Sau hai năm trở lại sinh hoạt với tư cách thành viên của Tổ chức lao động quốc tế ILO, với việc thông qua Bộ luật lao động, Việt Nam đã chứng tỏ cho thế giới hiểu được sự cố gắng và thàn
Trang 1TS Lưu B×nh Nhưìng *
ộ luật lao động của nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam được thông
qua ngày 23/6/1994 sau khi đã trải qua nhiều
lần dự thảo.(1) Sau hơn bảy năm đưa vào đời
sống, năm 2002 Bộ luật lao động đã được
sửa đổi cho phù hợp với tình hình mới.(2)
Bộ luật lao động của Việt Nam được xây
dựng với thời gian chuẩn bị thuộc loại dài
nhất trong lịch sử lập pháp Nó đã tiếp cận
với nền kinh tế thị trường theo quan điểm
đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế Sau hai
năm trở lại sinh hoạt với tư cách thành viên
của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), với việc
thông qua Bộ luật lao động, Việt Nam đã
chứng tỏ cho thế giới hiểu được sự cố gắng
và thành công trong việc thiết kế các quy
phạm pháp luật lao động
Bên cạnh việc tiếp cận các quan điểm,
đường lối, chính sách đổi mới, Bộ luật lao
động đã kế thừa truyền thống lập pháp của
Việt Nam trong nhiều thập kỉ Các quy định
của Bộ luật lao động đã chuyển tải tinh thần
của các công ước và khuyến nghị quốc tế
của Liên hợp quốc, của Tổ chức lao động
quốc tế Và đặc biệt, Bộ luật lao động của
Việt Nam còn được xây dựng trên cơ sở
tham khảo kinh nghiệm phong phú của nhiều
quốc gia trên thế giới
Việc xây dựng Bộ luật lao động được
thực hiện theo nhiều phương pháp khác nhau
như phương pháp đánh giá tổng quan,
phương pháp thống kê, phương pháp điều tra
xã hội, phương pháp lịch sử, phương pháp
chuyên gia… nhằm đảm bảo cho ra đời một
“bộ luật” hoàn chỉnh để điều chỉnh các quan
hệ xã hội trong lĩnh vực lao động Đặc biệt, các nhà làm luật còn sử dụng luật so sánh trong quá trình xây dựng Bộ luật lao động Việc so sánh luật đã tạo cho quá trình soạn thảo Bộ luật lao động những lợi thế và điều kiện quan trọng từ đó thuyết phục cơ quan lập pháp nhất trí thông qua Nó cũng tạo cho
Bộ luật lao động một sức sống bền bỉ trong thị trường lao động và bối cảnh nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
1 Sử dụng luật so sánh để xác định phạm vi điều chỉnh của Bộ luật lao động
Việc xác định phạm vi điều chỉnh của Bộ luật lao động, trong đó có đối tượng điều chỉnh là rất quan trọng Nếu không có đối tượng điều chỉnh tức là không thể có một đạo luật độc lập (tương đối)
Do đã tồn tại trong một thời gian dài quan điểm cho rằng, luật lao động Việt Nam
là ngành luật điều chỉnh quan hệ lao động giữa các “công nhân, viên chức” với các “cơ quan, xí nghiệp nhà nước” nên việc thay đổi đột ngột không phải là điều đơn giản, nếu không muốn nói là sẽ vấp phải sự cản trở quyết liệt từ những tư tưởng bảo thủ và quan điểm chống lại sự đổi mới Mặc dù có những khó khăn không nhỏ trong việc xây dựng một đạo luật về lao động, ở dạng một “bộ
B
* Giảng viên chính Khoa pháp luật kinh tế Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2luật” với tính pháp điển bậc nhất nhưng
trước những đòi hỏi có tính cấp thiết của
việc điều chỉnh quan hệ lao động trong nền
kinh tế thị trường và trong bối cảnh hội nhập
quốc tế thì đó là nhiệm vụ quan trọng cần
phải thực thi với những nỗ lực cao nhất
Khi xây dựng Bộ luật lao động, Ban soạn
thảo Bộ luật lao động đã phải tham khảo rất
nhiều đạo luật của nhiều nước trên thế giới
Việc đối chiếu các quy định của pháp luật
lao động hiện hành của nhiều quốc gia trên
thế giới với các quy định của pháp luật lao
động Việt Nam đã cho phép các nhà làm luật
thấy rõ “độ vênh” giữa luật lao động của
Việt Nam và luật lao động của các nước
Trong các đạo luật lao động của các quốc gia
trên thế giới như: Cộng hoà liên bang Nga
xô viết, Cộng hoà nhân dân Trung Hoa,
Cộng hoà liên bang Đức, Vương quốc Thuỵ
Điển, Nhật Bản, Hoa Kì… và các đạo luật
lao động của các quốc gia trong khu vực
Đông-Nam Á như Đạo luật quan hệ lao động
của Vương quốc Thái Lan, Đạo luật quan hệ
Singapore, Bộ luật lao động của Cộng hoà
Philippine đều quy định đối tượng điều
chỉnh là quan hệ lao động theo hợp đồng lao
động (quan hệ lao động theo hợp đồng lao
động là quan hệ xã hội hình thành trên cơ sở
sự thoả thuận giữa các bên) chứ không phải
là quan hệ lao động giữa nhà nước và các
công chức của nhà nước
2 Việc xác định các hình thức pháp lí
của quan hệ lao động
Quan hệ lao động giữa công nhân, viên
chức nhà nước với các cơ quan, xí nghiệp
nhà nước được hình thành trên cơ sở quyết
định tuyển dụng của cơ quan, xí nghiệp nhà
nước Hình thức pháp lí là một quyết định hành chính Do đó, về tính chất, quan hệ lao động đó là quan hệ hành chính, do luật hành chính điều chỉnh
Trong một thời gian dài, suốt thời kì thực hiện nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, các quan hệ lao động trong các xí nghiệp quốc doanh được đồng nhất với các quan hệ lao động trong các cơ quan hành chính - sự nghiệp Nhà nước là người sử dụng lao động,
do đó, có quyền tuyển chọn, điều động, thuyên chuyển… người lao động từ vị trí này vào bất kì vị trí nào hoặc đến bất kì nơi nào theo ý chí của mình mà không có sự thoả thuận nào Sự đơn phương đó cho thấy Nhà nước mà “đại diện” là các cơ quan, xí nghiệp nhà nước là người có quyền quyết định không
có giới hạn đối với các nhân viên của mình Trong nền kinh tế thị trường, một trong những yếu tố cần phải có là xây dựng quan
hệ lao động bình đẳng Các bên trong quan
hệ lao động đều có quyền tự quyết định và cùng quyết định về các quyền, lợi ích, nghĩa
vụ của mình Yếu tố đó chỉ có thể được xây dựng trên cơ sở các thoả thuận hợp pháp, được pháp luật bảo hộ
3 Vấn đề thiết kế các điều kiện lao động
Các điều kiện lao động thường là những vấn đề được quan tâm nhiều khi xây dựng luật lao động ở các quốc gia Bởi vì, đó chính là phần “can thiệp” chủ yếu của nhà nước vào quan hệ lao động với mục tiêu bảo
vệ người lao động Có quốc gia thiết kế riêng luật bảo vệ lao động riêng (Labour Protection Law – Thái Lan)
Các điều kiện lao động được coi là những tiêu chuẩn lao động cơ bản vì vậy nó phải tiếp cận và phù hợp với các tiêu chuẩn lao động
Trang 3quốc tế do Tổ chức lao động quốc tế đặt ra
Nhận thức được tầm quan trọng của việc
quy định các điều kiện lao động, khi xây dựng
Bộ luật lao động các cơ quan có thẩm quyền
đã đặt pháp luật lao động Việt Nam trong mối
tương quan so sánh với hệ thống pháp luật lao
động của nhiều quốc gia trên thế giới
Việc xác định thời giờ làm việc – thời giờ
nghỉ ngơi được tham khảo trên cơ sở đặt
trong sự so sánh với pháp luật lao động của
các quốc gia: Liên bang Nga, Indonesia,
Thailand, Malaysia, Philippine (so sánh thời
gian nghỉ lễ); Brunei, Thailand, Singapore,
Indonesia, Philippine, Thuỵ Điển, Luxemburg,
Cộng hoà Liên bang Đức, Finland, Na Uy…
(so sánh thời gian nghỉ hàng năm)
Việc xác định một số vấn đề về tiền lương
được xây dựng trên cơ sở các hệ thống pháp
luật lao động của nhiều nước Tây Âu như
Australia, Thuỵ Điển, Hoa Kì… và Đài Loan…
4 Việc thiết kế cơ chế giải quyết tranh
chấp lao động
Trong một thời gian dài Việt Nam áp
dụng cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo để
giải quyết các “khiếu tố” của công nhân, viên
chức nhà nước đối với các cơ quan, xí nghiệp
nhà nước Sở dĩ có tình trạng như vậy là do
trong nhiều năm đã thịnh hành quan niệm và
thiết kế các quy định của luật lao động trở
thành một dạng của luật hành chính
Khi xây dựng Bộ luật lao động, một trong
những công việc phải giải quyết là thay đổi
quan niệm về tranh chấp lao động và tiếp theo
là cơ chế giải quyết tranh chấp lao động
Để đạt được mục tiêu trên, các nhà làm
luật đã phải sử dụng luật so sánh Những nội
dung quan trọng nhất được thiết kế trên cơ sở
sử dụng luật so sánh là: 1) Phân biệt tranh
chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể; 2) Đưa vào các nguyên tắc hoà giải, trọng tài; 3) Thiết kế toà án lao động Trong quá trình so sánh đã thấy rõ rằng từ lâu các quốc gia, kể cả các quốc gia trong khu vực như: Cộng hoà Liên bang Đức, Cộng hoà Pháp, Vương quốc Thuỵ Điển, Vương quốc Thái Lan, Cộng hoà Philippine… đã rất coi trọng nguyên tắc “tự định đoạt” của các bên trong quan hệ lao động Đồng thời phần lớn các quốc gia trên thế giới đều coi toà án lao động là một hệ thống đặc biệt Bên cạnh đó
họ thường coi trọng tài lao động là phương thức giải quyết tranh chấp lao động ưa chuộng Tuy nhiên, các nhà làm luật của nước
ta cũng đã cân nhắc những khả năng áp dụng các mô hình đó ở Việt Nam Vì vậy, Bộ luật lao động đã lựa chọn “mô hình quá độ để rút kinh nghiệm”(3) cho tương lai Vì vậy tại Chương XIV của Bộ luật lao động đã quy định hai cơ chế giải quyết tranh chấp lao động là: 1) Cơ chế giải quyết tranh chấp lao động
cá nhân (gồm các trình tự: Thương lượng – hoà giải – toà án nhân dân); 2) Cơ chế giải quyết tranh chấp lao động tập thể (gồm các trình tự: Thương lượng – hoà giải – trọng tài – toà án nhân dân (Toà lao động))
5 Việc xây dựng các quy định về đình công
Đình công là vấn đề nhạy cảm bậc nhất trong lĩnh vực lao động Trong nhiều năm sau sự kiện ra đời của Sắc lệnh số 29SL ngày 12/3/1947 Việt Nam đã không cho người lao động sử dụng quyền đình công để đấu tranh bảo vệ quyền lợi Nguyên nhân cơ bản của việc không quy định quyền đình công trong luật lao động trong khoảng thời gian gần 50 năm là do chúng ta duy trì hệ thống quan hệ lao động bị hành chính hoá (như đã đề cập) Khi xây dựng
Trang 4nền kinh tế thị trường, với việc thiết lập thị
trường lao động và quy định về hình thức pháp
lí của quan hệ lao động là hợp đồng lao động
thì cần trang bị cho người lao động quyền tự
bảo vệ, trong đó có quyền đình công
Các nhà làm luật đã tham khảo nhiều đạo
luật lao động của nhiều quốc gia trên thế
giới, kể cả những nước phát triển và đang
phát triển Đồng thời tham chiếu cả các quy
định cả các công ước quốc tế, trong đó nổi
bật là Công ước về các quyền kinh tế – xã
hội và văn hoá của Liên hợp quốc.(4)
Việc so sánh luật cho thấy các quốc gia
có nền kinh tế thị trường đều cho người lao
động được quyền đình công trong một phạm
vi nhất định Các nước trong khu vực như
Thái Lan, Philippine, Malaysia, Indonesia…
đã quy định quyền đình công từ lâu Bên
cạnh quyền đình công các quốc gia đó còn
quy định cả quyền bế xưởng của người sử
dụng lao động Tuy nhiên, khi đặt ra vấn đề
này cơ quan làm luật đã không nhất trí ghi
nhận trong Bộ luật lao động
Việc quy định quyền đình công của
người lao động trong Bộ luật lao động là một
bước phát triển mạnh mẽ của luật lao động
Việt Nam trên con đường thích ứng và hội
nhập với hệ thống pháp luật lao động quốc tế
và khu vực Và chính sự so sánh luật đã
mang lại giá trị đó cho Bộ luật lao động
6 Một vài điều rút ra từ việc sử dụng
luật so sánh trong soạn thảo Bộ luật lao động
Việc soạn thảo Bộ luật lao động là sự thể
hiện rõ nét về những tiến bộ vượt bậc của
việc cải tổ hệ thống pháp luật nói chung và
hệ thống pháp luật lao động của Việt Nam
Sự ra đời của Bộ luật lao động đánh dấu một
bước ngoặt lớn trong việc xây dựng nền
móng, điều kiện pháp lí cho một thị trường lao động ở Việt Nam
Một trong những đóng góp cho sự thành công của việc soạn thảo Bộ luật lao động chính là việc các nhà làm luật đã vận dụng luật so sánh để tạo ra cơ sở khoa học của Bộ luật lao động Những giá trị mang tính tổng quát mà luật so sánh mang lại có thể gói gọn trong mấy vấn đề sau:
- Một là, việc so sánh luật đã góp phần thống nhất quan điểm về hình thức và bố cục của Bộ luật lao động Mặc dù có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau song qua việc so sánh các nhà làm luật đã thống nhất được hình thức của đạo luật về lao động: “Bộ luật lao động”, một đẳng cấp cao nhất về tính pháp điển
- Hai là, luật so sánh đã góp phần tạo nên những cơ sở căn bản để xây dựng cấu trúc của Bộ luật lao động với các chương quy định về từng cụm vấn đề chuyên biệt như thời giờ làm việc – thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương, kỉ luật lao động, an toàn lao động, hợp đồng lao động… Từ những vấn đề mang tính truyền thống, cổ điển, các nhà làm luật
đã bổ sung, phát triển thành một bộ luật khá hoàn chỉnh với hệ thống các chương, điều luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực lao động xã hội
- Ba là, việc so sánh luật đã giúp cho các nhà làm luật lựa chọn và khẳng định một cách khoa học và chính xác phạm vi điều chỉnh của Bộ luật lao động Đó là quan hệ lao động theo hợp đồng lao động và các quan hệ xã hội liên quan chặt chẽ với quan hệ lao động đó Việc đó đã khắc phục được hai quan điểm đối lập trong quá trình soạn thảo, thông qua Bộ luật lao động: 1) Quan điểm tả khuynh: Đưa tất cả các quan hệ lao động và phạm vi điều
Trang 5chỉnh; 2) Quan điểm hữu khuynh: Bộ luật lao
động chỉ điều chỉnh quan hệ lao động mà
không điều chỉnh các quan hệ liên quan
- Bốn là, việc ứng dụng luật so sánh đã tạo
cơ sở cho việc xác định một cách khá hợp lí và
đầy đủ các nội dung của Bộ luật lao động
Điều đó được thể hiện qua việc tham chiếu các
quy định của pháp luật lao động của các quốc
gia trên thế giới về: 1) Tuổi tham gia quan hệ
lao động; 2) Hình thức pháp lí cơ bản của mối
quan hệ lao động (hợp đồng lao động, thoả
ước lao động tập thể); 3) Thời giờ làm việc,
thời giờ nghỉ ngơi; 4) Các quy định về an toàn
lao động; 5) Vấn đề trả lương; 6) Định dạng
các tranh chấp lao động và cơ chế giải quyết
các tranh chấp lao động; 7) Quyền đình công
và cơ chế giải quyết đình công; 8) Vấn đề
quản lí nhà nước về lao động; 9) Sự tham gia
của các bên của quan hệ lao động vào các quá
trình, các hoạt động trong phạm vi quan hệ lao
động… Những nội dung được so sánh tham
chiếu và ghi nhận trong Bộ luật lao động đã
thực sự tạo ra sự tiếp cận và thích ứng của
pháp luật lao động Việt Nam với pháp luật lao
động của các quốc gia trên thế giới và đảm bảo
sự phù hợp với các tiêu chuẩn lao động quốc tế
được ILO quy định và khuyến cáo
- Năm là, luật so sánh đã được sử dụng
với những dụng ý rõ ràng và có tính khoa
học Điều đó được thể hiện:
a Việc so sánh tham khảo được thực
hiện với nhiều quy định trong Bộ luật lao
động của Liên bang Nga xô viết, bởi vì đó là
Bộ luật lao động của một quốc gia xã hội
chủ nghĩa cũng như việc tham khảo các đạo
luật lao động của Trung Quốc, Triều Tiên là
tiếp cận quan điểm của các quốc gia có chế
độ chính trị, xã hội gần gũi với Việt Nam
b Việc so sánh với luật lao động của các
quốc gia trong khu vực: Thái Lan, Cămpuchia, Philippine, Indonesia, Malaysia, Singapore, Brunei là tiếp cận với các quốc gia trong trong chiến lược tham gia vào thị trường lao động khu vực Đông Nam Á và thực hiện chính sách hợp tác, hội nhập khu vực
c Việc so sánh, tham khảo pháp luật lao động của các nước Nhật Bản, Hoa Kì, Australia, Newzeland, Cộng hoà Liên bang Đức, Thuỵ Điển, Hà Lan, Luxemburg, Italia… là cách tiếp cận với thị trường lao động của các quốc gia có nền kinh tế – xã hội phát triển và có kinh nghiệm lâu năm trong việc xây dựng pháp luật lao động
d Việc tham khảo các công ước, khuyến nghị quốc tế (đặc biệt là của ILO) là thể hiện của quan điểm tiếp cận các tiêu chuẩn lao động quốc tế, trong đó Việt Nam là một thành viên Đồng thời nó thể hiện khả năng thích ứng của hệ thống pháp luật lao động Việt Nam với hệ thống các quy tắc chung của Tổ chức lao động quốc tế Đó là sự biểu thị của quan điểm và chính sách hội nhập đa phương của Việt Nam vào thị trường lao động quốc tế
đ Việc so sánh không chỉ dừng lại ở việc đặt pháp luật lao động hiện hành trước các
hệ thống pháp luật lao động khác mà còn đặt pháp luật lao động hiện hành trước các quy định đã có (Sắc lệnh số 29/SL) và so sánh các quy định của Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 với pháp luật lao động nước ngoài Qua so sánh có thể thấy sức sống mạnh mẽ và sự tồn tại bền vững của các quy định trong Sắc lệnh số 29/SL Điều đó góp phần khẳng định tính khoa học của nó và giá trị mà nó mang lại qua việc “kế thừa” và
“phát triển”(5) hệ thống pháp luật lao động từ trước để ban hành Bộ luật lao động
Trang 6e Việc so sánh luật được áp dụng không
chỉ dừng lại ở việc đặt các hệ thống đó trong
tương quan “tay đôi” mà đặt trong mối quan
hệ đa chiều, tổng thể (xem mô hình) để rút ra
những lợi ích căn bản và lựa chọn các quy tắc chuẩn mực, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam trong những năm 1990
và những năm tiếp theo
Mô hình tổng thể các yếu tố được đưa vào quá trình so sánh luật
Tuy nhiên, không phải tất cả các vấn đề
được so sánh đều được áp dụng Vẫn còn có
những vấn đề không hoặc chưa được quan
tâm khi xây dựng Bộ luật lao động như: Việc
công nhận quyền bế xưởng của người sử
dụng lao động, việc xác lập cơ chế ba bên…
Đó sẽ là những vấn đề còn phải được nghiên
cứu tiếp tục trong những năm tiếp theo để
hoàn thiện pháp luật lao động của nước ta
(1).Việc xây dựng Bộ luật lao động đã được khởi
động từ năm 1976 và từ 1976 đến 1980 đã có 5 lần
khởi thảo bởi Bộ lao động - thương binh và xã hội
Ngày 24/3/1981 Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết
định số 130/CP thành lập Ban dự thảo gồm 8 bộ,
ngành với 9 thành viên do Bộ trưởng lao động -
thương binh và xã hội làm trưởng ban Từ 1981 đến
1985 tiếp tục có 3 lần khởi thảo nhưng sau đó không
đi đến kết quả Ngày 04/7/1990 Chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng ban hành Quyết định số 247/CT thành lập Ban
dự thảo Bộ luật lao động mới gồm Bộ trưởng Bộ lao
động - thương binh và xã hội là trưởng ban, Bộ trưởng
Bộ tư pháp và phó chủ tịch Tổng liên đoàn lao động
Việt Nam Tháng 11/1990 đã hình thành “đề cương
soạn thảo Bộ luật lao động” Tháng 3/1991 bản sơ thảo đầu tiên (sơ thảo I) đã được xây dựng và được đưa đi lấy ý kiến Sau đó đã tiến hành rút kinh nghiệm để xây dựng bản sơ thảo II Sau quá trình chỉnh lí với nhiều ý kiến đóng góp, bản Dự thảo chính thức (Dự thảo I) được hình thành Sau khi tiếp thu các ý kiến đóng góp
và chỉnh lí cho phù hợp với Hiến pháp năm 1992, Dự thảo V được trình ra thường trực Chính phủ ngày 25/8/1993 và chỉnh lí lại thành Dự thảo chính thức trình Quốc hội xem xét thông qua - Xem “Bản thuyết minh về dự thảo Bộ luật lao động”, Văn phòng Ban dự thảo Bộ luật lao động, tháng 5/1992; Dự thảo V/1993
(2).Bộ luật lao động được sửa đổi, bổ sung bởi Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động
ngày 02/4/2002 (Quốc hội khoá X, kì họp thứ 11) Hiện tại, Bộ luật lao động đang được Quốc hội khoá
XI, kì họp thứ 10 xem xét để sửa đổi, bổ sung bằng một đạo luật thứ hai, trong đó tập trung vào việc sửa đổi, bổ sung Chương XIV về giải quyết tranh chấp lao động và đình công
(3) Thuyết minh về Dự thảo Bộ luật lao động - Bộ lao động - thương binh và xã hội
(4) Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua 16/12/1966, Việt Nam đã phê chuẩn năm 1982 (5) Lời nói đầu của Bộ luật lao động
Các công ước và khuyến nghị của
Tổ chức lao động quốc tế
Pháp luật lao động hiện hành của Việt Nam
Pháp luật lao động
của một số quốc gia
trên thế giới
Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 về sự giao dịch làm công
Công ước của Liên hợp quốc liên quan