Hàn phi phê phán Thương Ưởng 99 66 chỉ biết có pháp luật mà “không có thuật để biết rõ kẻ gian” “chúa không có thuật để biết rõ kẻ gian, dấu pháp luật có tô vẽ ra mười phan, người làm t
Trang 1
DAI HOC QUOC GIA HA NOI
TRUONG DAI HOC KHOA HOC XA HOI VA NHAN VAN
KHOA KHOA HOC QUAN LY
BAI KIEM TRA GIU'A KY - THAO LUAN NHOM
MOI QUAN HE THE - PHAP - THUAT TRONG
TU TUONG PHAP TRI CUA HAN PHI TU
Giảng Viên: PGS.TS Phạm Ngoc Thanh
Nhóm Sinh Viên Thực hiện: Nhóm 3
Hà Nội - 2011
Trang 2
I Bối cảnh xã hội Trung Hoa cỗ đại thời Hàn Phi Tử và sự hình thành tư tưởng Pháp trị
Lịch sử Trung Hoa cô đại có hai thời kỳ được nói đến đó là Xuân
thu và Chiến quốc Thời Xuân thu là thời kỳ suy tàn của nhà Chu, đây chính là thời kỳ sinh sống của Lão tử, Không tử Thời Chiến quốc từ gần
cuối đời Uy Liệt Vương, tới khi nhà Tần diệt nhà Tê thống nhất đất
nước, đó là thời kỳ sinh sống của Hàn Phi Tử So với thời Xuân thu thì
Chiến quốc loạn lạc bất ôn định hơn về chính trị nhưng lại phát triển hơn
về kinh tế Đây là thời kỳ đạo đức suy đôi, người ta chỉ dùng mọi cách để
tranh lợi, quan lại tham những, ăn chơi xa hoa truy lạc, chiến tranh kéo
dài liên miên khiến cho đời sống của nhân dân càng thêm đói khổ, cùng cực Trước tình cảnh xã hội như vậy, tầng lớp quý tộc và tầng lớp trí thức
có sự chia rẽ về tư tưởng Một số chán nản muốn quay trở lại thời Xuân Thu, số khác thì cố gắng đưa ra những tư tưởng và phương pháp cải cách
để xây dựng “nước giàu,binh mạnh”
Đặc biệt thời Chiến Quốc là thời kỳ lịch sử phát triển rực rỡ về tư
tưởng, “trăm hoa dua nở”, “bách gia chư tử” Có ba dòng tư tưởng lớn cùng tôn tại trong thời dai bay giờ:
Phái thứ nhất: có Nho gia và Mặc Tử, Không Tử muốn khôi phục
nhà Chu Mặc tử, Mạnh tử, Tuân tử thấy nhà Chu suy tàn không cứu được nên mong có được vị minh quân thay Chu thống nhất Trung hoa bằng chính sách Đức trị
Phái thứ hai: là phái Đạo gia muốn giảm thiêu, thậm chí giải toán chính quyên sống tự nhiên như thủa sơ khai, lập địa muốn từ bỏ xã hội phong kiến đề trở về xã hội cộng sản nguyên thuỷ
Phái thứ ba: là phái Pháp gia với một số nhà tư tưởng lớn
như:Quản Trọng,Thận Đáo,Thân Bắt Hại, Thương Ưởng muốn dùng vũ
Trang 3lực lật đỗ chế độ phong kiến phân tán và lập ra chế độ phong kiến quân chủ chuyên chế, thay “vương đạo” của Không Mạnh bằng chính sách "bá
đạo"
Tư tưởng Pháp gia với đại biểu xuất sắc là Hàn Phi Tử Hàn Phi
Tử(280-233 TCN),là một công tử nước Hàn, học rộng, biết cả đạo Nho,
đạo Lão, nhưng thích nhất học thuyết của Pháp gia và có tư tưởng mới về Pháp trị Nội dung cơ bản của Pháp gia là đề cao vai trò của pháp luật và chủ trương dùng pháp luật hà khắc để trị nước Theo Hàn Phi Tử, thời
thế hoàn cảnh đã thay đổi thì phép trị nước không thê viện dẫn theo "đạo đức” của Nho, "Kiêm ái” của Mặc, "Vô vi nhi trị” của Đạo gia như trước,
mà cần phải dùng Pháp trị Hàn Phi đưa ra quan điểm tiến hóa về lịch sử, ông cho răng lịch sử xã hội luôn trong quá trình tiến hoá và trong mỗi thời kỳ lịch sử thì mỗi xã hội có những đặc điểm dấu ấn riêng Vì thế, không có một phương pháp cai trị vĩnh viễn, cũng như không có một thứ pháp luật luôn luôn đúng trong hệ thống chính trị tồn tại hàng ngàn năm
Từ đó, ông đã phát triển và hoàn thiện tư tưởng Pháp gia thành một đường lối trị nước khá hoàn chỉnh Về mặt lý luận chính trị ông tiếp thu điểm ưu trội của ba trường phái trong pháp gia: “pháp” (Quản Trọng, Thương Ưởng), “thuật” (Thân Bất Hại), “thế” (Thận Đáo) Trong phép trị nước, Hàn Phi Tử là người đầu tiên coi trọng cả ba yêu tổ Thế, Thuật,
và Pháp Ông cho răng ba yếu tô đó phải thống nhất không thể tách rời trong đường lối trị nước bằng pháp luật
Quan niệm về bản chất con người của Hàn Phi Tử
Khi nhắc đến tư tưởng quản lý của một tác giả thì trước tiên chúng
ta cân xem xét quan niệm về bản chât con người của tác giả đó Vì nó sẽ
Trang 4chi phối toàn bộ từ tư tưởng quản lý chủ đạo đến việc xác định mỗi quan
hệ giữa chủ thể và đối tượng, công cụ phương pháp quản lý Vậy nên ta không thể không xem xét quan niệm về bản chất con người của Hàn Phi
Hàn Phi Tử đã cho răng bản chất con người là vì tư lợi
Nếu Không Tử cho răng bản chất con người là tính thiện thì Tuân
Tử một học trò giỏi của ông lại cho răng con người bản chất là “ác” Hàn
Phi Tử đã cho răng bản chất con người là vì tư lợi, là học trò của Tuân
Tử, Hàn Phi theo tư tưởng triết học “tính bản ác” của con người và đây
có lẽ là tư tưởng duy nhất Hàn Phi thừa nhận từ Nho gia
Theo Hàn Phi chỉ có một số thánh nhân tích bản tính thiện còn đa
số vốn có tính ác cụ thể là tranh giành nhau vì lợi, sẵn sàng giết nhau vì miếng ăn hay chức vụ, làm biếng, khi có dư ăn thì không muốn làm gì nữa, chỉ phục tùng quyên lực
Con người làm việc do xuất phát từ lợi ích của bản thân Con người sẵn sàng làm tất cả hoặc không làm øì cả nếu có lợi cho bản thân
họ Ví dụ như “thầy lang khéo mút vết thương ngậm máu bệnh nhân đâu
phải vì tình cốt nhục mà chỉ vì lợi Thợ đóng xe mong nhiều người sang,
thợ đóng quan tài mong nhiều người chết yếu ” (Thiên Bị nội) Vì thế
một mặt để dùng được người để “sử dụng hết năng lực”của họ không gi
bang đem lại cái lợi cho họ tức dùng phần thưởng, mặt khác để loại bỏ những yếu tố gây loạn cho xã hội thì phải dùng hình phạt nặng
H Nội dung cơ bản của Thế, Thuật và Pháp
1 The
“Thế” trong quan niệm của Hàn Phi là địa vị và quyền uy Theo ông, thê không liên quan với đạo đức và tài trí của con người Bởi vì,
Trang 5“hiển tài như vua Nghiêu nhưng khi chưa làm vua nói không ai nghe, bạo tàn như vua Kiệt, nhưng vì là vua nên mọi người không dám trái lệnh.”
Vua là người có quyền uy tối cao Điều đó thể hiện:
+ Vua là người duy nhất có quyền đề ra pháp luật Chính vì vậy
vua phải được mọi người tôn kính, tuân theo triét
+ Vua phải nắm lấy quyền thưởng phạt Chính sách thưởng phạt
là phương tiện cơ bản để nhà vua cai trị dân, qua đó giữ được Thế của mình Điểm thống nhất trong chính sách thưởng phạt của ông là: Thưởng phạt phải chắc chăn, công băng, nghiêm minh; thưởng phải hậu, phạt phải nặng “Trị tội thì không chừa cásc quan lớn, thưởng công băng thì không bỏ sót các dân thường Hình phạt nặng thì người sang không dám khinh kẻ hèn, pháp luật phân minh thì người trên được tôn trọng, không
bị lắn”(thiên Hữu Độ)
Như vậy, pháp luật và chính sách thưởng phạt luôn được Hàn Phi
đề cao khi nói về Thế và điều kiện để có được Thế “pháp luật công
bằng,thưởng phạt công minh,cho nên,đều sửa chữa được sai lầm của
người trên,trị được cái gian của kẻ dưới trừ được loạn, sửa được điều sai,
thống nhất đường lối của dân không øì bằng pháp luật”
Xuất phát từ quan niệm bản chất con người là vì tư lợi nên chính sách thưởng phạt có phần cực đoan song quan niệm về Thế của ông có nhiều điểm sâu sắc mà trong hoạt động quản lý có thê ứng dụng
2 Thuật
Thuật: là kĩ thuật quản lí và tâm thuật
Kĩ thuật quản lí: là phương án để tuyến, dùng, kiểm tra đánh giá khả năng của quan lại để bố trí cho chức danh cho phù hợp
Trang 6Tâm thuật: là mưu mô trong chế ngự quân thần, bắt họ phải lộ ra
tâm ý
Pháp gia cực nhắn mạnh “thuật” Hàn phi phê phán Thương Ưởng
99 66
chỉ biết có pháp luật mà “không có thuật để biết rõ kẻ gian” “chúa không
có thuật để biết rõ kẻ gian, dấu pháp luật có tô vẽ ra mười phan, người
làm tôi vẫn ngược lại dùng nó làm chỗ dựa để mưu lợi riêng”.Vì
thế,người làm chúa phải có “thuật” đó là “thuật cai trị” của người làm
chúa để điều khiến bè tôi Hàn Phi nói “thuật là gì? là cái mầm kín đáo
trong bụng, để so sánh các đầu mối sự việc và ngắm ngầm cai trị các bề
tôi Dùng thuật thì phải làm cho kẻ thân yêu gần gũi cũng không ai biết
được”
Thuật của Hàn Phi có hai nguyên tắc cơ bản sau:
Một là bề tôi không làm hết hay làm quá trách nhiệm đều phải xử
phạt
Hai là căn cứ vào sự tương xứng hay không giữa “công” và
“đanh”, “lời nói” và “việc làm” cuả kẻ bề tôi để thưởng phạt
Trong kĩ thuật bao gồm hai nội dung chính: trừ gian và dùng người
Thuật trừ gian: là các thuật để loại trừ bọn gian thần Giữa vua và tôi khác nhau về địa vị và quyên lợi, vì vậy bất cứ bề tôi nào cũng có ý
phản vua.Vua phải biết cách để loại bỏ hạng người này Các ông vua nên: không đề lộ sự yêu thích, giận, ghét, đồng thời không cho bề tôi biết
mưu tính cuả mình, không cho họ mưu tính việc riêng và tự ý hành động
Bắt họ phải làm đúng theo pháp luật Không cho họ lấy của công dé thi
công, ban ơn cho dân Khi họ khen ai hay chê aI thi phải xem xét thực sự
có thực tài hay không Khi để tìm ra kẻ gian điều mấu chốt là ai được lợi
ở đây, động cơ là gì Đại thần thì phải: “đối với những người hiển tài thì
Trang 7bắt vợ con thân thích của họ làm con tim để uy hiếp, nếu là kẻ tham lam thì cho họ tước lộc nhiều dùng dé mua chuộc,nếu là kẻ gian tà, phải làm
cho họ khôn khổ băng cách trừng phạt hoặc nếu không thì giết”
Thuật dùng người: Nguyên tắc cơ bản của thuật dùng người theo Pháp gia gọi là thuyết hình danh - tức là muốn đánh giá một người hoặc
một sự vật thì phải xem xét sự thực đã làm (hình) và tên gọi công việc
(danh) có phù hợp hay không Có ba khía cạnh, phương thức, phương
pháp:
Thánh ngôn: nghe ngóng, xem xét, khi nghe bề tôi thì vua phải
trâm mặc, lầm lì, không bày tỏ thái độ, không khen không chê, không để
lộ tình cảm của mình Lời nói của bề tôi không được mâu thuẫn nhau Bé tôi phải đưa ra ý kiến rõ ràng Lời nói phải thiết thực
Tham nghiêm: khảo sát nhiều mặt để biết lòng bề tôi Hỏi ý kiến
của nhiều người, xem xét việc đã làm Cho họ ở gần mình đề thấy được
nội tình Dùng những điều mình biết rồi để tra khảo Đưa ra nhiều ý kiến khác nhau để xem ý kiên của kẻ dưới ra sao
Thí chi giao chức: cho họ thử việc, dùng thực tiễn kiểm tra thực lực của họ
Trong tư tưởng của mình, Hàn Phi còn bàn đến thuật vô vi.Vô vi
trong quan niệm của Không Tử và Lão Tử là cứ để cho sự vật tự nhiên
ma van phat triên,nhà cai trị nhàn nhã, ít điêu hành can thiệp mà công
Trang 8việc vẫn Nhưng theo Hàn Phi Tử, thuật vô vi không bớt đi sự điều hành,
nhưng chỉ tập trung vào đối tượng là trị quan chứ không trị dân, bắt quan
lại phải làm hết sức mình, đồng thời phải giải phóng chính sực lực cho
ông vua “Bậc vua thấp kém dùng hết khả năng của mình, bậc vua trung bình dùng hết sức của người, bậc vua cao hơn dùng hết trí lực của người
thì vua như thần.” (Bát kinh)
Tóm lại Thuật của Hàn Phi là thủ đoạn để vua dùng để điều khiến
quan lại, g1ữ gìn pháp luật và tuân theo mệnh lệnh
3 Pháp
Nho gia dùng chữ “pháp” theo nghĩa phép tắc, còn Pháp gia nói tới “pháp” tức là chỉ pháp thuật
Hàn Phi cho rằng pháp luật là một công cụ hữu hiệu nhất để quản
lý - cai trị xã hội Pháp luật là cái quy, cái củ, tức là tiêu chuẩn để phân
biệt đúng sai, phải trái, để duy trì xã hội trong một khuôn khổ Pháp luật
là cái “biên soạn thành sách, đặt ở công đường, và nói rõ cùng trăm họ cho nên bậc minh chúa nói pháp luật, thì mọi kẻ hèn kém trong
nước, không ai không nghe thấy” Pháp luật không tách rời khỏi Thế và Thuật mà cùng tạo nên một cái kiềng 3 chân vững chắc, khăng khít
Là người tôn thờ chế độ quân chủ, với Hàn Phi, pháp luật dĩ nhiên
là do vua đặt ra nhưng phải tuân theo các nguyên tắc sau:
s*_ Pháp luật phải kịp thời, hợp thời:
Hàn Phi viết: “Thời thay mà pháp luật không đối thì nước loạn,
đời đã thay đổi mà cắm lệnh không biến thì nước bị chia cắt Cho nên thánh nhân trị dân thì pháp luật theo thời mà đổi, cấm lệnh cũng với đời
mà biến” Tính kịp thời của pháp luật với Hàn Phi không chỉ có ý nghĩa
chung chung mà rất cụ thể “Bậc vua chúa sáng trị nước thì dựa theo thời
Trang 9tiết của năm mà làm ra của cải, tính thuế khóa sao cho giàu nghèo được đều ”
s*_ Pháp luật phải công khai, dễ biết, dễ thi hành:
Về ý pháp luật công khai, trong thiên Hữu độ, Hàn Phi viết: “Pháp luật rõ ràng thì người trên được tôn trọng mà không bị xâm lắn” và ông phân tích rõ trong thiên Thủ đạo: “Pháp luật rõ ràng thì người hiền không cướp của kẻ kém, người mạnh không thê hiếp kẻ yếu, người đông không thê hung bạo với kẻ ít”
Ông cho rằng pháp luật dễ hiểu, dễ biết: “Pháp luật không gì băng thống nhất và chắc chắn, khiến cho dân biết nó” Trong thiên Bát Thuyết ông còn viết: “Những điều mà những kẻ sĩ sâu sắc mới có thể hiểu được
thì không thể đưa ra làm lệnh, vì dân không phải tất cả đều sâu sắc” và
“Pháp luật gọn thì việc kiện tụng của dân ít đi”
s* Pháp luật phải công bằng, bênh vực kẻ yếu và số Ít:
Nhìn chung, pháp gia chủ trương mọi người đều bình đăng trước pháp luật Hàn Phi viết: “Pháp luật phải công băng thì quan lại không
làm điều gian” và trong thiên Thủ đạo ông viết: “ cho nên trị nước thì phải minh định pháp luật, đặt ra hình phạt nghiêm khắc đề cứu loạn cho quan chúng, trừ họa cho thiên hạ, khiến cho kẻ mạnh không lấn kẻ yếu,
đám đông không hiếp đáp số ít, người già được hưởng hết tuôi trời, bọn
trẻ mồ côi được nuôi lớn, biên giới không bị xâm phạm, vua tôi thân
nhau, cha con bảo vệ nhau, không lo bị giết hay bị giặc cầm tù, đó cũng
là cái công cực lớn vậy”
s* Pháp luật phải có tính phố biến:
Pháp luật phải ban hành công khai và truyền bá tới tất cả mọi người đê không người dân nào có thê viện cớ răng không biệt luật nên lỡ
Trang 10phạm pháp Hàn Phi yêu cầu các quan lại phải: “lấy pháp luật mà dạy dân”, họ phải là những người truyền bá pháp luật
Với Hàn Phi, pháp luật là thứ “phép công” điều khiển hành vi của con người Pháp luật có vai trò quan trọng nhất trong bộ ba pháp- thuật - thé, vì thế tiền đề mà mục đích tối cao của chính trị, quản lý là làm cho
“Pháp luật không hỏng nát” Trong chính trị và quản lý, tất cả đều phải xem xét có phù hợp với pháp luật hay không: “ Sự yên trị hay rối loạn gửi ở pháp và thuật, lẽ phải trái dựa vào thưởng phạt, điều nặng nhẹ theo với cân lường không ra ngoài mực thước, không đấy vào trong mực thước, không lọt ra ngoài pháp luật, không lần vào trong pháp luật ”
IIH.Mối quan hệ giữa Thế, Thuật và Pháp trong tư tưởng Pháp
gia
Thế, Thuật và Pháp là ba khái niệm cơ bản về hoạt động cai trị của
Hàn phi Ba yếu tố đó có mối quan hệ mật thiết hữu cơ gắn bó tác động qua lại với nhau 7rong đó, “Pháp” là nội dung trong chính sách cai trị
được thể hiện bằng luật lệ; "Thế" là công cụ, phương tiện tạo nên sức
mạnh, còn "Thuật" là phương pháp cách thức để thực hiện nội dung chính sách cai trị Đó là ba công cụ hữu ích giúp nhà vua cai trị đất nước một cách có hiệu quả Chúng tạo nên cái thế kiềng ba chân rất vững
chắc Nếu nhà vua nào hiểu rõ và năm bắt được mối quan hệ đó thì sẽ làm yên được dân, đất nước được thịnh trị
I.Thế - Pháp
Thế là điễu kiện tất yếu tạo ra Pháp
10
Trang 11Theo Hàn Phi, để có thê cai trị được đất nước thì vua phải có Thế- quyền lực tối thượng, đó là điều kiện căn bản nhất của nhà lãnh đạo Nhà
vua phải dựa vào Thế của mình để ban lệnh, buộc bề dưới phải nghe theo Bởi vì “hiền tài như vua Nghiêu nhưng khi chưa làm vua nói không
ai nghe, bạo tàn như vua Kiệt nhưng vì là vua nên mọi người không al dám không nghe theo” “Kiệt làm thiên tử có thể khống chế cả thiên hạ không phải vì ông ta hiền mà vì cái thể của ông ta nặng Nghiêu là kẻ thất phu không thể sửa nỗi ba cái nhà không phải vì Nghiêu hư hỏng mà
vì thế của ông ta thấp” (Thiên Công Danh) Và cái Thế được thể hiện thông qua việc nhà vua là người duy nhất có quyền ban hành pháp luật
và quyên năm giữ thưởng phạt Nhờ có Thế mà pháp luật ra đời và đi vào cuộc sống Mức độ hiệu quả thi hành của pháp luật đến đâu là do Thế của nhà vua Thế có cao, có vững thì sự thực thi pháp luật của bề dứơi mới
được triệt để tuân theo Có pháp luật mà Thế yếu thì pháp luật cũng khó
được thi hành Hàn phi viết: “nếu họ (tức vua) giữ pháp luật ở vào cái thế
thì trị an, nếu họ từ bỏ pháp luật, gạt bỏ cái thế thì loạn” Như vậy, Thế là
điều kiện để tạo nên Pháp, để cho Pháp được thi hành theo đúng như
những gì nó được ban ra
Pháp duy trì củng cô Thế
Nếu như Thế là điều kiện tạo ra Pháp thì Pháp là yếu tố để duy trì
và củng cô Thế Pháp hiệu quả, đúng đắn thì Thế lớn mạnh, ngược lại, Pháp suy yếu, sai lệch thì Thế cũng hạn hep dan Pháp luật phân minh thì
người trên được tôn trọng, không bị lan Người trên được tôn trọng,
không bị lấn, thì vua mạnh, nắm được các mối quan trọng Hàn Phi Tử viết: “Ông vua dùng hình phạt và ân đức để khống chế bầy tôi, nay ông vua bỏ hình phạt và ân đức của mình để trao cho bây tôi sử dụng thì ông
II
Trang 12vua sẽ bị bề tôi không chế” (thuyết Hai cái cân) Pháp mà nhà vua dùng chủ yếu ở đây là chính sách thưởng phạt nghiêm minh, thưởng thì hậu, phạt thì nặng, từ đó giúp “nâng cao quyền uy của vua” và “sử dụng hết năng lực của bè tôi” Khi nhân dân chấp nhận sự thưởng - phạt của vua nghĩa là cái thế của vua được năng lên, được tôn trọng Thưởng phạt không chỉ tạo nên Thế của nhà vua mà đồng thời còn tạo nên Thế của nước Ông viết: “Nêu cao phép tắc cai trị thì nước nhỏ cũng giàu, nếu việc thưởng phạt được tôn trọng và chắc chăn thì dân tuy ít cũng mạnh.”
2 Thuật - Thế
Thuật tạo nên, củng cô bảo vệ cho Thế
Thuật cũng giống như Pháp, tạo nên Thế và bảo vệ, củng cô cho
cái Thế đó được vững chắc Nhà cai trị khi biết sử dụng Thuật (thuật
dùng người và thuật trừ gian) thì sẽ tìm được một đội ngũ quan lại có đủ năng lực để qua đó cai trị dân chúng Một minh chúa khi biết sử dụng
Thuật tốt thì sẽ tuyển chọn được đội ngũ có tài mà vẫn chịu phục tùng,
vẫn bị khuất phục trước quyên uy của chúa, khi đó sẽ càng củng cô vững chắc Thế của mình Vua phải biết cai trị dân, chế ngự quan lại, không
cho họ biết được tình cảm thật, suy nghĩ thật của mình, qua đó mà nhà
vua luôn giữ được uy quyên - Thế của mình, tránh việc kẻ dưới nịnh hót,
dối trá.” Một mình tự chế ngự dân trong bốn bề, khiến cho kẻ thông minh không gian trá được, kẻ miệng lưỡi không nịnh bợ được, kẻ gian tà
không biết dựa vào đâu được, dù kẻ ở xa ngoài ngàn dặm cũng không dám đổi lời, kẻ thân cận như các lang trung cũng không dám che dấu cái
tôt, tô điêm cái xâu; như vậy từ các bê tôi tại triêu tụ tập ở bên vua cho
12
Trang 13tới những kẻ thấp hèn ở xa cũng không dám lấn nhau mà đều giữ chức
phận mình.” (thiên Hữu Độ)
Thế là điễu kiện tất yếu để thực thị Thuật
Thuật là công cụ vua sử dụng để quản lý tầng lớp quan lại Vậy
nên để sử dụng được Thuật thì trước hết vua phải có Thế Nhà vua phải năm vững Thế -quyên uy, vị thế của mình thì mới có thể sử dụng Thuật
Thuật ở đây là thuật dùng người và thuật trừ gian Một người dù có Thuật hay đến đâu mà không có quyền thế trong tay thì cũng không thể
thi hành những nội dung đó của Thuật Vì vậy, Thế là điều kiện tất yếu
để thực thi Thuật chỉ khi có thế thì mới có thé “nha vua không giỏi mà
làm thầy những người giỏi, không khôn ngoan mà làm chuẩn mực cho sự
khôn ngoan Bây tôi vất vả mà nhà vua hưởng thụ sự thành công” (Thiên
Chủ đạo)
3.Pháp - Thuật
Pháp và Thuật thể hiện sự phân loại trong quản lý
Nếu như Pháp là công cụ để nhà vua cai trị đất nước thì Thuật là cách thức để nhà vua thi hành Pháp.Tư tưởng của Hàn Phi có điểm mới
mẻ khi phân loại chủ thể quản lý cũng như các phương pháp công cụ quản lý khác nhau giữa các loại chủ thể đó Cách phân loại này cho phép ông đi sâu hơn, chặt chẽ hơn khi phân tích chức năng cai trỊ của từng
loại chủ thể Đối với vua, Hàn Phi đề cao Thế và Thuật; với quan lại, ông
chủ yếu tập trung bàn về Pháp Theo Hàn Phi, vua dùng Thuật để quản lý
bộ phận quan lại, còn quan dùng hệ thống Pháp để quản lý dân chúng, dĩ nhiên là hệ thống pháp luật được ban hành ra dưới sự kiểm soát của vua
13
Trang 14Pháp và Thuật gắn bó không thể tách rời
Nhà vua cần biết kết hợp hài hòa trong việc sử dụng Thuật và
Pháp để cai trị đất nước Khi nhà vua biết sử dụng Thuật để tuyên được
đội ngũ quan lại có thể giúp mình cai trị đất nước thì việc ban hành và thực thi Pháp cũng sẽ rõ ràng, minh bạch và có hiệu quả hơn Và nội dung
của Pháp ban hành ra cũng thể hiện được Thuật trị nước của vua Luật
pháp ban hành ra dù có thay đổi cho hợp thời đi chăng nữa thì cũng không thể hoàn hảo được, do vậy có thể có những kẽ hở mà sẽ gây ảnh
hưởng xấu đến việc cai trị của vua.Vì vậy, cần có Thuật để hạn chế
những lỗ hồng của pháp luật, giúp vua nhận biết bề tôi mà có cách cai
quản phù hợp “Pháp luật là mệnh lệnh ban bố rõ ràng ở nơi cửa công,
hình phạt chắc chắn đối với lòng dân, thưởng cho những kẻ cần thận giữ pháp luật, nhưng phạt những kẻ làm trái lệnh Đó là điều bẩy tôi phải tuân theo Nhà vua không có thuật trị nước thì ở trên bị che đậy, bẩy tôi
mà không có pháp luật thì loạn sinh ra ở dưới, hai cái không thể thiếu cái nào ”(thiên Định Pháp) Thuật là rất quan trọng, nhưng nếu không đi đôi Pháp thì cũng không có hiệu lực gì Hàn Phi phê phán Thân Bất Hại không làm nên công trạng gì vì biết có Thuật mà không có Pháp Hàn phi cho rằng: “nếu coi nhẹ pháp luật và những điều ngăn cắm mà lo việc tính
toán, mưu mô, bỏ việc bên trong mà nhờ cậy bên ngoài thì có thể mất
nước"(thiên XV: Vong Trưng) Trong thiên Định Pháp, Hàn Phi cũng có
đề cập: “ Như vậy tuy Thân Bất Bại mười lần khiến Hàn Chiêu hầu
dùng thuật, nhưng bọn gian thần vẫn có cách đưa ra lời dối trá Cho nên tuy dựa vào nước Hàn mạnh có vạn cỗ xe mà trong mười bảy năm vẫn
không hé đạt được địa vị bá vương Như vậy tuy ở trên dùng thuật trị
nước nhưng có mối lo các quan không trau dôi pháp luật.” và “Thương Quân tuy làm mọi cách tô vẽ cho pháp luật của mình nhưng bay tôi lại
14