Nội dung cụ thể của Luận văn được trình bày trong 3 chương, có liên quan chặt chẽ, cùng nhằm làm rõ mục tiêu của Luận văn Ở Chương I, Chương này chủ yếu đề cập cơ sở lý luận về hiệu quả
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH TẠI DOANH NGHIỆP
Hiệu quả tài chính tại các Doanh nghiệp phát triển cơ sở hạ tầng
Khái niệm ánh giá t nh h nh tài h nh o nh nghiệp
1.1.1.1 Đánh giá tình hình tài chính Công ty là tổng thể các phương pháp cho phép đánh giá tình hình tài chính đã qua và hiện nay, dự đoán tình hình tài chính trong tương lai của doanh nghiệp, giúp cho các nhà quản lý đưa ra các quyết định quản lý hữu hiệu, phù hợp với mục tiêu mà họ quan tâm
Mục tiêu củ ánh giá t nh hinh tài h nh o nh nghiệp
Mục tiêu của đánh giá tình hình TCCông ty đối với mỗi đối tượng khác nhau sẽ khác nhau Cụ thể:
- Đối với các nhà quản lý Công ty: cần thông tin về đánh giá tình hình
Ban kiểm soát của công ty được giao nhiệm vụ kiểm soát và chỉ đạo tình hình sản xuất – kinh doanh, định hướng các quyết định liên quan đến đầu tư, cơ cấu nguồn vốn và phân chia lợi nhuận; đồng thời đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh để điều chỉnh phù hợp, thực hiện cân bằng tài chính, tăng khả năng sinh lời và khả năng thanh toán; dự báo các nguy cơ rủi ro, đặc biệt là rủi ro tài chính, từ đó xây dựng các dự báo và kế hoạch tài chính cùng các quyết định tài chính thích hợp; tất cả nhằm tăng tính kiểm tra, kiểm soát hoạt động và quản lý trong công ty một cách dễ dàng và hiệu quả.
Đối với nhà đầu tư, thông tin đánh giá tình hình tài chính của công ty giúp làm rõ triển vọng phát triển và tiềm năng tăng trưởng, từ đó ước đoán giá trị cổ phiếu trên thị trường tài chính và đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn nhằm đạt lợi nhuận cao trong tương lai Việc phân tích các chỉ số tài chính và xu hướng kinh doanh cho phép nhà đầu tư tối ưu chiến lược đầu tư và tăng khả năng thành công trên thị trường chứng khoán.
Đối với người cho vay, các khoản cho vay ngắn hạn tập trung vào khả năng thanh toán ngay của công ty, tức là khả năng ứng phó khi nợ đến hạn thanh toán; đối với các khoản cho vay dài hạn, họ quan tâm đến mức sinh lời của vốn vay và vốn đầu tư, cùng các yếu tố gây rủi ro về thanh toán và rủi ro tài chính dài hạn để xác định khả năng hoàn trả vốn và lãi và ra quyết định cho vay Đối với người hưởng lương trong công ty, lợi ích của họ là thu nhập và cơ hội thăng tiến mà công ty mang lại, do đó đánh giá tình hình tài chính giúp họ định hướng việc làm và đầu tư tài chính cho tương lai.
Đối với các cơ quan quản lý chức năng nhà nước như cơ quan Thuế, Thanh tra tài chính và Thống kê, kết quả đánh giá tình hình hoạt động của doanh nghiệp được sử dụng để kiểm tra và giám sát quá trình sản xuất, kinh doanh của các công ty trong nền kinh tế; từ đó các cơ quan này đề xuất các chính sách, cơ chế quản lý và các giải pháp tài chính phù hợp với thực tế tại từng công ty, nhằm tạo môi trường pháp lý thuận lợi và góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Đánh giá tình hình tài chính của Công ty là một công cụ quản lý hữu ích, giúp cung cấp thông tin cho các chủ thể quản lý và làm căn cứ để đưa ra các quyết định quản lý nhằm bảo toàn và gia tăng lợi ích của mình tại Công ty.
Hiệu quả tài chính tại các Doanh nghiệp
Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực, vật lực và tài lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất trong quá trình sản xuất – kinh doanh với tổng chi phí ở mức thấp nhất Việc nâng cao hiệu quả kinh tế là mối quan tâm hàng đầu của mọi nền sản xuất và của mỗi doanh nghiệp, đặc biệt là vấn đề cấp bách đối với các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam hiện nay Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vừa là câu hỏi, vừa là thách thức đối với các doanh nghiệp ngày nay Sản xuất – kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có thể được thể hiện bằng một hàm số cho thấy mối quan hệ giữa kết quả sản xuất với vốn và lao động.
Kết quả sản xuất – kinh doanh (SXKD) của doanh nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố nguồn lực như vốn và công nghệ Trong phạm vi vi mô và nhất là ngắn hạn, các nguồn lực đầu vào bị giới hạn, buộc doanh nghiệp phải chủ động khai thác và sử dụng hiệu quả vốn cũng như tối ưu hóa mọi nguồn lực sẵn có Từ đó, doanh nghiệp so sánh các phương án SXKD và lựa chọn phương án tối ưu nhất để nâng cao hiệu quả hoạt động và cạnh tranh trên thị trường.
Vậy hiệu quả sử dụng vốn là gì ? Để hiểu được ta phải hiểu được hiệu quả là gì?
- Hiệu quả của bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào cũng đều thể hiện mối quan hệ giữa “kết quả sản xuất và chi phí bỏ ra”
Hiệu quả kinh doanh = Kết quả ầu r / Chi ph ầu vào
Qua công thức trên, hiệu quả kinh tế chịu ảnh hưởng của hai nhân tố chính là kết quả đầu ra và chi phí đầu vào Hiệu quả tăng lên khi kết quả đầu ra được cải thiện và chi phí đầu vào được tối ưu, tức là khi tỉ lệ kết quả trên chi phí được nâng cao Điều này đòi hỏi tối ưu hóa quy trình sản xuất, nâng cao năng suất, giảm thiểu lãng phí và quản lý chi phí nguyên vật liệu, lao động và chi phí vận hành Khi hai yếu tố này được cân đối và tối ưu, hiệu quả kinh tế sẽ tăng và doanh nghiệp có được lợi thế cạnh tranh bền vững.
Hiệu quả sản xuất được thể hiện khi kết quả đầu ra tăng lên và chi phí đầu vào không đổi; hoặc khi kết quả đầu ra không đổi và chi phí đầu vào giảm xuống; hoặc khi cả kết quả đầu ra và chi phí đầu vào đều tăng nhưng tốc độ tăng của kết quả đầu ra lớn hơn tốc độ tăng của chi phí, cho thấy sự tối ưu hoá chi phí và tăng trưởng hiệu suất trong quá trình sản xuất.
Kết quả đầu ra được xác định trên 3 chỉ tiêu:
Chỉ tiêu lợi nhuận ròng là thước đo quan trọng nhất, đại diện cho chất lượng và tình hình kinh doanh của doanh nghiệp Chỉ tiêu này phản ánh một phần các yếu tố liên quan như doanh thu và thu nhập, cho thấy bức tranh tổng quan về hiệu quả hoạt động Thông thường khi lợi nhuận ròng tăng lên, các chỉ tiêu khác cũng được thực hiện ở mức độ tương đối tốt, cho thấy sự phù hợp giữa doanh thu, chi phí và thu nhập trong quá trình vận hành doanh nghiệp.
Chỉ tiêu doanh thu mang tính chất chỉ tiêu khối lượng và phản ánh quy mô hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, để đánh giá đúng mức độ tích cực hay hạn chế của chỉ tiêu này, cần so sánh nó với các chỉ tiêu khác, đặc biệt là lợi nhuận của doanh nghiệp; từ đó mới có thể nhận định toàn diện về hiệu quả hoạt động và vị thế của doanh nghiệp trên thị trường.
+ Chỉ tiêu thu nhập: Là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ thu nhập của doanh nghiệp đạt được
Từ 3 chỉ tiêu trên ta thấy, doanh thu thực hiện lớn cũng chưa phản ánh đầy đủ hoạt động kinh doanh cũng như hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, nó chỉ phản ánh quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường Vì vậy, ta phải căn cứ vào lợi nhuận ròng và thu nhập của doanh nghiệp, so sánh chỉ tiêu này với khoản chi phí đầu vào để đánh giá hiệu quả kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng Chỉ tiêu chi phí đầu vào được xác định dựa trên các chỉ tiêu như: giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp
- Hiệu quả xã hội: là những tác động tới thực tiễn đời sống xã hội khi doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh
Về mặt định lượng, hiệu quả kinh tế của mỗi nhiệm vụ kinh tế - xã hội được thể hiện qua mối tương quan giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra Hiệu quả chỉ được đạt khi kết quả đầu ra vượt quá chi phí đầu vào, và mức độ hiệu quả càng cao khi chênh lệch giữa kết quả và chi phí càng lớn.
Về mặt định tính, hiệu quả kinh tế cao được thể hiện qua sự nỗ lực bền bỉ, trình độ quản lý ở từng khâu và từng cấp trong hệ thống công nghiệp, đồng thời thể hiện sự gắn kết chặt chẽ giữa các yêu cầu và mục tiêu kinh tế với các yêu cầu và mục tiêu chính trị - xã hội.
Bài học kinh nghiệm nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính tại
1.2.1 Bài h ọ c kinh nghi ệ của Tổ ng Công Ty C ổ Ph ần Đầu Tư Phát Triể n Xây D ự ng DIC
Với hơn 25 năm hình thành và phát triển, Tổng Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Phát Triển Xây Dựng DIC được xem là doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực phát triển và xây dựng Doanh nghiệp đã nỗ lực không ngừng để thực hiện tốt vai trò và trách nhiệm với xã hội và người lao động, đồng thời không ngừng phát triển qua các năm Thành công của DIC một phần nhờ quản lý nâng cao hiệu quả tài chính theo một hệ thống khoa học và hợp lý, giúp tối ưu hóa nguồn lực và gia tăng giá trị cho cổ đông, khách hàng và đối tác.
Với cơ cấu vốn đa dạng, hơn 60% nguồn vốn của DIC đến từ vốn góp của cổ đông và huy động từ cổ phiếu, công ty chú trọng mở rộng mạng lưới nhà khai thác dịch vụ để thu hút vốn từ các công ty thuộc khu vực kinh tế tư nhân Việc đa dạng hóa sở hữu giúp DIC huy động gần 2 nghìn tỷ đồng cho các hoạt động đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt trong lĩnh vực cầu đường và giao thông đô thị Bên cạnh đó, công ty luôn chú trọng quản lý tài sản ngắn hạn và tăng cường sử dụng hiệu quả các tài sản ngắn hạn trong hoạt động kinh doanh.
Cải thiện cắt giảm chi phí, nâng cao hiệu quả doanh thu và lợi nhuận:
Tổng Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Phát Triển Xây Dựng DIC thực hiện quản lý chi tiết doanh thu theo từng vùng và hợp nhất báo cáo doanh thu về một bảng tổng hợp tại Tổng Công Ty Quy trình này cho phép theo dõi doanh thu theo khu vực một cách chính xác, đồng thời đảm bảo tính nhất quán và minh bạch của thông tin tài chính Nhờ hệ thống báo cáo được chuẩn hóa, DIC có cái nhìn toàn diện về kết quả kinh doanh ở mỗi vùng, từ đó hỗ trợ hoạch định chiến lược, tối ưu hóa hiệu suất và nâng cao giá trị của tập đoàn.
Với Cổ Phần Đầu Tư Phát Triển Xây Dựng DIC, các trung tâm vùng có thẩm quyền quyết định mức chi phí cho từng khoản mục phí dưới sự hướng dẫn của Tổng Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Phát Triển Xây Dựng DIC Do đó, mức lợi nhuận được xác định cho từng vùng và mỗi vùng sẽ có các phương án xác định lợi nhuận cho từng đơn vị thành viên, nhưng tất cả đều tuân theo một nguyên tắc chung: việc phân phối lợi nhuận phụ thuộc vào mức độ sở hữu cổ phần của cổ đông đối với công ty.
Kiểm soát tài chính của Tổng Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Phát Triển Xây Dựng DIC được thực hiện chủ yếu qua Ban kiểm soát tài chính trực thuộc tập đoàn Ban này gồm các thành viên từ các trung tâm vùng, không thuộc biên chế của trung tâm vùng mà trực thuộc tập đoàn, có nhiệm vụ thu thập số liệu và phân tích thông tin kế toán tài chính, và thực hiện kiểm tra bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm hỗ trợ quản trị đưa ra các quyết định đúng đắn Các trung tâm vùng tiến hành hạch toán riêng để xác định lợi nhuận cho từng vùng, đồng thời có sự phối hợp với Tổng Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Phát Triển Xây Dựng DIC để hợp nhất báo cáo tài chính thành báo cáo tài chính hợp nhất của tập đoàn.
1.2.2 Bài h ọ c kinh nghi ệ của Tổng Công ty Đầu tư và Phát triể n Công nghi ệ p
Quản lý tài sản của Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển Công nghiệp được thực hiện với các cơ chế quản lý chặt chẽ ngay từ khâu mua sắm tài sản, nhằm tối ưu hóa giá trị tài sản và kiểm soát rủi ro Nhờ quản trị tài sản hiệu quả, công ty tăng cường hiệu suất sử dụng tài sản cố định và cải thiện khả năng thanh khoản, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính và sức cạnh tranh trên thị trường.
Quản lý vốn và tài sản của Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển Công nghiệp được tập trung tại bộ máy điều hành, khiến cơ cấu tài chính của công ty khá lớn và đồng bộ Dưới sự chỉ đạo của Giám đốc phụ trách tài chính, cục tài chính gồm 6 bộ phận liên quan, đảm bảo quản lý nguồn vốn và tài sản hiệu quả, minh bạch và phù hợp với mục tiêu phát triển của Tổng Công ty.
Cục tài chính gồm các bộ phận chuyên môn: Bộ phận tài chính, Bộ phận kế hoạch, Bộ phận Kế toán và dịch vụ, Bộ phận đấu thầu và hợp đồng và Bộ phận Quản lý nguồn thông tin về kinh tế tài chính Các bộ phận này phối hợp để quản lý ngân sách, xây dựng kế hoạch tài chính, cung cấp dịch vụ kế toán và báo cáo tài chính đầy đủ, triển khai quy trình đấu thầu và ký hợp đồng đúng quy định, đồng thời quản lý nguồn thông tin kinh tế tài chính nhằm đảm bảo dữ liệu tin cậy cho quản trị và quyết định chiến lược Mục tiêu của cục tài chính là tối ưu hóa nguồn lực, bảo đảm chi tiêu hiệu quả và bền vững, kiểm soát rủi ro tài chính, tăng cường minh bạch và phục vụ cho hoạt động của cơ quan một cách hiệu quả.
Để tối ưu hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro, bài viết nhấn mạnh việc bảo đảm tỷ lệ hoàn vốn đầu tư đặt ra, quản lý tỷ giá hối đoái để bảo toàn vốn và tài sản, và bảo đảm nguồn vốn cho đầu tư dài hạn và ngắn hạn đồng thời bảo hiểm các rủi ro trong đầu tư.
Chúng tôi cung cấp các dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác nhằm hỗ trợ mọi hoạt động của Tổng công ty và các công ty thành viên, kể cả hoạt động trong nước và nước ngoài Các dịch vụ này được thiết kế để đáp ứng nhu cầu tài chính, quản trị rủi ro và tối ưu hóa hiệu quả vận hành trên toàn hệ thống, nhằm tăng cường sự phát triển của Tổng công ty và các đơn vị thành viên ở mọi thị trường.
Trải qua gần 20 năm hình thành và phát triển, cơ chế phân phối thu nhập của Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển Công nghiệp được xác định bởi Hội đồng quản trị, với quyết định tỷ lệ lợi nhuận để lại tái đầu tư và nộp Ngân sách Nhà nước theo nguyên tắc tạo điều kiện tích lũy tối đa cho Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển Công nghiệp.
Trong nội bộ Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển Công nghiệp, cơ chế kiểm tra, giám sát tài chính được thực hiện qua hệ thống chỉ tiêu, tiêu chí chi tiết và khoa học nhằm đảm bảo hoàn vốn đầu tư, bảo toàn vốn và quản trị rủi ro đầu tư Việc thiết lập và phân tích các chỉ tiêu giúp đánh giá hoạt động một cách toàn diện và đưa ra các khuyến nghị, yêu cầu đầu tư đúng đắn Nhờ tổng hợp và phân tích thông tin tài chính chính xác, ban lãnh đạo có thể điều hành, chỉ đạo và quyết định các biện pháp kinh doanh kịp thời và hiệu quả.
1.2.3 Bài h ọ c cho T ổng công ty đầu tư phát triển đườ ng cao t ố c Vi ệ t Nam
Kinh nghiệm quản trị tài chính từ các doanh nghiệp trong ngành cho thấy việc tối ưu dòng tiền, kiểm soát chi phí và quản trị rủi ro tài chính là nền tảng để nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính Đối với Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC), bài học rút ra là cần xây dựng hệ thống quản trị tài chính toàn diện, tập trung vào tối ưu nguồn vốn, tăng cường tính thanh khoản và giảm thiểu lãng phí chi phí đầu tư và vận hành VEC cần đồng bộ các công cụ đánh giá hiệu quả dự án, quản lý chi phí xây dựng và vận hành, cùng với kiểm soát chi phí vốn để rút ngắn thời gian hoàn vốn và nâng cao lợi nhuận trên mỗi đồng vốn Việc tăng cường minh bạch tài chính, quản lý rủi ro và tối ưu hóa cấu trúc nguồn lực sẽ tăng sự tin cậy của cổ đông, nhà đầu tư và đối tác, đồng thời thúc đẩy sự phát triển bền vững của hệ thống đường cao tốc Việt Nam.
Một yếu tố quan trọng là quản lý chặt chẽ các nguồn huy động vốn, đảm bảo sự đồng bộ và toàn diện trong quá trình huy động và tận dụng tối đa mọi kênh vốn như cổ phiếu, thị trường chứng khoán và nguồn vốn từ cổ đông để tối ưu hóa cơ cấu vốn và tăng cường thanh khoản.
Hai là, để nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính tốt thì cần quản lý tốt nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp đặc biệt là vốn vay ngắn hạn, đảm bảo chi tiêu đúng nguyên tắc và sử dụng vốn đúng mục đích, không sử dụng vốn ngắn hạn cho việc hình thành tài sản dài hạn
Giới thiệu tổng quát về tình hình tại công ty
2.1.1 L ị ch s ử hình thành và phát tri ể n c ủ a công ty
Lịch sử hình thành công ty 2.1.1.1
Tại Văn bản số 1024/CP-CN ngày 01/8/2003, Thủ tướng Chính phủ đã chấp thuận chủ trương đầu tư Dự án đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình theo phương thức huy động vốn bằng trái phiếu công trình, giao Bộ Giao thông vận tải chỉ đạo thí điểm thành lập Công ty cổ phần Đầu tư phát triển đường cao tốc (VEC), thống nhất với Bộ Tài chính lập phương án và cơ chế bảo lãnh phát hành trái phiếu Việc thành lập một doanh nghiệp nhà nước đứng ra vay vốn thương mại hoặc phát hành trái phiếu công trình, làm Chủ đầu tư các dự án và tự khai thác hoàn vốn là một giải pháp quan trọng và cần thiết Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó, trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm phát triển hệ thống đường bộ cao tốc của các nước trong khu vực, tháng 5 năm 2004 Bộ
Giao thông vận tải trình Thủ tướng Chính phủ Đề án thành lập Công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) Nhận được sự đồng thuận cao từ các Bộ, ngành Trung ương, ngày 01/9/2004 Thủ tướng ký Văn bản số 1245/CP-ĐMDN đồng ý và giao cho Bộ Giao thông vận tải thành lập VEC, với ngành nghề kinh doanh chính là đầu tư, phát triển và quản lý, bảo trì hệ thống đường bộ cao tốc quốc gia VEC có vốn điều lệ ban đầu 1.000 tỷ đồng, trong đó 50 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước cấp và nguồn thu từ bán quyền thu phí hai trạm Cầu Giẽ và cầu Phù Đổng trong thời hạn 10 năm.
Ngày 06 tháng 10 năm 2004, Bộ Giao thông vận tải có Quyết định số 3033/QĐ-BGTVT thành lập Công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) Ngày 04 tháng 12 năm 2004, VEC chính thức ra mắt và đi vào hoạt động
VEC được thành lập như một thử nghiệm mới của Chính phủ và ngành GTVT nhằm thử nghiệm mô hình doanh nghiệp nhà nước nòng cốt cho đầu tư xây dựng và phát triển đường bộ cao tốc Mục tiêu của VEC là trở thành một nhà đầu tư chuyên nghiệp và chủ lực, là đầu mối huy động và thu hút nguồn vốn trong nước và nước ngoài ở nhiều hình thức để đầu tư và phát triển hệ thống đường bộ cao tốc theo phương thức tự xây dựng, tự kinh doanh và tự hoàn vốn.
Nhiệm vụ đầu tiên Bộ Giao thông vận tải giao cho VEC là Chủ đầu tư
Đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình dài 50 km được đầu tư bằng vốn điều lệ và vốn phát hành trái phiếu công trình do Chính phủ bảo lãnh Ngày 7/1/2006, VEC khởi công dự án và đây là công trình đường cao tốc đầu tiên do VEC làm chủ đầu tư Sau hơn 5 năm thi công, 20 km đầu tiên của dự án được thông xe kỹ thuật vào ngày 13/11/2011 và bắt đầu thu phí, đánh dấu doanh thu đầu tiên của VEC; ngày 30/6/2012 thông xe toàn tuyến và đưa vào khai thác.
Tiếp đó, VEC được Bộ Giao thông vận tải giao chủ trì Dự án lập Quy hoạch phát triển mạng đường bộ cao tốc Việt Nam, do Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tài trợ và tư vấn Phần Lan thực hiện; dự án đó hoàn thành vào tháng 4/2007 Trên cơ sở kết quả dự án, Bộ Giao thông vận tải trình và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển mạng đường bộ cao tốc Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn sau năm 2020 (Quyết định số 1734/QĐ-TTg ngày 01/12/2008), trong đó Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ cho Bộ Giao thông vận tải và cho VEC: nghiên cứu hình thành các mô hình tổ chức phù hợp trong quản lý đầu tư, xây dựng và khai thác hệ thống đường bộ cao tốc; xây dựng Công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) trở thành doanh nghiệp nòng cốt trong đầu tư, phát triển đường bộ cao tốc Việt Nam nhằm nhanh chóng hình thành mạng đường bộ cao tốc quốc gia, bảo đảm kết nối các trung tâm kinh tế trọng điểm, các cửa khẩu chính, các đầu mối giao thông quan trọng có nhu cầu vận tải lớn, tốc độ cao; trong đó, tập trung xây dựng tuyến đường bộ cao tốc Bắc Nam, ưu tiên các tuyến đường cao tốc nối các thành phố lớn, các tuyến ra các cảng biển lớn.
Như vậy, mục tiêu thành lập VEC đã được Thủ tướng Chính phủ và các
VEC xác định rõ ràng mục tiêu đầu tư hệ thống đường cao tốc theo nguyên tắc hạch toán kinh doanh và tự hoàn vốn Ngay sau khi đi vào hoạt động, VEC gặp nhiều khó khăn do cơ chế chính sách thời điểm đó không thích ứng với mô hình thí điểm, đặc biệt là cơ chế huy động vốn Với nhu cầu huy động vốn lớn, thời gian hoàn vốn dài, vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng và đã được huy động toàn bộ cho Dự án xây dựng đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình nên VEC không còn vốn lưu động để tiếp tục hoạt động; tuy nhiên cơ chế hiện hành không cho phép VEC huy động số vốn lớn hơn 5 lần vốn pháp định, không cho phép phát hành trái phiếu quay vòng để trả nợ, trái phiếu công trình có kỳ hạn tối đa 15 năm, trong khi dự án đường cao tốc chỉ có thể hoàn vốn trên 30 năm Trước tình hình đó, VEC đã xây dựng và trình duyệt một số cơ chế, chính sách đặc thù nhằm đảm bảo cho hoạt động của VEC.
Ngày 10 tháng 9 năm 2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1202/QĐ-TTg về việc thí điểm một số cơ chế chính sách cho các dự án đầu tư, khai thác đường bộ cao tốc do VEC làm Chủ đầu tư - Đây là hành lang pháp lý quan trọng để VEC hoạt động có hiệu quả
Trên cơ sở phát triển của VEC, ngày 27 tháng 11 năm 2007 Thủ tướng Chính phủ ban hành Văn bản số 1837/TTg-VX về việc vận dụng xếp công ty nhà nước hạng đặc biệt đối với Công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) Thực hiện quan điểm của Đảng về công tác dân tộc và lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “đưa miền núi tiến kịp miền xuôi”, ngày 25 tháng 4 năm 2009 VEC khởi công Dự án xây dựng đường cao tốc Nội Bài–Lào Cai, dài 245km, tuyến đường bộ cao tốc dài nhất Việt Nam tính đến thời điểm hiện tại Ngày 21 tháng 9 năm 2014 cao tốc Nội Bài - Lào Cai đã chính thức thông xe toàn tuyến, đúng dịp kỷ niệm 10 năm ngày thành lập VEC Tuyến cao tốc Nội Bài – Lào Cai đưa vào khai thác đã tạo đà chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đồng bào các dân tộc vùng Tây Bắc, kết nối các trung tâm kinh tế, khu công nghiệp, du lịch và giải trí khu vực phía Bắc.
Chứ năng nhiệm vụ của công ty 2.1.1.2
Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước và nghiêm túc chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng cùng pháp luật của Nhà nước; bảo vệ sản xuất, bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh trật tự và an toàn xã hội; quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ quốc phòng toàn dân.
Xây dựng và duy trì một môi trường làm việc cạnh tranh và kỷ luật lao động cao, đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong mọi hoạt động nhằm tăng cường hiệu suất và sự gắn kết của tập thể Đồng thời quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của người lao động để thúc đẩy sự cống hiến và đáp ứng mong muốn của công nhân viên.
- Chủ động đổi mới và tiếp thu công nghệ hiện đại nhằm tiết kiệm năng lượng, tăng năng suất, hiệu quả và chất lượng sản phẩm
- Góp phần cung cấp việc làm, tăng thu nhập cho người lao động
Chúng tôi thường xuyên tổ chức đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, công nhân viên để xây dựng đội ngũ có kiến thức vững vàng và kỹ năng thực thi hiệu quả Phát triển toàn diện được đảm bảo, giúp mỗi thành viên phát huy tối đa tiềm năng, đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng và hiệu suất của tổ chức Với chương trình đào tạo bài bản, liên tục cập nhật chuẩn mực nghề nghiệp, chúng tôi tạo điều kiện cho cán bộ, công nhân viên thích ứng nhanh với sự thay đổi và đạt hiệu quả công việc cao nhất.
- Gia tăng lợi ích cho các cổ đông
Cơ ấu tổ chức công ty 2.1.1.3
Hình 2 1 Cơ cấu tổ chức công ty
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán) 2.1.2 Đặc điể m s ả n xu ấ t, qu ả n lý t ạ i công ty Đặ iểm sản xuất tại công ty
Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) là doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con, với Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ (1.018 tỷ đồng) Các dự án do VEC được giao làm chủ đầu tư được thực hiện chủ yếu từ hai nguồn vốn, trong đó VEC vay lại và các nguồn vốn huy động khác phù hợp với từng dự án.
Chính phủ huy động vốn từ các nhà tài trợ, phần vốn còn lại được VEC phát hành trái phiếu công trình có bảo lãnh của Chính phủ Tuy nhiên với vốn điều lệ 1.018 tỷ đồng và tài sản của VEC chưa được hình thành và xác định, việc huy động vốn từ các tổ chức xã hội, tư nhân rất khó khăn; việc phát hành trái phiếu công trình cũng không thực hiện được do quy định của Luật Quản lý nợ công (tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu không được quá 3 lần) Các nhà tài trợ quốc tế cho rằng khả năng tài chính của VEC là không mạnh; khả năng trả nợ của một số dự án do VEC đang đầu tư xây dựng là thấp, trong khi các dự án hoàn thành và đưa vào khai thác chỉ đảm bảo trả toàn bộ hoặc một phần vốn vay trong thời gian vay, do đó nguồn kinh phí để tái đầu tư và xây dựng các dự án mới rất khó khăn Vì vậy, để tiếp tục đầu tư và phát triển cần có sự hỗ trợ từ Chính phủ cho VEC.
VEC là một doanh nghiệp đầu tư hoàn vốn không bao cấp, hoạt động dựa trên vốn điều lệ và phần vốn đi vay từ các nguồn khác Ngoài vốn điều lệ, VEC phải huy động vốn từ nhiều kênh, gồm nguồn vốn ODA, vay thương mại và phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh Trong trường hợp dự án đã được phê duyệt và đưa vào thực hiện nhưng đến thời điểm trả nợ vốn mà nguồn thu hồi chưa đủ, Chính phủ cho phép VEC phát hành trái phiếu để trả nợ.
Phân tích hiệu quả hoạt động tài chính tại Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam
Để đảm bảo nguồn vốn cho các dự án trọng điểm, ngoài vốn điều lệ, VEC đã đẩy mạnh hợp tác với các tổ chức tài chính tín dụng quốc tế như ADB, JICA và WB, và đến nay đã ký kết hiệp định vay lại trị giá 2.019 triệu USD (tương đương 36.000 tỷ đồng) Đồng thời, VEC đã phát hành thành công 2.023,5 tỷ đồng trái phiếu công trình để đầu tư vào ba dự án đường cao tốc lớn: Cầu Giẽ - Ninh Bình, TP Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây và Nội Bài - Lào Cai.
2.2 Phân tích thực trạng tình hình hoạt động tài chính tại Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam
2.2.1 Phân tích cơ cấ u Tài s ả n - Ngu ồ n v ố n
Phân tích cơ cấu nguồn vốn giúp xác định khả năng tự tài trợ về tài chính của công ty, đánh giá mức độ tự chủ và tính chủ động trong hoạt động kinh doanh, cũng như nhận diện các khó khăn hiện tại và tiềm ẩn sẽ gặp phải trong tương lai Dựa trên kết quả này, công ty có thể đề xuất các biện pháp xử lý kịp thời, tối ưu hóa cơ cấu vốn và nâng cao khả năng tự chủ tài chính để duy trì hiệu quả hoạt động và tăng trưởng bền vững.
Bảng 2 1 Phân tích cơ cấu Nguồn vốn Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao t ốc Việt Nam giai đoạn 2017 – 2019
CHỈ TIÊU Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019
Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng
1 Vốn góp của chủ sở hữu 10.000 1% 10.000 1% 10.000 1%
2 Quỹ đầu tư phát triển 87.823 10% 85.175 9% 79.712 9%
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán)
Theo bảng 2.2 phân tích tình hình biến động nguồn vốn và tài sản của Công ty, nguồn vốn và tài sản tăng qua các năm từ 2017 đến 2019, với đà tăng mạnh vào năm 2018 và giảm nhẹ vào năm 2019.
Cụ thể năm 2018 tổng tài sản nguồn vốn tăng so với năm 2017 là 74.033 tỷ đồng, tương ứng với 8,31%, do Nợ phải trả của Công ty tăng mạnh Sang năm
2019 tổng tài sản nguồn vốn lại giảm với năm 2017 là 77.326 tỷ đồng, tương ứng với 8,02%
Trong cơ cấu tổng nguồn vốn của Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam, nợ phải trả chiếm tỷ trọng lớn, trung bình trên 89% trong giai đoạn 2017–2019, trong khi vốn chủ sở hữu chỉ chiếm khoảng 10% Điều này cho thấy Tổng công ty đang có dấu hiệu mất cân đối trong cơ cấu nguồn vốn.
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán)
Hình 2 2 Bi ểu đồ biến động nợ ngắn hạn Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao t ốc Việt Nam giai đoạn 2017 – 2019
Trong giai đoạn 2017-2019, nợ ngắn hạn chiếm dưới 20% tổng nguồn vốn của Tổng công ty Đầu tư Phát triển Đường cao tốc Việt Nam và có xu hướng giảm dần, cho thấy sự mất cân đối trong cơ cấu nguồn vốn Quá trình nợ ngắn hạn ở mức thấp và giảm dần gợi ý sự dịch chuyển về phía nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho các dự án hạ tầng đường cao tốc.
Năm 2018, nợ ngắn hạn của Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam tăng 8.312 tỷ đồng so với năm 2017, tương đương 4,43%, do các khoản trả tiền trước người mua tăng 34,19% và khoản phải trả nội bộ ngắn hạn tăng 47,53%; tăng mạnh nhất là các khoản phải trả, phải nộp ngắn hạn khác do các đối tác trong lĩnh vực đầu tư của công ty đặt cọc Đến năm 2019, nợ ngắn hạn giảm 70.493 tỷ đồng, tương ứng 35,95% so với năm 2018, trong đó các khoản giảm mạnh nhất là chi phí phải trả khác (78,40%) và chi phí phải trả ngắn hạn (6,21%), phải trả nội bộ có biến động 276,82%, quỹ khen thưởng tăng 5,42%.
Trong giai đoạn 2017–2019, nợ dài hạn của Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng nguồn vốn bình quân, trên 70% Cụ thể, năm 2018 nợ dài hạn đạt 70% tổng nguồn vốn, tăng so với năm 2017 với mức tăng 68.376 tỷ đồng, tương ứng 11,30%.
Nợ phải trả bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn; trong năm 2018, nợ dài hạn tăng do các yếu tố liên quan, khi người mua trả trước dài hạn tăng 10% và vay nợ dài hạn tăng, tuy nhiên công ty không vay thêm nợ dài hạn để đầu tư cho các dự án xây dựng đường cao tốc đã ký kết và một số dự án khác Đến năm 2019, nợ dài hạn giảm 1.372 tỷ đồng, tương ứng 0,20% so với năm 2018, nguyên nhân là các khoản người mua trả tiền trước dài hạn giảm và các khoản phải trả dài hạn khác giảm 13%.
Nguồn vốn chủ sở hữu năm 2018 chiếm 10% tổng nguồn vốn và đã giảm so với năm 2017 là 2.648 tỷ đồng, tương ứng với 2,71%, do quỹ đầu tư của Công ty giảm mạnh Sang năm 2019, nguồn vốn chủ sở hữu tiếp tục giảm thêm 5.463 tỷ đồng, tương ứng 5,74%, do Công ty trích bổ sung quỹ từ lợi nhuận.
Phân tích cho thấy Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) đã gặp khó khăn về hiệu quả kinh doanh trong năm 2018–2019; nợ phải trả dài hạn tăng mạnh đã ảnh hưởng đến khả năng tự chủ tài chính của công ty, dù doanh thu vẫn tăng nhưng lợi nhuận suy giảm nghiêm trọng Trong những năm tới, VEC cần triển khai các biện pháp để giảm nợ dài hạn và củng cố nguồn lực tài chính, nhằm duy trì sự tự chủ tài chính và đảm bảo tăng trưởng bền vững.
Cơ ấu tổng tài sản 2.2.1.1
Phân tích cơ cấu tài sản cho thấy mức độ biến động của từng loại tài sản trong tổng tài sản và giúp nhận diện các khoản mục có biến động lớn để tập trung phân tích và tìm nguyên nhân Nhờ đó, các nhà quản lý nắm được tình hình đầu tư và cách sử dụng số vốn đã huy động, từ đó tối ưu hóa danh mục tài sản và nâng cao hiệu quả quản lý tài chính.
Bảng 2 2 Cơ cấu tổng tài sản Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc
CHỈ TIÊU Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019
Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng
I Tiền và tương đương tiền 9.146 1,03% 4.544 0,47% 2.348 0,26%
II Đầu tư tài chính ngắn hạn 47.160 5,30% 67.330 6,98% 75.640 8,53%
III.Phải thu ngắn hạn 120.365 13,52% 121.342 12,58% 17.618 1,99%
V Tài sản ngắn hạn khác 2.004 0,23% 2.540 0,26% 10.160 1,15%
II Tài sản cố định 540.613 60,71% 632.287 65,55% 624.335 70,37%
IV Tài sản dở dang dài hạn 170.621 19,16% 135.910 14,09% 152.333 17,17%
V Đầu tư tài chính dài hạn 522 0,06% 522 0,05% 4.712 0,53%
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán) Tài sản ngắn hạn
Trong cơ cấu tài sản của Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam, tài sản dài hạn chiếm tỷ trọng lớn, còn tài sản ngắn hạn ở mức khá nhỏ, trung bình khoảng 18% mỗi năm trong giai đoạn 2017–2019 Cụ thể, năm 2017 tài sản ngắn hạn là 178.737 tỷ đồng, chiếm 20,07% tổng tài sản, trong đó chủ yếu là đầu tư ngắn hạn (5,3%) và các khoản phải thu ngắn hạn (13,52%) Sang năm 2018, tài sản ngắn hạn tăng lên đáng kể, đạt 195.807 tỷ đồng, tăng 17.070 tỷ đồng so với năm 2017, tương ứng mức tăng 9,55%; tiền và các khoản tương đương tiền giảm nhiều nhất là 4.602 tỷ đồng, tương ứng 50,32%, trong khi tất cả các khoản khác đều tăng, đặc biệt đầu tư tài chính ngắn hạn tăng 20.170 tỷ đồng, tương ứng mức tăng 42,77%. -**Support Pollinations.AI:** -🌸 **Ad** 🌸Powered by Pollinations.AI free text APIs [Support our mission](https://pollinations.ai/redirect/kofi) to keep AI accessible for everyone.
Nguyên nhân tăng giảm của tài sản ngắn hạn trong năm 2018 là do doanh thu của công ty tăng lên, nhưng công nợ phải thu từ khách hàng lại khó thu hồi; đồng thời đầu tư tài chính ngắn hạn cũng tăng mạnh, tiềm ẩn nhiều rủi ro cho hoạt động tài chính của Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam.
Trong giai đoạn 2017-2019, tài sản dài hạn của Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam tăng dần và duy trì tốc độ tăng trưởng trên 4% mỗi năm, trong đó hai phân hệ tài sản cố định và tài sản đầu tư dở dang có biến động mạnh nhất Cụ thể, năm 2018, tài sản dài hạn tăng lên 56.963 tỷ đồng so với năm 2017, tương ứng mức tăng 8,00% Nguyên nhân chính là do công ty mua sắm trang thiết bị máy móc khiến giá trị tài sản cố định tăng 91.674 tỷ đồng, trong khi tài sản đầu tư dở dang dài hạn lại giảm 34.711 tỷ đồng Sang năm 2019, tài sản dài hạn tiếp tục tăng thêm 12.661 tỷ đồng, tương ứng tăng 1,65% so với năm 2018, chủ yếu do tài sản đầu tư dở dang dài hạn tăng lên 16.423 tỷ đồng.
2.2.2 Phân tích cơ cấ u Doanh thu - Chi phí - L ợ i nhu ậ n Để đánh giá tình hình hoạt động và hiệu quả hoạt động tài chính của Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam tác giả tiên hành phát triển cơ cấu về doanh thu chi phí và lợi nhuận của công ty trong giai đoạn
Bảng 2 3 Biến động về Doanh thu - Chi phí - Lợi nhuận của Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam giai đoạn 2017 - 2019
STT CHỈ TIÊU Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019
1 DT bán hàng và cung cấp dịch vụ 27.407 32.092 36.824
2 DT thuần về BH và cung cấp dịch vụ 27.407 32.092 36.824
4 LN gộp về BH và cung cấp dịch vụ 16.054 25.612 26.268
5 Doanh thu hoạt động tài chính 2.092 3.890 5.049
6 Chi phí hoạt động tài chính 8.413 28.871 30.705
7 Chi phí quản lý doanh nghiệp 423 623 595
8 LN thuần từ hoạt động kinh doanh 9.310 8 17
9 Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế 9.310 8 17
10 CP thuế TNDN hiện hành 0 0 0
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán)
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán)
Hình 2 3 Biểu đồ biến động về doanh thu của Tổng công ty đầu tƣ phát triển đường cao tốc Việt Nam
Đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam
2.3.1 Nhân t ố là tăng hiệ u qu ả ho ạt độ ng tài chính c ủ a công ty
Qua phân tích tình hình tài chính của Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam giai đoạn 2017 – 2019, có thể thấy hoạt động kinh doanh của đơn vị luôn có lãi và lợi nhuận được duy trì ở mức cao Doanh thu tăng lên qua từng năm, phản ánh hiệu quả vận hành và nhu cầu đầu tư vào mạng lưới đường cao tốc Biên lợi nhuận và chi phí quản lý được cải thiện, cho thấy công ty đang vận hành ổn định với tiềm năng tăng trưởng dài hạn.
Quy mô sản xuất và kinh doanh của công ty ngày càng được mở rộng, tập trung vào việc tự chủ nguồn lực và tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực sẵn có Việc tăng cường tự chủ nguồn lực giúp công ty kiểm soát chi phí, đẩy nhanh tiến độ sản xuất và nâng cao hiệu quả vận hành Đồng thời, tối ưu hóa nguồn lực hiện có sẽ tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững và củng cố lợi thế cạnh tranh trên thị trường.
Việc tăng tài sản cố định và giảm nợ phải trả ngắn hạn cho thấy một xu hướng phát triển đúng đắn của công ty, giúp tăng khả năng tự chủ tài chính trong điều kiện nền kinh tế suy thoái và nguồn vốn đầu tư đang thiếu hụt Đồng thời, việc cắt giảm đầu tư đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng cơ bản phản ánh thách thức nguồn vốn và sự cần thiết tối ưu hóa chi phí, từ đó công ty có thể duy trì sự ổn định tài chính và chuẩn bị cho các cơ hội tăng trưởng trong tương lai.
+ Doanh thu của Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam không ngừng tăng trưởng qua các năm từ 2017 đến 2019 với tốc độ cao trên 10%
Chỉ tiêu hệ số thanh khoản nợ ngắn hạn của Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) đã tăng qua từng năm, cho thấy khả năng thanh toán ngắn hạn được cải thiện Tốc độ tăng trưởng trung bình của hệ số này ở mức trên 18% mỗi năm, phản ánh đà tăng trưởng mạnh mẽ và hiệu quả quản trị dòng tiền của tập đoàn Việc cải thiện thanh khoản nợ ngắn hạn giúp VEC tăng cường khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính và đẩy mạnh triển khai các dự án đường cao tốc trên toàn quốc Những kết quả này góp phần củng cố sự ổn định tài chính và tiềm lực mở rộng của Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam.
+ Khoản mục phải thu ngắn hạn có xu hướng giảm trong năm 2019 so với năm 2018 là 85%
Việc gia tăng các khoản nợ dài hạn thay thế cho nợ ngắn hạn cho thấy công ty đang tối ưu hoá cấu trúc vốn và duy trì sự cân đối nguồn lực tài chính Khả năng thanh toán lãi vay ở mức cao cho thấy công ty có khả năng trang trải chi phí vốn một cách ổn định Điều này cho thấy chính sách quản trị tài chính của công ty được thực thi đúng đắn nhằm đảm bảo an toàn tài chính và nâng cao uy tín trên thị trường Những tín hiệu này phản ánh sự chủ động trong quản trị rủi ro và nợ, giúp công ty duy trì thanh khoản và dòng tiền ổn định.
Công ty không dùng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn
Toàn bộ tài sản dài hạn được tài trợ bằng nguồn vốn dài hạn, đồng thời một phần vốn dài hạn được dùng để tài trợ cho tài sản ngắn hạn Áp dụng mô hình tài trợ này, công ty duy trì nguyên tắc cân bằng tài chính, giúp giảm rủi ro tài chính và tăng khả năng đối phó với các rủi ro có thể xảy ra như phá sản của khách hàng lớn, việc cắt giảm tín dụng từ các nhà cung cấp, kể cả thua lỗ tạm thời.
Về an toàn tài chính, trong 3 năm gần đây tình hình tài chính của công ty đã dần được cải thiện Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn luôn ở mức cao, đặc biệt năm 2019 đạt 7,064 lần, vượt cao so với mức trung bình dao động từ 1,2 đến 2 Điều này cho thấy khả năng thanh toán hiện thời trong hai năm gần đây ở mức tốt và đã đảm bảo được khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn đúng hạn.
2.3.2 Nhân t ố làm gi ả m hi ệ u q ủ a ho ạt độ ng tài chính c ủ a công ty
Tình hình tài chính của Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam ghi nhận nhiều kết quả tốt và công ty đã không ngừng cải thiện hiệu quả tài chính của mình Tuy nhiên, vẫn còn một số điểm cần được hoàn thiện thêm để tăng cường tính bền vững và đẩy mạnh hiệu quả vận hành.
- Về hiệu quả năm 2018 và 2019 thấp hơn so với năm 2017:
+ Năm 2018 và 2019 tốc độ tăng trưởng doanh thu đạt 17,09% và 14,75%, trong khi đó tốc độ tăng của chi phí tài chính là 243,17% và 6,35% điều này cho thấy Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam chưa thực sự điều tiết được các khoản chi phí tài chính, dẫn tới lợi nhuận của Công ty trong năm 2018 và 2019 giảm nghiêm trọng so với năm 2017, lợi nhuận sau thuế của công ty đạt mức rất thấp là một con số so với mức bốn con số năm 2017
+ Chỉ tiêu chi phí tài chính quá lớn trong các năm 2018 và 2019 cho thấy Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam đang phải đi vay vốn quá nhiều điều này làm giảm khả năng thanh khoản của công ty
An toàn tài chính của công ty vẫn chưa ổn định, khi khả năng thanh toán hiện thời ở mức thấp và khả năng tự chủ tài chính còn yếu Cụ thể, tỷ lệ thanh toán hiện thời đạt mức cao nhất 0,999 vào năm 2018, cho thấy có thể đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn ở mức gần như đầy đủ tại thời điểm đó Tuy nhiên, khả năng thanh toán tức thời lại rất thấp, chỉ đạt 0,23 vào năm 2018 và 0,019 vào năm 2019, cho thấy nguồn lực tài chính sẵn có để chi trả ngay các khoản nợ ngắn hạn còn rất hạn chế Tình trạng này phản ánh sự thiếu ổn định và rủi ro thanh khoản cao, cho thấy công ty chưa đạt sự tự chủ về tài chính.
Hệ số nợ trên tổng tài sản của Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam lên tới trên 81%, cho thấy tài sản của công ty chủ yếu hình thành từ vốn đi vay từ các doanh nghiệp khác, là dấu hiệu đáng lo ngại về cơ cấu tài chính Đồng thời, hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu ở mức khoảng 0,2 phản ánh mức độ độc lập tài chính còn thấp của công ty.
Nợ ngắn hạn của Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam ở mức rất cao, trong khi các khoản phải thu ngắn hạn lại khá thấp và chiếm dưới 20% tổng tài sản, thậm chí năm 2019 chỉ là 2,15% Sự mất cân đối giữa nợ ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn hạn đã tác động tiêu cực đến cán cân tài chính và tính thanh khoản của công ty Đây là dấu hiệu cảnh báo về khả năng thanh toán ngắn hạn và yêu cầu công ty xem xét ngay các biện pháp khắc phục như tăng cường quản trị dòng tiền, đẩy nhanh thu hồi các khoản phải thu, cơ cấu lại nợ và tối ưu hóa nguồn vốn ngắn hạn Việc thực hiện các biện pháp này sẽ giúp cân đối lại nợ ngắn hạn với các tài sản ngắn hạn và cải thiện hiệu quả quản trị tài chính cho Tổng công ty.
2.3.3 Nguyên nhân a) Nguyên nhân chủ quan
Nguyên nhân căn bản khiến tình hình tài chính của doanh nghiệp chưa tốt là năng lực quản lý còn hạn chế và bố trí nhân sự chưa hợp lý ở đội ngũ lãnh đạo; vì vậy doanh nghiệp cần triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tối ưu hóa việc phân bổ nhân sự cho phù hợp với chiến lược kinh doanh Cấp quản lý hiện chưa có những biện pháp quản trị chi phí hiệu quả nhằm nâng cao sức sinh lời của đồng vốn trong doanh nghiệp Trong khi đó, tốc độ tăng chi phí tài chính và chi phí quản lý doanh nghiệp cao hơn tốc độ tăng doanh thu khiến lợi nhuận thuần biên giảm.
Đội ngũ lao động hiện tại của công ty chủ yếu là trẻ, năng động và nhiệt huyết, nhưng thiếu kinh nghiệm thực tế, do đó công ty cần tuyển dụng thêm cán bộ có kinh nghiệm dày dặn để nâng cao hiệu quả hoạt động Thiếu nguồn nhân lực chuyên sâu về tài chính là hệ quả của việc chưa kịp xây dựng một cơ chế quản lý vốn hiệu quả, khiến cơ cấu tổ chức thiếu một bộ phận phân tích tài chính chuyên sâu để đánh giá tình hình tài chính của công ty.