1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

đề cương Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

36 6 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 47,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì sao nói ĐCSVN ra đời là một tất yếu? Phân tích sự sáng tạo của ĐCS trong cương lĩnh đầu tiên? Phân tích sự sáng tạo của ĐCS trong cương lĩnh đầu tiên? Phân tích yếu tố thời cơ trong đường lối giành chính quyền của ĐCS Đông Dương(19391945)? liên hệ với việc nắm bắt thời cơ hiện nay của VN?

Trang 1

TRƯỚC ĐỔI MỚI

Câu 1 Vì sao nói ĐCSVN ra đời là một tất yếu? Phân tích sự sáng tạo của ĐCS trong cương lĩnh đầu tiên?

Vì sao nói ĐCSVN ra đời là một tất yếu?

*Mở bài: Lịch sử dân tộc Việt Nam, kể từ khi có Đảng là những trang sử hào hùng nhất,

oanh liệt nhất và vẻ vang nhất Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời mở ra một bước ngoặt lớncho cách mạng Việt Nam Với cương lĩnh đúng đắn, Đảng ra đời là sự chuẩn bị tất yếu đầutiên cho mọi thắng lợi của cách mạng nước ta, là nhân tố quyết định phương hướng phát triển và đưa đến thắng lợi trong sự nghiệp giành độc lập, tiến lên chủ nghĩa xã hội

Thân bài: Và vì sao nói ĐCSVN ra đời là một tất yếu thì trước tiên cần phải nắm được

hoàn cảnh lịch sử của thế giới và trong nước Trên thế giới nhân dân các dân tộc bị áp bức

đã đứng lên đấu tranh tự giải phóng khỏi ách thực dân, đế quốc, tạo thành phong trào giải phóng dân tộc mạnh mẽ, rộng khắp, cùng với đó là sự thắng lợi của cuộc cách mạng

Tháng Mười Nga (1917) mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới chống lại giai cấp tư sản, và dẫn tới sự ra đời của hàng loạt các đảng cộng sản, những tư tưởng cách mạng cấp tiến đang dội vào các nước thuộc địa Cách mạng Tháng Mười Nga và những hoạt động cách mạng của Quốc tế Cộng sản đã ảnh hưởng mạnh mẽ và thức tỉnh phong trào giải phóng dân tộc ở các nước trong đó có Việt Nam Sự ra đời của Đảng là kết quả của quá trình lựa chọn con đường cứu nước Cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược giành độc lập dân tộc tuy diễn ra liên tục mạnh mẽ, nhưng các phong trào đều lần lượt bị thất bại vì đã không đáp ứng được những yêu cầu khách quan của sự nghiệp giải phóng dân tộc Trong khi phong trào yêu nước theo khuynh hướng chính trị khác nhau đang bế tắc về đường lối thì khuynh hướng vô sản thắng thế: Phong trào dân tộc đi theo khuynh hướng vô sản

Và tình hình trong nước ở thời điểm hiện tại cùng các phong trào yêu nước nổi dậy giành độc lập dân tộc thất bại cũng là nguyên nhân dẫn đến việc hình thành ĐCSVN Trong nước dưới sự khai thác và bóc lột thuộc địa của thực dân Pháp đã làm gay gắt thêm các mâu thuẫn cơ bản trong lòng xã hội Việt Nam Tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội, đặc biệt là các mâu thuẫn dân tộc và giai cấp đã dẫn đến nhu cầu đấu tranh để tự giải phóng Một số phong trào đấu tranh nổ ra như phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế, hay phong trào yêu nước với xu hướng bạo động vũ trang bạo động do Phan Bội Châu tổ chức, lãnh đạo, xu hướng cải cách bất bạo động của Phan Châu Trinh đều thất bại

do những hạn chế về giai cấp, về đường lối chính trị, hệ thống tổ chức thiếu chặt chẽ, chưatập hợp được rộng rãi lực lượng của dân tộc, nhất là chưa tập hợp được hai lực lượng xã hội cơ bản (công nhân và nông dân) nên cuối cùng đã không thành công Thất bại của các phong trào trên đã chứng tỏ giai cấp phong kiến và hệ tư tưởng phong kiến không đủ điều kiện để lãnh đạo phong trào yêu nước giải quyết thành công nhiệm vụ dân tộc ở Việt Nam

Trang 2

và cần phải tìm một con đường cách mạng mới, giải quyết sự khủng hoảng này, nói cách khác là việc thành lập một chính đảng có đủ tư cách đại diện cho quyền lợi của dân tộc, của nhân dân, có đủ uy tín và năng lực để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ đi đến thành công là một nhu cầu cấp thiết của CM trong nước và đó chính là sự ra đời của ĐCSVN

Bên cạnh đó, Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời là kết quả của quá trình vận động hợp quy luật, của sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa ba yếu tố: Chủ nghĩa Mác – Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam; đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng sâu sắc vềgiai cấp lãnh đạo và đường lối cứu nước ở nước ta Những sự kiện năm 1925 đến năm

1929 đã chứng tỏ giai cấp công nhân nước ta đã trưởng thành “đủ sức lãnh đạo cách

mạng” Từ sự phân tích vị trí kinh tế xã hội của giai cấp trong xã hội Việt Nam cho thấy lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường cứu nước là đi theo con đường cách mạng

vô sản, chỉ có GCCN là giai cấp có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi cuối cùng

mà GCCN muốn lãnh đạo cách mạng được thì phải có Đảng cộng sản Sự thành lập Đảng cộng sản là quy luật của sự vận động của phong trào công nhân từ tự phát thành tự giác, phải có hệ thống lý luận khoa học với tư cách là vũ khí tư tưởng của giai cấp công nhân chống chủ nghĩa tư bản, nó được trang bị bằng lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin

Kết bài: Ngoài ra những yếu tố bên ngoài cũng ảnh hưởng đến sự ra đời của ĐCS, hình

thành Đảng Cộng sản Việt Nam là một yêu cầu cấp thiết để hòa nhập với phong trào công nhân thế giới và các cuộc đấu tranh dân tộc dân chủ trên thế giới Dần dẫn đến các hoạt động hợp pháp hơn của đảng đối với thực dân Pháp và quốc tế Tạo ra khả năng thuận lợi

để liên kết giữa các đảng cộng sản ở các nước có quan hệ với nhau theo mục tiêu chung

Và Nguyễn ái Quốc là người Việt Nam đầu tiên tìm thấy chủ nghĩa Mác-Lênin và con đường giải phóng dân tộc theo đường lối cách mạng vô sản, là chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và ngày 3-2-1930 thống nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam

Phân tích sự sáng tạo của ĐCS trong cương lĩnh đầu tiên?

* Mở bài: Đường lối lãnh đạo là một trong những vấn đề chiến lược của mỗi Đảng cầm

quyền Xác định được điều đó, ngay từ khi ra đời, tại Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản vào tháng 2-1930, Cương lĩnh chính trị đầu tiên do NAQ soạn thảo và đã được thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng bao gồm một số văn kiện trong đó văn kiện nổi bật nhất hợp thành cương lĩnh đó là Chính cương vắn tắt và sách lược vắn tắt Mặc dù còn sơ lược, vắn tắt nhưng nó đã vạch ra được những vấn đề cơ bản nhất của CM VN khẳng định tính đúng đắn sáng tạo khoa học và trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng ta trong mọi thời kỳ cách mạng và đặc biệt có giá trị trong thời đại ngày nay

Thân bài: Và để nhận thấy được tính sáng tạo trong cương lĩnh chính trị đầu tiên của

ĐCS thì cần phải hiểu được nội dung của cương lĩnh Đường lối của CM VN được xác định trong cương lĩnh chính trị đầu tiên là CMVN trải qua hai giai đoạn: Giai đoạn đầu

Trang 3

tiên là làm CM để GPDT và để giải phóng giai cấp được thể hiện qua 2 cuộc CM riêng biệt là CM tư sản dân quyền (sau này gọi là CM giải phóng dân tộc) và CM và thổ địa

CM (CM ruộng đất hay CM dân chủ), giai đoạn tiếp theo là làm CMXHCN để đi tới XH cộng sản Hai giai đoạn CM kế tiếp và ko tách rời nhau Đây là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thuộc phạm trù cách mạng vô sản bao gồm ba nội dung gắn bó với nhau: dân tộc , dân chủ và chủ nghĩa xã hội

Nội dung thứ hai được xác định trong cương lĩnh là nhiệm vụ của CM VN Trong giai đoạn thực hiện chiến lược cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng thổ địa, hai nhiệm

vụ của cách mạng VN được xác định trong cương lĩnh là đánh đổ ách thống trị của đế quốc Pháp (nhiệm vụ dân tộc), đánh đổ vua quan phong kiến và tư sản phản CM (nhiệm

vụ dân chủ), như vậy theo cương lĩnh đánh đuổi đế quốc Pháp để giành độc lập dân tộc và đánh đổ vua quan PK và tư sản phản CM là để giải phóng giai cấp, trong đó nhiệm vụ dântộc được đặt lên hàng đầu

Tiếp đến là mục tiêu của CM Mục tiêu của CM được xác định trong cương lĩnh đầu tiên

là làm cho nước VN hoàn toàn độc lập, dựng nên chính phủ và quân đội công nông, tịch thu sản nghiệp của bọn đế quốc, địa chủ, tư sản phản CM đem chia cho dân cày nhằm giải quyết vấn đề ruộng đất

Giai cấp lãnh đạo và lực lượng CM cx là một nội dung quan trọng được xác định trong cương lĩnh Theo đó, lực lượng lãnh đạo CM là ĐCSVN, là đội tiên phong của GC vô sản,công nhân, nông dân là lực lượng CM nòng cốt, là gốc của CM, bầu bạn với CM là tiểu tư sản, trí thức, còn với phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư sản dân tộc thì lợi dụng, lôi kéo hoặc trung lập họ, đồng thời phải liên lạc với các dân tộc bị áp bức và vô sản trên thế giới Như vậy lực lượng CM bao gồm tất cả các giai cấp tầng lớp trong XH, toàn thể dân tộc và

kẻ thù của CM chỉ có tư sản mại bản và đại địa chủ mà thôi

Về quan hệ quốc tế thì CMVN là một bộ phận khăng khít của CM thế giới Đoàn kết chặtchẽ với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản trên thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp

Từ nội dung trên ta nhận thấy rằng tính sáng tạo của cương lĩnh được thể hiện thông qua những điểm sau:

Thứ nhất, cương lĩnh chính trị đầu tiên đã đặt vấn đề giải phóng dân tộc về phạm vi của VN, về phương pháp cách mạng Đảng chủ trương phải giành chính quyền bằng bạo lực cách mạng Cách mạng Việt Nam đoàn kết với giai cấp vô sản và các dân tộc thuộc địatrên thế giới Cách mạng Việt Nam là một phần của cách mạng thế giới

Thứ hai, sáng tạo trong cương lĩnh là NAQ đã đưa CM ruộng đất ra bên ngoài khái niệm CM tư sản dân quyền, đề cao vấn đề dân tộc hơn vấn đề đấu tranh giai cấp và chống phong kiến vì xã hội Việt Nam lúc đó có hai mâu thuẫn như vừa nêu trên, nhưng mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp là mâu thuẫn bao trùm, chi phối việc giải quyết các mâu thuẫn khác, vấn đề giải phóng dân tộc là vấn đề bức xúc, là nhiệm vụ cốt

Trang 4

lõi, trực tiếp trước mắt, là tiền đề, điều kiện để tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Thứ ba, thể hiện được vấn đề đoàn kết dân tộc về việc lựa chọn lực lượng CM, khi xác định lực lượng cách mạng không chỉ có công- nông là gốc, là động lực của cách mạng

mà còn có trí thức, trung và tiểu địa chủ thì lợi dụng hoặc trung lập họ Mặc dù rõ ràng trong XH VN hiện tại đã xuất hiện phú nông, tư sản dân tộc, trung, tiểu địa chủ và họ là những giai cấp thống trị, bóc lột chưa lộ rõ mặt phản CM nhưng vẫn được lãnh tụ NAQ đưa vào lực lượng làm bạn với CM là vì họ cũng chỉ là những lực lượng ko có thế lực mạnh, ko có cơ sở kinh tế và giai cấp đủ mạnh để có thể áp bức hoàn toàn giai cấp công nông dân mà bản thân họ cũng bị đại địa chủ, tư sản mại bản và đặc biệt là đế quốc Pháp

áp bức, bóc lột nên họ ít nhiều cũng có tinh thần dân tộc cho nên phải lôi kéo hoặc trung lập những người có thể trung lập nhằm làm suy yếu kẻ thù và cương quyết trừng trị đối với kẻ thù thể hiện sự nhận thức và đánh giá đúng của Đảng đối với mỗi giai cấp, mỗi tầnglớp, thừa nhận tính tích cực và đóng góp của họ trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước cũng là một nét sáng tạo rất độc đáo của NAQ so với thế giới được thể hiện trong cương lĩnh chính trị

Kết bài: Như vậy, NAQ đã tranh thủ tối đa lực lượng CM, cô lập tối đa lực lượng kẻ thù.

Thành lập mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng, trên cơ sở công nông trí thức liên minh Cương lĩnh chính trị đầu tiên do NAQ soạn thảo tuy còn vắn tắt nhưng rất đầy đủ, là một cương lĩnh đúng đắn và sáng tạo, nhuần nhuyễn về quan điểm giai cấp, thấm đượm tinh thần dân tộc và tinh thần nhân văn Độc lập dân tộc và tự do là tư tưởng cốt lõi của cương lĩnh

-Câu 2 Phân tích yếu tố thời cơ trong đường lối giành chính quyền của ĐCS Đông Dương(1939-1945)? liên hệ với việc nắm bắt thời cơ hiện nay của VN?

Bối cảnh lịch sử :

Tháng 9/1939 thế chiến thứ hai bùng nổ đã chi phối điều kiện kinh tế-chính trị-xã hội của tất

cả các nước liên quan Mặt trận Nhân dân Pháp tan vỡ Ở Đông Dương, chính quyền thực dân Pháp đã thi hành chính sách thời chiến, phát xít hóa bộ máy thống trị, thủ tiêu mọi quyền tự do cơ bản của nhân dân thuộc địa, cấm tuyên truyền cộng sản, đặt Đảng Cộng Sản ngoài vòng pháp luật, đồng thời tăng cường vơ vét sức người sức của, áp bức bóc lột công khai các nước thuộc địa để phục vụ cho chiến tranh ở chính quốc Tháng 9/1940 quân phiệt Nhật tiến vào Đông Dương, Pháp chống cự yếu ớt rồi nhanh chóng đầu hàng, bắt tay câu kết với Nhật để cùng thống trị nhân dân Đông Dương trong đó có Việt Nam ta Dân ta lâm vào cảnh “1 cổ 2 tròng” -🡪 mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam với bè lũ thực dân Pháp- phát xít Nhật xâm lược càng trở nên gay gắt Nước ta rơi vào cảnh bần cùng về kinh tế, ngột ngạt

về chính trị sâu sắc hơn bao giờ hết.

Ngay khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, trước sự khủng bố quyết liệt của kẻ thù, Đảng Cộng sản Đông Dương chủ động rút vào hoạt động bí mật, chuyển trọng tâm công tác

về nông thôn, đồng thời tích cực chuẩn bị đường lối đấu tranh giành chính quyền cho nhân dân với thông báo “ Hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến vấn đề dân tộc giải phóng”🡪 nắm bắt thời cơ, chuẩn bị đầy đủ các phương diện để đưa nhân dân bước vào thời kì trực

Trang 5

tiếp vận động giải phóng dân tộc.

Đầu năm 1945, chiến tranh thế giới thứ hai đi đến giai đoạn kết thúc Chủ nghĩa phát xít liên tiếp thua trận, đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn Quân đội các nước đồng minh chuẩn bị đổ bộ vào Đông Dương Trong tình thế khó khăn đó, phát xít Nhật tiến hành cuộc đảo chính, lật đổ Pháp (9/3/1945) để độc chiếm Đông Dương Về phía ta, ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng tại Đình Bảng (Bắc Ninh),

ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (12/3/1945), xác định rõ kẻ thù cụ thể trước tộc, duy nhất của nhân dân Đông Dương lúc này là phát xít Nhật Vì vậy, cần phải thay khẩu hiệu “đánh Pháp, đuổi Nhật” bằng khẩu hiệu “đánh đuổi phát xít Nhật Đầu tháng 8/1945, chiến tranh thế giới thứ hai đi đến những ngày cuối cùng Sau khi tiêu diệt hoàn toàn phát xít Đức, chấm dứt chiến sự ở châu Âu, các nước trong phe Đồng minh (đứng đầu là Mỹ và Liên Xô) dồn sức tiêu diệt phát xít Nhật ở châu Á, buộc chính phủ Nhật Hoàng phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện (13/8/1945) Tin tức đầu hàng nhanh chóng lan đi khắp mặt trận Quân đội Nhật chiếm đóng ở Đông Dương bị tê liệt, mất tinh thần chiến đấu, chính phủ bù nhìn hoang mang cực độ Thời cơ cách mạng xuất hiện, không khí cách mạng sục sôi trong cả nước.

Theo sự thỏa thuận của các nước đồng minh thắng trận, quân đội Tưởng Giới Thạch (Trung Hoa Dân quốc) sẽ tiến vào miền Bắc Việt Nam, quân đội Anh - Pháp sẽ vào miền Nam Việt Nam (lấy vĩ tuyến 16 phân chia) làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật, nhưng thực chất đều muốn thực hiện ý định tiêu diệt lực lượng cách mạng và Đảng Cộng sản Đông Dương, thành lập chính quyền tay sai phục vụ mưu đồ cai trị, nô dịch lâu dài.

Trước sự chuyển biến mau lẹ của tình hình, Đảng Cộng sản Đông Dương triệu tập Hội nghị toàn quốc (từ 13-15/8/1945) họp tại Tân Trào (Tuyên Quang), nhận định thời cơ đã đến, quyết định phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước trước khi quân đồng minh vào Hội nghị quyết định thành lập Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc để kịp thời chỉ đạo thống nhất phong trào khởi nghĩa các địa phương Ủy ban Khởi nghĩa ra quân lệnh số 1:

“Giờ Tổng khởi nghĩa đã đến! Cơ hội có một cho quân, dân Việt Nam cùng giành lấy quyền độc lập của nước nhà Chúng ta phải hành động cho nhanh, với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng! Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta”.

🡪 chớp lấy thời cơ , không thể chậm trễ hơn nữa, chanh chóng phát đi lệnh khởi nghĩa trên toàn quốc đưa cách mạng đi đến thành công.

Điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ:

Thứ nhất, về việc xác định thời cơ, lúc này tình thế đã hoàn toàn khác với thời điểm ngày 9/3/1945, khi Nhật đảo chính Pháp Lúc đó, trong Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (ngày 12/3/1945), Đảng ta đã nhận định là “những điều kiện khởi nghĩa chưa thực chín muồi”, do giữa Pháp và Nhật “chưa chia rẽ, hoang mang, do dự đến cực điểm”; sự giác ngộ và đồng lòng của nhân dân cần có thêm thời gian tuyên truyền, vận động; lực lượng chưa được chuẩn bị đủ và sẵn sàng Đến tháng 8/1945, tình thế đã thay đổi: Pháp chưa nắm lại được chính quyền, Nhật thì hoang mang cực độ, chế độ quân chủ gần như sụp đổ, nhân dân đã vùng dậy (từ tự phát phá kho thóc của Nhật đến việc nổi dậy giành chính quyền ở cơ sở tại một số nơi), lực lượng đã được chuẩn bị cơ bản, không chỉ ở chiến

Trang 6

khu Việt Bắc mà còn nhiều nơi khác…

Thứ hai, về chủ trương, từ tháng 3 đến tháng 8/1945, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương nhằm chuyển hướng đấu tranh cách mạng, củng cố lực lượng… Bằng nhiều hình thức, Trung ương Đảng đã chỉ đạo các Xứ ủy Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ đề ra các nhiệm vụ cụ thể trong phạm vi hoạt động của mình

Thứ ba, về lực lượng, đây là sự chuẩn bị lâu dài Từ khi lãnh tụ Hồ Chí Minh về nước hoạt động, tháng 5/1941, chỉ hơn 3 tháng sau khi về nước, Người thành lập Mặt trận Việt Minh

để tập hợp các lực lượng tham gia giành độc lập Người mở nhiều lớp huấn luyện quân sự cho cán bộ, xây dựng căn cứ địa Ngày 22/12/1944, Người giao đồng chí Võ Nguyên Giáp thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, đơn vị vũ trang chính thức đầu tiên của cách mạng, nhưng nhiệm vụ chính không chỉ có hoạt động vũ trang mà còn có hoạt động tuyên truyền Người cũng tranh thủ các đơn vị của Mỹ trong lực lượng Đồng minh để giúp đỡ vũ khí và tham gia huấn luyện quân sự, đây chính là lực lượng nòng cốt để hành quân về Hà Nội để cùng nhân dân giành chính quyền Dĩ nhiên, trong quá trình đó, lực lượng tối quan trọng vẫn là các tầng lớp nhân dân đã được giác ngộ, vận động và tập hợp trong nhiều tổ chức, dưới nhiều hình thức.

Thứ tư, về các chỉ đạo cụ thể, tháng 8/1945, Hồ Chí Minh đã có thư kêu gọi khởi nghĩa, ban hành mệnh lệnh khởi nghĩa, công bố Quân lệnh số 1 của Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc… Tiếp đó, Người cùng Trung ương Đảng họp Hội nghị toàn quốc của Đảng (ngày 14 và 15/8/1945) và tổ chức Đại hội Quốc dân ở Tân Trào (ngày 16/8/1945) Đại hội đã nhiệt liệt tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng và Tổng bộ Việt Minh Đại hội quyết định toàn dân đoàn kết đứng lên vũ trang khởi nghĩa giành chính quyền; thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh; bầu Ủy ban Dân tộc giải phóng (tức Chính phủ lâm thời) do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch; thống nhất quy định Quốc hiệu, Quốc kỳ, Quốc ca của nước Việt Nam mới…

> Như vậy, sự kiện Nhật đầu hàng Đồng minh, Thế chiến II kết thúc, chế độ phong kiến

ở Việt Nam sụp đổ kết hợp với sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt đã trở thành cơ hội cách mạng, thời cơ “có một không hai” của một cao trào mang tính quyết định của cách mạng Việt Nam Yếu tố thời cơ giữ vai trò đặc biệt quan trọng, có ảnh hưởng sâu sắc đối với cách mạng Việt Nam, góp phần to lớn để đưa đến thắng lợi cuối cùng trong đường lối đấu tranh giành chính quyền của Đảng cộng sản Đông Dương.

*Liên hệ bài học nắm bắt thời cơ của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay:

Nắm bắt thời cơ không chỉ đem lại thắng lợi to lớn trong đường lối đấu tranh giành chính quyền của Đảng cộng sản Đông Dương giai đoạn 1939- 1945, mà nắm vững bài học đó, Đảng ta đã nhiều lần giành thắng lợi trong suốt chiều dài đấu tranh giành độc lập Nổi bật nhất là trong đại thắng mùa Xuân năm 1975, Đảng ta đã liên tiếp có những quyết định sáng suốt và kịp thời để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, trong đó có việc giải phóng các đảo trong quần đảo Trường Sa trước khi đánh bại hoàn toàn chế độ Sài Gòn.

Tiếp theo đó, sau khi nhận thức được toàn cầu hóa và xu hướng hội nhập quốc tế là một diễn biến khách quan mang tính tất yếu Đảng ta đã biến nó thành cơ hội khi chuẩn bị một tâm thế sẵn sàng hội nhập, bắt đầu từ kinh tế, văn hóa, thể thao cho đến chính trị Tranh thủ

cơ hội để mở rộng hợp tác với tất cả các nước, đưa sản phẩm của Việt Nam vươn xa ra thế

Trang 7

giới Việt Nam đã gia nhập ASEAN, trở thành thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), ứng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc… Vị thế, vai trò và uy tín của nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, cải thiện được đời sống của nhân dân cả nước, thúc đẩy quá trình tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Hiện nay, dịch Covid-19 đã và đang gây nhiều thiệt hại cho nền kinh tế thế giới nói chung

và cả Việt Nam nói riêng Ngay từ khi dịch bệnh bắt đầu, Đảng ta đã chớp lấy thời cơ tiến hành hàng loạt các biện pháp phòng chống tích cực, cử các lực lượng liên quan tiến hành vây quét, truy vết các F0,F1, xây dựng các chốt kiểm dịch, nắm chắc thời cơ để kiểm soát được tốt nhất, nhằm ngăn chặn tối đa sự lây lan dịch bệnh, bảo đảm an toàn cho nhân dân cả nước Hơn thế nữa, việc nhanh chóng nghiên cứu sản xuất ra vắc xin và tìm ra phương pháp điều trị , xây dựng các bệnh viện dã chiến, khu cách li tập trung cũng được nhà nước và các

cơ quan gấp rút thực hiện Việc chớp lấy thời cơ đàm phán mua vắc xin với các nước để phục vụ nhu cầu của nhân dân cũng được nhà nước đặc biệt quan tâm thực hiện nhanh chóng nhất có thể

====>> Thời cơ giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, chớp lấy thời cơ là chớp lấy cơ hội, vì vậy, việc nắm bắt và vận dụng thời cơ của Cách mạng tháng Tám vẫn là bài học lớn của Đảng, của đất nước được áp dụng xuyên suốt trong sự nghiệp xây dựng và phát triển ở nước

ta trong hiện nay và mai sau.

Câu 3 Mối quan hệ giữa đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp và xây dựng chế độ mới( chế độ dân chủ nhân dân) (1945-1954)

Phương châm tiến hành kháng chiến: Tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, thực hiệnkháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính.Đảng ta áp dụngphương châm này không chỉ trong công cuộc kháng chiến chống giặc mà còn trong cả giaiđoạn xây dựng chế độ mới, là xây dựng căn cứ địa cho Cách mạng Chính vì vậy mà giữađường lối kháng chiến và việc xây dựng chế độ mới có mối quan hệ song song và chặtchẽ

Đầu tiên, về đường lối kháng chiến chống Pháp, mục đích kháng chiến là kế tục và pháttriển sự nghiệp Cách mạng Tháng Tám, "Đánh thực dân Pháp xâm lược; giành thốngnhất và độc lập" Cuộc kháng chiến của dân tộc ta là một cuộc chiến tranh cách mạng củanhân dân, chiến tranh chính nghĩa Nó có tính chất toàn dân, toàn diện và lâu dài Nó làmột cuộc chiến tranh tiến bộ vì tự do, độc lập, dân chủ và hòa bình

Xuất phát từ lòng tin vào sức mạnh của nhân dân - có dân là có tất cả, Chủ tịch Hồ Chí

Trang 8

Minh nhấn mạnh, phải dựa vào dân, khơi nguồn sức mạnh, sức sáng tạo của nhân dân.

Người giải thích, toàn dân kháng chiến chính là: "Bất kì đàn ông đàn bà không chia tôn

giáo, đảng phái, dân tộc, bất kỳ người già, người trẻ Hễ là người Việt Nam thì phải đứng

lên đánh thực dân Pháp", thực hiện mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng xóm là một

pháo đài Trong công cuộc xây dựng chế độ mới, toàn thể nhân dân chính là nguồn lực

chính để thay đổi đất nước, tất cả mọi người cùng nhau góp sức Bất kì người dân, không

phân biệt văn hóa, vùng miền, tôn giáo , tuổi tác…đều có thể đóng góp công sức làm nên

sức mạnh tập thể đất nước, thay đổi bộ mặt nước nhà

Về đường lối kháng chiến toàn diện là đánh địch về mọi mặt: chính trị, quân sự, kinh tế, vănhóa, ngoại giao Về chính trị: Thực hiện đoàn kết toàn dân, tăng cường xây dựng Đảng, chínhquyền, các đoàn thể nhân dân; đoàn kết với Miên, Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do, hòabình Về quân sự: Thực hiện vũ trang toàn dân, tiêu diệt địch… Về kinh tế: xây dựng kinh tế

tự cung tự túc, tập trung phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và côngnghiệp quốc phòng.Về văn hóa: Xóa bỏ văn hóa thực dân, phong kiến, xây dựng nền văn hóadân chủ mới.Về ngoại giao: thêm bạn bớt thù , biểu dương thực lực Trong công cuộc xâydựng chế độ mới, Đảng ta chủ trương xây dựng toàn diện, mọi mặt Đó là sự thay đổi và xâydựng trên mọi bình diện và lĩnh vực đời sống: kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự, ngoạigiao…Chỉ có sự tập trung xây dựng toàn diện, đồng đều mới đưa đất nước tiến lên chế độ mớivới sự phát triển nhanh chóng và hợp lý

Việc thực hiện đường lối kháng chiến lâu dài để chống âm đánh nhanh, thắng nhanh củaPháp; để chuyển hóa tương quan lực lượng đánh thắng địch; để củng cố hậu phương vữngchắc Điều này càng được áp dụng vào trong công cuộc xây dựng chế độ mới Toàn dân ra sứcxây dựng chế độ dân chủ nhân dân với tâm thế kỹ lưỡng, cẩn thận và đúng đắn nên không thểhoàn thành trong thời gian ngắn mà phải tiến hành lâu dài, có đường lối xây dựng cụ thể

Phương châm dựa vào sức mình là chính có nghĩa là: “Phải tự cấp, tự túc về mọi mặt" Nhândân ta phải đồng sức đồng lòng thi đua sản xuất, huy động hết sức người, sức của để xây dựng

cơ sở vững chắc cho nền công nghiệp, nông nghiệp Chỉ có lao động mới tạo ra của cải vật chất

Vì ta bị bao vây bốn phía, chưa được nước nào giúp đỡ nên phải tự lực cánh sinh, kháng chiếndựa vào ý chí và sức mạnh nước nhà Khi nào có điều kiện ta sẽ tranh thủ sự giúp đỡ của các

Trang 9

nước, song lúc đó cũng không được ỷ lại.

Câu 4 Tư tưởng chiến lược tấn công của Đảng trong giai đoạn (1959-1964)

Tháng 1-1959, Hội nghị Trung ương lần thứ 15 họp bàn về cách mạng miền Nam Sau nhiều lần họp và thảo luận, Ban Chấp hành Trang ương đã ra nghị quyết về cách mạng miền Nam Trung ương Đảng nhận định: "hiện nay, cách mạng Việt Nam do Đảng ta lãnh đạo bao gồm hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Hai nhiệm vụ chiến lược đó tuy tính chất khác nhau, nhưng quan hệ hữu cơ với nhau nhằm phương hướng chung là giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà, tạo điều kiện thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội" Nhiệm

vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là ''giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam" "Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân" Đó là con đường "lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng

vũ trang đế đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhản dân" "Tuy vậy, cần thấy rằng cách mạng ở miền Nam vẫn có khả năng hòa bình, phát triển, tức là khả năng dần dần cải biến tình thế, dần dần thay đổi cục diện chính trị ở miền Nam có lợi cho cách mạng: Khả năng đó hiện nay rất ít, song Đảng ta không gạt bỏ khả năng đó, mà cần ra sức tranh thủ khả năng đó.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 có ý nghĩa lịch sử to lớn, chẳng những đã mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lên, mà còn thể hiện rõ bản lĩnh độc lập tự chủ, sáng tạo của Đảng ta trong những năm tháng khó khăn của cách mạng.

Quá trình đề ra và chỉ đạo thực hiện các nghị quyết, chủ trương nói trên chính là quá trình hình thành đường lối chiến lược chung cho cách mạng cả nước, được "hoàn chỉnh tại Đại hội lần thứ III của Đảng.

Đại hội lần thứ III của Đảng họp tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 5 đến ngày 10-9-1960 Đại hội đã hoàn chỉnh đường lối chiến lược chung của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới Cụ thể là:

Nhiệm vụ chung: "tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, đẩy

Trang 10

mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, thiết thực góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới".

Nhiệm vụ chiến lược: "Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện tại có hai nhiệm vụ chiến lược Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Hai là, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước" "Nhiệm vụ cách mạng ở miền Bắc và nhiệm vụ cách mạng

ở miền Nam thuộc hai chiến lược khác nhau, mỗi nhiệm vụ nhằm giải quyết yêu cầu cụ thể của mỗi miền trong hoàn cảnh nước nhà tạm bị chia cắt Hai nhiệm vụ đó lại nhằm giải quyết mâu thuẫn chung của cả nước giữa nhân dân ta với đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng, thực hiện mục tiêu chung trước mắt là hòa bình thống nhất Tổ quốc".

Mối quan hệ của cách mạng hai miền: Do cùng thực hiện mệt mục tiêu chung nên "Hai nhiệm

vụ chiến lược ẩy có quan hệ mật thiết với nhau và có tác dụng thúc đẩy lẫn nhau".

Vai trò, nhiệm vụ của cách mạng mỗi miền đối với cách mạng cả nước: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có nhiệm vụ xây dựng tiềm lực và bảo vệ căn cứ địa của cả nước, hậu thuẫn cho cách mạng miền Nam, chuẩn bị cho cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội về sau, nên giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam và đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam giữ vai trò quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trong cả nước.

Con đường thống nhất đất nước: Trong khi tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng, Đảng kiên trì con đường hòa bình thống nhất theo tinh thần Hiệp nghị Giơnevơ, sẵn sàng thực hiện hiệp thương tổng tuyển cử hòa bình thống nhất Việt Nam, vì đó là con đường tránh được

sự hao tổn xương máu cho dân tộc ta và phù hợp với xu hướng chung của thế giới "Nhưng chúng ta phải luôn luôn nâng cao cảnh giác, sẵn sàng đối phó với mọi tình thế Nếu đế quốc Mỹ

và bọn tay sai của chúng liều lĩnh gây ra chiến tranh hòng xâm lược miền Bắc, thì nhân dân cả nước ta sẽ kiên quyết đứng dậy đánh bại chúng, hoàn thành độc lập và thống nhất Tổ quốc" Triển vọng của cách mạng Việt Nam: Cuộc đấu tranh nhằm thực hiện thống nhất nước nhà là một quá trình đấu tranh cách mạng gay go, gian khổ, phức tạp và lâu dài chống đế quốc Mỹ và

Trang 11

bè lũ tay sai của chúng ở miền Nam Thắng lợi cuối cùng nhất định thuộc về nhân dân ta, Nam Bắc nhất định sum họp một nhà, cả nước sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội.

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trong ương Đảng do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch và Lê Duẩn làm

Bí thư thứ nhất.

- Ý nghĩa của đường lối: ( cần thì ghi)

Đường lối tiến hành đồng thời và kết hợp chặt chẽ hai chiến lược cách mạng do Đại hội lần thứ III của Đảng đề ra có ý nghĩa lý luận và thực tiễn hết sức to lớn.

+ Đường lối đó thể hiện tư tưởng chiến lược của Đảng là giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc

và chủ nghĩa xã hội, vừa phù hợp với miền Bắc, vừa phù hợp với miền Nam, vừa phù hợp với

cả nước Việt Nam, vừa phù hợp với tình hình quốc tế, nên đã huy động và kết hợp được sức mạnh của hậu phương và tiền tuyến, sức mạnh cả nước và sức mạnh của ba dòng thác cách mạng trên thế giới, tranh thủ được sự đồng tình giúp đỡ của cả Liên Xô và Trung Quốc Do đó

đã tạo ra được sức mạnh tổng hợp để dân tộc ta đủ sức đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

+ Đặt trong bối cảnh Việt Nam và quốc tế lúc bấy giờ, đường lối chung của cách mạng Việt Nam đã thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo của Đảng ta trong việc giải quyết những vấn đề không có tiền lệ lịch sử, vừa đúng với thực tiễn Việt Nam, vừa phù hợp với lợi ích của nhân loại và xu thế của thời đại.

+ Đường lối chiến lược chung cho cả nước và đường lối cách mạng ở mỗi miền là cơ sở để Đảng chỉ đạo quân dân ta phấn đấu giành được những thành tựu to lớn trong xây đựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thắng lợi chống các chiến lược chiến tranh của đế quốc

Mỹ và tay sai ở miền Nam.

Đường lối của Đại hội III được Đảng bổ sung, phát triển qua quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng ở mỗi miền trong những năm 1960-1965 Trong đó, đối với miền Bắc, các Hội nghị Trung ương lần thứ tư (tháng 4-1961) đã bàn về công tác xây dựng Đảng, Hội nghị Trung ương lần thứ năm (tháng 7-1961) bàn về phát triển nông nghiệp, Hội nghị Trung ương lần thứ bảy (tháng 6-1962) bàn về phát triển công nghiệp Hội nghị Trung ương lần thứ 10 (tháng 12- 1964) bàn về lưu thông, phân phối Đối với cách mạng miền Nam, các Hội nghị Bộ Chính trị đầu năm 1961,

1962 đã chủ trương giữ vững và phát triển thế tiến công của cách mạng Bộ Chính trị chủ

trương kết hợp khởi nghĩa của quần chúng với chiến tranh cách mạng, giữ vững và đẩy mạnh đấu tranh chính trị, đồng thời phát triển đấu tranh vũ trang lên một bước mới, ngang tầm với đấu

Trang 12

tranh chính trị Thực hành kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị song song, đẩy mạnh đánh địch bằng ba mũi giáp công: quân sự, chính trị, binh vận Vận dụng phương châm đấu tranh phù hợp với đặc điểm từng vùng chiến lược: rừng núi, đồng bằng, thành thị.

Câu 5 Phân tích mối quan hệ giữa đấu tranh chính trị - quân sự - ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ(1965-1975)

* Mở bài: Trong một cuộc chiến tranh thường bao gồm sự đấu tranh trên rất nhiều lĩnh

vực giữa hai lực lượng tham chiến, cả đấu tranh trên mặt trận quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao…trong đó đấu tranh trên mặt trận quân sự và đấu tranh trên mặt trận ngoại giao có vai trò quan trọng Cuộc đấu tranh trên hai lĩnh vực này góp phần quan trọngquyết định kết cục của cuộc chiến tranh Đấu tranh trên mặt trận quân sự là sự đụng đầu giữa hai bên bằng việc sử dụng vũ lực, vũ khí với việc tham chiến của quân đội hai bên Đấu tranh trên mặt trận ngoại giao là sự gặp gỡ giải quyết những vấn đề vướng mắc cần giải quyết thông qua sự trao đổi hội kiến, tọa đàm, hội nghị giữa hai phái đoàn ngoại giao của hai bên nhằm đạt được thỏa thuận chung

Thân bài: Giữa hai lĩnh vực đấu tranh này có mối quan hệ mật thiết, khăng khít tác động

qua lại lẫn nhau Đấu tranh trên mặt trận quân sự là yếu tố căn bản nhất của bất kỳ một cuộc chiến tranh nào nó sẽ quyết định phần thắng thuộc về ai, đấu tranh quân sự quyết định đến đấu tranh trên mặt trận ngoại giao Kết quả cuộc đấu tranh ngoại giao phụ thuộc vào kết quả trên mặt trận quân sự bởi vì người ta chỉ có thể giành được những gì trên bàn ngoại giao tương ứng với những gì dành được trên chiến trường Đấu tranh trên mặt trận ngoại giao có tác dụng cụ thể hóa những chiến thắng quân sự, qua đấu tranh ngoại giao màtranh thủ sự đồng tình ủng hộ của quốc tế tạo thuận lợi cho đấu tranh quân sự Kết quả của đấu tranh ngoại giao là phản ánh kết quả của đấu tranh quân sự

Sau khi giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống pháp nhân dân ta hân hoan bắt tay vào việc xây dựng lại đất nước trong những năm dài bị chiến tranh tàn phá nhưng ngay sau

đó đất nước ta là phải tiến hành một cuộc kháng chiến trường kỳ chống lại hành động xâmlược của đế quốc Mỹ, với âm mưu biến miền Nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới, chia cắt lâu dài nước ta Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cũng diễn ra sự kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh trên mặt trận chính trị, quân sự với đấu tranh trên mặt trận ngoại giao,nhằm

phát huy sức mạnh toàn diện trên các mặt trận chống Đế quốc Mỹ xâm lược thì giai đoạn

năm (1965-1973) là giai đoạn mà mặt trận ngoại giao và mặt trận quân sự liên quan mật

thiết với nhau, dẫn đến việc ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam

Trên mặt trận quân sự sau khi “chiến lược chiến tranh đặc biệt bị thất bại Mỹ phải

chuyển sang “chiến lược chiến tranh cục bộ” một hình thức chiến tranh kiểu mới có sự tham gia trực tiếp của quan điểm chiến Mỹ và quân đội các nước chư hầu cùng quân đội

Trang 13

Sài Gòn Đây là một bước leo thang chiến tranh mới của Mỹ khi chúng sử dụng lực lượng mạnh gây chiến tranh phá hoại miền Bắc nhằm phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và ngăn cản sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam, đưa chiến tranh lan rộng ra cả nước ta Ở miền Nam với hai gọng kìm “bình định” và “tìm diệt” Mỹ ngụy mở những cuộc tiến công lớn với hỏa lực mạnh Mỹ ngụy hy vọng sẽ tiêu diệt được cơ quan đầu não kháng chiến của ta bình định hoàn toàn Miền Nam Nhưng quân dân ta với tinh thần quyết tâm đánh giặc Mỹ xâm lược đã lần lượt đánh bại các đợt tấn công của địch mở đầu là chiến thắng Vạn Tường, tiếp đó là thắng lợi ở hai mùa khô và đặc biệt là chiến thắng Mậu Thân năm 1968 Cuộc tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân là một đòn tiến công chiến lược bất ngờ đánh vào tận hang ổ của kẻ thù, gây cho địch nhiều thiệt hại Dây

là thất bại rất nặng nề về chiến lược của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam nước ta Thất bại này đã làm phá sản “chiến lược chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh,

có tác động trực tiếp tới đấu tranh trên mặt trận ngoại giao

Trên mặt trận ngoại giao ở giai đoạn này bên cạnh các hoạt động ngoại giao lưu như

những giai đoạn trước, chúng ta trực tiếp mở mặt trận đấu tranh ngoại giao nhằm phối hợpgiữa đấu tranh quân sự, chính trị đang trên đà thắng lợi Sau thất bại của chiến dịch Mậu Thân, Mỹ buộc phải chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Paris vào ngày 13/5/1968 cuộc thương lượng giữa hai bên chính thức bắt đầu Từ đây diễn ra cuộc chiến vừa “đánh” vừa “đàm” giữa ta và Mỹ và diễn biến trên chiến trường với những biến trên bàn đàm phán có quan hệ mật thiết với nhau Sau những trận chiến chống lại chiến tranh phá hoại của Mỹ trên chiến trường thì chúng ta đã có những cuộc đàm phán nhất định cùng với Mỹ trên bàn ngoại giao, yêu cầu Mỹ chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc và Mỹ đã đạt được thỏa thuận, Mỹ chấm dứt hoàn toàn ném bom miền Bắc, nhưng sau đó Mỹ lại tiếp tục chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và đẩy lên thành “Đông Dương hóa chiến tranh” và tiếp tục là những cuộc đấu tranh quyết liệt lâu dài, với tinh thần chiến đấu của nhân dân ta cùng với những chiến thắng nhất định đã làm phá sản chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ và có những tác động tích cực trên bàn đàm phán Trên mặt trận ngoại giao sau những thất bại nặng nề trên chiến trường, Ních-xơn đã phải ngồi vào đàm phán, tận dụng ưu thế giành được trên chiến trường và cuộc bầu cử tổng thống sắp tới của Mỹ, phía ta đưa ra dự thảo”Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam”, nhưng sau đó tổng thống Ních-xơn lật lọng, tập kích ta bằng chiến lược không quân B52, và ta đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích này và một lần nữa, buộc Mỹ phải quay lại bàn đàm phán và chính thức cùng với bốn bộ trưởng đại diện cho các bên ký vào hiệp định Paris về kết thúc chiến tranh ở Việt Nam

Từ 1973 đến 1975: Đây là giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ và tay sai Ở

Trang 14

giai đoạn này giữa mặt trận quân sự và ngoại giao có những mối liên hệ nhất định.

Về ngoại giao: Ta đấu tranh đòi Mỹ ngụy thực hiện nghiêm chỉnh những điều khoản của

hiệp định Paris, lên án, vạch trần những hành động phá hoại hiệp định của chúng, đồng thời ta tiếp tục củng cố, phát triển quan hệ với các nước XHCN anh em, các nước dân chủ,tranh thủ sự đồng tình ủng hộ nhân dân thế giới Nhờ vậy chúng ta tiếp tục nhận được sự viện trợ, giúp đỡ to lớn từ bên ngoài, phục vụ đắc lực cho ta mở các chiến dịch quân sự

Về quân sự: Giai đoạn này ta tiếp tục cuộc đấu tranh nhằm mở rộng vùng giải phóng ở

miền Nam, chống lại sự lấn chiếm đất đai của địch Năm 1975, khi thời cơ thuận lợi đã tới,

ta đã quyết định mở cuộc tổng công kích và nổi dậy trên toàn miền Nam, với ba chiến dịchlớn Đó là chiến dịch Tây Nguyên chiến dịch Huế - Đà Nẵng, chiến dịch Hồ Chí Minh Với thắng lợi của ba chiến dịch này cũng đồng nghĩa với thắng lợi của cuộc tổng tiến công

và nổi dậy, đánh dấu cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta hoàn toàn thắng lợi, kết thúc cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trường kỳ, gian khổ trong 30 năm ( 1945-1975 ), đưa nước ta vào kỉ nguyên độc lập tự do, tiến lên xây dựng CNXH Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước “ mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỉ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc

Kết bài: Như vậy có thể thấy được giữa hai mặt trận này có mối quan hệ khăng khít với

nhau, bổ sung cho nhau để cùng phát triển cùng giành thắng lợi Thắng lợi của mặt trận này có ảnh hưởng và tác động đến thắng lợi của mặt trận kia, điều đó được thể hiện rõ nhất

ở hội nghị Pari, khi chiến thắng trên mặt trận quân sự của ta đã dẫn tới thắng lợi trên mặt trận ngoại giao và ngược lại thắng lợi trên mặt trận ngoại giao cũng khẳng định giá trị, ý nghĩa của thắng lợi trên mặt trận quân sự Qua đó cũng khẳng định sự tài tình, sáng suốt của Đảng, Chính phủ đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa được truyền thống lịch

sử, đã nhận thấy tác động qua lại giữa mặt trận quân sự và mặt trận ngoại giao để khéo kết hợp sự đấu tranh giữa hai mặt trận này, dẫn đến những chiến thắng lịch sử chói lọi trước hai tên đế quốc đầu sỏ của thế giới tư bản ( đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ ), qua đó bảo vệ được nền độc lập chủ quyền của dân tộc Tạo điều kiện, cơ sở cho đất nước ta tiến lên xây dựng CNXH giàu mạnh như ngày nay

PHẦN ĐỔI MỚI

Câu 6 So sánh đường lối công nghiệp hóa của Đảng thời kỳ trước đổi mới và thời kỳ đổi mới

Giống nhau:

Trang 15

- Về điểm giống qua báo cáo của Bộ Chính trị:

+ Một là, trước đây cũng như hiện nay Đảng ta đều quan niệm công nghiệp hoá

là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

+ Hai là, công nghiệp hoá đều nhằm chuyển đổi một cách căn bản nền sản xuất

xã hội từ lao động thủ công là chủ yếu sang lao động dùng máy móc, phương tiện kỹ thuật

là phổ biến, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, trêncơ sở đó, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân

+ Ba là, từng bước hình thành quan hệ sản xuất mới tiến bộ, phù hợp với tính chất và trình

độ phát triển của lực lượng sản xuất, thể hiện ngày càng đầy đủ bản chất ưu việt của chế

độ mới, tạo ra hạ tầng cơ sở vững chắc cho chủ nghĩa xã hội ở nước ta

+ Bốn là, tiến hành công nghiệp hoá trước đây và hiện nay đều phải được thực hiện theo hướng hiện đại hoá tuy có sự khác nhau về mức độ Do sự phát triển rất nhanh chóng của khoa học và công nghệ trong những thập kỷ gần đây, khái niệm hiện đại hoá luôn luôn được bổ sung những nội dung mới với phạm vi bao quát nhiều mặt, từ sản xuất, kinh doanh đến dịch vụ, quản lý Những tiến bộ khoa học – công nghệ được coi là hiện đại cách đây vài thập kỷ thì nhiều cái nay đã trở nên bình thường, cần được bổ sung, thậm chí lạc hậu, cần được thay thế Khái niệm hiện đại hoá mà chúng ta đề cập trong Nghị quyết Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khoá VII và Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần này được hiểu theo ý nghĩa đó

- Ngoài ra, còn có một số điểm giống như sau:

+ Thứ nhất, đường lối CNH của Đảng luôn nhấn mạnh đến yếu tố khoa học kỹ thuật công nghệ (then chốt, quyết định ), luôn xác định khoa học là lực lượng sản xuất trực tiếp, hướng hoặc đề cập trực tiếp tới công nghệ tiên tiến, công nghệ mũi nhọn, công nghệ cao nhưng những gì đạt được trên thực tế lại cho thấy khoa học và công nghệ chưa được hiểu một cách đầy đủ, thống nhất, xứng tầm

(THÍCH THÌ GHI) Cơ chế, chính sách cho phép khoa học kỹ thuật công nghệ đóng góp vào sự phát triển nhanh và bền vững của Tổ quốc còn hạn chế Thứ hạng trình độ khoa học công nghệ của Việt Nam luôn rất thấp so với nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả một số nước nhỏ về diện tích, không nhiều về dân số trong khu vực: số lượng các bằng phát minh sáng chế được đăng ký, đội ngũ các nhà khoa học, chất lượng nguồn nhân lực, bài báo khoa học đăng tạp chí quốc tế các giải thưởng danh giá khoa học thế giới đều rất ít Đặc biệt, sự hạn chế về nhận thức và kém hiệu quả trong thực hiện sẽ làm cho khoảng cách chênh lệch phát triển của Tổ quốc chúng ta với nhiều quốc gia sẽ ngày càng xa hơn Việt Nam sẽ trở nên lạc hậu, sẽ bị gạt ra rìa trong xu thế toàn cầu hóa và sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ như ngày nay.

+ Thứ hai, CNH bằng con đường thích hợp để đưa Tổ quốc phát triển đạt trình độ cao về mọi mặt là mạch tư duy không bao giờ dứt trong đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 16

(THÍCH THÌ GHI) Khái quát bước chuyển biến tư duy lý luận về CNH XHCN cho thấy một điều từ khi chủ trương đưa miền Bắc lên chủ nghĩa xã hội tới nay, khát vọng đưa nước ta từ một nước nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu trở thành một nước công nghiệp phát triển, khoa học và kỹ thuật tiên tiến, nhân dân có cuộc sống ấm no tự do và hạnh phúc, là mạch tư duy không bao giờ dứt trong đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam Một trong những con đường để đạt được điều đó là thông qua CNH XHCN thành công.

+ Thứ ba, khẳng định CNH có tính tất yếu và giữ vị trí nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời

kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

(THÍCH THÌ GHI) Từ góc nhìn lịch sử có đầy đủ cơ sở để khẳng định rằng, sự đánh giá của Đảng về tính tất yếu, vị trí, vai trò, mục tiêu, định hướng phát triển hay nói chung là tầm quan trọng của công cuộc CNH đối với đất nước ta là khá nhất quán và xuyên suốt CNH theo hướng hiện đại được coi là nhiệm vụ trọng tâm để nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp trong khoảng vài chục năm.

+ Thứ tư, mục tiêu CNH có nhiều điểm giống nhau Mục tiêu cơ bản của CNH luôn là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đi đôi với không ngừng cải thiện đời sống nhân dân và cải biến nước ta thành một nước công nghiệp (chung một số điểm như: đảm bảo cơ sở vật chất– kỹ thuật, cơ cấu kinh tế cho chủ nghĩa xã hội ; QHSX tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của LLSX; mức sống vật chất và tinh thần cao; quốc phòng – an ninh vững chắc; dângiàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, ấm no, tự do, hạnh phúc ); để thực hiện mục tiêu chung đó, ở mỗi thời kỳ thường xác định những mục tiêu cụ thể cần đạt được.+ Thứ năm, mô hình CNH Việt Nam đều sử dụng kết hợp các ưu thế của nhiều mô hình khác nhau, như một số đặc điểm của mô hình CNH cổ điển, phi cổ điển, CNH thay thế nhập khẩu, CNH hướng vào xuất khẩu, CNH tư bản chủ nghĩa, CNH XHCN

+ Ngoài ra: khả năng sử dụng hiệu quả nguồn lực của đất nước chưa cao; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo bản chất và nội dung CNH hiện đại còn chậm; liên tục đổi mới tư duy đểhoàn thiện các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế trong quá trình thực hiện CNH

+Trước đổi mới, công nghiệp hoá thường được hiểu là việc của Nhà nước, thông qua khu vực quốc doanh và tập thể là chủ yếu Trong đổi mới, nó là sự nghiệp của toàn dân với sự tham gia tích cực của tất cả các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò

Trang 17

chủ đạo Quan niệm về doanh nghiệp nhà nước cũng linh hoạt hơn, bao gồm những doanh nghiệp mà Nhà nước nắm một số cổ phần, khống chế tương đối hay tuyệt đối Đồng thời thực hiện đa dạng hoá và đan xen các loại hình sở hữu.

+ Công nghiệp hóa thời kỳ trước đổi mới tiến hành theo mô hình nền kinh tế khép kín, hướng nội Còn công nghiệp hóa thời kỳ đổi mới thì lấy công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắnvới phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế (TTG) Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển nền kinh tế thị trường giúp khai thác hiệu quả mọi nguồn lực của nền kinh tế, sử dụng chúng hiệu quả để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta diễn ra trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, tất yếu phải hội nhập và mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế Hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm thu hút nguồn vốn đầu

tư nước ngoài, thu hút công nghệ hiện đại, học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến của thế giới sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển Hội nhập kinh tế quốc tế nhằm khai thác hiệu quả thị trường thế giới Hội nhập quốc tế là việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

- Công nghiệp hóa ở thời kỳ trước đổi mới, phương thức phân bổ nguồn lực để thực hiện công nghiệp hóa được thực hiện bằng cơ chế kế hoạch hóa tập trung của Nhà nước, theo

kế hoạch của Nhà nước thông qua các chỉ tiêu pháp lệnh Thời kỳ đổi mới, chủ yếu thực hiện bằng cơ chế kinh tế thị trường, doanh nghiệp tự hạch toán kinh tế

- Công nghiệp hóa ở thời kỳ trước đổi mới, chủ yếu dựa vào lợi thế về lao động, tài

nguyên đất đai và nguồn viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa Công nghiệp hóa ở thời

kỳ đổi mới, lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững; coi phát triển khoa học và công nghệ là nền tảng, là động lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Công nghiệp hóa ở thời kỳ trước đổi mới, tiến hành một cách nóng vội, giản đơn, chủ quan duy ý chí, ham làm nhanh, làm lớn, không quan tâm đến hiệu quảkinh tế xã hội Còn

ở thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với pháttriển nhanh, hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học

- Bên cạnh đó, còn có những điểm khác như:

* Thứ nhất, về cách giải quyết mối quan hệ giữa phát triển LLSX và xây dựng QHSX

XHCN trong quá trình công nghiệp hóa Đường lối CNH của Đảng chuyển từ CNH gắn với quan niệm xây dựng QHSX XHCN đi trước một bước mở đường cho sự phát triển củaLLSX, chuyển sang thực hiện ưu tiên phát triển LLSX hiện đại, đồng thời xây dựng

QHSX tiến bộ phù hợp

* Thứ hai, về bước đi, tốc độ của công nghiệp hóa.

(THÍCH THÌ GHI) Thời kỳ đổi mới, Đảng xác định: quá trình CNH phải được tiến hành từng bước phù

Trang 18

hợp với trình độ lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ chưa thể đẩy mạnh CNH, mà là tạo tiền đề cần thiết để đẩy mạnh CNH ở chặng đường tiếp theo (chủ trương đẩy mạnh CNH từ Đại hội VIII – 1996); cơ cấu kinh tế hợp lý với từng thời đoạn; con đường CNH ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước

Tư duy CNH của Đảng thời đổi mới xác định: con đường CNH ở nước ta cần và có thể rútngắn thời gian so với các nước đi trước Đây là yêu cầu cấp thiết của nước ta nhằm thu hẹpkhoảng cách về trình độ phát triển so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Một nước đi sau có điều kiện tận dụng những kinh nghiệm kỹ thuật, công nghệ và thành quả của các nước đi trước, tận dụng xu thế của thời đại và qua hội nhập quốc tế để rút ngắn thời gian

Như vậy, đường lối CNH chuyển từ CNH XHCN với cách làm nóng vội, bỏ qua các bước

đi trung gian cần thiết, đã chuyển sang thực hiện CNH vừa có bước đi tuần tự, giai đoạn trước tạo tiền đề cho sự phát triển của giai đoạn sau theo trật tự tuyến tính, vừa cho phép phát triển “rút ngắn” trên cơ sở đi tắt, đón đầu các thành tựu phát triển nhảy vọt về khoa học và công nghệ của thế giới

* Thứ ba, xây dựng cơ cấu kinh tế (mối quan hệ giữa công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ,

nông nghiệp, kinh tế trung ương, kinh tế địa phương, sản xuất, phân phối, tiêu dùng); cơ chế và mô hình nền kinh tế trong quá trình CNH

Từ chủ trương xác lập nóng vội cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, hiện đại hoá để đưa nước ta đến năm 2020 về cơ bản trở thành một nước công nghiệp, có cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp và dịch vụ hiện đại;

Từ nền kinh tế “khép kín”, “hướng nội”, quan hệ chỉ khép kín trong hệ thống XHCN, chuyển sang thực hiện một nền kinh tế mở đa dạng, đa phương phù hợp thông lệ quốc tế, hướng mạnh về xuất khẩu kết hợp với thay thế nhập khẩu; Chuyển từ CNH thực hiện trong khuôn khổ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang tuân theo thị

trường, gắn thị trường trong nước với thị trường thế giới thành một chỉnh thể hữu cơ, có

sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN

* Thứ tư, CNH, HĐH gắn với bảo vệ tài nguyên môi trường, phát triển nhanh, bền vững.

Từ quan niệm CNH cổ điển chuyển sang quan niệm CNH, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức, thực hiện các mục tiêu phát triển trước mắt phải đi đôi với yêu cầu không làm tổn hại đến khả năng phát triển trong tương lai (phát triển nhanh, bền vững, bảo vệ tài nguyên môi trường)

Ngoài ra, CNH còn có các đặc điểm được nhận thức rõ và nhấn mạnh hơn: Đẩy mạnh CNH, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; Khoa học và công nghệ cũng là quốc sách hàng đầu, là động lực đẩy mạnh CNH, hiện đại hóa đất nước, từng bướcphát triển kinh tế tri thức

Câu 7 Vì sao trong quá trình xây dựng CNH - HĐH trong thời kỳ đổi mới ĐCSVN

Ngày đăng: 23/10/2022, 11:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w