1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Luật so sánh và thực tiễn xây dựng Luật doanh nghiệp Việt Nam " docx

9 713 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 155,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Doanh nghiệp cá nhân có những đặc điểm như: 1 Doanh nghiệp cá nhân không cần có điều lệ; cá nhân chủ doanh nghiệp có quyền quyết định cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp; 2 Vốn kinh doanh th

Trang 1

TS NguyÔn ViÕt tý *

1 Một số nét khái quát pháp luật về

doanh nghiệp của một số nước trên thế giới

1.1 Pháp luật về doanh nghiệp của

Cộng hòa Pháp và Cộng hoà liên bang Đức

Theo pháp luật Cộng hòa Pháp và Cộng

hòa liên bang Đức, doanh nghiệp được chia

thành hai nhóm cơ bản là doanh nghiệp cá

nhân và công ti

Doanh nghiệp cá nhân (Enterprise

individuelle) là loại doanh nghiệp được đầu

tư và quản lí bởi một cá nhân duy nhất

Thông thường doanh nghiệp cá nhân phải

được đăng kí tư cách thương gia (merchant)

vào danh bạ thương mại tại tòa án thương

mại Doanh nghiệp cá nhân có những đặc

điểm như: 1) Doanh nghiệp cá nhân không

cần có điều lệ; cá nhân chủ doanh nghiệp có

quyền quyết định cơ cấu tổ chức của doanh

nghiệp; 2) Vốn kinh doanh thuộc quyền sở

hữu của một cá nhân duy nhất; 3) Cá nhân

chủ doanh nghiệp là chủ thể trong các quan

hệ pháp luật; không có sự tách bạch về mặt

pháp lí giữa tư cách cá nhân chủ doanh

nghiệp và tư cách doanh nghiệp cá nhân.(1)

Công ti theo hệ thống pháp luật Pháp -

Đức được chia thành rất nhiều loại khác

nhau nhưng nếu căn cứ vào tính chất của sự

liên kết trong công ti, có thể chia thành hai

nhóm là công ti đối nhân và công ti đối vốn

Theo pháp luật Cộng hòa Pháp, các

công ti bao gồm: Công ti hợp danh (Société

en participation), công ti cổ phần (Société Anonyme) và công ti trách nhiệm hữu hạn (Société à responsabilité limitée) Trong đó công ti hợp danh là loại hình công ti đối nhân, công ti hợp danh có hai loại là công ti hợp danh thông thường và công ti hợp danh hữu hạn; công ti cổ phần là loại điển hình của công ti đối vốn.(2)

Bên cạnh đó, ở Pháp còn tồn tại phổ biến một loại hình công ti, đó là công ti trách nhiệm hữu hạn Công ti trách nhiệm hữu hạn là mô hình tổ chức kinh doanh được tạo ra bởi quá trình lập pháp

Tương tự như pháp luật Cộng hòa Pháp, pháp luật Cộng hòa liên bang Đức cũng phân chia công ti thành công ti đối nhân và công ti đối vốn Công ti đối nhân gồm hai loại cơ bản là: Công ti hợp danh và công ti hợp vốn đơn giản.(3)

Công ti đối vốn gồm: Công ti trách nhiệm hữu hạn và công ti cổ phần.(4) Theo pháp luật Cộng hòa liên bang Đức, những vấn đề chung về doanh nghiệp (thương nhân) được quy định trong Bộ luật dân sự và Bộ luật thương mại Bộ luật thương mại quy định cụ thể về các vấn đề tổ chức và hoạt động của công ti hợp danh,

* Giảng viên chính Khoa pháp luật kinh tế Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

công ti hợp vốn đơn giản (hợp danh hữu

hạn), cá nhân kinh doanh Ngoài ra, các loại

hình doanh nghiệp khác được quy định tại

các luật đơn hành: Luật về công ti hợp danh

của những người hành nghề tự do ngày

25/6/1994; Luật công ti trách nhiệm hữu hạn

1892 (được sửa đổi lần mới nhất năm 1980);

Luật công ti cổ phần năm 1870 (được sửa

đổi lần mới nhất ngày 12/6/2003)

1.2 Pháp luật về doanh nghiệp của Anh

và Hoa Kì

Ở mức độ tổng quát, có thể nhận thấy,

các nước theo hệ luật Anh - Mĩ phân chia

doanh nghiệp thành hai nhóm chủ yếu là:

Hãng kinh doanh (business entities) và công

ti (Company, Corporation)

Hãng kinh doanh được chia thành hai

loại chủ yếu là doanh nghiệp cá nhân (Sole

Prioprietorship) và hợp danh (Partnership)

Tại Hoa Kì, doanh nghiệp cá nhân được coi

là hình thức doanh nghiệp đơn giản và

thông dụng nhất Ưu điểm cơ bản của doanh

nghiệp cá nhân là ở tính đơn giản của nó

Hình thức doanh nghiệp này không đòi hỏi

bất kì một văn bản hay thỏa thuận pháp lí

nào; hoạt động kinh doanh của doanh

nghiệp có thể chấm dứt theo quyết định cá

nhân của chủ doanh nghiệp.(5) Hợp danh là

một dạng liên kết kinh tế có tính chất đối

nhân giữa các nhà đầu tư Hợp danh được

phân biệt với công ti trên cả phương diện lí

luận cũng như cơ chế điều chỉnh pháp luật

Tại Vương quốc Anh, mặc dù thuật ngữ

công ti thông thường được hiểu bao hàm cả

hợp danh, song các luật gia Anh quốc hiện

đại đề cập công ti và luật công ti có sự phân biệt rõ với hợp danh và luật về hợp danh.(6) Công ti, mặc dù pháp luật của Vương quốc Anh và Hoa Kì có những điểm khác nhau nhất định trong các quy định về công ti, song nhìn chung công ti theo hệ thống pháp luật Anh - Mĩ là các tổ chức kinh doanh có

tư cách pháp nhân, chịu trách nhiệm về các khoản nợ bằng tài sản của công ti; các thành viên công ti chịu trách nhiệm về các khoản

nợ của công ti trong phạm vi phần vốn góp vào công ti Công ti theo hệ thống luật Anh -

Mĩ được chia thành hai loại là công ti có

“cấu trúc vốn mở”, có phát hành cổ phiếu (Public Corporation) và công ti có “cấu trúc vốn đóng", không phát hành cổ phiếu (Close Corporation) Public Corporation giống với công ti cổ phần, còn Close Corporation giống với công ti trách nhiệm hữu hạn theo

hệ thống luật Pháp - Đức

1.3 Pháp luật về doanh nghiệp của Trung Quốc

Hình thức pháp lí của các doanh nghiệp Trung Quốc rất đa dạng và vẫn đang trong quá trình được cải cách Pháp luật hiện hành của Trung Quốc quy định những loại chủ thể kinh doanh: Hộ cá thể, doanh nghiệp cá thể, hợp danh, doanh nghiệp tập thể, doanh nghiệp nhà nước, công ti (công ti trách nhiệm hữu hạn và công ti cổ phần), doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài

Doanh nghiệp nhà nước được điều chỉnh bởi Luật xí nghiệp quốc doanh (1988) Luật công ti (1993) Luật công ti nước cộng hoà

Trang 3

nhân dân Trung Hoa được ban hành ngày

29/12/1993, sửa đổi ngày 25/12/1999, áp

dụng cho cả doanh nghiệp nhà nước, doanh

nghiệp thuộc sở hữu tư nhân, bao gồm cả

doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Đối

với doanh nghiệp FDI, Trung Quốc ban hành

3 luật: Luật liên doanh nước ngoài, Luật

doanh nghiệp hợp đồng hợp tác, Luật doanh

nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài Ba luật

này được coi là luật riêng, bởi vì về nguyên

tắc, các công ti có vốn nước ngoài hoạt động

theo Luật công ti, khi có quy định khác nhau

thì luật riêng về đầu tư nước ngoài sẽ áp

dụng.(7) Hợp danh được điều chỉnh Luật về

hợp danh năm 1993 Ngoài ra, pháp luật

Trung Quốc còn có quy định về liên doanh

hợp tác - liên doanh, trong đó bên Trung

Quốc và các bên nước ngoài hợp tác trên cơ

sở hợp đồng liên doanh.(8)

Cùng với việc quy định các loại hình

doanh nghiệp, pháp luật về doanh nghiệp

còn quy định bộ máy tổ chức của các loại

doanh nghiệp cũng như chức năng, nhiệm

vụ của các bộ phận trong bộ máy đó Theo

quy định của Luật công ti, bộ máy tổ chức

quản lí hoạt động bao gồm: Đại hội đồng cổ

đông; ban giám đốc; ban kiểm soát Về tổ

chức hoạt động của liên doanh cổ phần

(EJV):(9) Hoạt động của EJV được tuân thủ

theo các điều khoản của hợp đồng liên

doanh Trong liên doanh cổ phần hội đồng

quản trị là cơ quan quản lí cao nhất, không

có phiên họp của các cổ đông Tổng giám

đốc chịu trách nhiệm chỉ đạo triển khai các

quyết định của hội đồng quản trị và chỉ đạo

các công việc hàng ngày của EJV Việc quản lí doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (WFOE) được thực hiện theo điều lệ của WFOE, pháp luật không có những quy tắc bắt buộc như đối với liên doanh

Pháp luật về doanh nghiệp Trung Quốc quy định khá cụ thể về điều kiện, thủ tục

thành lập, đăng kí kinh doanh công ti,

doanh nghiệp liên doanh cổ phần, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài WFOE v.v Việc tổ chức lại doanh nghiệp dưới các hình thức như chuyển đổi, sáp nhập, chia tách công ti cũng được pháp luật về doanh nghiệp của Trung quốc ghi nhận.(10) Giải thể

và phá sản cũng là một trong những nội

dung của pháp luật doanh nghiệp Trung Quốc, trong đó quy định rõ: Lí do giải thể, phá sản; cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc giải thể, phá sản và thủ tục giải thể, phá sản công ti.(11)

Tóm lại, nghiên cứu pháp luật về doanh nghiệp của các nước trên thế giới có thể rút

ra một số đặc điểm của chế định pháp luật này là như sau:

Thứ nhất, kinh doanh là hoạt động đặc thù, có ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế,

xã hội của đất nước nên không phải bất cứ

cá nhân, tổ chức nào cũng có quyền thực hiện nó Chỉ có những cá nhân nào có đủ các điều kiện pháp luật quy định về vốn pháp định, về giấy phép kinh doanh, chứng chỉ hành nghề v.v mới được tiến hành các hoạt động kinh doanh

Thứ hai, muốn tiến hành hoạt động kinh doanh chủ thể kinh doanh phải được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận

Trang 4

đăng kí kinh doanh

Thứ ba, pháp luật quy định đầy đủ các mô

hình tổ chức sản xuất, kinh doanh (mô hình

doanh nghiệp) để các nhà đầu tư tuỳ thích lựa

chọn, áp dụng Những loại hình doanh nghiệp

chủ yếu được pháp luật thừa nhận ở các nước

này là: Công ti cổ phần, công ti trách nhiệm

hữu hạn có hai thành viên trở lên, công ti

trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ti

hợp vốn đơn giản, công ti hợp danh, hợp tác

xã, cá nhân kinh doanh v.v

Thứ tư, tuỳ thuộc vào mức độ ảnh

hưởng của công ti đối với lợi ích của xã hội,

của cộng đồng mà pháp luật có hoặc không

có những quy định cụ thể về vấn đề quản trị

công ti

Thứ năm, quy luật phổ biến trong hoạt

động xây dựng pháp luật về các chủ thể

kinh doanh là lúc đầu người ta ban hành

một bộ luật thống nhất (thông thường là Bộ

luật thương mại) trong đó quy định một

cách đầy đủ về các mô hình công ti, sau đó,

do yêu cầu của thực tiễn mà các nước đều

lần lượt ban hành các đạo luật riêng biệt về

các loại hình doanh nghiệp tương ứng nhằm

quy định một cách cụ thể, chi tiết tất cả các

vấn đề liên quan đến cơ cấu tổ chức, cơ chế

quản lí, cơ chế vận hành, chế độ trách

nhiệm của từng loại hình doanh nghiệp này

2 Vấn đề sử dụng pháp luật về doanh

nghiệp của nước ngoài trong quá trình

xây dựng Luật doanh nghiệp Việt Nam

2.1 Sự cần thiết sử dụng pháp luật về

doanh nghiệp của nước ngoài trong quá

trình xây dựng Luật doanh nghiệp Việt Nam

Về nguyên lí, pháp luật phải phản ánh

đời sống kinh tế - xã hội của một quốc gia

cụ thể Ở các nước trên thế giới, nền kinh tế thị trường nói chung và doanh nghiệp nói riêng được xây dựng từ những thế kỉ trước

và đã đến một trình độ phát triển nhất định Song song với sự phát triển của nền kinh tế

đó, pháp luật thương mại nói chung và pháp luật về doanh nghiệp nói riêng có sự phát triển tương ứng cả về nội dung lẫn hình thức, phản ánh đầy đủ vấn đề tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp trong một thời kì lịch sử khá dài (gần 200 năm)

Ở Việt Nam, nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng XHCN bắt đầu được xây dựng vào những năm đầu của thập niên 90 thế kỉ trước và đến giữa những năm 90 của thế kỉ đó, chúng ta mới thực sự bắt tay xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và doanh nghiệp (với nguyên nghĩa của nó) cũng được ra đời trong thời kì này Tất cả đó nói lên đối với Việt Nam, nền kinh tế thị trường nói chung và doanh nghiệp nói riêng là hiện tượng mới mẻ Với nguyên lí pháp luật phải phản ánh đời sống kinh tế - xã hội, pháp luật thương mại cũng như pháp luật về doanh nghiệp phản ánh được đời sống kinh tế - xã hội ở Việt Nam

và ở một trình độ phát triển tương ứng sự phát triển của nền kinh tế Tuy nhiên, sự xuất hiện muộn mằn của doanh nghiệp như vậy sẽ khó có thể là cơ sở để pháp luật doanh nghiệp có thể phản ánh Hơn nữa, trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, đòi hỏi nền kinh tế cũng như doanh nghiệp của Việt Nam phải có những bước

Trang 5

phát triển vượt bậc tương thích với nền kinh

tế thị trường cũng như doanh nghiệp của

các nước trên thế giới Pháp luật thương

mại nói chung và pháp luật về doanh nghiệp

nói riêng cần thiết được xây dựng và hoàn

thiện nhằm đảm bảo sự tương thích với

pháp luật của các nước trên thế giới

Với logic đó người viết cho rằng pháp

luật về doanh nghiệp ở các nước có nền

kinh tế thị trường phát triển đã đạt đến trình

độ hoàn thiện nhất định, rất đáng được

nghiên cứu học tập kinh nghiệm trong quá

trình xây dựng pháp luật ở Việt Nam, việc

ứng dụng luật so sánh trong quá trình xây

dựng pháp luật doanh nghiệp ở Việt Nam là

một sự cần thiết khách quan

Việc ứng dụng luật so sánh trong quá

trình soạn thảo không phải để làm mất đi

chức năng phản ánh đời sống kinh tế - xã hội

của pháp luật mà nhằm đề cao chức năng

định hướng sự phát triển kinh tế - xã hội của

pháp luật Điều đó có nghĩa là, pháp luật về

doanh nghiệp, bên cạnh phản ánh thực trạng

doanh nghiệp Việt Nam hiện nay cũng cần

thiết phải ghi nhận (tiên liệu) những thay đổi

sắp tới khi Việt Nam có được nền kinh tế thị

trường phát triển và khi Việt Nam tham gia

đầy đủ vào quá trình hội nhập kinh tế khu

vực và thế giới Để có sự định hướng chính

xác cho sự phát triển của các loại hình

doanh nghiệp, trong quá trình xây dựng

pháp luật doanh nghiệp, việc ứng dụng pháp

luật so sánh đóng vai trò tối quan trọng

2.2 Những ứng dụng cụ thể luật so sánh

trong quá trình xây dựng Luật doanh nghiệp

Thứ nhất, sự thay đổi cách thức phân

loại doanh nghiệp

Ở hầu hết các nước trên thế giới, việc phân chia doanh nghiệp không dựa trên tiêu chí sở hữu mà dựa trên tiêu chí về mô hình kinh doanh, trên cơ sở đó doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp cá nhân (doanh nghiệp tư nhân) và công ti Tương

tự như vậy, công ti được chia thành công ti trách nhiệm hữu hạn, công ti cổ phần, công

ti hợp danh Tuỳ tình hình, điều kiện mỗi nước, việc điều chỉnh pháp luật đối với các loại doanh nghiệp đó có thể bằng một văn bản luật chung mà cũng có thể bằng những luật cụ thể, áp dụng đối với mỗi loại hình doanh nghiệp Tuy nhiên, cho dù áp dụng việc điều chỉnh mỗi loại hình doanh nghiệp bằng một văn bản luật cụ thể thì nhờ có cách thức phân chia doanh nghiệp khoa học như trên mà không có sự mâu thuẫn, chồng chéo trong các quy định về tổ chức và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp Khác với các nước đó, ở Việt Nam, cho đến trước khi ban hành Luật doanh nghiệp (2005), việc phân loại doanh nghiệp được dựa trên tiêu chí hình thức sở hữu và tương ứng với mỗi hình thức sở hữu theo quy định của Hiến pháp hoặc Bộ luật dân sự,(12) có các loại hình doanh nghiệp: Tương ứng với hình thức sở hữu toàn dân (sở hữu nhà nước), có doanh nghiệp nhà nước; với sở hữu của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, có doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội; với sở hữu tập thể, có hợp tác xã; với sở hữu tư nhân, có doanh nghiệp tư nhân; với sở hữu hỗn hợp,

Trang 6

có công ti và tương ứng với sở hữu của nhà

đầu tư nước ngoài, có doanh nghiệp có vốn

đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp liên doanh

và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài)

Nếu phân loại theo mô hình tổ chức kinh

doanh thì các doanh nghiệp Việt Nam cũng

chỉ tồn tại dưới các hình thức doanh nghiệp

tư nhân và công ti mà thôi Trong lúc đó,

quy định trong các văn bản pháp luật về tổ

chức tổ chức đối các loại hình doanh nghiệp

này thì mỗi loại doanh nghiệp này được

điều chỉnh bằng một văn bản luật riêng.(13)

Điều đó đã dẫn đến tình trạng thiếu thống

nhất, mâu thuẫn, chồng chéo trong điều

chỉnh việc tổ chức và hoạt động của doanh

nghiệp và quan trọng hơn dẫn đến việc phân

biệt đối xử đối của Nhà nước đối với các

loại doanh nghiệp mà theo nguyên lí, họ

phải được đối xử công bằng Trong hoàn

cảnh đó, khi xây dựng Luật doanh nghiệp

năm 2005 vấn đề thống nhất việc điều chỉnh

pháp luật về tổ chức hoạt động của các loại

hình doanh nghiệp được đặt ra Thực tế, vấn

đề phải thống nhất nội dung các quy định về

tổ chức và hoạt động của tất các loại hình

doanh nghiệp nhận được sự nhất trí cao của

giới lí luận cũng như các nhà làm luật Còn

về hình thức, vấn đề điều chỉnh bằng một

đạo luật chung (Luật doanh nghiệp chung)

hay bằng các luật riêng về từng loại doanh

nghiệp, có hai loại ý kiến trái ngược nhau

Trong tranh luận các ý kiến đều có viện dẫn

kinh nghiệm của nước ngoài về vấn đề này

Tuy nhiên, quán triệt chủ trương xây dựng

thống nhất pháp luật về doanh nghiệp của

Đảng(14) và để phù hợp hơn với thực tiễn xây dựng pháp luật ở ta, cuối cùng việc điều chỉnh về tổ chức và hoạt động doanh nghiệp được ghi nhận trong Luật doanh nghiệp (2005) Luật này quy định về việc tổ chức quản lí và hoạt động của công ti trách nhiệm hữu hạn, công ti cổ phần, công ti hợp danh và doanh nghiệp tư nhân thuộc mọi thành phần kinh tế.(15) Luật này thay thế Luật doanh nghiệp năm 1999; Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 và thay thế các quy định về tổ chức quản lí và hoạt động của doanh nghiệp tại Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2000) Có thể thấy, việc tổ chức

và hoạt động của hầu hết các tổ chức kinh tế được ghi nhận trong Luật doanh nghiệp năm 2005, trừ hợp tác xã (tổ chức và hoạt động của hợp tác xã vẫn theo quy định của Luật hợp tác xã năm 2003)

Như vậy, để có Luật doanh nghiệp năm

2005 thống nhất điều chỉnh về tổ chức và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp, kết quả của các nghiên cứu so sánh pháp luật các nước về doanh nghiệp đã được ứng dụng vào quá trình xây dựng Luật doanh nghiệp ở nước ta khi phân loại doanh nghiệp để ghi nhận về phạm vi điều chỉnh

và đối tương áp dụng

Thứ hai, quy định về các loại doanh nghiệp

Có thể nói, tiền thân của Luật doanh nghiệp (2005) chính là Luật công ti và Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990 Lúc bấy giờ, Luật công ti (1990) chỉ ghi nhận 2 loại hình công ti, đó là công ti trách nhiệm hữu

Trang 7

hạn và công ti cổ phần Mặc dù ghi nhận

chưa đầy đủ nhưng việc pháp luật quy định

về hai loại hình công ti đó cũng đã thể hiện

sự cố gắng của các nhà làm luật trong xây

dựng pháp luật doanh nghiệp Để có được

các quy định đó, các nhà làm luật đã nghiên

cứu, phân tích so sánh pháp luật của các

nước về vấn đề này trong quá trình xây

dựng pháp luật công ti Bởi vì, lúc bấy giờ

trong nền kinh tế nước ta chưa tồn tại hai

loại hình doanh nghiệp đó (với đúng nghĩa

của nó), cho nên pháp luật công ti không có

đối tượng để phản ánh mà chỉ đóng vai trò

định hướng cho sự phát triển của hai loại

hình công ti đó mà thôi

Tiếp đến, Luật doanh nghiệp (1999)(16)

tiếp tục quy định thêm loại hình công ti

trách nhiệm hữu hạn một thành viên là tổ

chức và công ti hợp danh Về thực chất,

việc ghi nhận công ti trách nhiệm hữu hạn

một thành viên là tổ chức nhằm mục đích

thực hiện chủ trương sắp xếp lại doanh

nghiệp nhà nước và doanh nghiệp của các

tổ chức chính trị, chính trị - xã hội Tuy

nhiên, luật so sánh đã giúp các nhà làm luật

thay đổi quan niệm truyền thống về công

ti.(17) Tương tự như quan niệm của pháp luật

về công ti ở nhiều nước trên thế giới, ở đây

Luật doanh nghiệp (1999) đã thừa nhận

công ti một thành viên, có nghĩa là công ti

không còn là mối liên kết của hai hay nhiều

cá nhân hoặc pháp nhân như quan niệm

truyền thống Còn việc ghi nhận công ti hợp

danh trong Luật doanh nghiệp (1999) thì có

thể nói là hoàn toàn học tập kinh nghiệm

của nước ngoài Bởi vì, cho đến năm 2004, khi Luật doanh nghiệp (1999) có hiệu lực được 5 năm, trong nền kinh tế nước ta cũng chỉ có 10 công ti hợp danh

Ngoài việc kế thừa ghi nhận các loại hình doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp (1999), Luật doanh nghiệp (2005) đã ghi nhận thêm loại hình công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân và bổ sung quy định về tư cách pháp nhân của công ti hợp danh Trên cơ sở các nghiên cứu so sánh pháp luật các nước, Luật doanh nghiệp

đã quy định về công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân (không kể là công dân Việt Nam hay người nước ngoài) để tránh sự phân biệt đối xử đối với các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế, bởi vì trước khi có Luật doanh nghiệp (2005), công dân Việt Nam muốn thành lập doanh nghiệp chỉ có thể thành lập doanh nghiệp tư nhân còn việc thành lập công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên chỉ dành riêng cho các tổ chức có tư cách pháp nhân Còn theo pháp luật của một số nước trên thế giới, cá nhân cũng có thể thành lập công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Trong quá trình xây dựng Luật doanh nghiệp (2005), ở các hội thảo khoa học, đã xảy ra những tranh luận gay gắt về vấn đề tư cách pháp nhân của công ti hợp danh Bởi vì, nếu thừa nhận tư cách pháp nhân của công ti hợp danh sẽ có sự mâu thuẫn với Điều 84 của Bộ luật dân sự (2005), còn nếu không quy định về tư cách pháp nhân cho công ti hợp danh thì sẽ khó khăn cho một số công ti

Trang 8

hợp danh trong tham gia vào thị trường Giải

pháp cuối cùng được các nhà làm luật chấp

thuận là vận dụng kinh nghiệm của nước

ngoài về vấn đề này, thừa nhận tư cách pháp

nhân của công ti hợp danh, coi công ti hợp

danh như là một pháp nhân đặc thù

Thứ ba, quy chế thành lập doanh nghiệp

Theo quy định của Luật doanh nghiệp

tư nhân và Luật công ti năm 1990, để khai

trương một doanh nghiệp tư nhân hoặc công

ti, cần thiết phải tiến hành hai thủ tục pháp

lí tương đối độc lập với nhau, đó là thủ tục

xin phép thành lập và thủ tục đăng kí kinh

doanh.(18) Lúc đó, các chuyên gia nước

ngoài cũng đã có những thắc mắc về vấn đề

này Theo họ, tự do thành lập doanh nghiệp

thuộc nội hàm của quyền tự do của công

dân, do đó công dân không cần phải xin

phép cơ quan nhà nước khi thành lập doanh

nghiệp Tuy nhiên, với mục đích ngay từ

đầu thông qua thủ tục thành lập, Nhà nước

có thể quản lí các doanh nghiệp và định

hướng cho sự hình thành doanh nghiệp

trong "nền kinh tế hàng hoá nhiều thành

phần, có sự điều tiết của Nhà nước, theo

định hướng XHCN".(19) Ở nước ta, Luật

doanh nghiệp tư nhân và Luật công ti năm

1990 đều quy định cần có 2 thủ tục để khai

trương một doanh nghiệp như vậy

Đến năm 1999, khi xây dựng và ban

hành Luật doanh nghiệp, các nhà làm luật

nhận thấy, việc quy định thủ tục xin phép

thành lập như Luật doanh nghiệp tư nhân và

Luật công ti năm 1990, ở chừng mực nhất

định đã làm hạn chế quyền tự do kinh doanh

của công dân Hơn nữa, học tập kinh nghiệm của các nước trên thế giới, Luật doanh nghiệp (1999) đã chỉ quy định để khai trương doanh nghiệp của mình nhà đầu tư chỉ phải tiến hành thủ tục đăng kí kinh doanh

mà không phải làm thủ tục xin phép thành lập như trước đây Quy định đó được phản ánh lại trong Luật doanh nghiệp năm 2005

Thứ tư, những quy định về quản trị

doanh nghiệp trong Luật doanh nghiệp

Vấn đề quản trị doanh nghiệp luôn là một trong những nội dung quan trọng của pháp luật về doanh nghiệp của các nước trên thế giới Ở đó, tuỳ vào từng loại hình doanh nghiệp mà pháp luật phản ánh (cụ thể hoặc nguyên tắc chung) về bộ máy tổ chức, chức năng, nhiệm vụ cũng như mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành trong mỗi một loại doanh nghiệp Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp khi thành lập, tự xây dựng cơ chế quản lí cụ thể đối với doanh nghiệp của mình

và phản ánh vào điều lệ của doanh nghiệp Đối với Việt Nam, như đã phân tích ở trên, các doanh nghiệp (doanh nghiệp tư nhân và các loại hình công ti) ra đời sau khi

có Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật công

ti năm 1990 Chính vì vậy, trong quá trình xây dựng các luật đó, các nhà làm luật đã phải tìm hiểu kinh nghiệm của nước ngoài

để quy định về vấn đề quản trị doanh nghiệp theo từng mô hình doanh nghiệp cụ thể Còn các nhà đầu tư, khi thành lập doanh nghiệp thì dựa vào những quy định của pháp luật để xây dựng cơ cấu tổ chức và quản lí công ti của mình Ngay cả sau này, khi xây dựng

Trang 9

Luật doanh nghiệp (2005), về vấn đề tổ chức

và quản lí công ti, đặc biệt là công ti cổ

phần, các nhà làm luật cũng đã phải phân

tích, so sánh pháp luật các nước để tìm ra

một giải pháp phù hợp với Việt Nam Bởi vì,

trên thực tế cho dù có những công ti cổ phần

đã tồn dược 15 năm nhưng về vấn đề tổ

chức quản lí vẫn còn chưa phù hợp với Luật

công ti (1990) hoặc Luật doanh nghiệp

(1999) hay nói cách khác các công ti tồn tại

vẫn chưa đúng nghĩa của nó

Tóm lại, xuất phát từ những lí do khách

quan, trong quá trình xây dựng pháp luật

doanh nghiệp ở nước ta, các nhà làm luật đã

sử dụng các kết quả nghiên cứu so sánh

pháp luật để học tập kinh nghiệm nước

ngoài Ứng dụng luật so sánh trong qua

trình xây dựng pháp luật doanh nghiệp ở

nước ta được biểu hiện cụ thể nhất ở hai nội

dung cơ bản, đó là việc xác định các loại

hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị

trường ở nước ta và cơ chế quản lí của các

loại hình doanh nghiệp./.

(1).Xem: Guenter H Roth, Handeles und

Gesellschaftsrecht, 6 Auflage, Verlag Franz Vahlen

Muenchen, tr 41

(2) Maurice Cozian & Alian Vieandier (1989), Tổ

chức công ti, tài liệu dịch của Bộ tư pháp, tr.803

(3) Công ti hợp danh ở Đức được quy định trong Bộ

luật dân sự 1896 và Bộ luật thương mại 1897 Công ti

hợp vốn đơn giản được định nghĩa tại Điều 161 Bộ

luật thương mại

(4) Công ti cổ phần được quy định trong Luật về

công ti cổ phần ngày 6/9/1965 (Luật này được sửa đổi

lần mới nhất ngày 12/6/2003) Công ti trách nhiệm

hữu hạn được quy định trong Luật về công ti trách

nhiệm hữu hạn ngày 20/05/1898 (luật này được sửa

đổi lần mới nhất năm 1980)

(5) R Robert Rosenberg, William G Ott, Edward E

Byers, Gordon W Brown, Business Law, McGraw

Hill Co, Inc 1983, tr.413

(6) Những quy định về hợp danh được pháp điển hóa trong Luật hợp danh năm 1890 của Vương quốc Anh được dựa trên cơ sở luật về đại diện (Agency) (7) CIEM - UNDP Dự án VIE 01/012 Chính sách phát triển kinh tế - Kinh nghiệm và bài học Trung Quốc Tập 1, tr 220, 221

(8) Luật Liên doanh hợp tác giữa Trung Quốc và nước ngoài được ban hành năm 1988 và sửa đổi 31/10/2000 (9).Xem: Tài liệu “Doing Business in China” by Baker & Mc Kenzie - 2005

(10).Xem các điều 21, 182, 183, 184 và 188 Luật công ti Trung quốc (1993)

(11).Xem các điều 189,190 và 196 Luật công ti Trung Quốc (1993)

(12).Xem: Chương IV, Các hình thức sở hữu, Bộ luật dân sự Cộng hoà XHCN Việt Nam, năm 1995 (13) Doanh nghiệp nhà nước được điều chỉnh bằng Luật doanh nghiệp nhà nước năm 1995, năm 2003; Hợp tác xã - Luật hợp tác xã năm 1996, năm 2003; Doanh tư nhân - Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990, Luật doanh nghiệp năm 1999; công ti - Luật công ti năm

1990, Luật doanh nghiệp năm 1999; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài - Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987, năm 1996, sửa đổi năm 2000

(14).Xem: Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, tr 239

(15).Xem: Điều 1 Luật doanh nghiệp (2005)

(16) Các loại hình doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật công ti năm 1990 được thống nhất quy định trong Luật doanh nghiệp (1999)

(17).Xem: F Kubler, J Simon, “Mấy vấn đề về pháp luật kinh tế Cộng hoà liên bang Đức”, Nxb Pháp lí,

Hà Nội 1992, tr 29

(18).Xem: Chương II Luật doanh nghiệp tư nhân hoặc chương II Luật công ti ngày 21/12/1990

(19).Xem: Đảng cộng sản Việt Nam, “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII”, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.55

Ngày đăng: 15/03/2014, 03:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w