1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA pdf

92 395 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Theo Dõi Nghèo Đô Thị Theo Phương Pháp Cùng Tham Gia
Trường học Học Viện Chính Sách Và Phát Triển - [http://www.hvsp.edu.vn](http://www.hvsp.edu.vn)
Chuyên ngành Chính sách và Phát triển đô thị
Thể loại Báo cáo tổng hợp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh này, ActionAid Việt Nam, Oxfam Anh và Oxfam Hồng Kông, những tổ chức làm việc lâu năm hỗ trợ người nghèo và thiệt thòi nhất ở Việt Nam, cùng với các đối tác địa phương, đã

Trang 1

THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP

CÙNG THAM GIA

Báo cáo Tổng hợp Vòng 3 năm 2010 Tháng 11 năm 2010

ĐT: 04 - 3945 4406 Fax: 04 - 3945 4405

Email: oxfamhk@ohk.org.vn

ActionAid Vietnam

Tầng 5, tòa nhà HEAC

14 - 16 Hàm Long, Hà Nội Việt Nam

ĐT: 04 - 3943 9866 Fax: 04 - 3943 9872

Trang 3

THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA

Báo cáo Tổng hợp vòng 3 năm 2010

Tháng 11 năm 2010

Trang 5

1.1 Diễn biến nghèo đô thị: các đo lường khác nhau 11

1.2 Hai nhóm nghèo đô thị: người nghèo bản xứ và người nghèo nhập cư 16

PHẦN 2 CÁC NHÓM XÃ HỘI ĐẶC THÙ DỄ BỊ TỔN THƯƠNG 45

Trang 7

Trong bối cảnh này, ActionAid Việt Nam, Oxfam Anh và Oxfam Hồng Kông, những tổ chức làm việc lâu năm hỗ trợ người nghèo và thiệt thòi nhất ở Việt Nam, cùng với các đối tác địa phương, đã tiến hành thực hiện sáng kiến ‘Theo dõi Nghèo theo phương pháp cùng tham gia’ từ đầu năm 2007.

Sáng kiến này nhằm mục đích theo dõi hàng năm các kết quả giảm nghèo, gắn với những thay đổi về sinh kế và tiếp cận thị trường của người nghèo và dễ bị tổn thương tại một số cộng đồng điển hình ở cả khu vực đô thị và nông thôn trên cả nước Chúng tôi mong muốn đóng góp các khuyến nghị cho thảo luận chính sách tại cấp quốc gia, cũng như cho việc điều chỉnh và thiết kế các chương trình của ActionAid và Oxfam tại Việt Nam

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ tài chính của Bộ Phát triển Vương quốc Anh (DFID) để tiếp tục thực hiện dự án này

Chúng tôi hy vọng Quý vị sẽ tìm thấy những thông tin bổ ích trong báo cáo tổng hợp Theo dõi Nghèo đô thị vòng 3 này

III

Trang 9

bộ của ActionAid và Oxfam đã trực tiếp tham gia các chuyến thực địa, chia sẻ những kiến thức và kinh nghiệm hữu ích về phương pháp và nội dung nghiên cứu

Chúng tôi xin cảm ơn sự cho phép và tạo điều kiện thuận lợi của UBND, các Sở ban ngành liên quan ở cấp thành phố và cấp quận, huyện nơi tiến hành đợt theo dõi nghèo

đô thị vòng 3 năm 2010 này Chúng tôi xin cảm ơn các thành viên Nhóm nòng cốt ở huyện Đông Anh (TP Hà Nội), quận Kiến An (TP Hải Phòng) và quận Gò Vấp (TP

Hồ Chí Minh) gồm cán bộ Sở ban ngành, các tổ chức đoàn thể ở cấp tỉnh và quận, huyện, các cán bộ phường, xã đã phối hợp chặt chẽ, dành nhiều thời gian và nỗ lực

để hoàn thành công tác thực địa cũng như viết báo cáo theo dõi nghèo của từng điểm quan trắc Chúng tôi xin đặc biệt cảm ơn các cán bộ khu phố, tổ dân phố, thôn xóm

đã cùng tham gia và hỗ trợ công tác thực địa Sự tham gia tích cực và điều phối nhịp nhàng của các đối tác địa phương của ActionAid gồm Trung tâm Hợp tác Phát triển Nguồn Nhân lực (C&D), Trung tâm vì Người Lao động Nghèo (CWR) trực thuộc Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) thành phố Hải Phòng và Ban Quản lý Chương trình Phát triển quận Gò Vấp trực thuộc UBND quận Gò Vấp (TP.HCM) là không thể thiếu để đợt theo dõi nghèo đô thị này được thực hiện thành công

Cuối cùng, chúng tôi xin bày tỏ những lời cảm ơn chân thành nhất tới những người dân nghèo nam và nữ, những công nhân nhập cư, những thanh niên và trẻ em tại các tổ dân phố, thôn xóm đã dành thời gian chia sẻ những thuận lợi và khó khăn trong đời sống, những nhận xét, dự định và mong muốn trong tương lai của mình thông qua các cuộc thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu Nếu không có sự tham gia tích cực của họ, đợt theo dõi nghèo này đã không thể thực hiện được

Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của mọi người quan tâm.2 Chúng tôi xin chân thành cảm ơn

Nhóm tư vấn công ty Trường Xuân (Ageless)

Hoàng Xuân Thành (Trưởng nhóm), cùng với

Đinh Thị Thu Phương

Trương Tuấn Anh

2 Các ý kiến đóng góp có thể gửi cho: anh Hoàng Xuân Thành, Trưởng nhóm tư vấn, Giám đốc công ty Trường Xuân (Ageless): (04) 39434478 (văn phòng),

091 334 0972 (di động), emai: thanhhx @ gmail.com; chị Nguyễn Thúy Hà, Cán bộ chủ đề Quản trị Nhà nước, ActionAid Việt Nam, (04) 39439866, email: ha.nguyenthuy @ actionaid.org và chị Hoàng Lan Hương, Cán bộ Chương trình, Oxfam Anh, (04) 39454362, máy lẻ 118, email: hlhuong @ oxfam.org.uk

v

Trang 11

TỪ VIẾT TẮT

vII

Trang 13

THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA

1

TÓM LƯỢC

Sáng kiến theo dõi nghèo đô thị

Sáng kiến theo dõi nghèo đô thị vòng 3 trong năm 2010, tiếp nối vòng 1 năm 2008 và vòng 2 năm 2009, do ActionAid và Oxfam phối hợp với các đối tác địa phương thực hiện tại 3 phường/xã thuộc thành phố Hà nội, Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh trong tháng 7-8/2010 Tại mỗi địa phương, một Nhóm nòng cốt theo dõi nghèo gồm đại diện các cơ quan, ban ngành đã được thành lập Các thông tin thu được dựa trên thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu với sự tham gia của 499 người (273 nữ) và phỏng vấn phiếu hỏi 180 công nhân nhập cư (112 nữ)

Tổng quan về nghèo đô thị

Nghèo có tính chất đa chiều, gồm các tiêu chí thu nhập (chi tiêu) và phi thu nhập Tỷ

lệ nghèo đô thị đo theo chuẩn nghèo thu nhập hoặc chi tiêu giảm chậm trong thời gian qua Lý do chính là nghèo đô thị theo cách đo đơn chiều này đã đi dần vào “lõi” nên khó giảm thêm, cộng thêm tác động của các rủi ro và cú sốc Tuy nhiên, nếu đo theo các tiêu chí đa chiều thì tình trạng nghèo đô thị sẽ trầm trọng hơn Thiếu các tiêu chí nghèo đa chiều làm hạn chế việc thiết kế các chính sách hỗ trợ phù hợp với từng nhóm đối tượng đặc thù

Chính phủ đã phê duyệt chuẩn nghèo mới giai đoạn 2011-2015 ở mức gấp đôi chuẩn nghèo cũ, điều này sẽ dẫn đến tỷ lệ hộ nghèo tăng mạnh và bắt đầu một chu kỳ giảm nghèo mới Tài liệu hướng dẫn rà soát nghèo theo chuẩn mới của Bộ LĐ-TBXH đã qui định đưa toàn bộ hộ nhập cư từ 6 tháng trở lên không phân biệt tình trạng hộ khẩu và tình trạng cư trú vào diện rà soát nghèo, hy vọng sẽ cho một bức tranh nghèo đô thị chuẩn xác hơn

Người nghèo bản xứ tại khu vực đô thị đang gặp nhiều bất lợi Nguồn nhân lực hạn

chế là đặc trưng phổ biến nhất của người nghèo bản xứ, nhất là nhóm nghèo “lõi” Thiếu học vấn và tay nghề, người nghèo bản xứ thường làm trong khu vực phi chính thức, tuy năng động nhưng thu nhập không ổn định Sở hữu đất đai của người nghèo thường bấp bênh Trong bối cảnh đô thị hóa, người nghèo thiếu khả năng chuyển đổi sinh kế; một số phải chuyển ra các vùng ngoại vi xa hơn để sinh sống (nơi có giá đất rẻ hơn và chi phí sinh hoạt thấp hơn) Bất lợi của người nghèo bản xứ còn thể hiện ở khía cạnh thiếu vốn xã hội, hạn chế trong tiếp cận dịch vụ công, và sống trong môi trường kém tiện nghi và thiếu an toàn

Người nghèo nhập cư dưới dạng tạm trú thường không được xét đến trong rà soát

nghèo hàng năm Người nhập cư phải chịu một số bất lợi đặc thù do chi phí cuộc sống cao và thiếu hòa nhập xã hội tại khu vực đô thị Xét đến các chi phí cao ở thành phố

và nhu cầu dành tiền tiết kiệm và gửi về nhà, đa số người nhập cư chỉ còn ngân quĩ chi tiêu rất tằn tiện cho các nhu cầu thiết yếu của bản thân Trong bối cảnh Việt Nam vẫn giữ hệ thống “hộ khẩu” và còn nhiều thủ tục, chính sách gắn với hộ khẩu, người nhập

cư nghèo khó dựa vào các thể chế chính thức khi gặp khó khăn và cú sốc

Các thách thức giảm nghèo đô thị Cơ sở hạ tầng tại các điểm quan trắc ở vùng ven

đô thị hóa - nơi có đông người nghèo, tiếp tục được cải thiện trong năm 2010 Nhiều bức xúc của người dân về cơ sở hạ tầng đã được giải quyết Tuy nhiên, còn nhiều mặt hạn chế về cơ sở hạ tầng ảnh hưởng đến đời sống và sinh kế của người nghèo; trầm trọng nhất là tình trạng thoát nước kém, ô nhiễm môi trường, quá tải dịch vụ thu gom rác thải tại các “ổ cụm” nghèo và những địa bàn đông người nhập cư Người nhập cư vẫn phải chịu giá điện, nước cao Tình trạng “qui hoạch treo” vẫn tiếp diễn, ảnh hưởng

Trang 14

THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA Tóm lược

do những hạn chế về mương máng tưới tiêu, ô nhiễm môi trường, thu hẹp diện tích lúa tập trung Các chính sách quản lý đô thị nhiều khi mâu thuẫn với sinh kế của người nghèo làm nghề tự do

Phát triển vốn xã hội của người nghèo phụ thuộc nhiều vào sự quan tâm của chính quyền, đoàn thể địa phương, đặc biệt là sự tích cực của đội ngũ tổ trưởng dân phố (trong mô hình quản lý 2 cấp ở đô thị) Người nhập cư nghèo thường dựa vào mối quan

hệ xã hội phi chính thức như đồng hương, bạn trọ để mưu sinh và chống đỡ rủi ro Nhiều loại hình tổ nhóm, CLB được hình thành, đã phát huy tác dụng giao lưu giữa các nhóm nhập cư, giữa người nhập cư và người bản xứ, trở thành nơi phổ biến pháp luật

và các kỹ năng sống cho các thành viên Tuy nhiên duy trì sự tham gia thường xuyên của nguời nhập cư tại các tổ nhóm, CLB còn khó khăn; và vẫn thiếu các sáng kiến thu hút sự tham gia của người nhập cư dựa trên các mối quan hệ đồng hương, bạn trọ vốn

có của họ

Người nghèo còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ giáo dục và y tế, chủ yếu do sự quá tải cơ sở vật chất và do chi phí cao Số lượng người mua thẻ BHYT tự nguyện đã tăng lên, nhưng còn rất nhỏ so với qui mô dân cư Đáng lưu ý, tỷ lệ hộ cận nghèo mua thẻ BHYT tự nguyện để được hưởng hỗ trợ 50% rất thấp, cho thấy cần có

sự điều chỉnh trong chính sách này Nhóm công nhân nhập cư chưa coi trọng BHXH

và BHYT, và nhiều doanh nghiệp nhỏ còn trốn tránh trách nhiệm đóng bảo hiểm cho công nhân Xã hội hóa các hoạt động bảo trợ xã hội đã được các địa phương triển khai tích cực, qua việc vận động sự ủng hộ của các doanh nghiệp và mạnh thường quân

Tính dễ bị tổn thương của một số nhóm xã hội đặc thù

Trong năm 2010, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đã lắng dịu, các doanh nghiệp hướng về xuất khẩu đã phục hồi sản xuất Nhu cầu tuyển dụng lao động cao ở đô thị, cộng thêm những khó khăn cố hữu do thiên tai, dịch bệnh ở nông thôn, dẫn đến dòng người di cư nông thôn - thành thị tiếp tục tăng Đã xuất hiện một số xu hướng mới trong

số công nhân nhập cư, như gia tăng các cặp vợ chồng ở có con nhỏ (thay vì gửi về quê như trước), gia tăng người nhập cư thuộc các nhóm DTTS Những nhóm nhập cư mới này sẽ có thể làm thay đổi đặc trưng và tăng thêm sự đa dạng của nghèo đô thị trong thời gian tới

Các nhóm xã hội đặc thù tại khu vực đô thị có những bất lợi và dễ bị tổn thương riêng của mình Cuộc khủng hoảng tài chính đã khiến nhiều công nhân nhập cư nhận thức về tương lai bất ổn, độ rủi ro cao khi làm việc trong các ngành thâm dụng lao động, khiến

họ có tâm lý luân chuyển chỗ làm nhanh chóng Các nhóm làm việc trong khu vực phi chính thức như buôn bán nhỏ, xe ôm, xích lô có thu nhập bấp bênh do nhiều yếu tố, như thời tiết thất thường, giá cả biến động, cạnh tranh ngày càng cao trong ngành hàng, và còn do các qui định về quản lý đô thị

Tóm lại, các nhóm nghèo đô thị rất đa dạng, người nghèo đô thị rất dễ bị tổn thương Cùng với tiến trình đô thị hóa ở Việt Nam, tình trạng nghèo đô thị - bao gồm cả nghèo bản xứ và nghèo nhập cư - cần được quan tâm hơn nữa trong việc thiết kế và thực hiện chính sách hướng đến giảm nghèo đô thị bền vững, đóng góp vào tiến trình giảm nghèo toàn diện của Việt Nam ở cả khu vực nông thôn và thành thị trong giai đoạn tới

Một số gợi ý thảo luận chính sách hướng tới giảm nghèo đô thị bền vững được rút ra từ đợt khảo sát vòng 3 năm 2010 như sau:

Trang 15

THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA

3

1 Thiết kế các công cụ đo lường nghèo đa chiều ở khu vực đô thị (cùng

với khu vực nông thôn) Đã đến lúc cần tính đến các yếu tố phi thu nhập/chi tiêu để xác định đúng mức độ trầm trọng của nghèo đô thị, xác định các nhóm đối tượng đặc thù yếu thế và dễ bị tổn thương, từ đó có sự phân bổ ngân sách thích đáng và xây dựng các chính sách giảm nghèo đô thị phù hợp với từng đối tượng Các công cụ đo lường nghèo đa chiều sẽ phức tạp hơn so với cách đo lường nghèo đơn chiều theo thu nhập/chi tiêu hiện nay; tuy nhiên, sự phức tạp về kỹ thuật hoàn toàn có thể giải quyết được Các tiêu chí phi thu nhập liên quan đến nguồn nhân lực, nguồn sinh kế, điều kiện sống, vốn xã hội và tiếp cận dịch vụ công (đặc biệt tiếp cận giáo dục,

y tế) như nêu trong báo cáo này cần được chú trọng

2 Xác định người nhập cư là một bộ phận cấu thành của bất cứ chương trình, chính sách giảm nghèo đô thị nào Đây là bước đi cần thiết nhằm

tách rời việc cung cấp các dịch vụ công với việc có hộ khẩu thường trú hay không, từ đó thúc đẩy sự hòa nhập xã hội của người nhập cư Cần nghiêm túc thực hiện qui trình điều tra xác định hộ nghèo giai đoạn 2011-2015 của

Bộ LĐ-TBXH theo chuẩn nghèo mới, trong đó bao gồm cả những hộ nhập

cư trên 6 tháng không kể tình trạng hộ khẩu và tình trạng cư trú Bước tiếp theo cần rà soát và thiết kế mới các chính sách hỗ trợ dễ thực hiện đối với người nhập cư, trong đó quan tâm đến chính sách giảm chi phi cuộc sống tại đô thị (nhà ở, điện, nước, giáo dục ), chính sách quản lý đô thị hài hòa

và giảm thiểu mâu thuẫn với sinh kế của người nhập cư

3 Xây dựng hệ thống chính sách an sinh xã hội toàn diện ở khu vực đô thị Hệ thống an sinh xã hội cần hướng đến các nhóm đặc thù mang các

tiêu chí nghèo đa chiều (không nhất thiết thuộc diện nghèo đơn chiều theo thu nhập/chi tiêu) và người nhập cư, như nêu ở hai khuyến nghị trên Cần

mở rộng chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên theo NĐ67/CP đến toàn

bộ nhóm ”nghèo lõi” (nghèo tuyệt đối) ở khu vực đô thị, giúp họ đảm bảo một cuộc sống tối thiểu Xem xét lại chính sách hỗ trợ 50% chi phí mua thẻ BHYT cho hộ cận nghèo

4 Tăng ngân sách đầu tư tại các ”ổ cụm” nghèo, các địa bàn chuyển đổi có đông người nhập cư Thiết kế một chương trình đầu tư đồng bộ

nhằm giải quyết các bức xúc về cơ sở hạ tầng tại các ổ cụm nghèo, trong

đó chú trọng thoát nước và vệ sinh môi trường Phân bổ ngân sách chi đầu

tư và ngân sách chi thường xuyên cho các địa bàn chuyển đổi, ở các vùng ngoại vi đô thị hóa cần xác định theo qui mô tổng dân số bao gồm cả người bản xứ và người nhập cư, nhằm giải quyết sự quá tải của các dịch vụ giáo dục, y tế, thu gom rác thải

5 Thiết kế một đề án đào tạo nghề cho lao động đô thị Đề án này cần có

qui mô, phạm vi ở một mức độ tương xứng với Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đã được Chính phủ phê duyệt Quan trọng hơn, cần khảo sát thực tế để thiết kế các chính sách hỗ trợ học nghề hiệu quả, dễ tiếp cận với lao động đô thị, như các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đào tạo nghề cho công nhân, chính sách hỗ trợ các hình thức vừa học vừa làm gắn với các cơ sở ngành nghề dân doanh đa dạng tại đô thị (không nhất thiết chỉ gắn với các ”trung tâm dạy nghề” của các quận huyện và thành phố)

6 Chú trọng tăng cường vốn xã hội của cả người bản xứ và người nhập

cư trong các nỗ lực giảm nghèo đô thị Chương trình hoạt động của

chính quyền địa phương, đoàn thể, tổ chức xã hội, các nhà tài trợ nên chú trọng nâng cao vai trò của phường và tổ dân phố trong việc tổ chức các hoạt động dân sinh trên địa bàn theo phương châm ”Nhà nước và nhân dân cùng làm”; đồng thời thúc đẩy sự chia sẻ, tự giúp và hòa nhập của người nhập cư, có thể bắt đầu từ các mối quan hệ xã hội phi chính thức như nhóm đồng hương, nhóm bạn trọ

Trang 17

THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA

5

GIỚI THIỆU

Mục tiêu của Báo cáo

Việt Nam đã thay đổi nhanh chóng trong vòng 25 năm qua Từ chỗ là một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo trong những năm gần đây Năm 1993, có gần 60% dân

số Việt Nam ở diện nghèo Theo Báo cáo của Tổng cục Thống kê thì tỷ lệ này đã giảm xuống còn khoảng 15% vào năm 2008

Trong giai đoạn 2006-2010, Chính phủ Việt Nam sẽ thực hiện hàng loạt các chính sách cải cách nhằm đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển và giúp những hộ gia đình nghèo còn lại thoát nghèo Việc trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào cuối năm 2006 đánh dấu sự hội nhập đầy đủ của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới Bối cảnh đang thay đổi rất nhanh sẽ mang lại nhiều cơ hội cũng như thách thức cho người dân Việt Nam, đặc biệt là nhóm người nghèo ở cả khu vực nông thôn và thành thị

Trước những thay đổi nhanh chóng và sâu sắc mà Việt Nam sẽ trải qua trong một vài năm tới, một nhóm các tổ chức phi chính phủ quốc tế đã có sáng kiến cùng hợp tác trong việc theo dõi những thay đổi này cũng như tác động của chúng Các tổ chức phi chính phủ này gồm ActionAid Việt Nam, Oxfam Anh và Oxfam Hồng Kông đã phối hợp với các đối tác địa phương tại những tỉnh và thành phố mà các tổ chức có chương trình

hỗ trợ để xây dựng một mạng lưới theo dõi nghèo theo phương pháp cùng tham gia nhằm mục tiêu:

“Tiến hành theo dõi định kỳ tình trạng nghèo của các nhóm dễ bị tổn thương tại một số cộng đồng dân cư điển hình, trong bối cảnh gia nhập WTO cùng với các chính sách cải cách của Chính phủ đến năm

2012, nhằm cung cấp các phân tích và đề xuất cho thảo luận chính sách cũng như việc thực hiện các chương trình, dự án của Oxfam, ActionAid và các đối tác”.

Mục đích của việc theo dõi lặp lại hàng năm tình trạng nghèo tại một số cộng đồng dân

cư điển hình theo phương pháp cùng tham gia là:

ƒ Bổ sung các thông tin nghiên cứu định tính hữu ích cho các số liệu thống

kê và điều tra đói nghèo của nhà nước;

biến (bất lợi) tại cộng đồng nghèo trong bối cảnh gia nhập WTO;

ƒ Nâng cao năng lực địa phương và thúc đẩy sự tham gia của người dân vào quá trình theo dõi nghèo phục vụ công tác giảm nghèo một cách hiệu quả

và công bằng

Mạng lưới theo dõi nghèo đô thị được triển khai từ năm 2008 tại thành phố Hải Phòng

và thành phố Hồ Chí Minh Đến năm 2009, mạng lưới theo dõi nghèo đô thị được mở rộng thêm thành phố Hà Nội Báo cáo tổng hợp kết quả theo dõi nghèo đô thị vòng 1 năm 2008 và vòng 2 năm 2009 đã được ấn hành3

Báo cáo này trình bày kết quả theo dõi nghèo đô thị vòng 3 trong năm 2010 tại thành phố Hà Nội, Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh

3 Tham khảo Báo cáo “Theo dõi nghèo đô thị theo phương pháp cùng tham gia: Báo cáo tổng hợp năm 2008”, Oxfam và ActionAid Việt Nam, tháng

4/2009, và Báo cáo “Theo dõi nghèo đô thị theo phương pháp cùng tham gia: Báo cáo tổng hợp vòng 2 năm 2009”, Oxfam và ActionAid Việt Nam, tháng

Trang 18

THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA Giới thiệu

6

Phương pháp nghiên cứu

Khảo sát lặp lại hàng năm

Điểm khác biệt của sáng kiến theo dõi nghèo này là khảo sát lặp lại hàng năm để thấy

rõ những thay đổi về tình hình giảm nghèo qua các năm tại các điểm quan trắc Nhóm nòng cốt sẽ quay trở lại đúng những địa điểm đã khảo sát từ vòng trước, làm lại bài tập phân loại hộ với đúng danh sách của năm trước, phỏng vấn lặp lại một số hộ gia đình

và doanh nghiệp điển hình đã phỏng vấn năm trước vv Duy trì sự tham gia liên tục qua các năm của các thành viên trong Nhóm nòng cốt tại từng thành phố cũng giúp cho việc theo dõi những thay đổi về tình trạng nghèo theo thời gian tại các điểm quan trắc thuận lợi hơn

Địa điểm khảo sát

Tại mỗi thành phố sẽ chọn một (01) phường hoặc xã mang tính điển hình về tình trạng nghèo của người bản xứ và người nhập cư Dựa vào quan hệ làm việc sẵn có của AAV

và Oxfam với đối tác địa phương, sau khi cân nhắc về thời gian và ngân sách khi mở rộng mạng lưới (thêm thành phố Hà Nội), các địa điểm tiến hành theo dõi nghèo đô thị vòng 3 năm 2010 được lựa chọn như sau:

ƒ Thành phố Hà Nội: theo dõi nghèo được tiến hành tại xã Kim Chung thuộc huyện ngoại thành Đông Anh, nơi tập trung các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp Bắc Thăng Long

ƒ Thành phố Hải Phòng: theo dõi nghèo lặp lại được tiến hành tại phường Lãm Hà thuộc quận ven đô thị hóa Kiến An

ƒ Thành phố Hồ Chí Minh: theo dõi nghèo lặp lại được tiến hành tại phường

6 thuộc quận ven đô thị hóa Gò Vấp

Trong mỗi phường hoặc xã, hai (02) tổ dân phố hoặc thôn xóm được lựa chọn để tiến hành theo dõi nghèo Như vậy, tổng cộng có 3 phường/xã và 6 tổ dân phố/thôn xóm tham gia vào đợt khảo sát nghèo đô thị vòng 3 trong năm 2010

Mục tiêu của mạng lưới theo dõi nghèo không nhằm đưa ra các số liệu thống kê mang tính đại diện, mà nhằm cung cấp các minh chứng định tính và ý kiến chia sẻ của người dân phục vụ cho thảo luận chính sách và xây dựng các chương trình phát triển Do vậy, các xã, phường được lựa chọn có mục đích, mang tính điển hình về tình trạng nghèo đô thị, đồng thời thể hiện được sự đa dạng giữa các điểm quan trắc (Bảng 1)

BẢNG 1 Các điểm quan trắc nghèo đô thị năm 2010

Phường/

xã Quận/ huyện Thành phố Vị trí địa lý

Tổng diện tích đất (ha)

Tổng

số hộ gia đình thường trú (hộ)

Tổng

số nhân khẩu thường trú (người)

Tổng

số nhân khẩu tạm trú (người)

Tỷ lệ hộ nghèo tại thời điểm khảo sát 7/2010 (%) Kim

Nguồn: Phiếu thông tin cấp phường/xã, số liệu đến tháng 7/2010

6

Trang 19

THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA

Phường/Xã Kim Chung Lãm Hà Phường 6

Tổ dân phố/Thôn xóm Thôn Nhuế Thôn Bầu Tổ 3

(tổ 2 cũ)

Tổ 14 (tổ 30 cũ)

Tổ 25 Tổ 27

Tổng số người đang nhận trợ giúp XH

Trong đó:

Tỷ lệ trẻ nhập học trong độ tuổi tiểu học

Tỷ lệ trẻ nhập học trong độ tuổi trung

Tỷ lệ trẻ nhập học trong độ tuổi trung

Số hộ đang vay các nguồn vốn ưu đãi

(hộ/ tương đương % tổng số hộ)

50 (5%)

115

10 (20%)

16 (32%) Nguồn: Phiếu thông tin cấp tổ dân phố/ thôn xóm, số liệu đến tháng 7/1010

(Chú thích: N/A - không có số liệu)

Trang 20

THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA Giới thiệu

8

Nhóm nòng cốt thực hiện theo dõi nghèo

Một nhóm nòng cốt về theo dõi nghèo của từng quận/huyện được thành lập bao gồm 15-20 người:

ƒ Đại diện các đối tác địa phương của chương trình ActionAid trên địa bàn, như Trung tâm Hợp tác Phát triển Nguồn Nhân lực (C&D) tại TP Hà Nội, Trung tâm vì Người Lao động Nghèo (CWR) tại TP Hải Phòng và Ban Quản lý Chương trình Phát triển quận Gò Vấp tại TP HCM

ƒ Đại diện một số cơ quan cấp thành phố như Sở LĐ&TBXH, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Liên đoàn Lao động

ƒ Đại diện các cơ quan cấp quận/huyện như phòng LĐ&TBXH, phòng NN&PTNT, phòng Tài chính-Kế hoạch, phòng Tài nguyên-Môi trường, Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Liên đoàn Lao động

ƒ Đại diện từ các phường/xã, tổ dân phố/thôn xóm được lựa chọn tiến hành khảo sát

Nhóm nòng cốt có trách nhiệm trực tiếp tiến hành các công việc theo dõi tình trạng nghèo tại các điểm quan trắc trên địa bàn mình, từ khâu tổ chức, triển khai thu thập thông tin và tóm tắt thông tin thực địa Nhóm nòng cốt được tập huấn nâng cao năng lực và hỗ trợ kỹ thuật của Nhóm tư vấn công ty Trường Xuân (Ageless) và cán bộ chương trình Oxfam, ActionAid

Khung theo dõi nghèo đô thị

Vòng theo dõi nghèo đô thị theo phương pháp cùng tham gia lần thứ ba trong năm

2010 gồm 3 chủ đề chính liên kết với nhau

Chủ đề 1: Tổng quan về nghèo đô thị Nghèo bản xứ: diễn biến nghèo đô thị, đặc

điểm của người nghèo bản xứ; các thách thức giảm nghèo đô thị; phản hồi của người dân về các chính sách, chương trình dự án Chủ đề này nhằm cập nhật tình hình chung

về nghèo đô thị tại các địa bàn khảo sát thông qua tiếng nói của chính người dân và cán bộ cơ sở, qua đó xác định các vấn đề mới nổi lên liên quan đến nghèo đô thị cần lưu ý, giải quyết trong bối cảnh mới

Chủ đề 2: Nghèo nhập cư: đặc điểm, tính đa dạng của người nghèo nhập cư; tiếp cận

dịch vụ công vủa người nhập cư, khả năng hòa nhập của người nhập cư vào đời sống

xã hội tại khu vực đô thị Chủ đề này nhằm cung cấp một số đặc điểm nổi bật về người nhập cư và các vấn đề mới nổi trong bối cảnh số lượng người nhập cư ngày càng gia tăng tại các khu vực ngoại vi đang đô thị hóa

Chủ đề 3: Các nhóm xã hội đặc thù, dễ bị tổn thương tại khu vực đô thị: tính dễ

bị tổn thương là một đặc trưng chủ đạo của nghèo đô thị, liên quan đến các nhóm xã hội đặc thù, làm việc trong khu vực phi chính thức và công nhân nhập cư Chủ đề này tìm hiểu về đặc điểm, điều kiện sống, kế sinh nhai, tính dễ bị tổn thương của các nhóm đặc thù tại khu vực đô thị Chủ đề này nhằm cung cấp một số nghiên cứu trường hợp

về các vấn đề xã hội liên quan đến nghèo đang đặt ra cho môi trường đô thị hiện nay

Khảo sát thực địa

Vòng theo dõi nghèo đô thị thứ ba này được diễn ra từ tháng 7 đến tháng 8 năm 2010 Thời gian khảo sát thực địa theo phương pháp cùng tham gia tại mỗi phường/xã là 1 tuần Các công cụ thu thập số liệu chính là:

Thảo luận nhóm: với các thông tin viên chính trong phường/xã, tổ dân phố/thôn xóm

và với người dân nam/nữ, trẻ em nghèo và các nhóm xã hội đặc thù trên địa bàn (công

Trang 21

THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA

9

nhân nhập cư, người hành nghề xe ôm, buôn bán nhỏ và người lao động tự do) sử dụng các công cụ dựa trên sự tham gia như phân loại hộ (phân loại giàu-nghèo), đường thời gian, liệt kê và xếp hạng, sơ đồ phân tích sinh kế, biểu đồ di chuyển, sơ đồ nhân quả (cây nhân quả) để hiểu hơn diễn biến đời sống, sinh kế, tiếp cận các dịch vụ công, phản hồi của người dân về các chính sách và chương trình dự án Theo dõi nghèo đô

thị vòng 3 năm 2010 đã thực hiện được 52 cuộc thảo luận nhóm với sự tham gia của

326 người dân, công nhân nhập cư và cán bộ cơ sở, trong đó có 150 nam giới và 176

phụ nữ, hầu hết là người Kinh

Phỏng vấn sâu ghi lại câu chuyện điển hình: phỏng vấn sâu một số hộ nghèo, cận

nghèo điển hình tại mỗi tổ dân phố/thôn xóm và một số người thuộc nhóm xã hội đặc thù tại mỗi phường/xã để hiểu sâu hơn quan niệm về nghèo, điều kiện sống, tình trạng

dễ bị tổn thương, cách chống đỡ vượt qua khó khăn và phản hồi về chính sách Theo

dõi nghèo đô thị vòng 3 năm 2010 đã thực hiện được 173 cuộc phỏng vấn sâu, trong

đó có 76 người là nam giới, 97 người là nữ giới

Phiếu phỏng vấn nhóm công nhân nhập cư: sử dụng một bảng hỏi dành riêng cho

nhóm công nhân nhập cư làm việc trong các doanh nghiệp, tập trung vào tìm hiểu thông tin về đặc điểm nhân khẩu, điều kiện làm việc và mức sống Địa điểm phỏng vấn (chọn mẫu theo phương pháp bắt gặp ngẫu nhiên) tại một số khu nhà trọ công nhân trên địa bàn Do đặc điểm công nhân thường thay đổi nơi làm việc và nơi ở trọ, nên mẫu điều tra 2010 không lặp lại mẫu điều tra năm 2009 và 2008 (do đó, cần thận trọng khi so sánh giữa các số liệu 2008, 2009 và 2010 vì dựa trên 3 mẫu bắt gặp ngẫu nhiên khác nhau trên cùng 1 địa bàn) Theo dõi nghèo đô thị vòng 3 năm 2010 đã hoàn thành

được 180 phiếu phỏng vấn công nhân nhập cư tại Hà Nội, Hải Phòng và Gò Vấp (TP HCM) Trong số 180 người trả lời phiếu phỏng vấn có 68 người là nam giới, 112 người

là nữ giới; 175 người Kinh và 5 người DTTS.

Phiếu thông tin: ghi lại các thông tin cơ bản tại thời điểm khảo sát của phường/xã và tổ

dân phố/thôn xóm tiến hành khảo sát Quan sát trực tiếp và chụp ảnh là công cụ cung cấp các thông tin bổ sung

Phỏng vấn cán bộ: Ngoài các công cụ trên đây, chuyến khảo sát còn thực hiện 12

cuộc phỏng vấn cán bộ các ban ngành cấp quận/huyện

Báo cáo nghèo đô thị vòng 3 này tổng hợp các kết quả khảo sát tại các điểm quan trắc trong tháng 7-8 năm 2010, nhấn mạnh vào những thay đổi nhận biết được trong vòng

12 tháng qua về tình trạng nghèo đô thị4 Bên cạnh việc phân tích sâu thêm một số vấn

đề trọng tâm, báo cáo này vẫn nêu lại vắn tắt những khía cạnh cơ bản của diễn biến nghèo và những nhóm đặc thù dễ bị tổn thương để đảm bảo là một báo cáo độc lập

về nghèo đô thị

4 Separate reference is provided for secondary information All the non-referenced information used in this report has been consolidated from three

component poverty monitoring reports and the field report as part of the 2010 third round urban poverty monitoring undertaken in Ha Noi, Hai Phong and

Trang 23

THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA

11

PHẦN 1 TỔNG QUAN VỀ NGHÈO ĐÔ THỊ

1.1 Diễn biến nghèo đô thị: các đo lường khác nhau

Nghèo có tính đa chiều, có thể đo bằng tiêu chí thu nhập (hoặc chi tiêu) và các tiêu chí phi thu nhập Cho đến nay, tình trạng nghèo tại Việt Nam thường được đo bằng chuẩn nghèo chi tiêu của Ngân hàng Thế giới/Tổng cục Thống kê (NHTG/TCTK) hoặc chuẩn nghèo thu nhập của Chính phủ Thời gian tới, các nỗ lực đo nghèo đa chiều cần tính đến những đặc thù của các tiêu chí phi thu nhập của nghèo đô thị

1.1.1 Chuẩn nghèo chi tiêu của NHTG và TCTK

Chuẩn nghèo chi tiêu của NHTG và TCTK chủ yếu được dùng trong nghiên cứu và hoạch định chính sách Chuẩn nghèo này chỉ có một mức, được xây dựng từ năm 1993

và được cập nhật theo biến động giá cả ở các năm có thực hiện Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) Tỷ lệ nghèo đô thị toàn quốc theo chuẩn nghèo chi tiêu của NHTG và TCTK giảm rất chậm trong những năm gần đây (Bảng 3) Lý do chính

là nghèo đô thị theo cách đo này đã đi vào “lõi”, tỷ lệ nghèo còn rất thấp nên khó giảm thêm Tác động của các rủi ro và cú sốc cũng làm chậm tiến trình giảm nghèo

BẢNG 3 Tỷ lệ người nghèo tại Việt Nam theo chuẩn nghèo chi tiêu của NHTG

tỷ lệ người nghèo, không phải hộ nghèo

Do quá trình đô thị hóa của Việt Nam khiến qui mô dân số đô thị tăng5, trong 10 năm qua tỷ lệ nghèo đô thị đã giảm khoảng hai phần ba nhưng số lượng người nghèo đô thị chỉ giảm khoảng một nửa Dựa vào qui mô dân số các năm 1999 và năm 2009 theo kết quả Tổng điều tra dân số, ước tính năm 1999 Việt Nam có khoảng 1,6 triệu đến năm

2009 còn khoảng 0,8 triệu người nghèo đô thị

1.1.2 Chuẩn nghèo thu nhập chung của Chính phủ

Cứ 5 năm một lần Chính phủ lại ban hành chuẩn nghèo thu nhập mới để tiến hành tổng

rà soát hộ nghèo trên toàn quốc, làm căn cứ để thực hiện các chính sách an sinh xã hội phù hợp với mức sống dân cư và diễn biến giá cả trong từng thời kỳ Chuẩn nghèo của Chính phủ áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 là thu nhập bình quân dưới 200 nghìn

5 Năm 2009, Việt Nam có 29,6% dân số sống ở khu vực thành thị so với 23,7% vào năm 1999 Giữa hai cuộc Tổng điều tra dân số năm 1999 và 2009, dân số cả nước đã tăng 9,47 triệu người, trong đó 7,3 triệu người (chiếm 77%) tăng lên ở khu vực thành thị và khoảng 2,17 triệu người (chiếm 23%) tăng lên ở khu vực nông thôn; tương ứng tỷ lệ tăng bình quân năm của dân số thành thị là 3,4%/năm, trong khi ở khu vực nông thôn chỉ có 0,4%/năm Nguồn:

Nghèo có tính đa

chiều, và có nhiều

cách đo khác nhau

Nghèo đô thị theo

chuẩn nghèo chi

tiêu còn rất thấp và

khó giảm thêm

Trong 10 năm qua,

số người nghèo đô

thị đã giảm một nửa

Nghèo đô thị theo

chuẩn nghèo thu

nhập cũng giảm

chậm

Trang 24

THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA Phần I - Tổng quan về nghèo đô thị

12

đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và dưới 260 nghìn đồng/người/tháng ở khu vực thành thị Theo chuẩn nghèo này, TCTK ước tính tỷ lệ hộ nghèo toàn quốc năm 2008 là 13,4% Cũng giống như nghèo chi tiêu, nghèo thu nhập ở khu vực thành thị giảm chậm trong thời gian qua Tỷ lệ hộ nghèo thành thị theo chuẩn nghèo thu nhập chỉ giảm bình quân 1 điểm phần trăm trong giai đoạn 2004-20086 (Bảng 4)

BẢNG 4 Tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam theo chuẩn nghèo thu nhập năm 2006 của Chính phủ, giai đoạn 2004-2008 (%)

Phân hóa giàu nghèo tiếp tục tăng nhẹ Xét theo hệ số GINI hoặc tiêu chuẩn “40%”7, thì Việt Nam có phân bố thu nhập trong dân cư ở mức tương đối bình đẳng so với nhiều nước khác, nhưng đang có xu hướng tăng lên mức bất bình đẳng vừa Số liệu VHLSS

2008 cho thấy hệ số GINI về thu nhập tính chung cả nước là 0,43 và có xu hướng tăng qua các năm (năm 2002 là 0,418, năm 2004 và năm 2006 là 0,42) Còn Tỷ trọng “40%”

ở nước ta tính theo số hộ là 17,98% năm 2002, 17,4% năm 2004, 17,4% năm 2006 và 16,4% năm 20088

1.1.3 Chuẩn nghèo thu nhập riêng của từng địa phương

Qui định của Việt Nam là mỗi tỉnh/thành phố có thể đề ra chuẩn nghèo thu nhập riêng của mình căn cứ vào mức sống dân cư ở từng địa phương, miễn là không thấp hơn chuẩn nghèo thu nhập chung của Chính phủ

Báo cáo theo dõi nghèo đô thị các vòng trước đã đề nghị tăng chuẩn nghèo đô thị cho phù hợp với mức lạm phát và chi phí cuộc sống đắt đỏ ở các thành phố Thực tế, Hà Nội và TP.HCM đã quyết định tăng chuẩn nghèo riêng của mình từ năm 2009 Riêng thành phố Hải Phòng sau một thời gian cân nhắc về khả năng đáp ứng của ngân sách cũng đã quyết định tăng chuẩn nghèo của riêng mình từ đầu năm 2010

6 Tỷ lệ hộ nghèo toàn quốc năm 2008 do TCTK công bố (13,4%) cao hơn chút ít so với tỷ lệ hộ nghèo do Bộ LĐ-TBXH công bố (12,3%) Lý do là TCTK

đã cập nhật biến động giá khi tính chuẩn nghèo năm 2008 so với chuẩn nghèo gốc 2006; trong khi đó Bộ LĐ-TBXH vẫn tính theo chuẩn nghèo gốc, không cập nhật biến động giá Lưu ý số liệu nghèo của Bộ LĐ-TBXH thường không phân tách nông thôn - thành thị.

7 “Hệ số GINI” nhận giá trị từ 0 đến 1 Hệ số GINI bằng 0 là không có sự chênh lệch Hệ số GINI càng tiến dần đến 1 thì sự chênh lệch càng tăng và bằng

1 khi có sự chênh lệch tuyệt đối “Tiêu chuẩn 40%” là tỷ trọng thu nhập của 40% dân số có thu nhập thấp nhất trong tổng thu nhập của toàn bộ dân cư.

Đời sống dân cư có

sự cải thiện cùng

với tiến trình giảm

nghèo

Phân hóa giàu

nghèo tiếp tục tăng

nhẹ

Các thành phố lớn

áp dụng chuẩn

nghèo riêng, cao

hơn chuẩn nghèo

chung của Chính

phủ

Trang 25

THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA

13

Tương ứng với việc các thành phố tăng chuẩn nghèo riêng, các điểm quan trắc Kim Chung (Đông Anh, Hà Nội) và Phường 6 (Gò Vấp, TP.HCM) có tỷ lệ hộ nghèo tăng vọt vào đầu năm 2009, và điểm quan trắc Lãm Hà (Kiến An, Hải Phòng) có tỷ lệ hộ tăng nhẹ vào đầu năm 2010 (Bảng 5)

BẢNG 5 Tỷ lệ hộ nghèo tại các điểm quan trắc, giai đoạn 2005-2009

Phường/

xã Quận/ huyện Thành phố

Vị trí địa lý

Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo cũ (%) chuẩn nghèo mới (%) Tỷ lệ hộ nghèo theo

2005 2006 2007 2008 2009 đầu 2009 cuối 2010 đầu

Xã Kim

Ngoại thành công nghiệp hóa

-Phường

Phường

-Nguồn: Số liệu rà soát hộ nghèo 2005-2009 tại các điểm quan trắc

Ghi chú:

ƒ Chuẩn nghèo của TP Hà Nội áp dụng cho giai đoạn 2005-2008 là thu nhập đầu người dưới 350.000 đồng/tháng ở khu vực thành thị và dưới 270.000 đồng/tháng ở khu vực nông thôn (theo Quyết định số 6673/QĐ-UB ngày 28/9/2005 của UBND thành phố Hà Nội) Chuẩn nghèo mới của

TP Hà Nội áp dụng từ đầu năm 2009 là thu nhập đầu người dưới 500.000 đồng/tháng ở khu vực thành thị và dưới 330.000 đồng/tháng ở khu vực nông thôn (theo Quyết định số 1592/QĐ-UBND ngày 7/4/2009 của UBND thành phố Hà Nội).

ƒ Giai đoạn 2006-2009 TP Hải Phòng vẫn áp dụng chuẩn nghèo chung do Chính phủ qui định (là thu nhập đầu người dưới 260.000 đồng/tháng ở khu vực thành thị và dưới 200.000 đồng/tháng ở khu vực nông thôn) Kể từ tháng 1/2010 TP Hải Phòng đã tăng chuẩn nghèo của riềng mình lên mức 390.000 đồng/tháng ở khu vực thành thị và 300.000 đồng/tháng ở khu vực nông thôn (theo Quyết định số 148/QĐ-UBND ngày 26/1/2010 của UBND thành phố Hải Phòng).

ƒ Chuẩn nghèo của TP Hồ Chí Minh áp dụng cho giai đoạn 2005-2008 là thu nhập đầu người dưới 500.000 đồng/tháng Chuẩn nghèo mới của TP Hồ Chí Minh áp dụng cho giai đoạn 2009-2015

là thu nhập đầu người dưới 1.000.000 đồng/tháng không phân biệt khu vực nông thôn hay thành thị (theo Quyết định số 22/2010/QĐ-UBND ngày 29/3/2010 của UBND thành phố Hồ Chí Minh).

ƒ Chuẩn nghèo mới giai đoạn 2011-2015 vừa được Chính phủ phê duyệt, ở mức thu nhập đầu người dưới 500.000 đồng/tháng ở khu vực thành thị và dưới 400.000 đồng/tháng ở khu vực nông thôn (theo Chỉ thị số 1752/CT-TTg ngày 21/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ) Các tháng cuối năm

2010 các tỉnh, thành phố trong cả nước đang tiến hành tổng điều tra hộ nghèo theo chuẩn mới để phục vụ cho việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội từ đầu năm 2011.

Chính phủ vừa có Chỉ thị về việc áp dụng chuẩn nghèo mới giai đoạn 2011-2015 tăng gấp đôi so với chuẩn nghèo cũ giai đoạn 2006-2010, sẽ dẫn đến tỷ lệ hộ nghèo tăng mạnh để bắt đầu một chu kỳ giảm nghèo mới Dựa trên Chỉ thị này, từng thành phố sẽ phải cân nhắc có tăng tiếp chuẩn nghèo của riêng mình hay không Thành phố Hà Nội

và Hải Phòng chắc chắn sẽ phải xem lại chuẩn nghèo của mình, vì chuẩn nghèo hiện tại của 2 thành phố này dù cao hơn chuẩn nghèo cũ nhưng lại thấp hơn chuẩn nghèo mới ban hành của Chính phủ

Trang 26

THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA Phần I - Tổng quan về nghèo đô thị

14

1.1.4 Đo lường nghèo đa chiều

Các tiêu chí phi thu nhập của nghèo đã được thừa nhận từ lâu, nhưng mới được quan tâm gần đây qua nỗ lực của TCTK đo lường nghèo trẻ em Theo TCTK, trẻ em nghèo được xác định theo 2 cách Cách thứ nhất xác định trẻ em nghèo dưới góc độ kinh tế đơn thuần, đó là những trẻ em sống trong những hộ gia đình nghèo (có mức thu nhập hoặc chi tiêu thấp hơn chuẩn nghèo) Cách thứ hai xác định trẻ em nghèo theo cách nhìn đa chiều theo 7 lĩnh vực thuộc về nhu cầu phát triển của trẻ em, gồm: giáo dục, y

tế, nhà ở, nước sạch và điều kiện vệ sinh, không lao động sớm, vui chơi giải trí và bảo trợ xã hội Trẻ em không được đảm bảo ít nhất 2 trong 7 nhu cầu trên thì được coi là trẻ em nghèo đa chiều (riêng lĩnh vực vui chơi giải trí của trẻ em do VHLSS không có

số liệu nên không xét) Kết quả tính toán cho thấy, năm 2008 tỷ lệ trẻ em dưới 16 tuổi thuộc diện nghèo đa chiều cao hơn 8 điểm phần trăm so với tỷ lệ trẻ em dưới 16 tuổi thuộc diện nghèo chi tiêu9 Đáng lưu ý, tỷ lệ trẻ em nghèo đa chiều giảm nhẹ ở nông thôn, nhưng lại tăng nhẹ ở thành thị trong giai đoạn 2006-2008 (Bảng 6)

BẢNG 6 Tỷ lệ chi tiêu nghèo và nghèo đa chiều đối với nhóm trẻ em dưới 16 tuổi (%)

2006 2008

Tỷ lệ trẻ em nghèo chi tiêu Tỷ lệ trẻ em nghèo đa chiều Tỷ lệ trẻ em nghèo chi tiêu Tỷ lệ trẻ em nghèo đa chiều

em nói riêng Điều này đặc biệt quan trọng đối với nước ta khi bắt đầu ra nhập các nước có thu nhập trung bình - là những nơi mà nghèo đơn chiều có thể xảy ra ở phạm

vi và mức độ hẹp hơn rất nhiều so với nghèo đa chiều

Vấn đề đặt ra tiếp theo là cần tính toán nghèo đa chiều đối với hộ gia đình nói chung, chứ không chỉ đối với trẻ em Tỷ lệ nghèo đơn chiều ở khu vực đô thị hiện nay rất thấp, nhưng nếu tính đến các khía cạnh đa chiều của nghèo thì chắc chắn tỷ lệ nghèo sẽ tăng mạnh Điều này thể hiện trong tính toán nghèo trẻ em của TCTK ở Bảng 6 trên: tỷ lệ nghèo đa chiều của trẻ em năm 2008 ở thành thị tăng 2,5 lần, trong khi ở nông thôn chỉ tăng gần gấp rưỡi, so với tỷ lệ nghèo đơn chiều

Tỷ lệ nghèo đô thị tăng khi xét đến nghèo đa chiều cũng được thể hiện rõ trong các bài tập phân loại kinh tế hộ theo phương pháp tham gia tại các điểm quan trắc Kết quả bài tập phân loại kinh tế hộ tại 6 tổ dân phố/thôn khảo sát cho thấy, tỷ lệ nghèo

đa chiều (theo các tiêu chí do nhóm nòng cốt ở mỗi tổ dân phố/thôn tự xác định) bao giờ cũng cao hơn tỷ lệ nghèo đơn chiều (theo kết quả bình xét nghèo dựa vào chuẩn nghèo thu nhập của mỗi thành phố), với mức cao hơn dao động từ 4 đến 16 điểm phần trăm

1.1.5 Những khó khăn, hạn chế trong đo lường nghèo đô thị

Xét về mặt khách quan, xác định thu nhập của hộ gia đình ở khu vực đô thị khó hơn nhiều so với khu vực nông thôn Lý do là dân cư đô thị phụ thuộc vào kinh tế tiền mặt (cash economy) khó nhìn thấy được bởi người ngoài, nếu so với thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi của dân cư nông thôn Người nghèo đô thị thường làm việc trong khu vực phi chính thức, việc làm bấp bênh và thu nhập không ổn định Chuẩn nghèo dù

Đã có nỗ lực đo

lường nghèo đa

chiều trong nhóm

trẻ em

Đo lường nghèo đa

chiều hướng đối

tượng giảm nghèo

Trang 27

THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA

Những khó khăn, hạn chế khách quan và chủ quan dẫn đến nhiều trường hợp “lọt

và sót” hộ nghèo khi bình xét - tức là có nhiều hộ thực tế không nghèo được đưa vào danh sách nghèo, ngược lại nhiều hộ thực tế thuộc diện nghèo lại không được đưa vào danh sách (Hộp 1)

HỘP 1 “Lọt và sót” hộ nghèo trong bình xét nghèo tại Phường 6

Tại phường 6 (Gò Vấp, TP.HCM), toàn bộ 18 hộ nghèo bổ sung cuối năm 2009 đều là những hộ thực sự khó khăn, do “sót” đợt xét nghèo đầu năm 2009 chứ không phải do tái nghèo Ngược lại, có khoảng 8 hộ (trong tổng số 35 hộ) được đưa ra khỏi danh sách nghèo cuối năm 2009 là các đối tượng thực tế không nghèo nhưng “lọt” đợt xét nghèo đầu 2009

Lý do “lọt” và “sót” hộ nghèo là do cán bộ cơ sở và người dân trong quá trình bình xét nghèo còn nể nang, thiên vị, dựa nhiều vào cảm tính Có nơi không tiến hành họp dân để bình xét nghèo ở cấp tổ dân phố, mà chỉ thông qua đánh giá của Ban quản lý cấp khu phố Do khu phố đông dân (chỉ tính riêng khu phố 4 đã có 8 tổ dân phố, mỗi tổ có trên 50 hộ), nên Ban quản lý khu phố khó nắm bắt chính xác được hoàn cảnh, điều kiện kinh tế của từng hộ

Không tính đến người nhập cư có lẽ là hạn chế lớn nhất của việc đo lường nghèo đô thị cho đến nay Tất cả các con số về tỷ lệ nghèo đô thị đã nêu ở trên hầu như chưa tính đến người nhập cư (ngoại trừ TP.HCM đã đưa mốt số người tạm trú dài hạn có nhà ở ổn định vào diện bình xét nghèo) Trong khi đó, người nhập cư chiếm một tỷ lệ lớn tại các

đô thị, nhất là tại khu vực ngoại vi đang trong quá trình đô thị hóa Điển hình tại Phường

6 (Gò Vấp, TP.HCM) và xã Kim Chung (Đông Anh, Hà Nội), số người nhập cư đã lớn hơn gấp đôi số người thường trú trên địa bàn

Tài liệu nghiệp vụ điều tra xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo giai đoạn 2011-2015 của

Bộ LĐ-TBXH (“Tài liệu”) đã quan tâm đến người nhập cư11 Lần đầu tiên Tài liệu qui định đưa toàn bộ các hộ gia đình đã sinh sống trên địa bàn từ 6 tháng trở lên không phụ thuộc vào tình trạng hộ khẩu (có hay không) và tình trạng cư trú (đăng ký thường trú, tạm trú hoặc thậm chí không đăng ký) vào diện điều tra nghèo Ngoài ra, Tài liệu đã tính đến các yếu tố nghèo đa chiều, thông qua việc cho điểm các tiêu chí phi thu nhập

có phân biệt giữa thành thị và nông thôn và giữa các vùng (gồm: tài sản sản xuất, tài sản sinh hoạt, đặc điểm về thu nhập, yếu tố nguy cơ nghèo) để phân loại nhanh nhóm

hộ chắc chắn không nghèo và hộ chắc chắn nghèo

Qui định nêu trên của cuộc tổng điều tra nghèo cuối năm 2010, về mặt kỹ thuật, là rất tiến bộ so với các lần điều tra nghèo trước đây, hy vọng sẽ cho một bức tranh nghèo

đô thị chuẩn xác hơn Thách thức tiếp theo là, với quy trình và bảng biểu phức tạp hơn nhiều các lần điều tra nghèo trước, công tác tập huấn nghiệp vụ đến từng phường/xã

và từng cán bộ điều tra cần tiến hành rất kỹ lưỡng theo phương pháp “tập huấn lan rộng - TOT”

10 Điểm g khoản 1 trong Thông tư số 26/2008/TT-BLĐTBXH ngày 10/11/2008 về việc sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư số 09/2007/TT-BLĐTBXH ngày 12/7/2007.

nghèo theo chuẩn

nghèo mới giai

Trang 28

THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA Phần I - Tổng quan về nghèo đô thị

BẢNG 7 Các tiêu chí nhận dạng người nghèo đô thị theo cảm nhận của cán

bộ cơ sở và người dân tại các điểm quan trắc

Các tiêu chí chung ở các điểm quan trắc:

ƒ Có người ốm đau dài ngày, tàn tật, không có khả năng lao động

ƒ Đơn thân, đông con còn nhỏ

ƒ Học vấn thấp, không có tay nghề

ƒ Làm các nghề tự do, lao động phổ thông, việc làm và thu nhập không ổn định

ƒ Sống tại các hẻm sâu, địa bàn cách biệt, có cơ sở hạ tầng và vệ sinh môi trường còn khó khăn

ƒ Không có vốn, khó vay vốn

ƒ Sở hữu đất đai bấp bênh, chưa có sổ đỏ

ƒ Nhà cấp 4 xuống cấp, một số ít còn ở nhà tạm

ƒ Các tài sản sinh hoạt (tivi, xe máy ) có giá trị thấp

ƒ Tự ti, mặc cảm, ít tiếng nói

ƒ Không biết tính toán làm ăn

Một số tiêu chí đặc thù ở từng điểm quan trắc:

ƒ Thuần làm nông nghiệp tại địa bàn đang chuyển đổi (Kim Chung)

ƒ Không có phòng trọ cho thuê sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp (Kim Chung)

ƒ Công nhân phải nghỉ chờ việc do xí nghiệp thiếu việc làm (Lãm Hà)

ƒ Vướng vào nghiện hút (Lãm Hà), có người nhiễm HIV/AIDS (Phường 6)

ƒ Đã bán nhà hoặc bị thu hồi đất, hiện đi ở trọ (Phường 6)

Từ những tiêu chí đa chiều nêu trên, có thể xác định 5 yếu tố chính thể hiện rõ nhất những hạn chế, bất lợi của người nghèo bản xứ so với những người khá giả hơn ở khu vực đô thị như sau (Hình 1):

ƒ Thiếu khả năng chuyển đổi sinh kế

ƒ Thiếu vốn xã hội

ƒ Thiếu tiếp cận với các dịch vụ công

ƒ Môi trường sống kém tiện nghi và thiếu an toànCác yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau, có thể giải thích cho hầu hết các trường hợp điển hình về người nghèo đô thị được khảo sát Các yếu tố này đặt ra những thách thức lớn trong các nỗ lực giảm nghèo đô thị thời gian tới (xem phần 1.3)

Trang 29

THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA

17

Nguồn nhân lực hạn chế là đặc trưng phổ biến nhất của người nghèo bản xứ ở khu

vực đô thị, nhất là nhóm “nghèo lõi” Các biểu hiện cụ thể của nguồn nhân lực hạn chế là: già cả, tàn tật, ốm đau dài ngày, phụ nữ đơn thân, đông con còn nhỏ, học vấn thấp, không có tay nghề Ngoài ra còn có một số ít hộ không có ý thức làm ăn, có người vướng vào nghiện hút dẫn đến nghèo kinh niên

Tại phường Lãm Hà (Hải Phòng) đầu năm 2009 có 19 hộ nghèo theo chuẩn cũ thì trong

đó có 12/19 hộ là phụ nữ đơn thân, 9/19 hộ có người khuyết tật và 8/19 hộ có người già yếu Sang đầu năm 2010 Hải Phòng áp dụng chuẩn nghèo mới, phường Lãm Hà có thêm 22 hộ nghèo - cũng là những hộ có người nghiện hoặc ốm đau nặng không lao động được Tại xã Kim Chung (Hà Nội) có 30 trong tổng số 46 chị phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ thuộc diện hộ nghèo, đời sống rất khó khăn Do thiếu lao động là đặc trưng của nghèo đô thị, nên đa số hộ nghèo có bước cải thiện đời sống trong năm qua là do con cái đã lớn có thể đi làm kiếm tiền phụ giúp gia đình

Hạn chế về học vấn và tay nghề dẫn đến người nghèo bản xứ chủ yếu làm trong khu

vực phi chính thức, tuy năng động nhưng thu nhập thường không ổn định, khó có dư

tiết kiệm Điển hình về địa bàn tập trung đông hộ nghèo là “xóm Chùa” thuộc tổ dân phố 27, Phường 6 Bài tập thống kê cơ cấu việc làm chính của toàn bộ 21 hộ nghèo tại xóm Chùa cho thấy (Hình 2): trên 70% thành viên hộ nghèo làm nghề phụ hồ, bán giải khát, tạp hóa nhỏ hoặc làm các nghề tự do khác như chạy xe ôm, phụ bán quán, trồng rau muống, trích cá, đặt ống lươn, bán vé số, cắt tóc, sửa quần áo ; gần 30% thành viên hộ nghèo làm công nhân (may, dược, cơ khí) hoặc làm thợ có tay nghề (thợ mộc, thợ bạc, thợ sơn);

Người nghèo chủ yếu làm nghề tự do thu nhập không ổn định

HÌNH 2 Cơ cấu việc làm của 21 hộ nghèo ở xóm Chùa phường 6

1.2 Hai nhóm nghèo đô thị: người nghèo bản xứ và người nghèo nhập cư

1.2.1 Người nghèo bản xứ

Các tiêu chí nhận dạng người nghèo bản xứ theo cảm nhận của cán bộ cơ sở và người

dân có nhiều nét chung ở cả 3 điểm quan trắc, và có một số nét đặc thù riêng ở từng

điểm quan trắc Những đặc điểm này ổn định qua 3 vòng khảo sát, hầu hết có thể đo

lường bằng các kỹ thuật điều tra xã hội học (Bảng 7)

BẢNG 7 Các tiêu chí nhận dạng người nghèo đô thị theo cảm nhận của cán

bộ cơ sở và người dân tại các điểm quan trắc

Các tiêu chí chung ở các điểm quan trắc:

ƒ Có người ốm đau dài ngày, tàn tật, không có khả năng lao động

ƒ Đơn thân, đông con còn nhỏ

ƒ Học vấn thấp, không có tay nghề

ƒ Làm các nghề tự do, lao động phổ thông, việc làm và thu nhập không ổn định

ƒ Sống tại các hẻm sâu, địa bàn cách biệt, có cơ sở hạ tầng và vệ sinh môi

trường còn khó khăn

ƒ Sở hữu đất đai bấp bênh, chưa có sổ đỏ

ƒ Nhà cấp 4 xuống cấp, một số ít còn ở nhà tạm

ƒ Các tài sản sinh hoạt (tivi, xe máy ) có giá trị thấp

ƒ Tự ti, mặc cảm, ít tiếng nói

ƒ Không biết tính toán làm ăn

Một số tiêu chí đặc thù ở từng điểm quan trắc:

ƒ Thuần làm nông nghiệp tại địa bàn đang chuyển đổi (Kim Chung)

ƒ Không có phòng trọ cho thuê sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp (Kim Chung)

ƒ Công nhân phải nghỉ chờ việc do xí nghiệp thiếu việc làm (Lãm Hà)

ƒ Vướng vào nghiện hút (Lãm Hà), có người nhiễm HIV/AIDS (Phường 6)

ƒ Đã bán nhà hoặc bị thu hồi đất, hiện đi ở trọ (Phường 6)

Từ những tiêu chí đa chiều nêu trên, có thể xác định 5 yếu tố chính thể hiện rõ nhất

những hạn chế, bất lợi của người nghèo bản xứ so với những người khá giả hơn ở khu

vực đô thị như sau (Hình 1):

ƒ Thiếu khả năng chuyển đổi sinh kế

ƒ Thiếu vốn xã hội

ƒ Thiếu tiếp cận với các dịch vụ công

ƒ Môi trường sống kém tiện nghi và thiếu an toàn

Các yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau, có thể giải thích cho hầu hết các trường hợp

điển hình về người nghèo đô thị được khảo sát Các yếu tố này đặt ra những thách thức

lớn trong các nỗ lực giảm nghèo đô thị thời gian tới (xem phần 1.3)

Hạn chế về nguồn nhân lực là đặc trưng lớn nhất của ngườid nghèo bản xứ

HÌNH 1 Các yếu tố chính của nghèo đô thị

Thiếu khả năng chuyển đổi sinh kế

Thiếu nguồn nhân lực

Nghèo đô thị

Thiếu vốn

xã hội

Thiếu tiếp cận dịch vụ công

Môi trường sống kém tiện nghi

và thiếu an toàn

Trang 30

THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA Phần I - Tổng quan về nghèo đô thị

18

Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh tại các địa bàn ngoại vi, những người nghèo với những

hạn chế, bất lợi của mình thường thiếu khả năng chuyển đổi sinh kế để theo kịp bối

cảnh mới

Kim Chung (Hà Nội) là trường hợp điển hình của một xã ngoại vi có một số lượng lớn người dân bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp và công trình hạ tầng Cho thuê nhà trọ và kinh doanh buôn bán là 2 nguồn thu nhập chủ yếu của các

hộ khá và trung bình trong xã Trong tổng số 87 hộ nghèo còn lại của xã ở thời điểm đầu 2010 hầu hết là những hộ còn thuần làm nông nghiệp (làm ruộng, trồng rau, nuôi lợn), mò cua bắt ốc và đi làm thuê, không có khả năng xây nhà trọ Người nghèo làm nông nghiệp ngày càng khó khăn tại Kim Chung: mương máng ách tắc do các công trình xây dựng trên địa bàn ảnh hưởng đến tưới tiêu, nước thải gây ô nhiễm (hàng chục

ha ruộng trước làm 2 vụ nay chỉ làm 1 vụ lúa, thậm chí bỏ không), đèn chiếu sáng hút sâu bướm về khiến sâu bệnh nhiều, một số hộ tôn đất trồng cau vua chờ đền bù gây chuột bọ nhiều

Tại Phường 6 (Gò Vấp), thu nhập của những hộ nghèo sống bằng nghề trích cá trên kênh rạch hoặc trồng rau muống ngày càng giảm do cá trên kênh rạch ngày càng hiếm, diện tích đất trống rau ngày càng giảm Một số hộ chạy xe 3 bánh khó chuyển đổi phương tiện nên khó khăn hơn Các hộ nghèo làm nghề ve chai, bán hàng rong, bán nước mía vỉa hè cũng gặp khó khăn khi địa phương làm chặt hơn các qui định về quản lý đô thị Trong số 21 hộ nghèo của xóm Chùa, sang năm 2010 không có hộ nào thoát nghèo, chỉ có 2 hộ nâng mức thu nhập từ dưới 8 triệu/năm lên trên 8 triệu/năm do được vay vốn, con đi làm phụ giúp gia đình, buôn bán nhỏ

Sở hữu đất đai của người nghèo bản xứ thường bấp bênh Tại “xóm Đảo” phường Lãm

Hà (Hải Phòng), hơn 90% người dân trong xóm chưa có sổ đỏ do đất thiếu nguồn gốc hợp pháp, giấy tờ viết tay, thuế làm số đỏ quá cao, và một số ít hộ có đất phạm vào hành lang an toàn đê điều Tương tự tại “xóm Chùa” phường 6 (Gò Vấp), đa số hộ nghèo chưa có sổ đỏ do ở trên đất của chùa Phổ Chiếu cắt cho hoặc nằm trong “qui hoạch treo” về công viên xanh Không có sổ đỏ nên người dân khó có cơ hội thế chấp đất đai để vay vốn ngân hàng nhằm chuyển đổi sinh kế

Thiếu khả năng chuyển đổi sinh kế khiến một số hộ nghèo ở khu vực đô thị phải chuyển ra các phường, xã phía ngoài để dễ sinh sống hơn Điển hình tại Phường 6 (Gò Vấp), trong số 35 hộ ra khỏi danh sách nghèo của phường đầu năm 2010 có 10 hộ

đã chuyển nhà đi nơi khác, chủ yếu ra Quận 12 ở xa trung tâm hơn, giá đất rẻ hơn và chi phí sinh hoạt thấp hơn Như vậy, xu hướng giảm nghèo đô thị cần tính đến cả dòng chuyển dịch ngược tâm về địa bàn sinh sống của hộ nghèo

Vốn xã hội của người nghèo ở đô thị thường không cao nếu so với ở nông thôn, do

cách sống ở đô thị thường khép kín, có tính cá nhân (“ai biết nhà nấy”) Đa số người

nghèo đô thị làm công việc tự do, thời gian làm việc dài và thất thường, chịu nhiều mệt mỏi vất vả nên cũng ít quan tâm đến các hoạt động cộng đồng do phường hoặc khu phố/tổ dân phố tổ chức Các hộ nghèo bản xứ được phỏng vấn tại các điểm quan trắc thường ít đi họp tổ dân phố/thôn xóm, do không đuợc mời hoặc có được mời nhưng bận, mệt nên không đi Dù có đi họp thì người nghèo cũng thường chỉ ngồi nghe thụ động,

ít phát biểu ý kiến

Người nghèo đô thị thiếu vốn xã hội còn do sự mặc cảm, tự ti với những người khá giả trong cộng đồng Một số người nghèo vướng vào nghiện hút, nhiễm HIV/AIDS ngại tiếp xúc với bên ngoài Các địa bàn ngoại vi đô thị hóa có rất đông người nhập cư, tạo ra

sự pha tạp về văn hóa, lối sống cũng khiến nhiều người dân (nhất là những người đứng tuổi) có xu hướng khép kín quan hệ chỉ trong nhóm anh em họ hàng thân thích

Các chương trình, dự án tại các khu vực đô thị đa số theo chủ trương, qui hoạch từ các cấp cao và do nhà thầu thực hiện, nên tiếng nói của người dân hạn chế Bản thân người dân cũng thường chỉ quan tâm nhiều đến các chương trình, dự án khi liên quan đến vấn

đề đền bù giải tỏa hoặc có ảnh hưởng trực tiếp đến gia đình mình

Hộ làm thuần nông

nghiệp tại địa bàn

đang chuyển đổi dễ

rơi vào nghèo

Đô thị hóa khiến

Tiếng nói của người

nghèo đô thị trong

các chương trình,

dự án cũng hạn chế

Người nghèo thiếu

khả năng chuyển

đổi sinh kế trong

tiến trình đô thị hóa

Trang 31

THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA

19

Tình trạng thiếu nguồn tài chính, thiếu quan hệ xã hội càng làm cho người nghèo đô

thị tiếp cận hạn chế với dịch vụ công so với người khá giả Chi phí cho con em ăn

học tại các khu vực đô thị rất lớn, nên nhiều người nghèo không có khả năng đầu tư cho con cái ăn học lên cao Đa số người nghèo khảo sát tại 3 điểm quan trắc chỉ cho con đi học đến hết cấp 2 hoặc cao nhất là hết cấp 3 Nguy cơ chán học, học kém dẫn đến bỏ học giữa chừng của trẻ em nghèo luôn rình rập (Hộp 2)

HỘP 2 Phụ nữ đơn thân nghèo nhất thôn Bầu

Chị N.T.H (sinh năm 1965) là hộ nghèo nhất ở thôn Bầu, xã Kim Chung (Hà Nội)

Chồng chị đã mất năm 2005 do bị bệnh gan, hiện chị sống với một đứa con gái đang học lớp 7 Vì phải bán hết đất thổ cư lấy tiền chữa bệnh, làm đám ma và

lễ đổi áo cho chồng, nên hiện nay chị ở trong một túp lều tạm khoảng 10m2 trên mảnh đất nông nghiệp ở rìa thôn của anh trai chồng cho mượn Mặt trận Tổ quốc

xã muốn hỗ trợ xây dựng nhà nhưng không được vì gia đình chị không còn đất ở

Trong túp lều tạm của 2 mẹ con chị không có đồ đạc gì ngoài mấy cái nồi xoong chảo, và cũng không có điện, không có nước

- Cái nhà hiện tại 10m 2 bác trưởng dựng lên cho, nhà bị dột, mưa bão dễ đổ, hai

mẹ con lúc mưa thường phải nằm nép vào một bên để ngủ.”

- “Đi xin nước ăn hàng ngày, hai mẹ con phải đi tắm giặt nhờ Nhà không có điện, nhờ bóng điện đường cao tốc, sáng mờ mờ, nếu con học thì mua nến thắp”

Nhà chỉ có 2 sào đất ruộng là suất của chồng Chị mượn thêm 2 sào ruộng của những hộ bỏ hoang để cấy lúa Chị dành 5 thước đất trồng rau muống quanh năm

để bán, trung bình mỗi ngày được trên dưới chục nghìn Để đóng tiền học cho con, mỗi vụ chị bán 2 tạ thóc được 1 triệu Thỉnh thoáng chị đi làm thuê cắt cỏ bờ, làm việc nhà cho người trong thôn

- “Có đi làm thuê cho người ta Cắt cỏ bờ công 30.000đ 1 sào, ngày làm được một sào Thỉnh thoảng đi làm việc nhà cho người trong thôn, bình quân làm 7 ngày trong 1 tháng, công một ngày được 100.000đ”

- “Gạo, rau tự có Một tháng được 3 bữa thịt Thức ăn ngày mua 5-10.000 đồng, không có thì ăn rau luộc.”

Con gái chị năm nay học kém, bị đúp lớp 7 Cháu đang muốn bỏ học vì bị chúng bạn trêu nhà nghèo, mặc dù chị vẫn động viên con đi học

- “Con chán không muốn đi học Nó nói các bạn cứ trêu, khinh bỉ con, đi học

cứ như đi đầy, khổ lắm Hôm nay nó trốn học ở nhà làm rau Đầu năm phải đóng 800.000, người ta đóng 1,6 triệu nhà chị nghèo được giảm 50% Mới đóng được 300.000, cô giáo nói cũng nhục lắm”.

Chị muốn vay vốn ưu đãi của ngân hàng để sửa nhà nhưng hiện chưa được vay,

“có hỏi bên Phụ nữ họ trả lời không có tiền cho vay” Chị cũng không tham gia các

cuộc họp thôn vì “không được mời”.

Người nghèo mặc dù được cấp thẻ BHYT nhưng thường gặp khó khăn khi đi khám chữa bệnh, do các cơ sở y tế cấp quận và thành phố bị quá tải, thái độ phục vụ của cán bộ y

tế với người có thẻ BHYT chưa tận tình, và do khó trang trải được các chi phí phát sinh ngoài phần BHYT chi trả Tại 3 điểm quan trắc, người nghèo thường tự đi mua thuốc ở ngoài khi gặp bệnh thông thường, chỉ đến bệnh viện khi có bệnh nặng hoặc bệnh mãn tính

Trang 32

THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA Phần I - Tổng quan về nghèo đô thị

20

Cuối cùng, người nghèo đô thị thường có môi trường sống kém tiện nghi và thiếu an

toàn Tại các điểm quan trắc, hộ nghèo thường sống tập trung trong các địa bàn tách

biệt, các hẻm sâu, cơ sở hạ tầng còn yếu kém (vì tại đó giá nhà đất thấp phù hợp với người nghèo), điển hình là xóm Chùa tại Phường 6 (Gò Vấp) và xóm Đảo tại Lãm Hà (Hải Phòng)

Đa số hộ nghèo đô thị sống trong các ngôi nhà cấp 4, số ít hộ có hoàn cảnh éo le còn phải ở trong các ngôi nhà tạm Một số hộ nghèo đã bán nhà hoặc bị thu hồi đất hiện phải đi ở trọ Trong số 21 hộ nghèo tại xóm Chùa phường 6 (Gò Vấp) đã có 4 hộ đang phải thuê nhà ở trọ, trong đó có 2 hộ ở trọ ngay trên chính mảnh đất của mình đã bán

đi Chương trình hỗ trợ chống dột, xây nhà tình thương, nhà đại đoàn kết cho các gia đình khó khăn đã được các địa phương chú trọng Tuy nhiên, Phường 6 và xã Kim Chung đều không sử dụng hết quĩ vốn hỗ trợ xây nhà, chủ yếu do những hộ nghèo đang ở nhà cấp 4 xuống cấp hoặc nhà tạm nhưng không có giấy tờ đất hợp lệ để có thể xét hỗ trợ

Vệ sinh môi trường là một vấn đề bức xúc tại các địa bàn ngoại vi đô thị hóa, ảnh

hưởng đến sức khỏe, tâm lý của người dân trong đó có người nghèo Khó khăn nhất tại các điểm quan trắc là vấn đề thoát nước mặt và nước thải, gây lầy lội, ngập úng ứ đọng lâu ngày, mùi khó chịu Tại tổ dân phố 14 phường Lãm Hà (Hải Phòng), nước thải đen ngòm từ các nhà máy chảy theo kênh ngang qua tổ dân phố gây tình trạng vô cùng ô nhiễm Thu gom rác thải tại địa bàn đông người nhập cư như xã Kim Chung (Hà Nội) còn rất khó khăn Cũng tại xã Kim Chung, người dân đang lo lắng về tình trạng số người chết trẻ vì bệnh ung thư khá cao trong mấy năm gần đây Tính từ đầu năm đến tháng 9/2010 tại xã Kim Chung, nhóm cán bộ thôn ước tính đã có khoảng 17 trường hợp chết

do ung thư trong độ tuổi từ 35-55 Mặc dù chưa rõ nguyên nhân, nhưng nhiều người lo ngại bệnh ung thư có thể liên quan đến nguồn nước bị ảnh hưởng bởi việc xả thải của các nhà máy trong Khu công nghiệp Thăng Long gần đó

Một điều đáng quan tâm là trẻ em thuộc hộ nghèo đô thị ít có điều kiện vui chơi giải

trí như trẻ thuộc hộ khá Trẻ em nghèo thường co cụm chơi với nhau, tự tổ chức các trò

chơi không mất tiền như đá bóng, đá cầu ở lòng đường - nhiều khi lại không được thiện cảm trong mắt của hộ khá và cán bộ cơ sở Trong khi đó, các khu vực công cộng, các khu đất trống cho trẻ em vui chơi ngày càng mất dần tại các địa bàn ven đô thị hóa

- “Mấy nhà giàu hay phàn nàn ở tổ dân phố là không cho trẻ con chơi đá bóng ở ngoài đường Nhưng họ không hiểu rằng, nhà họ có tiền thì cuối tuần có thể cho con đi chơi Đầm Sen, mùa hè đi du lịch Còn hộ nghèo thì còn bận kiếm ăn hàng ngày Không có chỗ chơi, con nhà nghèo chỉ có thể chơi các trò chơi không mất tiền như đá bóng, đá cầu ở lòng đường.” (T.M.T khu phố 4, Phường 6, Gò Vấp).

1.2.2 Người nghèo nhập cư

Các nhóm nhập cư dưới dạng tạm trú tại các thành phố lớn rất đa dạng, có thể phân thành 3 nhóm chính: (i) nhóm lao động ở khu vực phi chính thức; (ii) nhóm lao động ở khu vực chính thức, gồm công nhân nhập cư học vấn chủ yếu từ tốt nghiệp phổ thông trở xuống (làm trong các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động), và những người có trình độ từ cao đẳng trở lên (làm cán bộ viên chức tại các cơ quan, doanh nghiệp); và (iii) nhóm học sinh - sinh viên ngoại tỉnh Báo cáo này chủ yếu nhắc đến nhóm lao động nhập cư ở khu vực phi chính thức và nhóm công nhân nhập cư - là những nhóm

có nhiều nguy cơ rơi vào nghèo

Người nhập cư dưới dạng tạm trú chủ yếu thuê nhà trọ Những người có điều kiện mua nhà đất thường sẽ tìm cách nhập hộ khẩu thành phố Tuy nhiên vẫn có một số hộ nhập

cư “có nhà đất nhưng không muốn nhập hộ khẩu” vì họ vẫn muốn để hộ khẩu ở quê để giữ ruộng và các chế độ khác Trong số 40 hộ chưa có hộ khẩu thường trú tại tổ dân

Khoảng trống vui

chơi ngoài trời cho

trẻ em nghèo ngày

càng thu hẹp

Thoát nước, thu

gom rác thải là hai

vấn để bức xúc về

vệ sinh môi trường

tại các địa bàn đô

thị hóa

Khu vực phi chính

thức và công nhân

nhập cư có nguy cơ

rơi vào nghèo cao

Trang 33

THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA

21

phố 14 phường Lãm Hà (Hải Phòng), có 30 hộ thực tế chưa muốn nhập hộ khẩu - là những hộ ở các huyện lân cận đến tổ 14 mua đất xây nhà nhưng vẫn muốn giữ hộ khẩu

ở quê để giữ ruộng và cho con em đi học ở quê

Các dòng nhập cư rất đa dạng nhưng thường có tính lựa chọn do tập tính di chuyển

theo nhóm và dựa vào mạng lưới xã hội phi chính thức Tại Kim Chung (Hà Nội), phần lớn công nhân nhập cư đến từ các tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra Tại Lãm Hà (Hải Phòng), chủ yếu lao động tự do và một số công nhân đến từ các huyện ngoại thành Hải Phòng Tại Phường 6 (Gò Vấp), dòng người đến rất đa dạng, nhưng có sự phân hóa vùng miền và giới tính khá rõ nét theo từng ngành nghề (Bảng 8)

BẢNG 8 Đặc trưng xuất xứ và giới tính của người nhập cư theo nhóm ngành nghề tại Phường 6 (Gò Vấp, TP.HCM)

Nhóm ngành nghề Đặc trưng giới tính Đặc trưng xuất xứ

Công nhân tay nghề thấp

Phụ bán quán, phụ nhà hàng,

Người nhập cư dưới dạng tạm trú thường không được xét đến trong rà soát nghèo hàng năm Riêng TP.HCM đã tính đến một số hộ tạm trú dài hạn trên 1 năm, có nhà ở ổn định khi bình xét nghèo Chẳng hạn, trong tổng số 270 hộ nghèo cuối năm 2009 tại Phường 6 có 17 hộ tạm trú dài hạn Ngay cả khi được xét đến trong rà soát nghèo (như trong qui định tổng điều tra hộ nghèo cuối năm 2010 sắp tới), cũng sẽ có ít người nhập

cư thuộc diện nghèo nếu thuần túy tính theo chuẩn nghèo thu nhập

Tuy nhiên, tình trạng nghèo của người nhập cư sẽ trầm trọng hơn nhiều khi nhìn dưới góc độ “nghèo đa chiều”, có thể phân thành các yếu tố chính sau đây (Hình 3):

ƒ Chi phí cuộc sống cao ở đô thị

ƒ Việc làm bấp bênh, rủi ro thường trực

ƒ Thiếu hòa nhập xã hội (bất lợi, thiệt thòi trong các mối quan hệ xã hội)

ƒ Hạn chế trong tiếp cận dịch vụ công

ƒ Môi trường sống kém tiện nghi và thiếu an toàn

Trang 34

THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA Phần I - Tổng quan về nghèo đô thị

22

Đó là một số yếu tố chính dẫn đến nghèo nhập cư nêu trên có chút khác biệt so với nghèo bản xứ Những yếu tố này cần được quan tâm hơn nhằm vượt qua các thách thức giảm nghèo đô thị toàn diện cả trong nhóm người bản xứ và người nhập cư trong thời gian tới (xem phần 1.3)

Chi phí cuộc sống cao là khó khăn được nhắc đến nhiều nhất trong nhóm người nhập

cư tại các thành phố Giá phòng trọ đã tăng liên tục trong năm vừa qua (Bảng 9) Lạm phát chung và số phòng trọ có hạn trong khi nhu cầu thuê tăng cao là 2 nguyên nhân chính khiến các chủ nhà trọ tăng giá Người thuê trọ đang phải trả tiền điện cho các chủ nhà trọ với giá thỏa thuận rất cao, lên đến 2.000-2.500 đồng/số ở Kim Chung (Hà Nội) thậm chí 3.000-3.500 đồng/số ở Phường 6 (Gò Vấp) Tính bình quân, giá tiền điện người thuê trọ phải trả trong năm 2010 đã tăng 500 đồng/số so với năm 2009

BẢNG 9 Giá phòng trọ tại các điểm quan trắc năm 2009 - 2010 (đồng/tháng)

7/2009 7/2010 Kim Chung (Hà Nội) [1] 250 - 300.000 350 - 450.000

ƒ [2] Diện tích khoảng 12m 2 , mái lợp fibrô, nền đá hoa, không có gác xép, công trình phụ khép kín

ƒ [3] Diện tích khoảng 15m 2 , mái lợp fibrô, nền xi măng hoặc lát gạch hoa loại rẻ, có gác xép (khoảng 7m 2 ), công trình phụ khép kín

Xu hướng người nhập cư cả 2 vợ chồng ở cùng con nhỏ tại các thành phố (mà không gửi con về quê cho ông bà nuôi như trước đây) đang tăng lên Tại xã Kim Chung (Hà Nội) ở thời điểm tháng 7/2010, trong số hơn 20.000 người tạm trú có 392 người là phụ

nữ có chồng ở trọ cùng gia đình, và 133 trẻ em dưới 6 tuổi (gồm 85 trẻ dưới 1 tuổi, 47

HÌNH 3 Các yếu tố chính của nghèo nhập cư

Chi phí cuộc sống cao

Nghèo nhập cư

Thiếu hòa nhập

xã hội

Hạn chế tiếp cận dịch vụ công

Môi trường sống kém tiện nghi

và thiếu an toàn

Trang 35

THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA

đã lấy gần hết khoản thu nhập hàng tháng của hộ gia đình (Hộp 3) Nhiều cặp vợ chồng làm công nhân theo ca kíp phải thuê người đưa đón con đi học hàng ngày; hoặc một

số cặp vợ chồng phải chi phí thêm cho người nhà lên thành phố trông con nhỏ giúp họ

HỘP 3 Hộ nhập cư có con nhỏ khó có khả năng tiết kiệm

Chị Đ.T.C cùng chồng quê ở Quảng Ngãi hiện đang thuê nhà trọ ở cùng 2 con nhỏ tại Phường 6 (Gò Vấp) Bảng cân đối thu chi thường xuyên của gia đình anh chị trong tháng 6 năm 2010 ước tính như sau

Thu thường xuyên: đồng/tháng 4.400.000

Mỗi tháng gia đình chị chỉ còn dư khoảng hơn 300 nghìn đồng để trang trải rất

nhiều khoản chi đột xuất, nhất là tiền lo cho 2 đứa con đi học Chị tâm sự “Nhà tui

đi làm không có để dành, vì có đến đâu là tiêu hết đến đấy May mà có AAV hỗ trợ quần áo, sách giáo khoa, học phí nếu không nhà tui khó mà cho cháu út đi học được”.

Cuộc sống “hiện đại” ở thành phố phát sinh các khoản chi đáng kể (mà người nhập cư thường tốn ít hơn nếu ở quê nhà), như chi phí điện thoại, quần áo và các chi phí xã hội như thăm hỏi ốm đau, mừng đám cưới, sinh nhật của đồng hương, bạn trọ Đối với một số người nhập cư có gia đình ở quê thuộc diện nghèo, số tiền gửi về nhà bắt buộc theo định kỳ để giúp bố mẹ trang trải cuộc sống và lo cho con em ăn học cũng là một gánh nặng chi phí

Xét đến các chi phí cao khi ra thành phố như nêu trên, hầu hết người nhập cư chỉ còn lại ngân quĩ chi tiêu rất tằn tiện cho các nhu cầu lương thực - thực phẩm và phi lương thực - thực phẩm thiết yếu của bản thân họ Khảo sát tại các điểm quan trắc cho thấy, bữa ăn của đa số người nhập cư rất đạm bạc

Việc làm bấp bênh dẫn đến thu nhập không ổn định là vấn đề chung của cả người

nghèo bản xứ và nhập cư Tuy nhiên, đặc thù công việc và bản chất lưu động của người nhập cư làm cho vấn đề trầm trọng hơn Người nhập cư đang đảm nhiệm nhiều loại nghề tại các thành phố mà đa số người bản xứ không muốn làm, mỗi nhóm nghề đó lại

có những rủi ro riêng (xem thêm phần 2)

Với nhóm công nhân nhập cư, tác động của cuộc khủng hoảng tài chính 2008-2009 là minh chứng rõ nhất cho sự bấp bênh về việc làm của họ Riêng công nhân nữ còn có

Cuộc sống đô thị

phát sinh nhiều chi

phí xã hội cao hơn

so với quê nhà

Ngân quĩ còn lại

cho các nhu cầu

thiết yếu của người

Trang 36

THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA Phần I - Tổng quan về nghèo đô thị

24

nguy cơ mất việc làm khi đã ngoài 30 tuổi Nguyên nhân do sức khỏe của họ giảm sút, khó cạnh tranh với lớp công nhân mới trẻ hơn, có sức khỏe hơn trong những công việc căng thẳng, thời gian dài như giày da, dệt may, lắp ráp điện tử Khi có bầu hoặc có con nhỏ, công nhân nữ thường bị giảm năng suất, giảm thời gian tăng ca, từ đó giảm thu nhập, mất cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp, thậm chí bị doanh nghiệp tìm cách cho nghỉ việc

Với các nhóm lao động tự do trong khu vực phi chính thức, những bất lợi, hạn chế về

“trình độ, tay nghề” tương tự nhóm người bản xứ, là gốc rễ của việc làm bấp bênh tại đô thị Việc làm và thu nhập của nhóm nhập cư làm công việc tự do thường ăn đong theo ngày (ngày nhiều ngày ít, ngày có ngày không), phụ thuộc vào các yếu tố thời tiết, mùa

vụ, tiến độ công trình, thậm chí “hên xui” Người nhập cư với mục đích kinh tế thường sẵn sàng làm việc quá thời gian, quá sức để có thêm thu nhập, nên sức khỏe bị ảnh hưởng xấu Một số ngành nghề đặc thù người nhập cư thường làm đang giảm dần trong bối cảnh đô thị hóa, như xích lô, đấm bóp (Hộp 4)

HỘP 4 Nghề đấm bóp của người nhập cư đang giảm dần

Anh T.V.T quê Vĩnh Phúc, đến thành phố Hồ Chí Minh làm nghề đấm bóp dạo vào buổi tối đã hơn 10 năm Khoảng 2-3 năm trở về trước, mỗi tối anh đấm bóp cho khoảng 8-10 khách, tiền công cho mỗi lần đấm bóp (khoảng 30 phút) là 20 ngàn đồng, nhiều vị khách hào phóng còn cho thêm tiền “bo” Nhưng 2-3 năm gần đây, lượng khách đấm bóp giảm hẳn Bản thân anh T là người có tay nghề cũng chỉ có được khoảng 5 khách/tối, hầu hết là những khách quen, ít có thêm khách mới

Theo anh T hiện chỉ còn khoảng 10 người làm nghề đấm bóp dạo sống ở Khu phố

4 (Phường 6, Gò Vấp), bằng 1/3 so với cách đây 2-3 năm Những thợ đấm bóp có tay nghề không cao, không có nhiều khách quen phải sang các nghề khác

- “Hai ba năm nay lượng khách giảm, mà chỉ toàn là khách quen thôi, khách lạ ít gọi, những người tin tưởng mình họ mới gọi Lượng khách thưa hơn thì lượng người làm cũng phải thưa hơn Người ta phải chuyển sang làm nghề khác như mua ve chai, buôn bán nhỏ ”

Thiếu hòa nhập xã hội là khó khăn đặc thù của người nhập cư, nhất là trong bối cảnh

Việt Nam vẫn giữ hệ thống “hộ khẩu” và còn nhiều thủ tục, chính sách gắn với hộ khẩu (dù đã giảm so với trước), điển hình là các chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo Không có hộ khẩu và không được bình xét là hộ nghèo tại đô thị, người nhập cư khó dựa vào các thiết chế chính thức tại địa phương

Còn có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thiếu hòa nhập từ phía người nhập cư Mục đích

ra thành phố kiếm tiền để về quê sinh sống sau này khiến người nhập cư ưu tiên duy trì các quan hệ xã hội ở quê nhà hơn là phát triển các quan hệ xã hội ở thành phố Người nhập cư chủ yếu dựa vào mạng lưới xã hội phi chính thức để tìm kiếm việc làm, ổn định cuộc sống khi mới đến và chống đỡ rủi ro Đồng hương, bạn trọ rất quan trọng với người nhập cư, và nhiều khi là mối quan hệ xã hội duy nhất của họ

Tập tính lưu động cao, thường xuyên thay đổi chỗ ở trọ khiến cho các mối quan hệ xã hội giữa người nhập cư với cộng đồng dân cư bản địa thường mang tính chất tạm thời

và ngắn hạn Tính chất công việc vất vả, nặng nhọc, thường mệt mỏi khi về đến nhà trọ khiến người nhập cư thiếu động lực tham gia các sinh hoạt cộng đồng Nhóm công nhân nhập cư trong các ngành may mặc, giày da, lắp ráp điện tử thường xuyên phải tăng ca, tăng giờ nên thời gian biểu của họ khá nghèo nàn Phải chi tiêu tằn tiện tại thành phố để có tiền tiết kiệm và gửi về quê cũng khiến người nhập cư tìm cách giảm các chi phí xã hội ở mức tối đa

Việc thiếu hòa nhập

xã hội của người

nhập cư liên quan

đến hệ thống “hộ

khẩu”

và nhiều yếu tố

khác từ phía bản

thân người nhập cư

Công nhân nhập cư

Trang 37

THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA

xã Kim Chung, Hà Nội)Bên cạnh việc thừa nhận những ảnh hưởng tích cực của dòng người nhập cư, người dân bản xứ thường kết nối sự gia tăng các vấn đề “tệ nạn xã hội”, “tắc đường”, “rác thải bừa bãi” với dòng người nhập cư Sự đa dạng về văn hóa, lối sống của người nhập cư thường được coi là “lai tạp”, “không phù hợp với văn hóa địa phương” Tại các địa bàn tập trung rất đông công nhân nhập cư như xã Kim Chung (Hà Nội), còn nảy sinh nhiều mối quan hệ phức tạp giữa công nhân và người bản xứ, có thể ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình, lối sống của trẻ em Do đó, thái độ kỳ thị và xa lánh của một bộ phận người bản xứ với người nhập cư khó tránh khỏi

Hạn chế trong tiếp cận dịch vụ công là bất lợi chung của người nghèo thiếu nguồn

lực tài chính và thiếu vốn xã hội, đối với người nhập cư còn là hệ quả đặc thù của sự thiếu hòa nhập xã hội Tình trạng quá tải cơ sở hạ tầng thường được gắn với dòng người nhập cư ngày càng đông tại các thành phố Các dịch vụ giáo dục, y tế, vay vốn tại các thành phố đều ưu tiên cho người có hộ khẩu thường trú Con em người nhập cư khó xin học tại các trường chính qui, do trường lớp đã quá tải Không được xét hộ nghèo nên con em người nhập cư nghèo không được miễn giảm học phí và các khoản đóng góp khi theo học tại thành phố Chi phí học tập cao tại khu vực đô thị khiến một số trẻ nhập

cư phảỉ bỏ học giữa chừng hoặc phải lao động sớm để phụ giúp bố mẹ Người nhập cư còn ít quan tâm đến mua thẻ BHYT tự nguyện

Người nhập cư trong nhiều trường hợp lại trở thành đối tượng cần “xử lý” của các dịch

vụ công liên quan đến quản lý đô thị, khiến họ càng rơi vào hoàn cảnh bất lợi Các qui định về “văn minh đô thị” hoặc “an toàn thực phẩm” cũng mâu thuẫn với sinh kế của một số nhóm nhập cư làm các nghề tự do Ví dụ, các thành phố thường hạn chế và xử phạt người bán hàng rong vì lỗi “lấn chiếm lòng lề đường” và “đứng không đúng nơi qui định” Trong khi đó, hàng rong là một dịch vụ giá thấp, tiện lợi, không thể thiếu đối với một bộ phận dân cư đô thị, ở khía cạnh nào đó còn là nét văn hóa đặc trưng của đô thị Việt Nam

Môi trường sống kém tiện nghi và thiếu an toàn thường gắn liền với xu hướng cắt

giảm tối đa chi phí cuộc sống ở đô thị của người nhập cư Người nhập cư thường chọn sinh sống tại những vùng ngoại vi cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ, có giá đất rẻ, giá nhà trọ rẻ nhưng thuận tiện cho việc mưu sinh của họ Ô nhiễm môi trường, thoát nước kém, đường sá lầy lội, điện nước chất lượng không tốt và giá cao là những khó khăn chung của cả người bản xứ và người nhập cư tại những vùng ngoại vi này

Ở xã Kim Chung (Hà Nội), công nhân nhập cư thường phàn nàn về phòng trọ diện tích nhỏ (dưới 10m2), tường mỏng, mái fibro nên rất nóng bức vào mùa hè Đa số phòng trọ

ở đây được thiết kế 2 dãy dài úp mặt vào nhau, ở giữa có một khoảng trống chỉ rộng khoảng 2m vừa là nơi để xe và phơi quần áo, không có không gian xanh, khu vệ sinh dùng chung, phần lớn vẫn sử dụng nước giếng khoan Ở phường Lãm Hà (Hải Phòng), nhiều người nhập cư chấp nhận thuê phòng trọ chỉ với giá 200 - 250.000 đồng/phòng/tháng Đây là những phòng trọ được xây từ trước năm 2000 nay đã xuống cấp, trần nhà

Sinh kế của người

nhập cư nhiều khi

mâu thuẫn với các

thiếu tiện nghi, vệ

sinh môi trường

kém

Trang 38

THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA Phần I - Tổng quan về nghèo đô thị

26

thấp, tường bị ngấm nước, mái dột, bể nước thiết kế chưa hợp vệ sinh Ở phường 6 (Gò Vấp), nhóm ve chai thường gom lại thành nhóm nhỏ, thuê chung một khu trọ đơn sơ nhưng có một mảnh đất trước nhà để phân loại ve chai sau khi lượm hoặc mua về, gây

ô nhiễm và nguy cơ cháy nổ cao Những năm gần đây, với tốc độ đô thị hóa nhanh, phường 6 không còn là phường ngoại vi như trước, thực hiện các qui định về cấm vựa

ve chai trong các khu vực đông dân cư được làm chặt chẽ hơn, nên các vựa ve chai có

xu hướng chuyển ra các quận ngoại vi (như Quận 12), nơi có đất đai rộng để tiện cho việc chứa và phân loại phế liệu

Một số nhóm nhập cư làm các công việc lưu động thường có điều kiện sống tạm bợ Điển hình là nhóm phụ hồ đi theo công trình xây dựng, họ thường ăn ở trong các lán tạm ngay tại chân công trình với điều kiện sống nghèo nàn, điều kiện làm việc thiếu an toàn, chưa kể nguy cơ dễ bị lôi kéo vào các tệ nạn cờ bạc, mại dâm Tính dễ bị tổn thương của nhóm phụ hồ nhập cư này rất cao, cần có khảo sát riêng để có thêm thông tin chi tiết

1.3 Các thách thức giảm nghèo đô thị

Báo cáo năm 2009 đã nêu những thách thức về cải thiện cơ sở hạ tầng tại những nơi tập trung đông người nghèo đô thị, hỗ trợ chuyển đổi sinh kế, cải thiện tiếp cận dịch vụ công, cải thiện vốn xã hội, mở rộng các biện pháp an sinh xã hội đối với cả người nghèo bản xứ và người nghèo nhập cư Báo cáo năm 2010 sẽ cập nhật những thách thức trên tại các điểm quan trắc, trong đó chú trọng hơn đến những khó khăn trong thực hiện các chính sách giảm nghèo đô thị trong bối cảnh mới

1.3.1 Cải thiện cơ sở hạ tầng

Các chương trình, dự án đầu tư của Nhà nước được hoàn thành trong năm 2010 tiếp tục giúp cải thiện đáng kể điều kiện cơ sở hạ tầng (CSHT) tại các điểm quan trắc ở vùng ven đô thị hóa - những nơi tập trung đông người nghèo, gồm cả người nghèo bản xứ và người nghèo nhập cư

Một số vấn đề bức xúc của người dân tại các điểm quan trắc về CSHT đã được giải quyết Tại xã Kim Chung (Hà Nội) trong năm 2010 đã lắp đặt đường nước sạch đến

2 trong tổng số 3 thôn của xã - đây là ước ao của người dân từ nhiều năm nay Nhiều tuyến đường trục và đường xương cá trong xã Kim Chung đã được đầu tư nâng cấp Tại xóm Đảo phường Lãm Hà (Hải Phòng), đường điện lưới lắp công tơ trực tiếp đến từng

hộ gia đình đã hoàn thành từ tháng 11/2009 khiến bà con rất phấn khởi Chất lượng điện tại xóm Đảo đã tốt hơn, giá điện phải trả của người dân nơi đây đã giảm 50% (ước tính mỗi tháng cả xóm Đảo tiết kiệm được khoảng 10 triệu đồng tiền điện), tình làng nghĩa xóm nhờ đó cũng được cải thiện so với thời dùng công tơ tổng Tại Phường 6 (Gò Vấp), các dự án xây kè, nạo vét kênh Vàm Thuật, mở rộng và cứng hóa đường hẻm

đã giúp giảm tình trạng ô nhiễm môi trường trên địa bàn Cũng tại Phường 6, dịch vụ thu gom rác đã có sự cải thiện đáng kể sau khi có ý kiến phản hồi của người dân và có

sự vào cuộc của chính quyền địa phương

Không chỉ có đầu tư của Nhà nước, người dân tại các điểm quan trắc còn tự đóng góp tiền và công sức để làm các hạng mục hạ tầng nhỏ, như đường ngõ hẻm (Kim Chung, Phường 6) hoặc dốc lên đê (Xóm Đảo, Lãm Hà) Tùy từng ngõ xóm mà người dân có thể thỏa thuận hộ khá giả đóng góp nhiều hơn, còn hộ nghèo đóng góp ít hơn

Tuy nhiên, nhiều mặt yếu kém về CSHT tại các điểm quan trắc vẫn chưa được giải quyết, ảnh hưởng lớn đến đời sống của cả người bản xứ và người nhập cư

Trang 39

THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA

27

Thoát nước và ô nhiễm môi trường là 2 vấn đề nổi cộm nhất Tại phường Lãm Hà, thoát nước vẫn rất khó khăn do cống Cảnh Hầu bị hỏng, mương thoát nước bị tắc nghẽn ở một số đoạn Nhiều đường trục nội xóm hoặc liên xóm vẫn là đường đất lầy lội Ô nhiễm môi trường tại Lãm Hà trong năm 2010 còn trầm trọng hơn các năm trước do sự gia tăng nguồn nước thải công nghiệp của một số doanh nghiệp gần khu dân cư Tại xã Kim Chung, việc thoát nước cũng rất khó khăn, nhiều tuyến đường bị ngập nặng khi trời mưa, rác thải quá nhiều không thu gom và chuyển đi kịp Tại Phường 6, chất lượng nước vòi đôi khi còn kém do đường nước mới lắp đặt chưa ổn định

Các mặt tồn tại về CSHT thường vượt quá khả năng đóng góp của dân cư và khả năng điều hành của tổ dân phố; trong khi đó cấp phường, quận thiếu ngân sách để đầu tư, trong một số trường hợp còn chưa phát huy đươc cơ chế “Nhà nước và nhân dân cùng làm” thay vì ngồi chờ xin ngân sách cấp trên (Hộp 5)

HỘP 5 Cống Cảnh Hầu (phường Lãm Hà) hỏng từ lâu chưa được sửa

Cống Cảnh Hầu là cửa cống điều tiết thoát nước của 2.000 hộ dân và 50 doanh nghiệp trên địa bàn phường Lãm Hà (Kiến An, Hải Phòng) Cống bị xuống cấp nặng, cánh cống đã bị hỏng, tay quay mất từ lâu nhưng đến nay vẫn chưa được sửa Vào những ngày mưa, do cống không đóng mở được nên những hộ ven đường trục tổ dân phố số 14 bị ngập nặng, ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt, vệ sinh môi trường

- “Cứ mưa to là nước ngập đến tận mép giường Nước cống đen ngòm Các nhà khác có tiền nâng cao, nhà mình trũng nhất nên bị ngập cả tuần Mưa rồi muỗi bay, chỉ lo hai đứa trẻ con bị bệnh Nước ngập đến chỗ đi vệ sinh cũng không có

- “Hiện nay, cống Cảnh Hầu vẫn tắc vì ngân sách cấp trên không có, phường thì

lực bất tòng tâm Biết là vấn đề bức xúc nhưng chưa làm được” (lãnh đạo Phường

Lãm Hà)

- “Nếu là chuyện nội bộ của tổ thì mình tìm cách lo Cống thoát nước là chuyện của cả phường, tổ không lo được Nếu phường đứng ra làm ngọn cờ kêu gọi doanh nghiệp, bà con thì làm được ngay Mình cũng sẵn sàng đóng mở cống Cảnh Hầu không công” (N.N.C, tổ trưởng tổ dân phố số 14)

Quá tải dịch vụ thu gom rác thải tại xã Kim Chung (Hà Nội) - nơi ngụ cư của hơn 20.000 công nhân nhập cư và gần 10.000 người bản xứ, là một khó khăn điển hình của những địa bàn đông người nhập cư Từ cuối năm 2009 đã xuất hiện mô hình doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào dịch vụ thu gom rác ở thôn Bầu (phát triển lên từ nhóm thu gom rác thủ công), giúp giảm thiểu tình trạng ứ đọng rác trên địa bàn Tuy nhiên, hoạt động của doanh nghiệp này còn nhiều khó khăn do ý thức hạn chế của người dân, rất cần sự quan tâm hỗ trợ của các cơ quan liên quan (Hộp 6)

Thu gom rác thải tại các vùng ven, đông người nhập cư vẫn khó khăn

thấp, tường bị ngấm nước, mái dột, bể nước thiết kế chưa hợp vệ sinh Ở phường 6 (Gò

Vấp), nhóm ve chai thường gom lại thành nhóm nhỏ, thuê chung một khu trọ đơn sơ

nhưng có một mảnh đất trước nhà để phân loại ve chai sau khi lượm hoặc mua về, gây

ô nhiễm và nguy cơ cháy nổ cao Những năm gần đây, với tốc độ đô thị hóa nhanh,

phường 6 không còn là phường ngoại vi như trước, thực hiện các qui định về cấm vựa

ve chai trong các khu vực đông dân cư được làm chặt chẽ hơn, nên các vựa ve chai có

xu hướng chuyển ra các quận ngoại vi (như Quận 12), nơi có đất đai rộng để tiện cho

việc chứa và phân loại phế liệu

Một số nhóm nhập cư làm các công việc lưu động thường có điều kiện sống tạm bợ

Điển hình là nhóm phụ hồ đi theo công trình xây dựng, họ thường ăn ở trong các lán

tạm ngay tại chân công trình với điều kiện sống nghèo nàn, điều kiện làm việc thiếu an

toàn, chưa kể nguy cơ dễ bị lôi kéo vào các tệ nạn cờ bạc, mại dâm Tính dễ bị tổn

thương của nhóm phụ hồ nhập cư này rất cao, cần có khảo sát riêng để có thêm thông

tin chi tiết

1.3 Các thách thức giảm nghèo đô thị

Báo cáo năm 2009 đã nêu những thách thức về cải thiện cơ sở hạ tầng tại những nơi

tập trung đông người nghèo đô thị, hỗ trợ chuyển đổi sinh kế, cải thiện tiếp cận dịch vụ

công, cải thiện vốn xã hội, mở rộng các biện pháp an sinh xã hội đối với cả người nghèo

bản xứ và người nghèo nhập cư Báo cáo năm 2010 sẽ cập nhật những thách thức trên

tại các điểm quan trắc, trong đó chú trọng hơn đến những khó khăn trong thực hiện các

chính sách giảm nghèo đô thị trong bối cảnh mới

1.3.1 Cải thiện cơ sở hạ tầng

Các chương trình, dự án đầu tư của Nhà nước được hoàn thành trong năm 2010 tiếp tục

giúp cải thiện đáng kể điều kiện cơ sở hạ tầng (CSHT) tại các điểm quan trắc ở vùng

ven đô thị hóa - những nơi tập trung đông người nghèo, gồm cả người nghèo bản xứ và

người nghèo nhập cư

Một số vấn đề bức xúc của người dân tại các điểm quan trắc về CSHT đã được giải

quyết Tại xã Kim Chung (Hà Nội) trong năm 2010 đã lắp đặt đường nước sạch đến

2 trong tổng số 3 thôn của xã - đây là ước ao của người dân từ nhiều năm nay Nhiều

tuyến đường trục và đường xương cá trong xã Kim Chung đã được đầu tư nâng cấp Tại

xóm Đảo phường Lãm Hà (Hải Phòng), đường điện lưới lắp công tơ trực tiếp đến từng

hộ gia đình đã hoàn thành từ tháng 11/2009 khiến bà con rất phấn khởi Chất lượng

điện tại xóm Đảo đã tốt hơn, giá điện phải trả của người dân nơi đây đã giảm 50% (ước

tính mỗi tháng cả xóm Đảo tiết kiệm được khoảng 10 triệu đồng tiền điện), tình làng

nghĩa xóm nhờ đó cũng được cải thiện so với thời dùng công tơ tổng Tại Phường 6 (Gò

Vấp), các dự án xây kè, nạo vét kênh Vàm Thuật, mở rộng và cứng hóa đường hẻm

đã giúp giảm tình trạng ô nhiễm môi trường trên địa bàn Cũng tại Phường 6, dịch vụ

thu gom rác đã có sự cải thiện đáng kể sau khi có ý kiến phản hồi của người dân và có

sự vào cuộc của chính quyền địa phương

Không chỉ có đầu tư của Nhà nước, người dân tại các điểm quan trắc còn tự đóng góp

tiền và công sức để làm các hạng mục hạ tầng nhỏ, như đường ngõ hẻm (Kim Chung,

Phường 6) hoặc dốc lên đê (Xóm Đảo, Lãm Hà) Tùy từng ngõ xóm mà người dân có

thể thỏa thuận hộ khá giả đóng góp nhiều hơn, còn hộ nghèo đóng góp ít hơn

Tuy nhiên, nhiều mặt yếu kém về CSHT tại các điểm quan trắc vẫn chưa được giải

quyết, ảnh hưởng lớn đến đời sống của cả người bản xứ và người nhập cư

Nhưng nhiều mặt

hạ tầng đô thị còn yếu kém, nhất là về thoát nước và vệ sinh môi trường

Trang 40

THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA Phần I - Tổng quan về nghèo đô thị

28

HỘP 6 Mô hình doanh nghiệp thu gom rác tại thôn Bầu

Công ty Vệ sinh Môi trường của anh N.V.T được thành lập từ tháng 7/2009 với số vốn đầu tư 2.1 tỷ đồng, hoạt động chủ yếu là thu gom rác thải tại thôn Bầu, xã Kim Chung (Đông Anh, Hà Nội) Sau khi thành lập công ty, anh đã đầu tư 1 xe tải chở rác hiện đại, 35 xe thu gom rác, tạo việc làm cho 29 công nhân với mức lương 2,2 triệu/tháng Lượng rác thải thu gom tại thôn Bầu rất lớn (7-9 tấn/ngày), công nhân phải làm việc vất vả

Nguồn thu chính của Công ty là thu phí rác thải với mức 2.000 đồng/khẩu/tháng Khó khăn là các chủ nhà trọ không khai báo đủ số công nhân ở trọ, làm Công ty bị hụt doanh thu dự kiến, hiện tại hoạt động không có lãi Người dân chưa có ý thức

bỏ rác đúng nơi quy định nên gây nhiều khó khăn cho việc thu gom rác của công nhân

- “Lượng rác thải của thôn Bầu là vô cùng lớn, mỗi ngày phải chuyển đi 2 chuyến

ô tô sáng, chiều Nếu bỏ không vận chuyển 1 ngày thì rác trong bãi ngập luôn, chất lên cũng phải cao 4m Thông thường những nơi khác, người thu gom chỉ phải

đi 2 - 3 chuyến 1 ngày, làm ở đây số lần đi phải gấp 2 - 3 lần”

- Một số hộ không có ý thức, cấp cho bao tải để rác không cho vào bao mà vứt ra ngoài, nên ngươi đi thu cũng vất hơn Thu phí nhiều lúc rất khó khăn, 70% nhà khai báo số lượng người ở trọ ít đi Thu phí theo khẩu: 2000 đ/tháng mà có nhà 22 người

ở cả tháng nộp được 4.000 đ, không đủ mua khẩu trang cho công nhân Người dân

mà không có ý thức là rất khó làm.”

Do đầu tư nhiều và đã ký hợp đồng lâu dài với xã nên anh vẫn cố gắng duy trì công

việc “không bỏ được do đầu tư vào đây nhiều quá, mặt khác mình đã làm hợp đồng

với xã 5 năm từ 2006 - 2011 nên không thể bỏ được” Tương lai anh dự định mở rộng

dịch vụ trong xã và làm cổ đông của Xí nghiệp Môi trường đô thị huyện để cải thiện thu nhập

Tình trạng người nhập cư phải trả giá điện quá cao vẫn tiếp diễn, mặc dù trong năm

2010 Bộ Công thương và các cơ quan điện lực địa phương đã ban hành nhiều văn bản nhằm hỗ trợ người lao động nhập cư được trả tiền điện theo mức giá quy định của Nhà nước12 Bản chất của khó khăn nằm ở tâm lý chưa sắn sàng từ phía chủ nhà trọ và các thủ tục còn rườm rà mà người nhập cư khó đáp ứng (ví dụ, không có giấy đăng ký tạm trú, thuê trọ thời hạn dưới 12 tháng, không có bảo lãnh của chủ nhà trọ )

Một số “qui hoạch treo” tại các điểm quan trắc ảnh hưởng đến phát triển kinh tế-xã hội địa phương và đời sống, tâm lý của người dân đến giữa năm 2010 vẫn chưa có chuyển biến đáng kể so với các năm 2008-2009 Điển hình là qui hoạch khu “công viên cây xanh” tại Phường 6 (Gò Vấp) qua nhiều năm không thực hiện, gây đình trệ việc sang nhượng, làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng nhà cửa, hỗ trợ chống dột trong vùng qui hoạch Phường 6 đã có đề nghị cấp trên xóa qui hoạch, tuy nhiên vẫn chưa được duyệt

12 Thông tư 08/2010/BCT-TT của Bộ Công thương ban hành ngày 24/2/2010 về việc Quy định về giá bán điện năm 2010 và hướng dẫn thực hiện Cứ 4 người là sinh viên và người lao động thuê nhà được tính là một hộ sử dụng điện để áp dụng giá bán lẻ điện sinh hoạt bậc thang, với điều kiện có giấy đăng

ký tạm trú, thuê nhà có thời hạn từ 12 tháng trở lên Nếu chủ nhà uỷ quyền cho đại diện người lao động hoặc sinh viên thuê nhà ký kết Hợp đồng mua bán điện thì phải có bảo lãnh thanh toán tiền điện của chủ nhà.

Công văn số 1033/ĐLGV-QLKH của Điện lực Gò Vấp ban hành ngày 22/3/2010 về việc thực hiện giá bán điện đối với công nhân, người lao động và sinh

Các văn bản về

giảm giá điện cho

người nhập cư chưa

đi vào cuộc sống

“Qui hoạch treo”

ảnh hưởng đến đời

sống, tâm lý người

dân

Ngày đăng: 15/03/2014, 01:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG 5. Tỷ lệ hộ nghèo tại các điểm quan trắc, giai đoạn 2005-2009 - THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA pdf
BẢNG 5. Tỷ lệ hộ nghèo tại các điểm quan trắc, giai đoạn 2005-2009 (Trang 25)
HÌNH 2.  Cơ cấu việc làm của 21 hộ nghèo ở xóm Chùa phường 6 - THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA pdf
HÌNH 2. Cơ cấu việc làm của 21 hộ nghèo ở xóm Chùa phường 6 (Trang 29)
BẢNG 7. Các tiêu chí nhận dạng người nghèo đô thị theo cảm nhận của cán - THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA pdf
BẢNG 7. Các tiêu chí nhận dạng người nghèo đô thị theo cảm nhận của cán (Trang 29)
BẢNG 9. Giá phòng trọ tại các điểm quan trắc năm 2009 - 2010 (đồng/tháng) - THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA pdf
BẢNG 9. Giá phòng trọ tại các điểm quan trắc năm 2009 - 2010 (đồng/tháng) (Trang 34)
HÌNH 3. Các yếu tố chính của nghèo nhập cư - THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA pdf
HÌNH 3. Các yếu tố chính của nghèo nhập cư (Trang 34)
BẢNG 11. So sánh mô hình quản lý 3 cấp và 2 cấp tại phường Lãm Hà - THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA pdf
BẢNG 11. So sánh mô hình quản lý 3 cấp và 2 cấp tại phường Lãm Hà (Trang 50)
HÌNH 4. Đặc điểm của nhóm công nhân nhập cư, 2010 - THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA pdf
HÌNH 4. Đặc điểm của nhóm công nhân nhập cư, 2010 (Trang 58)
BẢNG 12. Kênh thông tin về chỗ làm hiện tại (%) - THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA pdf
BẢNG 12. Kênh thông tin về chỗ làm hiện tại (%) (Trang 59)
BẢNG 14. Những vấn đề tồn tại về điều kiện làm việc (%) - THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA pdf
BẢNG 14. Những vấn đề tồn tại về điều kiện làm việc (%) (Trang 63)
Bảng 15 cho thấy, việc ký kết hợp đồng lao động, thực hiện các chế độ phúc lợi như  BHXH, BHYT, nghỉ phép, nghỉ ốm của nhóm công nhân nhập cư với các doanh nghiệp  vẫn được thực hiện tốt tại Kim Chung (Hà Nội) - là nơi tập trung đông các doanh nghiệp - THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA pdf
Bảng 15 cho thấy, việc ký kết hợp đồng lao động, thực hiện các chế độ phúc lợi như BHXH, BHYT, nghỉ phép, nghỉ ốm của nhóm công nhân nhập cư với các doanh nghiệp vẫn được thực hiện tốt tại Kim Chung (Hà Nội) - là nơi tập trung đông các doanh nghiệp (Trang 64)
HÌNH 5. Thay đổi thu nhập bình quân tháng so với 12 tháng trước (%) - THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA pdf
HÌNH 5. Thay đổi thu nhập bình quân tháng so với 12 tháng trước (%) (Trang 67)
Hình 5 cho thấy, hơn một nửa số công nhân nhập cư được phỏng vấn cho biết  thu nhập  bình quân tháng của họ trong năm 2010 đã tăng so với cùng kỳ năm 2009, với mức  tăng phổ biến là dưới 10% - THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA pdf
Hình 5 cho thấy, hơn một nửa số công nhân nhập cư được phỏng vấn cho biết thu nhập bình quân tháng của họ trong năm 2010 đã tăng so với cùng kỳ năm 2009, với mức tăng phổ biến là dưới 10% (Trang 67)
HÌNH 6. Cơ cấu chi tiêu trung bình trong 1 tháng (%) - THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA pdf
HÌNH 6. Cơ cấu chi tiêu trung bình trong 1 tháng (%) (Trang 68)
HÌNH 7. Mong muốn được giúp đỡ xét theo góc độ giới, 2010 (%) - THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA pdf
HÌNH 7. Mong muốn được giúp đỡ xét theo góc độ giới, 2010 (%) (Trang 74)
BẢNG 21. Tỷ lệ tham gia công đoàn theo loại hình doanh nghiệp, 2010 (%) - THEO DÕI NGHÈO ĐÔ THỊ THEO PHƯƠNG PHÁP CÙNG THAM GIA pdf
BẢNG 21. Tỷ lệ tham gia công đoàn theo loại hình doanh nghiệp, 2010 (%) (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w