL thì dòng qua cuộn dây không về mass được nên dòng điện đi qua tiếp điểm thường đóng 4, 5 (của Dimmer Relay) cầu chì tim đèn cốt mass, đèn cốt sáng lên Nếu công tắc đảo pha ở vị trí HU thì dòng qua cuộn W3 A12 mass, hút tiếp điểm 4 tiếp xúc với tiếp điểm 3, dòng qua tiếp điểm 4, 3 cầu chì tim đèn đầu mass, đèn đầu sáng lên Lúc này đèn báo pha sáng, do được mắc song song với đèn pha
2.4 Hệ thống đèn chạy ban ngày
Hệ thống DRL (đèn chạy ban ngày) bật các đèn đầu khi chạy xe ở ban ngày Điều đó có nghĩa là các bóng đèn đầu được bật sáng trong suốt thời gian xe chạy, do đó làm cho tuổi thọ của bóng đèn giảm đi
Để ngăn ngừa hiện tượng này, mạch hệ thống được trang bị mạch điện để giảm cường độ làm việc của đèn đầu khi hệ thống DRL đang hoạt động Điều này được thực hiện chủ yếu bằng một trong 3 loại
mạch điện chính sau đây
Cường độ làm việc của đèn được giảm xuống thông qua điện trở bố trí trong DRL khi hệ thống này hoạt động
Hệ thống DRL hoạt động khi động cơ đang nổ máy và khi phanh tay được nhả ra
Để thiết lập tình trạng này, người ta thường sử dụng tín hiệu đầu vào từ máy phát điện hoặc từ phanh tay
Nguyên lý hoạt động của hệ thống đèn xe chạy ban ngày DRL có trang bị điện trở:
- Khi động cơ đã nổ máy và khi cần phanh tay được nhả ra thì relay chính của hệ thống đèn xe chạy ban ngày bật các đèn đầu lên Nếu công tắc điều khiển đèn ở vị trí OFF hoặc TAIL và công tắc điều khiển độ sáng đèn ở vị trí LOW, thì relay của hệ thống đèn chạy ban ngày ngắt và dòng điện đi qua điện trở của hệ thống Kết quả là các đèn đầu được bật sáng với cường độ được giảm tới còn 80 – 85%
Trang 13Hình 20 Hệ thống DRL có điện trở
- Nếu công tắc điều khiển đèn dịch chuyển về vị trí HEAD, thì relay No 2 của DRL được bật lên và dòng điện chạy tới các đèn đầu mà không qua điện trở của DRL Các đèn đầu chiếu sáng ở cường độ bình thường Relay No 2 của DRL bật lên ngay cả khi công tắc điều khiển độ sáng đèn ở vị trí HIGH hoặc FLASH do đó các đèn đầu sẽ chiếu sáng ở độ sáng bình thường
Cường độ làm việc của đèn được giảm xuống nhờ mắc nối tiếp các đèn đầu bên trái và bên phải khi hệ thống DRL đang hoạt động
Hình 21 Hệ thống DRL mắc nối tiếp
Khi cảm biến điều khiển đèn tự động xác định độ chiếu sáng môi trường xung quanh yếu mà công tắc điều khiển đèn ở vị trí AUTO (hoặc vị trí OFF đối với các xe không có vị trí AUTO), nó truyền tín hiệu tới bộ phận điều khiển đèn, bộ phận này sẽ bật sáng các đèn hậu và sau đó tới các đèn đầu tuỳ theo mức độ chiếu sáng xung quanh Hệ thống này cũng có chức năng bật các đèn hậu nhưng không bật các đèn đầu trong một thời gian ngắn khi trời trở nên tối trong một khoảnh khắc chẳng hạn như xe chạy dưới gầm cầu hoặc dưới các phố có nhiều cây mà trời xung quanh vẫn sáng Tuy nhiên, nếu sau
Trang 14một thời gian mà độ sáng của môi trường xung quanh vẫn thấp hơn giá trị qui định thì các đèn đầu sẽ bật sáng Có hai loại hệ thống điều khiển đèn tự động Đó là loại có cảm biến điều khiển đèn tự động
và bộ phận điều khiển đèn được bố trí chung hoặc loại có đèn hậu và đèn đầu được bật sáng cùng một lúc
HÌnh 22 Cảm biến và chức năng của hệ thống đèn tự động
Hình 23 Mạch điện hệ thống đèn tự động
Khi cảm biến điều khiển đèn tự động xác định được mức độ chiếu sáng xung quanh nó phát ra một tín hiệu xung đến bộ điều điều khiển đèn Khi đó bộ điều khiển đèn sẽ đánh giá độ giảm cường độ chiếu sáng và kích hoạt các relay đèn hậu và đèn đầu để bật sáng các đèn này Khi bộ điều khiển đèn đánh giá thấy sự tăng của cường độ sáng thì các đèn hậu và đèn đầu bị tắt
2.6 1 Cấu tạo
Người lái có thể điều chỉnh góc độ tia sáng đèn đầu lên hoặc xuống bằng cách điều chỉnh núm xoay Một biến trở trong công tắc đèn sẽ điều chỉnh cường độ dòng điện trong mạch điều khiển tỷ lệ với góc xoay của núm
Trang 15
Hình 24 Cơ cấu điều khiển góc độ chiếu sáng của đèn đầu
Bộ kích hoạt quay một mô tơ theo chiều quay kim đồng hồ hoặc ngược lại và dịch chuyển trục ra tiến hoặc lùi theo sự hoạt động của công tắc điều khiển góc độ tia sáng đèn đầu làm cho tia sáng đèn đầu hướng lên hoặc xuống Bộ kích hoạt được trang bị một chiết áp Tín hiệu được truyền tới IC bên trong theo vị trí của bộ kích hoạt
Trang 16Hình 25 Mạch điện điều khiển góc độ chiếu sáng đèn đầu
Cường độ dòng điện tỷ lệ với vị trí công tắc điều khiển góc chiếu sáng đèn đầu được quyết định bởi các IC đèn đầu Các IC trong bộ kích hoạt bên trái, bên phải sẽ dẫn động mô tơ theo cường độ dòng điện từ các công tắc Các IC trong bộ kích hoạt liên tục xác định vị trí thực tế (góc chiếu sáng đèn pha) của bộ kích hoạt nhờ chiết áp và điều khiển sự hoạt động của mô tơ Đó là lý do tại sao bộ kích hoạt có thể xác định vị trí và góc chiếu sáng đèn đầu theo cường độ dòng điện từ công tắc
Ngày nay, đèn đầu loại phóng điện (đèn xenon) được lắp đặt trên hệ thống chiếu sáng của xe như là tiêu chuẩn Nguyên lý hoạt động của đèn xenon lấy nguyên lí từ tự nhiên: sét Những vệt ánh sáng cường độ cao trải dài trong không trung, sinh ra do hiện tượng phóng điện giữa những đám mây tích điện và bề mặt trái đất, là nguyên nhân để đưa ra ý tưởng sản xuất ra những chiếc đèn đầucường độ cao, thay thế cho những chiếc đèn halogen ngày càng trở nên già cỗi
Vào năm 1992, Hella Corp sản xuất thành công đèn đầuxenon thế hệ thứ nhất theo công nghệ HID (High Intensity Discharge - sự phóng điện cường độ cao), lúc đó đèn xenon chỉ dùng làm đèn cốt, còn đèn đầuvẫn sử dụng halogen Đèn xenon không có dây tóc như các loại đèn halogen hay đèn wonfram, thay vào đó là hai bản cực điện đặt trong khí trơ xenon, được bao bọc bằng bình thuỷ tinh thạch anh Khi đóng nguồn điện, giữa hai bản cực này sinh ra hiện tượng phóng điện do hiệu điện thế vượt ngưỡng đánh thủng (vào khoảng 25.000 V)
Hình 26 Sơ đồ cấu tạo của đèn xenon
Tia lửa điện sinh ra kích thích các phân tử khí trơ xenon lên mức năng lượng cao, sau khi bị kích thích các phân tử khí xenon sẽ giải phóng năng lượng để trở về trạng thái bình thường, bức xạ ra ánh sáng theo định luật bức xạ điện từ
Trước hết, tuổi thọ của đèn bi-xenon gấp 10 lần so
với đèn halogendo dây tóc của đèn halogen rất dễ
bị đứt bởi hiện tượng va đập trên đường, còn đèn
bi-xenon chỉ có hai bản điện cực được cố định bởi
lớp vỏ thạch anh Đèn halogen có thời gian sử
dụng trung bình 300-1.000 giờ, còn bi-xenon là
3.000 giờ
Tiếp đến, công nghệ HID tăng tính an toàn cho
bạn khi lái xe trong đêm, đặc biệt ở những nơi
không có đèn chiếu sáng công cộng, do loại đèn
này phát ra ánh sáng trắng - xanh rất giống với
ánh sáng ban ngày, giúp người lái dễ dàng quan
sát với hình ảnh rõ nét, sâu và thật hơn
Các thống kê đã chỉ ra rằng, người lái xe cần phát
hiện, xử lý và phản ứng với các thông tin từ tín
hiệu giao thông trong khoảng 70m, vì nếu chạy Hình 26 Chùm sáng phát ra của đèn xenon (dưới) so sánh với đèn halogen (trên)
Trang 17với vận tốc 100 km/h, chúng ta chỉ có khoảng 2,5 giây để phản xạ trước các biến cố xảy ra trên đường
Do đó, đèn đầuxe hơi có chùm sáng dài, tầm quan sát rộng để phát hiện sớm các sự kiện là yếu tố an toàn hàng đầu đối với người cầm lái
Một ưu điểm nữa của đèn bi-xenon là do không tốn năng lượng để đốt nóng dây tóc nên không những tiết kiệm năng lượng - tiêu thụ bằng 1/3 so với đèn halogen truyền thống - mà còn cho cường độ sáng cao hơn gấp 2-3 lần
Hãng Hella đã có một bước phát triển xa hơn Từ năm 1999, hệ thống đèn Bi-xenon được sử dụng, nó
có thể sinh ra tia sáng cốt và pha từ cùng một nguồn sáng Thuận lợi là tiêu thụ năng lượng giảm hơn nữa, mở ra những khả năng mới cho các nhà thiết kế, phát ra ánh sáng giống nhau cho pha và cốt
Ống huỳnh quang có chứa khí xenon, thuỷ ngân và các muối kim loại halogen Khi đặt một điện áp cao giữa các điện cực làm bắn các electron và các nguyên tử kim loại va đập vào nhau làm phóng điện, giải phóng năng lượng tạo ra ánh sáng làm sáng đèn
Hình 27 Mạch điện điều khiển đèn đầu Xenon
- Hệ thống tạo ra xung điện áp cao (khoảng 20,000V) giữa các điện cực ở hai đầu làm cho khí xenon phát sáng
- Tuỳ theo sự tăng nhiệt độ trong ống đèn huỳnh quang, thuỷ ngân bay hơi và hồ quang phóng điện
- Khi nhiệt độ trong ống đèn huỳnh quang tiếp tục tăng lên, thì các muối kim loại halogen trong huỳnh quang thuỷ ngân bắt đầu bốc hơi và tách ra và các nguyên tử kim loại bắt đầu phát sáng
- Sự sáng ổn định nhờ điều khiển bởi bộ ECU điều khiển đèn
ECU điều khiển đèn là một thiết bị điều khiển điện tử được dùng để bật các bóng đèn đầu loại phóng điện cao áp Nó được bố trí bên dưới các đèn đầu cao áp bên trái và bên phải Nó thực hiện việc điều khiển tối ưu dòng điện cung cấp cho các bóng đèn để đảm bảo cường độ sáng nhanh và tối ưu khi đèn phát sáng và ánh sáng liên tục, ổn định Nó được trang bị một thiết bị an toàn để ngăn chặn ảnh hưởng của điện áp cao Cực ra của ECU điều khiển đèn có điện áp cao cực kỳ nguy hiểm, vì vậy phải hết sức cẩn thận khi tiếp xúc Để ngăn chặn nguy hiểm rủi ro người ta dán các nhãn cảnh báo ở bên cạnh đèn
và ECU điều khiển đèn
Chú ý:
- Phần thuỷ tinh và các điện cực của bóng đèn đầu cao áp có điện áp cao nguy hiểm (≈20,000V) vì vậy không được sờ vào nó
Trang 18- Chỉ được bật đèn sau khi đã lắp các bóng đèn hoàn chỉnh Không được sử dụng bất kỳ nguồn điện nào khác ngoài nguồn điện của xe
- Khi thay thế các bóng đèn phải tuân theo các quy trình
trong sách hướng dẫn sửa chữa
ECU điều khiển đèn sẽ xác định các sai hỏng xảy ra và
kích hoạt chức năng an toàn theo các điều kiện sau đây
Nếu điện áp vào nằm ngoài dải điện áp hoạt động (9 đến
16 V), thì chức năng an toàn sẽ tắt đèn đầu cao áp Các
đèn đầu cao áp sẽ bật sáng trở lại ngay khi điện áp đưa
vào nằm trong dải hoạt động
Nếu điện áp ra sai hoặc nếu đèn đầu cao áp nhấp nháy,
thì chức năng an toàn sẽ tắt các đèn đầu cao áp Nếu điều
này xảy ra, chúng ta không thể xác định được điện áp
đầu ra có sai hay không Nên trước tiên, kiểm tra những
hư hỏng trong cầu chì và tiếp mát, rồi mới thay các bóng
đèn đầu cao áp Nếu sự cố vẫn chưa được giải quyết, thì
phải thay ECU điều khiển đèn
Nếu không có bóng đèn đầu cao áp trong ổ đèn thì mạch
đèn bị hở Chức năng đảm bảo an toàn sẽ ngừng cấp điện
cao áp Nếu điều này xảy ra thì phải tắt khoá điện OFF
và lắp bóng vào
Đèn sương mù phía trước hoạt động khi công tắc điều khiển đèn ở vị trí TAIL hoặc HEAD Khi công tắc đèn sương mù phía trước được bật ON, thì relay đèn sương mù phía trước hoạt động và các đèn sương mù phía trước bật sáng
Hình 29 Hoạt động của hệ thống đèn sương mù trước
Hình 28 ECU điều khiển đèn cao áp
Trang 19Hình 30 Hoạt động của hệ thống sương mù sau
Đèn sương mù phía sau cũng hoạt động khi công tắc điều khiển đèn ở vị trí TAIL hoặc HEAD nhđối với đèn sương mù phía trước Công tắc đèn sương mù phía sau loại cần bật lên khi công tắc này dịch thêm một nấc từ vị trí ON của đèn sương mù phía trước
Đèn sương mù phía sau có cấu tạo để giúp cho người lái không quên tắt Khi công tắc điều khiển đèn dịch chuyển về vị trí OFF trong khi đèn sương mù phía sau sáng (vị trí ON), thì đèn sương mù phía sau
tự động tắt Khi điều này xảy ra đèn sương mù phía sau vẫn giữ ở trạng thái tắt ngay cả khi công tắc đèn này lại được xoay về vị trí HEAD Chức năng này được điều khiển bằng cơ khí hoặc điện tuỳ theo loại xe Mạch điện bên trái được điều khiển bằng cơ khí
3 Hệ thống đèn xinhan và cảnh báo nguy hiểm
3.1 Hệ thống đèn xinhan có công tắc hazard rời
Hình 31 Mạch điện hệ thống đèn xinhan có công tắc hazard rời
Trang 203.2 Hệ thống đèn xinhan có công tắc hazard tổ hợp
Hình 31 Mạch điện hệ thống đèn xinhan có công tắc hazard tổ hợp
3.3 Hệ thống đèn xinhan điều khiển bằng bộ tích hợp
Khi công tắc đèn xinhan hoạt động, các công tắc đèn bộ nháy đèn xinhan bật đèn xinhan bên trái và bên phải làm cho đèn xinhan ở phía đó nhấp nháy Để báo cho người lái biết hệ thống đèn xinhan đang hoạt động một âm thanh được phát ra bởi hệ thống này
Hình 31 Mạch điện hệ thống đèn xinhan điều khiển bằng bộ tích hợp
Nếu một bóng đèn xinhan bị cháy, thì cường độ dòng điện giảm xuống, thì tần số nhấp nháy tăng lên
để thông báo cho người lái biết
Khi công tắc đèn báo nguy hiểm được bật ON, thì cực EHW của đèn xinhan được tiếp mát Dòng điện
đi tới cả hai cực LL và LR và tất cả các đèn xinhan (báo rẽ) đều nhấp nháy
4 Hệ thống nhắc nhở và cảnh báo
Trang 211 Hở mạch các đèn phanh và đèn phanh lắp trên cao
Hình 32 Hoạt động của mạch báo hỏng đèn phanh
Khi các đèn phanh và đèn phanh lắp trên cao đang làm việc bình thường, thì điện áp ở ngõ vào (+) của
bộ so sánh 1 và 2 nhỏ hơn ngõ vào (-) Do đó, đầu ra của các bộ so sánh 1 và 2 bằng “0” Vì lý do này, đầu ra của cổng OR1 bằng "0",Transistor ở trạng thái ngắt và đèn cảnh báo đèn phía sau không sáng Khi chỉ cần một mạch đèn bị hở, điện áp ở ngõ vào (+) của bộ so sánh tăng lên và lớn hơn điện áp chuẩn ngõ vào (-) Do vậy các bộ so sánh 1 hoặc 2 sẽ cho ra “1” làm cổng OR1 đưa ra “1” tới mạch trễ/giữ cân bằng Mạch trễ/giữ cân bằng bật Transistor Tr ON sau khoảng 0,3 tới 0,5 giây, làm bật sáng đèn cảnh báo đèn phía sau trên đồng hồ táp lô Mạch giữ cân bằng hoạt động cho đến khi công tắc máy ngắt làm đèn cảnh báo tiếp tục sáng sáng
Trang 22xe và đóng cửa lại Nếu:
- Công tắc điều khiển đèn ở vị trí TAIL hoặc HEAD
- Khoá điện ở vị trí ACC hoặc LOCK
- Cửa xe phía người lái mở
thì dòng điện sẽ không qua cực A của bảng đồng hồ táp lô
Khi công tắc cửa phía người lái được bật về vị trí ON (tương ứng với cửa người lái đóng), thì cực B được nối thông với mát Khi điều này xảy ra, ECU trong bảng đồng hồ táp lô sẽ bật Transistor Tr lên Dòng điện chạy giữa các cực C và D của bảng đồng hồ táp lô và chuông phát ra tiếng kêu Sau khi hệ thống chuông nhắc nhở đèn được kích hoạt, hệ thống có thể được ngắt và chuông ngừng kêu bằng cách tắt công tắc điều khiển đèn về vị trí OFF hoặc khoá điện ở vị trí ON
Ở một số kiểu xe có trang bị hệ thống nhắc nhở chìa khoá, vì chức năng hệ thống này cần được ưu tiên nên khi cửa xe phía người lái mở với chìa khoá được tra vào trong ổ khoá điện và chuông nhắc nhở chìa khoá sẽ phát ra tiếng kêu
Hệ thống này hoạt động nhằm tắt các đèn chiếu sáng (đèn đầu và đèn hậu) khi người lái đã ra khỏi xe
mà không tắt đèn
Khi đèn đầu và đèn hậu bật sáng (khoá điện ở vị trí ON, công tắc điều khiển đèn ở vị trí TAIL hoặc HEAD), nếu khoá điện được bật lên vị trí ACC hoặc LOCK và cửa xe phía người lái mở, thì dòng điện không qua cực A của relay tổ hợp
Khi công tắc cửa lái xe bật lên (khi người lái đóng cửa) làm cực B được nối thông với mát Khi điều này xảy ra, IC trong relay tổ hợp sẽ ngắt các Transistor Tr1 và Tr2 Dòng điện không đi qua giữa các cực C và D, E và F và đèn hậu và đèn đầu tự động tắt Sau khi kích hoạt hệ thống tắt đèn tự động, có thể hủy trạng thái này để đèn đầu cũng như đèn hậu sẽ được bật sáng trở lại bằng cách bật khoá điện lên vị trí ON và công tắc điều khiển đèn ở vị trí TAIL hoặc HEAD
Hình 34 Hệ thống tắt đèn tự động
Hệ thống này hoạt động nhằm bật sáng các đèn khu vực người lái giúp người lái thuận tiện trong việc vào xe và tra chìa khóa vào ổ khóa điện Nếu:
- Khi không có chìa khoá trong ổ khoá điện
- Khi tất cả các cửa xe đã đóng sau đó có một trong các cửa xe đã mở
thì tín hiệu ngắt cảnh báo mở khoá bằng chìa được đưa vào cực A Tín hiệu đóng ngắt cửa xe tới cực B
Trang 23được đưa vào IC trong relay tổng hợp Theo các tín hiệu này IC kích hoạt chức năng đếm thời gian Transistor Tr nối cực C xuống mát khoảng 15 giây, do đó làm sáng các đèn trong xe và đèn chiếu sáng chìa khoá điện Khi hệ thống hoạt động bình thường đèn sẽ tiếp tục sáng khoảng 15 giây Tuy nhiên, khi bộ đếm thời gian đang hoạt động mà khoá điện được bật lên vị trí ON hoặc tất cả các cửa được đóng lại thì các đèn sẽ tắt ngay lập tức Ở một số xe có hệ thống làm các đèn tắt từ từ Thời gian các đèn sáng và các chi tiết khác tuỳ theo từng kiểu xe
Hình 35 Hệ thống chiếu sáng khi lên xe
Trang 24Ch ương 2
HỆ THỐNG THƠNG TIN TRÊN ƠTƠ
1 TỔNG QUÁT VỀ HỆ THỐNG THƠNG TIN TRÊN ƠTƠ
Hệ thống thơng tin trên xe bao gồm các bảng đồng hồ (tableau), màn hình và các đèn báo giúp tài xế
và người sửa chữa biết được thơng tin về tình trạng hoạt động của các hệ thống chính trong xe Thơng tin cĩ thể truyền đến tài xế qua 2 dạng : tương tự (tableau kim) và số (tableau hiện số)
Hình 1 Bảng tableau trên ơ tơ
Hệ thống thơng tin bao gồm các đồng hồ sau:
Đèn báo rẽ Đồng hồ
tốc độ xe
Các đèn báo hiệu và đèn cảnh báo
Vôn kế Đồng hồ áp suất dầu
Đồng hồ nhiệt
độ nước làm
mát chế độ pha Đèn báo
Đồng hồ nhiên liệu
A- Báo áp lực nhớt C- Báo nhiệt độ nhớt E: Các đèn báo G- Tốc độ động cơ
B- Báo điện áp D- Báo mực xăng F- Tốc độ xe H- Hành trình
Trang 25Chỉ thị nhiệt độ nước làm mát động cơ
f Đồng hồ báo nhiên liệu
Chỉ thị mức nhiên liệu có trong thùng chứa
Hình 2 Các loại đèn báo trên tableau
Báo rẽ phải hay trái
k Đèn báo nguy hoặc ưu tiên
Đèn này được bật khi muốn báo nguy hoặc xin ưu tiên Lúc này cả hai bên đèn rẽ phải và trái sẽ chớp
l Đèn báo mức nhiên liệu thấp
Báo nhiên liệu trong thùng nhiên liệu sắp hết
m Đèn báo hệ thống phanh
Báo đang kéo phanh tay, dầu phanh không đủ hay bố phanh quá mòn
n Đèn báo cửa mở
Báo có cửa chưa được đóng chặt
2 THÔNG TIN DẠNG TƯƠNG TỰ (ANALOG)
Hệ thống thông tin dạng tương tự bao gồm các đồng hồ dạng kim và các đèn báo để kiểm tra và theo dõi hoạt động của một số bộ phận quan trọng của động cơ cũng như toàn xe
Trang 26Hình 3: Sơ đồ mạch của một tableau loại tương tự
Trong hệ thống thông tin loại này thường có các đồng hồ dưới đây :
Trang 272.1 Đồng hồ và cảm biến báo áp suất nhớt:
Đồng hồ áp suất nhớt báo áp suất nhớt trong động cơ giúp phát hiện hư hỏng trong hệ thống bơi trơn Đồng hồ áp suất nhớt thường là kiểu đồng hồ kiểu lưỡng kim
Đồng hồ loại này thường gồm hai phần: cảm biến áp lực nhớt, được lắp vào cac-te của động cơ hoặc lắp ở bộ lọc nhớt và đồng hồ (bộ phận chỉ thị) được bố trí ở bảng tableau trước mặt tài xế Đồng hồ và
bộ cảm biến mắc nối tiếp với nhau và đấu vào mạch sau cơng tắc máy
Cảm biến làm nhiệm vụ biến đổi sự thay đổi của áp suất dầu nhờn thành tín hiệu điện để đưa về đồng
hồ đo Đồng hồ là bộ phận chỉ thị áp suất nhớt ứng với các tín hiệu điện thay đổi từ cảm biến Thang
đo đồng hồ được phân độ theo đơn vị kg/cm 2hoặc bar
Trên các ơtơ ngày nay, ta cĩ thể gặp bốn loại đồng hồ áp suất dầu nhớt: loại nhiệt điện, loại từ điện, cơ khí và loại điện tử Ở đây chỉ giới thiệu hai loại là đồng hồ nhiệt điện và từ điện
Accu
Công
tắc máy
Phần tử lưỡng kim Bộ tạo áp suất dầu
Phần tử lưỡng kim
MàngTiếp điểm
Cảm biến áp suất dầu
Dây may so
Dây may so
Hình 4 Cấu tạo đồng hồ áp suất nhớt loại nhiệt điện
A
Sinh nhiệt Nhiệt độ không cao
(Không sai số)
Bị cong bởi dòng điện
Lưỡng kim
Dây may so
A
Không sinh nhiệt
Hình 5 Hoạt động của phần tử lưỡng kim
Khi cho dịng điện đi qua một phần tử lưỡng kim được chế tạo bằng cách liên kết hai loại kim loại hoặc hợp kim cĩ hệ số giãn nở nhiệt khác nhau khiến phần tử lưỡng kim thường cong khi nhiệt tăng
Trang 28Đồng hồ bao gồm một phần tử lưỡng kim kết hợp với một dây may so Phần tử lưỡng kim cĩ hình dạng như Hình 5 Khi phần tử lưỡng kim bị cong do ảnh hưởng của nhiệt độ mơi trường khơng làm đồng hồ chỉ sai
- Áp suất nhớt thấp/khơng cĩ áp suất nhớt
Phần tử lưỡng kim ở bộ phận áp suất nhớt cĩ gắn một tiếp điểm Độ dịch chuyển của kim đồng hồ tỉ lệ với dịng điện chạy qua dây may so Khi áp suất nhớt bằng khơng, tiếp điểm mở, khơng cĩ dịng điện chạy qua khi bật cơng tắc máy Vì vậy, kim vẫn chỉ khơng
Khi áp suất nhớt thấp, màng đẩy tiếp điểm làm nĩ tiếp xúc nhẹ, nên dịng điện chạy qua dây may so của cảm biến Vì lực tiếp xúc của tiếp điểm yếu, tiếp điểm sẽ lại mở ra do phần tử lưỡng kim bị uốn cong do nhiệt sinh ra Tiếp điểm mở ra khi dịng điện chạy qua sau một thời gian rất ngắn nên nhiệt độ của phần tử lưỡng kim trên đồng hồ khơng tăng và nĩ bị uốn ít Vì vậy, kim sẽ lệch nhẹ
Công tắc máy
Accu
Đồng hồ báo áp suất dầu
Cảm biến
áp suất dầu
Không có áp suất dầu
Hình 6 Hoạt động của đồng hồ nhiệt điện
á p suấ t dầ u
Á p suấ t dầ u cao
Hình7 Hoạt động của đồng hồ nhiệt điện khi áp suất nhớt cao
Khi áp suất nhớt tăng, màng đẩy tiếp điểm mạnh nâng phần tử lưỡng kim lên Vì vậy, dịng điện sẽ chạy qua trong một thời gian dài Tiếp điểm sẽ chỉ mở khi phần tử lưỡng kim uốn lên trên Dịng điện chạy qua đồng hồ áp suất nhớt trong một thời gian dài cho đến khi tiếp điểm của cảm biến áp suất nhớt
mở, nhiệt độ phần tử lưỡng kim phía đồng hồ tăng làm tăng độ cong của nĩ, khiến kim đồng hồ lệch
Trang 29nhiều Như vậy, độ cong của phần tử lưỡng kim trong đồng hồ tỉ lệ với độ cong của phần tử lưỡng kim trong cảm biến áp suất nhớt
Cấu tạo đồng hồ loại này được trình bày trên Hình 8
Bộ cả m biế n Đồng hồ chỉ thị
Cô ng tắ c má y
Hình 8 Đồng hồ áp suất nhớt loại từ điện
Chú thích Hình 8:
Sơ đồ chung
Véctơ từ thơng tổng và vị trí kim đồng hồ ứng với các vị trí khác nhau
Sơ đồ nguyên lý đấu dây
1- Buồng áp suất 11- Lá đồng tiếp điện
2- Chốt tì 12- Dây dẫn đồng
3- và 7- Vít điều chỉnh 13- Lị xo
4- Màng 14- Cần hạn chế kim đồng hồ
5- Vỏ bộ cảm biến 15- Rãnh cong
6- Tay địn bẩy 16 và 20- Nam châm vĩnh cửu
8- Con trượt 17- Khung chất dẻo
9- Nắp bộ cảm biến 18- Kim
10- Cuộn điện trở của biến trở 19- Vỏ thép
Rcb- Điện trở của cảm biến
Khi ngắt cơng tắc máy, kim lệch về phía vạch 0 trên thang đồng hồ Kim đồng hồ được giữ ở vị trí này
do lực tác dụng tương hỗ giữa hai nam châm vĩnh cửu 16 và 20
Khi bật cơng tắc máy, trong các cuộn dây của đồng hồ và cảm biến xuất hiện những dịng điện chạy theo chiều mũi tên như hình vẽ 8a và 8c Cường độ dịng điện, cũng như từ thơng trong các cuộn dây phụ thuộc vào vị trí con trượt trên biến trở 10 Cường độ dịng điện cực đại trong mạch đồng hồ và
cảm biến 0,2A
Khi trong buồng áp suất 1 của bộ cảm biến cĩ trị số áp suất P = 0 thì con trượt 8 nằm ở vị trí tận cùng
bên trái của biến trở 10 (theo vị trí của hình vẽ), tức là điện trở Rcb cĩ giá trị cực đại Khi đĩ cường độ
Trang 30dòng điện trong cuộn W 1 sẽ cực đại, còn trong các cuộn dây W 2 và W3cực tiểu Từ thông 1 và 2của
các cuộn W 1 và W 2tác dụng ngược nhau, nên giá trị và chiều từ thông của chúng xác định theo hiệu 1
dòng điện trong các cuộn dây W 1 và W 2cũng như từ thông do chúng sinh ra 1 và 2tăng lên Trong khi đó, dòng điện trong cuộn dây W 3và từ thông 3của nó giảm đi Trong trường hợp này, giá trị và hướng của từ thông tổng thay đổi, làm cho vị trí của đĩa nam châm 16 cũng thay đổi và kim đồng hồ
sẽ lệch về phía chỉ số áp suất cao
Trong trường hợp áp suất P = 10 kg/cm 2
, con trượt sẽ ở vị trí tận cùng bên phải của biến trở 10, tức là
điện trở của cảm biến Rcb = 0 (biến trở bị nối tắt) thì cuộn dây W 1cũng bị nối tắt và dòng điện trong cuộn dây sẽ bằng 0, kim đồng hồ sẽ lệch về phía phải của thang số
Đồng hồ nhiên liệu có tác dụng báo cho người tài xế biết lượng xăng (dầu) có trong bình chứa Có hai kiểu đồng hồ nhiên liệu, kiểu điện trở lưỡng kim và kiểu cuộn dây chữ thập
2.2.1 Kiểu điện trở lưỡng kim
Một phần tử lưỡng kim được gắn ở đồng hồ chỉ thị và một biến trở trượt kiểu phao được dùng ở cảm biến mức nhiên liệu
Biến trở trượt kiểu phao bao gồm một phao dịch chuyển lên xuống cùng với mức nhiên liệu Thân bộ cảm nhận mức nhiên liệu có gắn với điện trở trượt, và đòn phao nối với điện trở này Khi phao dịch chuyển, vị trí của tiếp điểm trượt trên biến trở thay đổi làm thay đổi điện trở Vị trí chuẩn của phao để
đo được đặt hoặc là vị trí cao hơn hoặc là vị trí thấp hơn của bình chứa Do kiểu đặt ở vị trí thấp chính xác hơn khi mức nhiên liệu thấp, nên nó được sử dụng ở những đồng hồ có dãi đo rộng như đồng hồ hiển thị số
Khi bật công tắc máy ở vị trí ON, dòng điện chạy qua bộ ổn áp và dây may so trên đồng hồ nhiên liệu
và được tiếp mass qua điện trở trượt ở bộ cảm nhận mức nhiên liệu Dây may so trong đồng hồ sinh nhiệt khi dòng điện chạy qua làm cong phần tử lưỡng kim tỉ lệ với cường độ dòng điện Kết quả là kim được nối với phần tử lưỡng kim lệch đi một góc
Hình 9 Bộ cảm nhận mức nhiên liệu dạng biến trở trượt kiểu phao
Trang 31Khi mức nhiên liệu cao, điện trở của biến trở nhỏ nên cường độ dịng điện chạy qua lớn Do đĩ, nhiệt được sinh ra trên dây may so lớn và phần tử lưỡng kim bị cong nhiều làm kim dịch chuyển về phía chữ
F (Full) Khi mực xăng thấp, điện trở của biến trở trượt lớn nên chỉ cĩ một dịng điện nhỏ chạy qua Do
đĩ phần tử lưỡng kim bị uốn ít và kim dịch chuyển ít, kim ở vị trí E (empty)
Hình 10 Đồng hồ nhiên liệu kiểu điện trở lưỡng kim
Độ chính xác của đồng hồ kiểu điện trở lưỡng kim bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của điện áp cung cấp
Sự tăng hay giảm điện áp trên xe sẽ gây ra sai số chỉ thị trong đồng hồ nhiên liệu Để tránh sai số này, một ổn áp lưỡng kim được gắn trong đồng hồ nhiên liệu để giữ áp ở một giá trị khơng đổi (khoảng 7V)
Ổn áp bao gồm một phần tử lưỡng kim cĩ gắn tiếp điểm và dây may so để nung nĩng phần tử lưỡng kim Khi cơng tắc ở vị trí ON, dịng điện đi qua đồng hồ nhiên liệu và đồng hồ nhiệt độ nước làm mát qua tiếp điểm của ổn áp và phần tử lưỡng kim Cùng lúc đĩ, dịng điện cũng đi qua may so của ổn áp
và nung nĩng phần tử lưỡng kim làm nĩ bị cong Khi phần tử lưỡng kim bị cong, tiếp điểm mở và dịng điện ngừng chạy qua đồng hồ nhiên liệu và đồng hồ nhiệt độ nước làm mát Khi đĩ, dịng điện cũng ngừng chạy qua dây may so của ổn áp Khi dịng điện ngừng chạy qua dây may so, phần tử lưỡng kim sẽ nguội đi và tiếp điểm lại đĩng
Nếu điện áp accu thấp, chỉ cĩ một dịng điện nhỏ chạy qua dây may so và dây may so sẽ nung nĩng phần tử lưỡng kim chậm hơn, vì vậy tiếp điểm mở chậm Điều đĩ cĩ nghĩa là tiếp điểm sẽ đĩng trong một thời gian dài Ngược lại, khi điện áp accu cao, dịng điện lớn chạy qua tiếp điểm làm tiếp điểm đĩng trong khoảng một thời gian ngắn
Trong thực tế, ta cĩ thể sử dụng IC 7807 cho mục đích ổn áp
Cô ng tắ c má y
Tiế p điể m ổ n á p
Bộ cả m nhậ n mứ c nhiê n liệ u
Bộ cả m nhậ n nhiệ t độ nướ c Đồ ng hồ bá o mứ c nhiê n liệ u
Đồ ng hồ bá o nhiệ t độ nướ c
Tiếp điểm ổn áp đóng
Tiếp điểm ổn áp
Bộ cảm nhận mức nhiên liệu
Bộ cảm nhận nhiệt độ nước
Đồng hồ báo mức nhiên liệu
Đồng hồ báo nhiệt độ nước Accu
E
C
F
H
Trang 32Cô ng tắ c má y
Tiế p điể m ổ n á p
Bộ cả m nhậ n mứ c nhiê n liệ u
Bộ cả m nhậ n nhiệ t độ nướ c Đồ ng hồ bá o mứ c nhiê n liệ u
Đồ ng hồ bá o nhiệ t độ nướ cTiếp điểm ổn áp mởAccu
E
C
F
H
Hình 11 Hoạt động của đồng hồ kiểu điện trở lưỡng kim
khi tiếp điểm ổn áp đĩng/mở
2.2.2 Kiểu cuộn dây chữ thập
Đồng hồ báo nhiên liệu
Khoá điện
Bộ cảm nhậnmức nhiên liệuAccu
L4L3
Vs
L2L1
Hình12 Đồng hồ nhiên liệu kiểu cuộn dây chữ thập
Đồng hồ nhiên liệu kiểu cuộn dây chữ thập là một thiết bị điện từ trong đĩ các cuộn dây được quấn bên ngồi một rotor từ theo bốn hướng, mỗi hướng lệch nhau 90o
Khi dịng điện qua cuộn dây bị thay đổi bởi điện trở của cảm biến mức nhiên liệu, từ thơng được tạo ra trong cuộn dây theo bốn hướng thay đổi làm rotor từ quay và kim dịch chuyển
Khoảng trống phía dưới rotor được điền đầy silicon để ngăn khơng cho kim dao động khi xe bị rung và kim khơng quay về vị trí E khi tắt cơng tắc máy
Đặc điểm của đồng hồ kiểu cuộn dây chữ thập (so sánh với kiểu lưỡng kim):
Độ chính xác cao
Gĩc quay của kim rộng hơn
Đặc tính bám tốt
Khơng cần mạch ổn áp
Chỉ thị được lượng nhiên liệu khi khố điện đã tắt
Các cực bắc (N) và cực nam (S) được tạo ra trên rotor từ Khi dịng điện chạy qua mỗi cuộn dây, từ trường sinh ra trên mỗi cuộn dây làm rotor từ quay và kim dịch chuyển
Trang 33Hình 13 Cấu tạo đồng hồ nhiên liệu kiểu cuộn dây chữ thập
Cuộn L1 và L3 được quấn trên cùng một trục nhưng ngược hướng nhau, cuộn L2 và L4 được quấn ở trục kia lệch 90o
so với trục L1, L3 (L2và L4 cũng được quấn ngược chiều nhau)
Khi công tắc ở vị trí ON, dòng điện chạy theo hai đường:
- Accu L1 L2 cảm biến mức nhiên liệu mass
- Accu L1 L2 L3 L4 mass
Điện áp Vs thay đổi theo sự thay đổi điện trở của cảm biến mức nhiên liệu làm cường độ dòng điện I1,
I2 thay đổi theo
- Khi thùng nhiên liệu đầy:
Do điện trở của bộ cảm nhận mức nhiên liệu nhỏ, nên có một dòng điện lớn chạy qua cảm biến mức
nhiên liệu và chỉ có một dòng điện nhỏ chạy qua L3 và L4 Vì vậy từ trường sinh ra bởi L3 và L4yếu
Từ trường hợp bởi L1, L2, L3và L4như Hình 14
Hình14 Hình biểu diễn từ trường tổng khi thùng nhiên liệu đầy
- Khi thùng còn một nửa nhiên liệu:
Điện trở cảm biến mức nhiên liệu tăng nên dòng điện qua L3và L4tăng Tuy nhiên, do số vòng dây
của cuộn L3rất ít nên từ trường sinh bởi L3cũng rất nhỏ Vì vậy, từ trường tổng sinh bởi các cuộn dây
như Hình 15
Hình 15 Hình biểu diễn từ trường tổng khi thùng nhiên liệu còn ½
- Khi thùng nhiên liệu hết:
Điện trở bộ báo mức nhiên liệu lớn, nên cường độ dòng điện qua L3và L4lớn Vì vậy từ trường tổng như Hình 16
Các cuộn dây
Rôto (nam châm)
Dầu Silicon
Hướng quấn của cuộn L1
Hướng quấn của cuộn L3
Hướng quấn của cuộn L4
Hướng quấn của cuộn L2
Từ trường tổng
L1
L4
L3 L2
Từ trường tổng
L1
L4 L3 L2
Trang 34Hình 16 Hình biểu diễn từ trường tổng khi hết nhiên liệu
Đồng hồ nhiệt độ nước chỉ nhiệt độ nước làm mát trong áo nước đợng cơ Cĩ hai kiểu đồng hồ nhiệt
độ nước: kiểu điện trở lưỡng kim cĩ một phần tử lưỡng kim ở bộ chỉ thị và một biến trở (nhiệt điện trở) trong bộ cảm nhận nhiệt độ và kiểu cuộn dây chữ thập với các cuộn dây chữ thập ở đồng hồ chỉ thị nước làm mát
2.3.1 Kiểu điện trở lưỡng kim
Bộ chỉ thị dùng điện trở lưỡng kim và cảm biến nhiệt độ là một nhiệt điện trở
Nhiệt điện trở là một chất bán dẫn, nên thuộc loại hệ số nhiệt âm NTC (Negative Temperature
Coefficient) Điện trở của nĩ thay đổi rất lớn theo nhiệt độ Điện trở của nhiệt điện trở giảm khi nhiệt
Nhiệ t điệ n trở
Hình 17 Cảm biến nhiệt độ nước làm mát và đặc tuyến
Đồng hồ nhiệt độ nước kiểu điện trở lưỡng kim cĩ nguyên lý hoạt động tương tự như đồng hồ nhiên liệu kiểu điện trở lưỡng kim
Cô ng tắ c má y
Ổ n á p Dâ y may so
Đồ ng hồ bá o nhiệ t độ nướ c
Bộ cả m nhậ nnhiệ t độ nướ c là m má t
Accu
Hình 18 Hoạt động của đồng hồ nước làm mát
Khi nhiệt độ nước làm mát thấp, điện trở cảm biến nhiệt độ nước cao và gần như khơng cĩ dịng điện chạy qua Vì vậy, dây may so chỉ sinh ra một ít nhiệt nên đồng hồ chỉ lệch một chút
L1
L4
L3 L2
Từ trường tổng
Trang 35Khi nhiệt độ nước làm mát tăng, điện trở của cảm biến giảm, làm tăng cường độ dòng điện chạy qua
và cũng tăng lượng nhiệt sinh ra bởi dây may so Phần tử lưỡng kim bị uốn cong tỉ lệ với lượng nhiệt làm cho kim đồng hồ lệch về hướng chữ H (high)
2.3.2 Kiểu cuộn dây chữ thập
Cấu tạo và hoạt động của đồng hồ nhiệt độ nước làm mát kiểu cuộn dây chữ thập cũng giống với đồng
hồ nhiên liệu kiểu cuộn dây chữ thập Một phần rotor bị cắt nên kim hồi về đến vị trí nghỉ (phía lạnh)
do trọng lượng của rotor khi tắt công tắc máy
Sơ đồ đồng hồ đo tốc độ động cơ được trình bày trên Hình 19 Nó bao gồm một mạch tạo xung dao động ban đầu, mạch rung, đồng hồ P và mạch ổn áp với D5 và R11
- Kiểu cáp mềm
Khi ôtô làm việc, trục cáp mềm truyền moment từ trục thứ cấp hộp số đến trục dẫn động kéo nam châm vĩnh cửu quay Từ thông xuyên qua chụp nhôm làm phát sinh sức điện động, tạo dòng điện fucô trong chụp nhôm Dòng fucô tác dụng với từ trường của nam châm làm chụp nhôm quay, kéo theo kim chỉ vận tốc tương ứng trên vạch chia của đồng hồ Moment quay của chụp nhôm được cân bằng bởi lò
xo
Tấm cân bằng nhiệt để giảm bớt sai số do nhiệt của đồng hồ Khi nhiệt độ tăng, từ trở của tấm cân bằng nhiệt tăng, từ thông qua nó giảm, phần lớn sẽ qua chụp nhôm để giữ cho dòng fucô trong chụp nhôm không đổi
Trang 36Kim chỉ thị Lò xo câ n bằ ng Chụp nhô m Nam châ m vĩnh cử u Tấ m câ n bằ ng nhiệ t Cặ p trục vít - bá nh vít Trục dẫ n độ ng
Đồ ng hồ quã ng đườ ng Đồ ng hồ tố c độ
*Chỉ cho mộ t và i kiể u
Vò ng từ
MRE
B
N N
S
S Mạch điệ n á p khô ng đổ i
Hình 21 Cấu tạo đồng hồ tốc độ chỉ thị bằng kim dựa trên cảm biến Hall
Kiểu cảm biến điện từ
Kiểu cảm biến Hall hoặc từ trở (loại phổ biến)
Hình 22 Cấu tạo cảm biến tốc độ
Trang 372.6 Các mạch đèn cảnh báo:
Cảm biến báo nguy và đèn hiệu nhằm báo cho lái xe biết tình trạng làm việc của một số bộ phận như
áp suất dầu trong hệ thống bôi trơn, nhiệt độ nước làm mát động cơ Cơ cấu báo hiệu này bao gồm hai bộ phận chủ yếu: bộ cảm biến báo nguy và đèn báo Cảm biến báo nguy là một loại công tắc tự động làm nhiệm vụ bật đèn ở bảng đồng hồ khi có sự thay đổi nguy hại đến điều kiện làm việc của động cơ ôtô Các cơ cấu báo nguy thường gặp nhất là báo nguy áp suất dầu nhờn trong hệ thống bôi trơn động cơ và báo nguy nhiệt độ nước làm mát động cơ
Cơ cấu này báo hiệu trong trường hợp áp suất nhớt động cơ giảm tới mức có thể hư động cơ Khi động
cơ ôtô làm việc hoặc áp suất trong hệ thống bôi trơn giảm xuống thấp hơn 0,4 - 0,7 kg/cm 2 màng 6 (xem Hình 23) nằm ở vị trí ban đầu, còn tiếp điểm 4 ở trạng thái đóng, đảm bảo thông mạch cho đèn báo 3 Khi công tắc 1 đóng, đèn báo 3 ở bảng đồng hồ sẽ sáng, báo hiệu sự giảm áp suất nhớt tới mức không cho phép
Khi động cơ ôtô làm việc, nhớt từ hệ thống bôi trơn động cơ sẽ qua lỗ của núm 8 vào buồng 7 và khi
áp suất dầu trong buồng 7 lớn hơn 0,4 – 0,7 kg/cm 2thì màng 6 sẽ cong lên, nâng cần tiếp điểm di động
và tiếp điểm 4 mở ra, đèn báo 3 tắt
8
6 7
5
1 2 3
4
Hình 23 Cơ cấu báo nguy áp suầt dầu bôi trơn động cơ
1- Công tắc máy; 2- Nắp; 3- Đèn hiệu; 4- Các má vít bạc; 5- Giá tiếp điểm;
6- Màng áp suất; 7- Buồng áp suất; 8- Núm có ren
Cơ cấu này báo hiệu cho tài xế biết nhiệt độ nước cao quá mức cho phép trong hệ thống làm mát động
cơ Bộ cảm biến nước được vặn vào phía trên của két nước hoặc trên đường nước đi, còn đèn hiệu lắp
1- Chụp đồng 2- Thanh lưỡng kim 3- Vỏ bộ cảm biến
4- Đèn hiệu 5- Vít điều chỉnh
Hình 24 Cơ cấu báo nguy nhiệt độ nước làm mát động cơ
Cấu tạo của bộ cảm biến báo nguy nhiệt độ nước tương tự như bộ cảm biến của đồng hồ nhiệt độ nước loại xung điện, chỉ khác là trên thanh lưỡng kim không quấn dây điện trở và thanh lưỡng kim được lật ngược xuống sao cho khi bị biến dạng nó sẽ cong về phía dưới (về phía có xu hướng đóng tiếp điểm
KK’ lại)
Trang 38Khi nhiệt độ nước làm mát động cơ thấp thì tiếp điểm KK’ ở trạng thái mở và đèn hiệu 4 tắt Khi nhiệt
độ nước làm mát tăng, thanh lưỡng kim 2 bị nóng nó sẽ biến dạng và ở nhiệt độ 96 oC
3 oCthì tiếp điểm KK’ đóng, đèn hiệu 4 sáng lên
3 THÔNG TIN DẠNG SỐ (DIGITAL)
Hình 25 Bảng đồng hồ màn hình điện tử kiểu VFD
trên xe TOYOTA CRESSIDA
Màn hình hiển thị số trong mỗi đồng hồ thường dùng một VFD - Vacuum Fluorescent Display (màn
hình huỳnh quang chân không), một vài điốt đèn LED phát sáng hoặc một LCD - Liquid Crystal
trong các xe đời mới
Đồng hồ hiển thị số có các đặc điểm sau:
Dễ xem
Chính xác cao
Độ tin cậy cao nhờ hiển thị số, không có chi tiết chuyển động quay
Hiển thị tốt nhất cho mỗi đồng hồ
Dưới đây sẽ mô tả bảng đồng hồ màn hình điện tử kiểu VFD trên xe TOYOTA CRESSIDA
Bao gồm 20 đoạn huỳnh quang nhỏ được sử dụng trong đồng hồ tốc độ xe để hiển thị tốc độ xe dưới dạng số Màn hình huỳnh quang chân không hoạt động giống như ống triod và bao gồm 3 phần:
Một bộ dây tóc (cathod)
20 đoạn (anod) được phủ chất huỳnh quang
Một lưới được đặt giữa anod và cathod để điều khiển dòng điện
Tất cả các chi tiết này được đặt trong một buồng kính phẳng đã hút hết khí
Anod gắn trên tấm kính, các dây điện nối với các đoạn anod nằm trực tiếp trên mặt tấm kính, một lớp cách điện phủ lênh tấm kính và các đoạn huỳnh quang nằm ở phía trên lớp cách điện
Các đoạn được phủ chất huỳnh quang sẽ phát sáng khi bị các điện tử đập vào Phía trên anod là một lưới điều khiển được làm bằng kim loại đặc biệt và phía trên lưới là cathod một bộ dây tóc làm bằng dây tungsten mỏng được phủ vật liệu phát ra điện tử khi bị nung nóng
Cảm biến tốc độ
Công tắc hành trình Đồng hồ quãng đường (cơ khí)
Công tắc thay đổi thang đo đồng hồ nhiên liệu
Bộ vi xử lí & VFDS
Trang 39Hình 26 Cấu tạo màn hình huỳnh quang chân không
Khi dòng điện chạy qua các dây tóc, dây tóc bị nung tới khoảng 600o
C và vì vậy nó phát ra các điện
tử
Hình 27 Màn hình huỳnh quang chân không
Nếu sau đó điện áp dương được cấp cho các đoạn huỳnh quang nó sẽ hút các điện tử từ dây tóc Các điện tử này sau đó sẽ chạy vào các đoạn huỳnh quang rồi xuống mass, sau đó quay lại các dây tóc kết thúc một chu kỳ
Khi điện tử từ dây tóc đập vào đoạn huỳnh quang, chất huỳnh quang sẽ phát sáng (phải cấp điện áp dương cho các đoạn huỳnh quang) Nếu không cấp điện áp cho chúng, chúng sẽ không phát sáng Chức năng của lưới là để đảm bảo các điện tử đập đều lên tất cả các đoạn huỳnh quang Do lưới luôn
có điện áp dương tại mọi thời điểm, nên tất cả các phần tử của nó đều hút các điện tử được phát ra từ dây tóc Do đó khi điện tử xuyên qua lưới và đập vào anốt chúng sẽ được chia đều
Dùng LED làm linh kiện hiển thị có nhược điểm là tiêu thụ dòng lớn Do đó ngày nay người ta dùng các bộ hiển thị tinh thể lỏng Chúng thuộc loại linh kiện quang điện bán dẫn
Ở các chất lỏng thông thường, các phân tử sắp xếp một cách ngẫu nhiên Còn ở tinh thể lỏng, các phần
tử được sắp xếp có định hướng Khi đặt tinh thể lỏng vào trong một điện trường, thì các phần tử của chúng (hình elip) sẽ sắp xếp theo trật tự nhất định Vì vậy, nếu chiếu ánh sáng vào tinh thể lỏng thì ánh sáng xuyên qua không bị phản xạ và mắt ta không phát hiện được gì Khi có dòng điện chạy qua tinh thể lỏng, các hạt dẫn sẽ va chạm với các phần tử làm cho các phần tử bị sắp xếp hỗn loạn, mất trật tự
và do đó nếu có ánh sáng chiếu vào thì ánh sáng sẽ bị tán xạ, làm cho tinh thể lỏng sáng chói nên mắt
ta nhìn thấy được
Trên Hình 28 trình bày sơ đồ tableau hiện số trên xe Toyota Cresida
Trang 40Hình 28 Sơ đồ tableau số trên xe Toyota CRESIDA