Hồ Chí Minh viết: “Luật pháp của chúng ta hiện nay là ý chí của giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng”; “Luật pháp của ta hiện nay bảo vệ quyền lợi cho hàng triệu người lao động” và “Lu
Trang 1TS NguyÔn M¹nh T-êng *
1 Nền tảng của văn hoá pháp luật theo
tư tưởng Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh viết: “Văn hoá là sự tổng
hợp mọi phương thức sinh hoạt cùng với
biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh
ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống
và đòi hỏi của sự sinh tồn”.(1)
Mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà
loài người đã sản sinh ra được hiểu là văn
hoá vật chất và văn hoá tinh thần, bao gồm
toàn bộ những giá trị vật chất và những giá
trị tinh thần mà con người đã sáng tạo ra
nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và
đòi hỏi của sự sinh tồn, cũng như mục đích
cuộc sống được biểu hiện ra bằng ngôn ngữ,
chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, văn
học, nghệ thuật, các phong tục, tập quán,
truyền thống, và những công cụ cho sinh
hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương
thức sử dụng
Pháp luật là một trong những yếu tố của
văn hoá và văn hoá pháp luật là sự tổng hợp
mọi phương thức sinh hoạt mang những giá
trị nhân đạo, tích cực, tiến bộ của một nền
pháp luật thẩm thấu vào mỗi con người trở
thành nhu cầu ứng xử thường trực trong
quan hệ xã hội cùng với những thiết chế xã
hội nhằm đảm bảo thực hiện các giá trị ấy
Với cách hiểu như trên, văn hoá pháp luật
trong tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị
pháp luật mang bản chất giai cấp công nhân
hướng đến cái đúng, cái tốt, cái đẹp một
cách tích cực và tiến bộ Hồ Chí Minh viết:
“Luật pháp của chúng ta hiện nay là ý chí của giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng”; “Luật pháp của ta hiện nay bảo vệ quyền lợi cho hàng triệu người lao động” và
“Luật pháp của ta là luật pháp thực sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động”.(2)
Văn hoá pháp luật bao gồm những hệ thống pháp luật thành văn được ban hành trong các thời kì lịch sử khác nhau; trình độ hiểu biết về pháp luật; suy nghĩ và thái độ đối với pháp luật; khả năng sử dụng pháp luật trong hành động Từ người yêu nước trở thành chiến sĩ cộng sản, với khát vọng giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, Hồ Chí Minh
đã không ngừng phát triển những tư tưởng pháp luật tiến bộ, cách mạng của giai cấp công nhân Trung tâm tư tưởng văn hoá pháp luật của Hồ Chí Minh là tư tưởng về độc lập,
tự do Người khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.(3)
Trên cơ sở đó, Người đã xác lập mục tiêu và phương hướng đấu tranh của nhân dân nhằm giành lại và bảo đảm các giá trị pháp luật đã được quốc tế thừa nhận:
“Quyền thiêng liêng của các dân tộc được thừa nhận, theo những lời cam kết chính thức
và trịnh trọng mà các cường quốc đồng minh
đã công bố với toàn thế giới trong cuộc đấu tranh của văn minh chống dã man”.(4)
* Giảng viên chính Khoa lí luận chính trị
Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2Mọi nỗ lực của Hồ Chí Minh trong xây
dựng văn hoá pháp luật là nhằm hướng đến
việc nâng cao trình độ hiểu biết của con
người Việt Nam về pháp luật, về quyền và
nghĩa vụ công dân trong dân tộc và cộng
đồng quốc tế Văn hoá pháp luật là sản phẩm
của chế độ chính trị, của nền giáo dục và tư
chất công dân, cấu thành diện mạo văn hoá
xã hội Theo Hồ Chí Minh, hiểu biết pháp
luật, đấu tranh thực hiện pháp luật, tôn trọng
pháp luật, sống và làm việc theo pháp luật…
phản ánh trình độ văn hoá pháp luật của cá
nhân và cộng đồng trong các quan hệ xã hội
Thực hiện quản lí nhà nước và xã hội theo
pháp luật, thể chế hoá các quan hệ lao động,
giao tiếp, hôn nhân-gia đình và các lĩnh vực
sinh sống khác là những định hướng quan
trọng của văn hoá pháp luật
Trong các tác phẩm từ “Yêu sách tám
điểm”, “Bản án chế độ thực dân Pháp”, “Đường
kách mệnh” đến “Tuyên ngôn độc lập” và “Di
chúc”, Hồ Chí Minh luôn phấn đấu không
mệt mỏi cho việc xây dựng văn hoá pháp luật
của giai cấp công nhân mà nền tảng của nó là
độc lập cho dân tộc và tự do hạnh phúc cho
nhân dân Sự khẳng định các quyền bình đẳng
dân tộc, quyền tự quyết dân tộc, quyền độc
lập tự do dân tộc trên nền tảng pháp luật quốc
tế là nội dung quan trọng của tư tưởng Hồ Chí
Minh về văn hoá pháp luật Nó đặt vấn đề
giải phóng nhân cách trên cơ sở bình đẳng
các giá trị người với người Hơn nữa, sự
khẳng định ấy còn đưa đến sự giao lưu, hội
nhập của văn hoá pháp luật Việt Nam với văn
hoá pháp luật của khu vực và thế giới
Hồ Chí Minh nhận thức được rằng cần
phải tố cáo văn hoá pháp luật phong kiến và
những phản “văn hoá”, “văn minh”, “tiến bộ” của thực dân Pháp ở Việt Nam để thức tỉnh nhân dân về quyền độc lập, tự do hạnh phúc của con người Chế độ phong kiến và chế độ thực dân đã cai trị dân ta bằng thứ văn hoá nô dịch, ngu dân và giả dối với chế
độ sắc lệnh độc đoán Năm 1919, thay mặt những người Việt Nam yêu nước, Nguyễn
Ái Quốc đã gửi tới Hội nghị Vécxây bản
“Yêu sách 8 điểm” yêu cầu các quyền bình đẳng về chế độ pháp lí và các quyền tự do, dân chủ tối thiểu cho nhân dân Việt Nam, như việc yêu cầu xoá bỏ các tòa án đặc biệt, thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật và yêu cầu được hưởng các quyền tự do ngôn luận, báo chí, lập hội, hội họp, cư trú… mà chưa hề đề cập vấn đề độc lập hay tự trị Song, bản yêu sách đó đã không được chủ nghĩa tư bản đế quốc chấp nhận Điều đó chứng tỏ chủ nghĩa tư bản đế quốc không hề tôn trọng công lí, tuân thủ pháp luật quốc tế về quyền dân tộc tự quyết
Ở đây, Nguyễn Ái Quốc đã nâng cao trình
độ hiểu biết của mình về pháp luật tư sản, từ
đó thức tỉnh nhân dân Việt Nam về chủ quyền dân tộc và tự do tối thiểu của con người Hơn thế, Hồ Chí Minh còn sử dụng pháp luật tư sản để đấu tranh với chủ nghĩa
tư bản đế quốc và thông qua cuộc đấu tranh
đó, Người đã rút ra bài học vô giá là “Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”.(5)
Điều mà Hồ Chí Minh quan tâm trước hết là quyền dân tộc cơ bản và tiếp đến là sự gắn kết của nó với quyền con người Nhân dân Việt Nam đã bị chế độ độc tài phong
Trang 3kiến áp bức, bóc lột mấy trăm năm và chế độ
thực dân đế quốc áp bức, bóc lột hơn tám
mươi năm, suốt thời gian đó, không có
quyền dân tộc và cũng không có quyền làm
người Hồ Chí Minh hiểu rằng nếu chưa xác
lập được quan hệ pháp lí quốc tế về quyền
dân tộc cơ bản thì chưa thể nói đến quyền tự
do công dân Trong “Bản yêu sách gửi Hội
vạn quốc”, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Quyền độc
lập hoàn toàn tức khắc của dân tộc Việt
Nam; nếu quyền đó được thực hiện thì nước
Việt Nam sẽ sắp đặt một nền hiến pháp về
phương diện chính trị và xã hội, theo những
lí tưởng dân quyền”.(6) Điều đó cho thấy Hồ
Chí Minh đã gắn quyền dân tộc với quyền
tự do công dân bằng tư tưởng pháp lí nền
tảng thể hiện thang bậc quan hệ pháp luật
mang giá trị văn hoá ở trình độ rất cao Tuy
nhiên, đối với Người: “Nếu nước được độc
lập mà dân không được hưởng hạnh phúc
tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lí
gì”.(7) Như vậy, độc lập cho dân tộc gắn liền
với tự do hạnh phúc cho nhân dân trở thành
mục đích của cuộc đấu tranh vì quyền dân
tộc và quyền con người
Văn hoá pháp luật và văn hoá đạo đức là
hai lĩnh vực hoạt động khác nhau nhưng cùng
tồn tại, có sự tác động qua lại lẫn nhau và góp
phần tạo nên diện mạo và trình độ của văn
hoá xã hội Bản chất của pháp luật khác với
đạo đức ở chỗ lấy hệ chuẩn đúng - sai làm
thước đo giá trị và điều chỉnh các quan hệ
bằng giáo dục, thuyết phục hoặc cưỡng chế
nhằm tạo ra thói quen hay tính tự giác của
con người trong việc tuân thủ những quy định
chung, còn đạo đức lấy hệ chuẩn thiện - ác
làm thước đo giá trị và tự điều chỉnh các quan
hệ bằng dư luận xã hội Do vậy, đấu tranh bảo
vệ công lí và chính nghĩa cũng mang ý nghĩa văn hoá pháp luật sâu sắc
Văn hoá pháp luật về bản chất biểu hiện mối quan hệ giữa tất yếu và tự do, mà chìa khoá để giải quyết mối quan hệ này là trình
độ hiểu biết pháp luật của cá nhân và cộng đồng Cá nhân cần phải tuân thủ những quy định, luật lệ chung của cộng đồng đồng thời cộng đồng có trách nhiệm tạo ra những điều kiện tốt nhất, môi trường tốt nhất để cá nhân
tự do hoạt động sáng tạo và phát triển
2 Các định chuẩn của văn hoá pháp luật theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm
1945 là thắng lợi của quá trình đấu tranh để xác lập nền văn hoá mới ở Việt Nam, trong
đó có văn hoá pháp luật Từ đấy, nhân dân Việt Nam làm chủ vận mệnh của mình, làm chủ các quan hệ pháp luật của mình và đưa các quan hệ pháp luật mới của Việt Nam thực
sự hoà nhập vào các quan hệ pháp luật của khu vực và thế giới một cách bình đẳng Trong Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân, đồng bào và nhân dân toàn
thế giới rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng
tự do và độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự
do, độc lập ấy”.(8)
Với quyết tâm giữ vững quyền tự do, độc lập, dân tộc ta đã, đang và
sẽ mãi mãi là chủ nhân thực sự của đất nước
Đó cũng là điều kiện cơ bản để xác lập văn hoá pháp luật của Việt Nam thực sự bình đẳng với các nước trong khu vực và trên thế giới ở thời đại ngày nay
Trang 4Kể từ Đề cương văn hoá Việt Nam năm
1943 cho đến thắng lợi của cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp năm 1954, dưới ánh
sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập,
tự do, các quan hệ pháp luật đã chịu tác động
trực tiếp, mạnh mẽ từ các định chuẩn chung
của nền văn hoá mới Việt Nam là dân tộc-
khoa học-đại chúng Còn văn hoá pháp luật
là bộ phận của nền văn hoá mới Việt Nam
Do vậy, văn hoá pháp luật không thể nằm
ngoài những tác động trực tiếp, mạnh mẽ của
các định chuẩn trên
Theo Hồ Chí Minh, văn hoá pháp luật
cũng phải mang tính dân tộc sâu sắc Nó là
sản phẩm của cuộc đấu tranh vì quyền dân tộc
cơ bản Chế độ phong kiến và chế độ thực
dân đã nô dịch nhân dân ta bằng nền văn hoá
ngu dân, nhồi sọ và giả dối, bắt nhân dân ta
phục tùng pháp luật độc đoán do nhà nước
quân chủ bảo hộ ban hành Nhiều giá trị tốt
đẹp của văn hoá dân tộc bị mai một Vì thế,
để xây dựng văn hoá pháp luật trên cơ sở của
quyền dân tộc cơ bản, nhân dân ta phải vừa
kế thừa và phát huy các giá trị văn hoá dân
tộc tốt đẹp, vừa gạt bỏ những mặt lạc hậu của
văn hoá cổ truyền và bù đắp những thiếu hụt
của văn hoá truyền thống Ngay sau khi xoá
bỏ chế độ thực dân và phong kiến, Người đã
đưa văn hoá pháp luật vào nền văn hoá mới
của dân tộc, như tổ chức tổng tuyển cử, xây
dựng Hiến pháp dân chủ và đấu tranh cho
quyền được bầu cử và được ứng cử của cả
nam và nữ v.v Người viết : “Chúng ta phải
có một hiến pháp dân chủ Tôi đề nghị tổ
chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử
với chế độ phổ thông đầu phiếu ”.(9)
Xây dựng văn hoá pháp luật mới trên cơ
sở của quyền dân tộc cơ bản nghĩa là phải tạo dựng được văn hoá pháp luật độc lập thống nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam Nguyên tắc
cơ bản của văn hoá pháp luật mới là nhân dân Việt Nam tự quyết định lấy vận mệnh của mình, không có sự can thiệp của nước ngoài Văn hoá pháp luật mới xác lập không chỉ quyền bình đẳng dân tộc mà có cả quyền bình đẳng sắc tộc Mỗi dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam đều phải tôn trọng pháp luật chung của nước Việt Nam thống nhất và đều được giữ gìn bản sắc văn hoá lâu đời của dân tộc mình Điều đó đã được thực tế lịch sử chứng minh Như vậy, văn hoá pháp luật được xây dựng trên cơ sở thống nhất lợi ích cộng đồng với lợi ích cá nhân; lợi ích dân tộc với lợi ích sắc tộc, lợi ích dân tộc với lợi ích quốc tế và nội dung tính dân tộc của văn hoá pháp luật trở thành cơ sở pháp lí và mục tiêu đấu tranh chống lại các chiêu bài phản “văn hoá”, “văn minh”, “tiến bộ” của các thế lực bảo thủ, phản động trong và ngoài nước
Văn hoá pháp luật ở nước ta cũng phải mang tính khoa học, tiến bộ Hồ Chí Minh ý thức được rằng pháp luật phải dựa trên những quan hệ thực tế, chỉ có thực tiễn mới kiểm nghiệm được tính đúng, sai của chân lí Trong Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh khẳng định các quyền con người và quyền dân tộc
cơ bản là những chân lí “không ai có thể xâm phạm được”, vì những chân lí ấy có cơ sở khoa học rất tự nhiên Dựa trên cái đúng, làm theo cái đúng mới có thể thống nhất toàn xã hội trong hành động Như vậy, văn hoá pháp luật trong nền văn hoá mới Việt Nam cần phải xác lập tính khoa học của mình Dựa trên định chuẩn tính khoa học, văn hoá pháp luật
Trang 5gạt bỏ cái sai, phát huy cái đúng, cải tạo cái
lạc hậu, phát huy cái tiến bộ… đã có sự đóng
góp tích cực vào việc thúc đẩy sự phát triển
nền văn hoá mới Việt Nam và các lĩnh vực
chính trị, kinh tế… của đời sống xã hội
Trong xây dựng văn hoá pháp luật ở Việt
Nam, Hồ Chí Minh không chỉ quan tâm đến
tính khoa học, tiến bộ mà còn luôn quan tâm
đến tính nhân dân và tính đại chúng Theo
Người, pháp luật không nhằm mục đích trị
dân mà nhằm mục đích cổ vũ cái thiện
chống cái ác, cổ vũ cái đẹp chống cái xấu,
bênh vực và bảo vệ quyền lợi chính đáng của
đại bộ phận nhân dân chống lại chủ nghĩa cá
nhân Do vậy, văn hoá pháp luật phải dựa
vào nhân dân, phát huy tính tích cực, sáng
tạo trong nhân dân và phải làm sao cho nhân
dân hiểu biết pháp luật, hành xử theo pháp
luật và tôn trọng pháp luật Theo Hồ Chí
Minh, “Phải nhận thức cho tốt và chấp hành
nghiêm chỉnh pháp luật Sự bình đẳng trong
xã hội ở nơi pháp luật”.(10) Dân chủ đúng
đắn cũng ở nơi pháp luật Người viết: “Nhân
dân ta hiện nay có tự do, tự do trong kỉ luật
Mỗi người có tự do của mình nhưng phải tôn
trọng tự do của người khác”.(11)
Dưới tác động của các định chuẩn, văn
hoá pháp luật trong tư tưởng Hồ Chí Minh
về quyền dân tộc cơ bản còn được biểu hiện
cụ thể ở quyền con người Trong bản Tuyên
ngôn độc lập, Hồ Chí Minh khẳng định: “Tất
cả mọi người đều sinh ra có quyền bình
đẳng”; “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng
về quyền lợi và phải luôn được tự do và bình
đẳng về quyền lợi”; “Nước Việt Nam có
quyền hưởng tự do và độc lập và thực sự đã
trở thành một nước tự do độc lập” Từ đó,
Người đi điển khẳng định quyền dân chủ mà biểu hiện của nó là mọi quyền lực đều thuộc
về nhân dân Người viết: “Nước ta là nước dân chủ” và “Nói tóm lại, mọi quyền hành
và lực lượng đều ở nơi dân”.(12)
Sau cuộc kháng chiến chống thực dân pháp thắng lợi, miền Bắc bước vào xây dựng
xã hội xã hội chủ nghĩa thì các định chuẩn của nền văn hoá được xác định là có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc Đây là sự phát triển tiếp tục của nền văn hoá
có nội dung dân tộc, khoa học, đại chúng đồng thời đánh dấu trình độ nhận thức, sáng tạo, lưu giữ những giá trị văn hoá mới và trình độ giao lưu văn hoá khu vực và quốc
tế Vì thế, ở giai đoạn này, văn hoá pháp luật cũng chứa đựng nội dung xã hội chủ nghĩa
và tính chất dân tộc nhằm mở rộng hơn quyền dân chủ của nhân dân và giải phóng mọi tiềm năng của cá nhân Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đã đẩy lùi nhiều phong tục, tập quán, ý nghĩ và thành kiến lạc hậu vừa bị coi là thiếu đạo đức vừa
bị coi là vi phạm pháp luật Cuộc đấu tranh giữa hai con đường ở thời kì này đã trở thành cơ sở cho văn hoá pháp luật xác lập trình độ giác ngộ chính trị, thúc đẩy việc đào tạo rèn luyện con người mới có tư tưởng tiến
bộ, có đạo đức trong sáng, có tâm hồn cách mạng và có khả năng sáng tạo dồi dào Tuy nhiên, trên bình diện văn hoá pháp luật, các giá trị nhân bản, nhân đạo, nhân văn chưa được phát huy đầy đủ, tư tưởng khoan dung của Hồ Chí Minh chưa được khai thác triệt để, tệ quan liêu, lãng phí, lạm dụng quyền lực xảy ra khá rõ, các quan hệ giữa người với người chưa được xem xét toàn diện,… Những
Trang 6cái đó đã trở thành vật cản trên con đường
xây dựng nền văn hoá mới Việt Nam nói
chung và văn hoá pháp luật Việt Nam nói
riêng theo tư tưởng Hồ Chí Minh
3 Văn hoá pháp luật trong Nhà nước
pháp quyền Việt Nam theo tư tưởng Hồ
Chí Minh
Ở Việt Nam, tư tưởng về độc lập tự do
của Hồ Chí Minh là cơ sở quan trọng để xây
dựng văn hoá pháp luật mà biểu hiện cụ thể
của nó là việc giành, giữ và thực hiện các giá
trị về quyền con người và quyền dân tộc của
nhân dân Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám
đã mở đường cho nhân dân ta xây dựng xã hội
mới, trong đó văn hoá pháp luật sẽ từng bước
trưởng thành cùng với việc xây dựng nhà
nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân
Nội dung và tính chất của văn hoá pháp
luật thống nhất với nội dung và tính chất của
nhà nước pháp quyền Theo đó, nhân dân là
gốc của quyền lực Hồ Chí Minh viết: “Bao
nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền
hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến
chính phủ trung ương do dân cử ra… Nói
tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi
dân”.(13) Khi coi tất cả quyền lực nhà nước
đều thuộc về nhân dân, Hồ Chí Minh chỉ rõ
rằng nhân dân đã sử dụng quyền lực nhà
nước vừa trực tiếp vừa gián tiếp Nhân dân
trực tiếp bầu ra các đại diện làm việc trong
các cơ quan nhà nước; uỷ quyền cho các cơ
quan nhà nước thực thi quyền hành của mình
nhưng nhân dân nắm quyền giám sát tối cao
đối với các cơ quan nhà nước Theo Người,
“Dân là chủ thì Chính phủ phải là đầy tớ…
Nếu Chính phủ làm hại dân, thì dân có quyền
đuổi Chính phủ”.(14)
Như vậy, quan hệ giữa
nhân dân và Nhà nước là biểu hiện của văn hoá pháp luật trong nhà nước pháp quyền Văn hoá pháp luật ở Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh mang tính dân chủ và được thực hiện trong khuôn khổ nhà nước của dân, do dân, vì dân Dân chủ và pháp luật phải đi đôi với nhau Mọi hành vi của công dân, của nhân dân hay của bất kì cá nhân, tổ chức nào đều phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Điều đó cho thấy sự thống nhất giữa quyền con người, quyền hiến định với dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp trong nhà nước dân chủ Bản thân Hồ Chí Minh cũng là mẫu mực trong việc thực hiện và tuân theo pháp luật Trong nhà nước dân chủ, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật Tính dân chủ và bình đẳng trước pháp luật đã thể hiện rõ trình độ phát triển của văn hoá pháp luật trong đời sống xã hội Do vậy, việc giáo dục pháp luật cho nhân dân đã được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Hồ Chí Minh và của Đảng ta ngay từ những ngày đầu cách mạng thành công
Hồ Chí Minh luôn coi trọng đạo đức song cũng rất coi trọng pháp luật Trong tư tưởng của Người, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cần phải coi trọng pháp luật với vai trò như những quy tắc điều chỉnh và ứng xử chung, mang tính khách quan nhưng lại không được coi thường, xem nhẹ đạo đức Vì thế, Người đã lên án mạnh
mẽ nạn bè phái, cục bộ, chủ nghĩa cá nhân, tham nhũng, tham ô, lãng phí, quan liêu,…
Hồ Chí Minh viết: “Chính phủ hiện thời đã
cố gắng liêm khiết lắm Nhưng trong Chính phủ từ Hồ Chí Minh đến những người làm việc ở các uỷ ban làng, đông lắm, phức tạp lắm Dù sao, Chính phủ đã hết sức làm
Trang 7gương, và nếu làm gương không song thì
dùng pháp luật mà trị… cho kì hết”.(15)
Nền văn hoá mới Việt Nam mở rộng cánh
cửa đón nhận mọi giá trị tốt đẹp của nền văn
hoá và văn minh nhân loại, trên cơ sở đó mà
xác lập các quan hệ, giao tiếp quốc tế, tạo
điều kiện xây dựng nền văn hoá pháp luật
Việt Nam khoa học và hiện đại Khoa học đi
sâu vào đời sống sẽ nâng cao trình độ dân trí
và xoá bỏ được những phong tục, tập quán
lạc hậu, dần dần hình thành thói quen sinh
hoạt và làm việc khoa học, tư duy khoa học
của cá nhân và cộng đồng Theo Hồ Chí
Minh, văn hoá pháp luật sẽ được xác lập rộng
rãi khi “nhân dân biết hưởng quyền dân chủ,
biết dùng quyền dân chủ của mình” Văn hoá
pháp luật không làm thui chột các tài năng cá
nhân mà trái lại nó luôn cổ vũ, động viên,
tạo điều kiện cho những tài năng cá nhân
phát triển và hoàn thiện Văn hoá pháp luật
đi sâu vào ý thức của quần chúng nhân dân
thì như Mác nói nó sẽ đảm bảo nguyên tắc
“sự phát triển tự do của mỗi người là điều
kiện phát triển tự do của tất cả mọi người”
Tóm lại, trung tâm tư tưởng văn hoá
pháp luật của Hồ Chí Minh là tư tưởng về
độc lập, tự do mà nền tảng của nó là độc lập
cho dân tộc và tự do hạnh phúc cho nhân
dân Sự khẳng định các quyền con người và
quyền dân tộc trên nền tảng pháp luật quốc
tế là nội dung quan trọng của tư tưởng Hồ
Chí Minh về văn hoá pháp luật Hơn nữa, sự
khẳng định ấy còn đưa đến sự giao lưu, hội
nhập của văn hoá pháp luật Việt Nam với
văn hoá pháp luật của khu vực và thế giới
Theo Hồ Chí Minh, văn hoá pháp luật
cũng như văn hoá chính trị, văn hoá đạo đức,
văn hoá nghệ thuật là bộ phận hợp thành của văn hoá mới Việt Nam Do vậy, văn hoá pháp luật không thể đứng ngoài các định chuẩn của nền văn hoá mới Văn hoá pháp luật cũng phải phục vụ cho mục tiêu chính trị, mang tính chất dân chủ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước đồng thời góp phần bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn, tình cảm cao đẹp, nâng cao dân trí và xây dựng phẩm chất, phong cách lành mạnh cho nhân dân./
(1).Xem: Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG,
Hà Nội, 1995, tr 341
(2).Xem: Hå ChÝ Minh, Nhà nước và pháp luật, tập 3,
Nxb Lao động, 1971, tr 138 - 142
(3).Xem: Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb
CTQG, Hà Nội, 1996, tr 107
(4).Xem: Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Nxb CTQG,
Hà Nội, 1995, tr 436
(5) Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động
của Hồ Chủ Tịch, Nxb Văn học, Hà Nội, 1970, tr 30
(6).Xem : Tài liệu của Viện bảo tàng cách mạng Việt Nam - kí hiệu: H I G/ So.1
(7).Xem : Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG,
Hà Nội, 1995, tr 56
(8).Xem: Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG,
Hà Nội, 1995, tr 4
(9).Xem: Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG,
Hà Nội, 1995, tr 8
(10).Xem: Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb
CTQG, Hà Nội, 2000, tr 299
(11).Xem: Hồ Chí Minh, Nhà nước và pháp luật, tập
3, Nxb Lao động, 1971, tr 142
(12).Xem: Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb
CTQG, Hà Nội, 1995, tr 698
(13).Xem: Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb
CTQG, Hà Nội, 1995, tr 698
(14).Xem: Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb
CTQG, Hà Nội, 1995, tr 60
(15).Xem: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Hội
đồng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTQG-ST, H.2003, tr 285