TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA NGỮ VĂN TIỂU LUẬN VĂN HỌC HIỆN ĐẠI VIỆT NAM I Phân tích cá tính Nam Bộ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh (qua tác phẩm Ai làm được, Tiền bạc bạc tiề.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NGỮ VĂN
TIỂU LUẬN VĂN HỌC HIỆN ĐẠI VIỆT NAM I
Phân tích cá tính Nam Bộ trong tiểu thuyết của Hồ
Trang 2Bảng danh sách và đánh giá công việc
(%)
1 Đỗ Thị Huệ Tâm 4501606089 2.2 Qua tính cách nhân
vật + 3.3.2 Tuyến nhân vật phản diện – chính diện + PPT + Tổng & chỉnh sửa Word
100
2 Nguyễn Lê Duy 4501606017 3 Kết luận + Thuyết trình 100
3 Nguyễn Huỳnh Tú Duyên 4501606019 2.1 Thực tại cuộc sống +
3.5 Không gian và thời gian
6 Nguyễn Thị Bích Ngọc 4501606064 3.2 Lời văn bình dị 100
7 Nguyễn Thị Phương 4501606080 3.1 Phương ngữ + 3.4.2
Giống truyện thơ Nôm + Thuyết trình
Trang 39 Võ Nhã Thanh 4501606093 2.2 Qua tính các nhân
vật+ 3.3.1 Ngoại hình nhân vật + Tổng & chỉnh sửa Word
100
10 Nguyễn Thị Huyền Trang 4501606103 1 Những vấn đề chung +
3.4.2 Giống truyện thơ Nôm
100
Trang 4MỤC LỤC
Mở đầu 4
Chương 1 Một số vấn đề chung 5
1.1 Tác giả, tác phẩm 5
1.1.1 Tác giả Hồ Biểu Chánh 5
1.1.2 Một số tác phẩm của Hồ Biểu Chánh 6
1.2 Cá tính Nam Bộ 10
Chương 2 Cá tính Nam Bộ trong tiểu thuyết “Ai làm được”, “Tiền bạc bạc tiền” và “Ngọn cỏ gió đùa” về mặt nội dung 10
2.1 Thực tại cuộc sống người dân Nam Bộ 10
2.2 Thể hiện qua tính cách nhân vật 14
2.2.1 Con người Nam Bộ coi trọng tình nghĩa hơn tiền bạc 14
2.2.2 Con người Nam Bộ hiếu khách, sống rộng rãi 18
2.2.3 Con người Nam Bộ thật thà, thẳng thắn 19
2.2.4 Con người Nam Bộ dễ thích nghi với môi trường sống mới 21
2.2.5 Phụ nữ Nam Bộ: địa vị cao và sống phóng khoáng 21
Chương 3 Cá tính Nam Bộ trong tiểu thuyết “Ai làm được”, “Tiền bạc bạc tiền” và “Ngọn cỏ gió đùa” về mặt nghệ thuật 23
3.1 Phương ngữ Nam Bộ 23
3.2 Lời văn bình dị 30
3.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 40
3.3.1 Ngoại hình nhân vật 40
3.3.2 Tuyến nhân vật chính diện – phản diện 42
3.4 Nghệ thuật xây dựng kết cấu 44
3.4.1 So sánh với tiểu thuyết chương hồi 44
3.4.2 So sánh với truyện thơ Nôm 47
3.5 Không gian và thời gian nghệ thuật 50
3.5.1 Không gian nghệ thuật 50
3.5.2 Thời gian nghệ thuật 52
KẾT LUẬN 54
Trang 5Mở đầu
Nhắc đến văn học Việt Nam hiện đại, chúng ta không thể bỏ qua cái tên Hồ Biểu Chánh, một nhà văn có công lớn trong việc hình thành tiểu thuyết hiện đại tại Việt Nam trong giai đoạn đầu thế kỉ XX
Các tác phẩm của ông luôn được đông đảo quần chúng nhân dân đón nhận Người ta cảm nhận được sự gần gũi và bình dị trong chất văn của ông, điều này một phần là do ông sinh ra và lớn lên tại chính vùng đất phía Nam trù phú nên các sáng tác cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi văn hóa, con người nơi đây Cá tính Nam Bộ là đặc điểm nổi bật nhất trong các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh, đặc biệt là với thể loại diện tiểu thuyết
Trong bài tiểu luận này, chúng tôi sẽ phân tích cá tính Nam Bộ trong tiểu thuyết
của Hồ Biểu Chánh, cụ thể thông qua các tiểu thuyết “Ai làm được”, “Ngọn cỏ gió
đùa” và “Tiền bạc, bạc tiền” Theo khảo sát của chúng tôi trong ba tác phẩm nói
trên, chất riêng của Nam kỳ lục tỉnh được thể hiện trên ba bình diện: bối cảnh tác phẩm, con người (thông qua nhân vật trong tác phẩm), phương ngữ
Nội dung bài tiểu luận gồm:
Một số vấn đề chung: tác giả, tác phẩm, khái niệm cá tính Nam Bộ
Cá tính Nam Bộ: thể hiện qua bối cảnh, con người và phương ngữ
Tổng kết
Trang 6Mỹ Tho và Sài Gòn Hồ Biểu Chánh làm qua nhiều chức quan Ông từng làm ký lục, thông ngôn, sau thăng dần đến đốc phủ sứ (1936) Bên cạnh đó ông còn từng giữ chức quận trưởng ở nhiều nơi, sau khi về hưu (8/1941), Pháp mời ông làm cố vấn với danh hiệu Nghị viện Hội đồng Liên bang Đông Dương và Phó Đốc lý thành phố Sài Gòn Sau cuộc tái chiếm Nam Bộ (1946), Cộng hòa tự trị Nam Kỳ được thành lập, Hồ Biểu Chánh tiếp tục được mời làm cố vấn cho chính phủ Nguyễn Văn Thinh Sau khi chính phủ này sụp đổ, ông lui về ở ẩn và dành trọn những ngày tháng còn lại cho sự nghiệp văn chương Trong suốt sự nghiệp làm quan của mình,
Hồ Biểu Chánh vốn có tiếng thanh liêm yêu dân, thương người nghèo khổ
Hồ Biểu Chánh mất ngày 4 tháng 9 năm 1958 tại Phú Nhuận, Gia Định, thọ
73 tuổi Lăng mộ ông ngày nay được đặt tại đường Thống Nhất quận Gò Vấp
Hồ Biểu Chánh bắt đầu sự nghiệp văn chương từ năm 1906 Ông sáng tác văn học rất nhiều và để lại hơn 100 tác phẩm gồm tiểu thuyết và các thể loại khác, như: nghiên cứu, phê bình văn học, sáng tác tuồng hát cùng các bản dịch văn học cổ điển Trung Quốc như Tình sử, Kim cổ kỳ quan đóng góp rất nhiều cho sự phát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại Tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh thuộc về thời
kỳ đầu của văn học chữ quốc ngữ, cốt truyện đơn giản, triết lý chủ đạo là thiện thắng ác, ở hiền gặp lành, điểm đặc biệt là rất Nam Bộ, từ giọng văn đến miêu tả
con người Ngoài ra, ông còn phóng tác một số tiểu thuyết Châu Âu như là: Cay
đắng mùi đời (1923) từ Sans famille (Hector Malot); Chúa tàu Kim Quy (1923) từ
Le comte de Monte Cristo (Alexandre Dumas); Ở theo thời (1935) từ Topaze
(Marcel Pagnol); Người thất chí (1938) từ Crime et Châtiment (Dostoevsky),…
Trang 7Hồ Biểu Chánh sở trường về viết văn xuôi tự sự, đề tài phần lớn là cuộc sống Nam Bộ từ nông thôn đến thành thị những năm đầu thế kỷ 20 Vốn có cuộc sống cơ cực nên ông có thể cảm thông, thấu hiểu với những đau khổ của người nghèo Thông qua cách diễn đạt dân dã, bình dị, các nhân vật hiện lên với hình ảnh quen thuộc như nông dân, thợ thuyền, thợ may, gánh đồ hàng, … những người cùng khổ trong xã hội Là một người con của vùng đất Nam Bộ nên trong tác phẩm của ông luôn thể hiện một cách rõ rệt những cá tính của vùng đất này Ông đã có những đóng góp to lớn vào sự hình thành thể loại tiểu thuyết Ông để lại cho nền văn học nước nhà khối lượng sáng tác không hề nhỏ với 64 tiểu thuyết, 12 tập truyện ngắn
và truyện kể, 12 vở hài kịch và ca kịch, 5 tập thơ và truyện thơ, 8 tập ký, 28 tập phê bình – khảo cứu Ngoài ra, còn có các bài diễn thuyết và 2 tác phẩm dịch
1.1.2 Một số tác phẩm của Hồ Biểu Chánh
*Ai Làm Được (1912)
Bạch Khiếu Nhàn là một nhà giàu ở Cà Mau có lòng thương người, trong lần
đi dạo cặp mé sông thì vô tình gặp được Phan Chí Đại – anh học trò trẻ có tài có đức nhưng khổ nỗi nhà nghèo, phận lại côi cút vừa bỏ quê sang xứ khác làm ăn Bạch Khiếu Nhàn vừa gặp đã quý mến anh, biết hoàn cảnh của anh thì lại càng thương nên đã giới thiệu cho vào làm trong Quan Phủ Trong Phủ có bà Phủ Nguyễn Thị Phường là người thâm hiểm, trước đây bà ta đã giết vợ trước của quan
để cướp chức quan bà, nay lại luôn tìm cách chiếm đoạt tài sản của Bạch Tuyết – con gái riêng của Quan Phủ và vợ trước, cô đây cũng là cháu gái của Bạch Khiếu Nhàn
Bà Phủ đổ oan cho Bạch Tuyết và Chí Đại tư tình với nhau, làm Quan Phủ đuổi Chí Đại đi và ép Bạch Tuyết cưới người trong họ hàng của bà ta Trong lòng vẫn luôn không nguôi chí báo thù cho mẹ, nay lại còn bị kẻ thù giết mẹ ép uổng vào tròng, Bạch Tuyết quyết định bỏ nhà tìm Chí Đại Sau khi tỏ tường mọi chuyện với nhau, Chí Đại tuy thương Bạch Tuyết nhưng lại không muốn cô bị thất tiết, anh từ chối năm lần bảy lượt, song cuối cùng đã đồng ý ở bên cô Phan Chí Đại và Lê Bạch Tuyết nên nghĩa vợ chồng, cùng nhau trải qua những ngày khó khăn, gian khổ
Trang 8ở Sài Gòn Một thời gian sau, Bạch Khiếu Nhàn biết chuyện, ông đi tìm và giúp đỡ
vợ chồng cháu ngoại bằng cách góp vốn với người buôn ngọc điệp để Chí Đại đi Ấn
Độ Dương làm công Chí Đại đi xa, Bạch Tuyết vừa về Cà Mau không lâu liền lén trốn lên lại Sài Gòn tự mình mưu sinh Kế đó, khi đã ổn định chỗ ở cũng như có công việc đàng hoàng, Bạch Tuyết tình cờ gặp gỡ và giúp đỡ Băng Tâm, cô gái mà bạn cũ của Chí Đại – Lý Trường Khanh theo đuổi
Chồng đi làm xa, Bạch Tuyết ở nhà mong ngóng, nhớ thương sinh bệnh nặng Nhân cơ hội này, bà Phủ tỏ ý muốn đưa cô về nhà chăm sóc song thật ra là để
dễ bề sát hại Tuy không muốn thuận theo nhưng vì không kịp xoay sở nên Bạch Tuyết phải theo kẻ ác lên đò trở lại Cà Mau Nhờ có Băng Tâm và Trường Khanh hết lòng giúp đỡ, Bạch Tuyết an toàn về đến quê nhà Mưu lược lén đưa Bạch Tuyết
về chỗ Khiếu Nhàn do Trường Khanh bày ra thất bại, Băng Tâm không ở cùng chỗ với Bạch Tuyết được nữa Thế là thừa thời cơ không có ai cản trở, bà Phủ tráo thuốc
bổ thành thuốc độc ép Bạch Tuyết uống, may thay Chí Đại quay về kịp lúc cứu được vợ mình Bạch Tuyết và Chí Đại vợ chồng đoàn tụ, Băng Tâm đồng ý cưới Trường Khanh Cuối cùng, mọi người vui vẻ hạnh phúc sống bên nhau
*Tiền Bạc Bạc Tiền (1925)
Bá Vạn là một người từ nghèo khó đi lên thành nhà giàu, bà Đỗ Thị Đào vợ ông tuy cùng trải qua khó khăn cùng ông nhưng lại là người tham tiền, ham quyền, hám danh, chẳng bao giờ cho mình là nhà nghèo Họ có ba người con gồm: Chị cả Thanh Huê, đã lấy chồng song chồng không lo nổi cho cô ta tiêu xài hoang phí nên Thanh Huê vẫn sống dựa vào tiền của bố mẹ ruột Người con thứ hai, cậu ba Bá Kỳ
là con trai độc nhất trong nhà, học giỏi, sống có chí hướng, trọng nghĩa khinh tài Cuối cùng là em gái út Thanh Kiều, đẹp người đẹp nết nhưng số phận lại bất hạnh
Bá Kỳ vốn muốn gả Thanh Kiều cho bạn mình là Hiếu Liêm – người vừa biết lễ nghĩa, vừa có học thức lại trọng tình Thế nhưng Đỗ Thị chê Hiếu Liêm nghèo nên không ưng Sau vì ham mê danh vọng mà Đỗ Thị đã đẩy gia đình vào cảnh nợ nần, ông Bá Vạn thì xót của mà chết Mất hết nhà cửa, Thanh Huê phải nương tựa chỗ chồng, Đỗ Thị và Thanh Kiều được bà Phủ Khánh Long – chị gái của ông Bá Vạn
Trang 9rước về nhà ở Tuy đã ở tình thế sa cơ, Đỗ Thị vẫn không chịu thay đổi tính nết mà liên tục cùng bà Phủ tìm gia đình giàu có để gả Thanh Kiều nhằm hưởng lợi từ phía đàng sui Nhưng Thanh Kiều không chịu, gặp ai cũng chê Còn Bá Kỳ vốn biết bà Phủ Khánh Long không phải loại người lương thiện gì nên không muốn dùng tiền của cô mình để đi học tiếp, anh cho đó là đồng tiền ác nhân thất đức Nghe bạn tâm
sự chuyện nhà éo le, Hiếu Liêm thương bạn và ngỏ lời chu cấp cho anh Bá Kỳ đồng ý rồi trở ra Hà Nội học
Một thời gian trôi qua, tai nạn xe xảy ra, bà Phủ mất, vì không có người thừa
kế nên Đỗ Thị cùng các con được hưởng hết toàn bộ tài sản Không lâu sau, Đỗ Thị cũng qua đời, tiền tài tiếp tục để lại cho ba người con Tuy nhiên chỉ có chị cả Thanh Huê là người mong muốn có được phần tài sản ấy, còn Bá Kỳ và Thanh Kiều đều không động lòng tham, song họ vẫn nhận lấy phần tiền đã được chia, cứ thế anh trai quyên cho hội khuyến học, em gái góp cho hội trẻ em Đoạn kết, Bá Kỳ đang ngồi ở nhà Hiếu Liêm uống trà kể chuyện thì nhận được thơ báo tin em út nhà mình xuống tóc đi tu Hiếu Liêm vốn có tình cảm với Thanh Kiều, giờ nhận ra mình đã hiểu lầm cốt cách thanh sạch của cô thì liền hối hận, cùng Bá Kỳ đi tìm và thuyết phục cô trở về
*Ngọn Cỏ Gió Đùa (1926)
Đây là một quyển tiểu thuyết có rất nhiều nhân vật, nhưng có thể nói nhân vật trung tâm là Lê Văn Đó Lê Văn Đó thời trẻ dưới cảnh ngộ khó khăn của gia đình trong nhiều ngày liền không có cơm ăn, tính cách khi ấy vừa khờ khạo vừa dại dột nên đã làm liều ăn cắp nồi cháo heo của nhà Bá hộ rồi lâm vào cảnh tù tội với muôn vàn khổ cực, ngược đãi
Còn nhân vật Lý Ánh Nguyệt, đây là nhân vật có vai trò nền tảng cho các diễn biến về sau của câu chuyện, nhân vật này được Hồ Biểu Chánh miêu tả là một
cô gái xinh đẹp, tài hoa Cha cô là một nhà nho nhưng chưa kịp đỗ đạt công danh thì
đã chết nơi xứ người Ánh Nguyệt bơ vơ, bị vợ chồng Đỗ Cẩm lừa gạt sức lao động, sau lại bị công tử nhà giàu Từ Hải Yến lừa gạt tình cảm Khi cô mang thai cũng là lúc Hải Yến đỗ cao làm quan, Ánh Nguyệt tưởng chừng như mình đã có nơi nương
Trang 10tựa thì Hải Yến trở về An Giang bái tổ rồi cưới vợ khác Ánh Nguyệt sinh con gái, đặt tên là Từ Thu Vân Sau vì một số biến cố mà hai mẹ con tách biệt, Thu Vân ở nhà Đỗ Cẩm chờ mẹ quay lại đón, còn Ánh Nguyệt khăn gói về quê tìm lại người thân Đến nơi, người thân mất hết, cô không có tiền chuộc lại con gái nên đến nương nhờ chỗ Thiên Hộ Trần Chánh Tâm, tiếp đó lại gặp thêm nhiều giông bão, cuộc đời đầy oan nghiệt khiến Ánh Nguyệt chưa kịp gặp lại con gái thì đã bệnh nặng rồi qua đời
Thiên Hộ Trần Chánh Tâm hóa ra lại là Lê Văn Đó, sau khi đến Cần Đước thay tên đổi họ, khai hoang làm ăn và trở thành người giàu có, ông sống rất nhân nghĩa và có lòng thương người Lê Văn Đó lập nhà tế bẩn, nhà dưỡng lão, viện mồ côi Không lâu sau ông vô tình gặp phải Phạm Kỳ – tên canh giữ ông năm xưa trong nhà giam, khi biết quan trên đã buộc một người khác chịu tội cho mình, Lê Văn Đó đã thừa nhận lai lịch của mình và bị bắt Ông bị kết án chung thân, lưu đày biệt xứ mất hết của cải Tuy nhiên, vì muốn thực hiện lời hứa với Lý Ánh Nguyệt là cứu vớt và nuôi dưỡng Thu Vân nên ông đã tìm cách vượt ngục trở về Những ngày sau khi đón được Thu Vân là những ngày ông tận tình chăm sóc, thương yêu cô bé như máu mủ ruột thịt, không chỉ vậy, Lê Văn Đó đã luôn muốn tạo điều kiện cho Thu Vân và Hải Yến cha con nhận mặt Song, khi Hải Yến gặp được Thu Vân, dù biết rõ đó là con gái ruột của mình nhưng hắn vẫn không chịu mà còn ép Lê Văn Đó phải mang Thu Vân đi khỏi Định Tường
Một nhân vật khác nổi trội không kém Lê Văn Đó hay Lý Ánh Nguyệt trong tác phẩm này là Vương Thể Phụng Chuyện rằng, Ông Đàm Tự Chấn là người giàu
có ở đất Vĩnh Tường, góa vợ sớm, không có con trai, chỉ có hai cô con gái là Kim Huê và Kim Diệp Vương Thế Hùng là một người thích võ nghệ và ưa hành hiệp, một lần nọ cứu mạng Kim Diệp lại vô tình làm Kim Diệp ôm mộng nhớ thương, cả hai trở thành vợ chồng và sinh ra Vương Thể Phụng Vương Thế Hùng theo phe nổi loạn Lê Văn Khôi khởi nghĩa, bị thương rồi mất tích, Kim Diệp buồn rầu sinh bệnh qua đời Thể Phụng lớn lên trong cảnh mồ côi nhưng bù lại có ông ngoại cùng dì Kim Huê dành hết thương yêu, dốc lòng chăm sóc Sau này, Thể Phụng xảy ra xung
Trang 11đột với ông ngoại trong việc thờ cha nên bỏ nhà ra đi, nhờ trước đó đậu qua Tú Tài, Thể Phụng thuận lợi làm thư ký cho quan Bố Chánh Định Tường
Trong một dịp tình cờ, Thể Phụng cứu mạng hai ông cháu Lê Văn Đó rồi nên duyên nợ với Thu Vân Thể Phụng trở về nhà xin cưới Thu Vân, không thành công, cậu tiếp tục bỏ đi nhưng không tìm thấy người thương ở chốn cũ Thể Phụng tức giận cuộc đời, cứ thế đi lang thang rồi tham gia trại phản quân của Đoàn Hùng – người quen năm xưa của cha mình với tư cách Tham Tá lãnh quân Trong trận đánh lớn với quan quân triều đình, Thể Phụng bị thương nặng, Lê Văn Đó và Thu Vân đưa cậu trở lại nhà mình, Đàm Tự Chấn cuối cùng đã chấp nhận cho cháu trai cưới người trong mộng Lê Văn Đó cảm thấy vui vẻ khi trách nhiệm của ông đến đây đã hết, ông ở gần nhà đôi trẻ nhìn Thu Vân hạnh phúc bên chồng, thi thoảng sang thăm một lần, không lâu sau thì ông mất
Chương 2 Cá tính Nam Bộ trong tiểu thuyết “Ai làm được”, “Tiền bạc bạc tiền” và “Ngọn cỏ gió đùa” về mặt nội dung
2.1 Thực tại cuộc sống người dân Nam Bộ
Hồ Biểu Chánh là nhà văn Nam Bộ tiêu biểu trong giai đoạn văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX Những tác phẩm của ông được ví như một bức tranh hiện thực thu nhỏ của xã hội miền Nam Việt Nam ở những năm tháng đầy biến động – thời kỳ trước
và sau khi thực dân Pháp xâm lược Mỗi một tác phẩm là ký ức về một thời điểm nhất định
Trang 12Dưới ngòi bút tả thực của mình, Hồ Biểu Chánh không bỏ sót một vấn đề nào của xã hội đương thời, vì vậy mà toàn cảnh đời sống người dân Nam Bộ lúc bấy giờ hiện lên vô cùng sinh động Xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX – buổi giao thời giữa những giá trị truyền thống của dân tộc cùng những cái mới du nhập
từ phương Tây Với âm mưu chiếm hữu toàn cõi nước ta, Pháp dùng miền Nam làm bàn đạp tấn công ra Bắc và miền Trung, xã hội lúc này có những biến đổi to lớn về vật chất cũng như tinh thần, cảm nhận sự thay đổi đó, Hồ Biểu Chánh đã phản ánh một cách rất chân thực hoàn cảnh xã hội của miền Nam Việt Nam trong các tác phẩm của mình, với những hình ảnh vô cùng quen thuộc
Ở Ngọn cỏ gió đùa, lấy bối cảnh xã hội Việt Nam thế kỷ XIX dưới thời các vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức Giai đoạn mà mâu thuẫn nội bộ trong tầng lớp quan lại về lí tưởng trung quân nổi lên, người dân phải sống trong sự
áp bức, bóc lột của bọn cường hào: “Nghèo khổ không cơm nuôi gia quyến, họ giàu
có dư dã ăn không hết, đến mượn một vài giạ lúa về mà cứu cấp mẹ già cháu nhỏ đói nằm thở hoi hóp, họ không cho mượn lại còn xô đuổi Cùng thế bưng cháo heo
ăn đem về cho mẹ với cháu ăn đỡ, họ không nghĩ lại bắt mà đánh” (Ngọn cỏ gió
đùa) Và như thế, người ta cầm tù một người lương thiện đến 10 năm ròng, đày đi biệt xứ chỉ vì một nồi cháo heo Đám cường hào ác bá dùng tiền và thế lực để hãm hại, ức hiếp người dân vô tội, đẩy con người ta vào bước đường cùng
Hồ Biểu Chánh đã khéo léo chọn cho câu chuyện của mình diễn ra trong thời kỳ mà thân phận người dân cứ như “ngọn cỏ” bị “đùa” bỡn trước những “cơn gió” Miền Nam lúc bấy giờ được phản ánh rất rõ thực trạng xã hội Ở nông thôn, số phận của người lao động bị lệ thuộc rất nhiều vào các lực lượng đại diện cho chính quyền phong kiến, như địa chủ, hương chức, hội tề và những kẻ giàu có quyền thế khác… Trong Ngọn cỏ gió đùa, vì miếng cơm manh áo mà những người nông dân nghèo phải bán sức lao động cho bọn địa chủ, nhưng lúc nào cuộc sống của họ cũng khốn khổ, thiếu thốn Là hình ảnh người dân Nam Bộ khổ sở, đói khát vì mất mùa, ruộng
khô nên lúa “không nở đòng đòng”, vì “lúa mùa vừa mới cấy, mà bị đất nẻ, nên
cọng teo lá úa” Mà cụ thể ở đây, ngay từ đầu truyện đã hiện lên hình ảnh “nhà bà
Trang 13Trần Thị bần cùng đói rách”, hình ảnh anh Lê Văn Đó “mới được 12 tuổi, thì cha
mẹ đem cho ở đợ chăn trâu cho nhà giàu Hễ trời gần sáng thì Lê Văn Đó đuổi trâu
ra đồng” Làm việc cực nhọc ngày đêm vẫn “không đủ nấu cháo cho gia quyến húp mỗi người một chén” Còn nhà anh Thiệt cũng không kém vì “đói quá, nên anh dắt ông già lên Vũng Gù mà kiếm ăn.”, sau khi cha anh chết anh “lại trở về Giồng Tre xin ở đợ cho nhà ông ba Lãnh”
Bên cạnh đó Hồ Biểu Chánh cũng không quên lên án, tố cáo sự bất công phi lí của chế độ thực dân nửa phong kiến lúc bấy giờ đã chà đạp lên quyền sống và quyền làm người của nhân dân Số phận của người nông dân bấy giờ không do họ quyết định mà phụ thuộc hoàn toàn vào bọn cường hào ác bá Những tên quan lại đều là những tên ham tiền cùng bọn địa chủ ức hiếp dân lành như Lê Văn Đó, anh Thiệt,
để họ phải chịu án oan, phải lâm vào cảnh tù tội và chết trong chốn lao tù như ba hồn ma Huỳnh Văn Hiền, Lê Văn Tố và Nguyễn Văn Đạo – mỗi ngươi mỗi một câu chuyện bất công riêng Đỉnh điểm hơn là cái chết tức tưởi của Ánh Nguyệt – chết trước sự vô tình, độc ác của kẻ học cao nhưng lại là ngụy quân tử Từ Hải Yến:
“Ánh Nguyệt đương giận Hải Yến, mà Hải Yến xuối Phạm Kỳ bắt ông Thiên Hộ nữa, thì nghẹn cổ không nói ra tiếng, nàng đưa tay mà cản, song tay run đỡ không nổi, bởi vậy nàng ú ớ chờn vờn, rồi té ngửa, đít ngồi dưới đất đầu nghẻo trên giường, cặp mắt lộn thinh, miệng sôi bọt mồm bọt miếng” (Ngọn cỏ gió đùa)
Không nằm ngoài những vấn đề đang đặt ra cho xã hội lúc ấy, “Ai làm được” và
“Tiền bạc bạc tiền” và thậm chí là nhiều tác phẩm khác của Hồ Biểu Chánh cũng
phản ánh thực trạng sự chi phối của quyền lực, của đồng tiền lên trên đời sống của người dân và quyền hạnh phúc của con người, con người vì đồng tiền mà trở nên tha hóa, ham giàu sang phú quý mà đánh mất cả tình nghĩa Tuy đây không phải là một đề tài mới nhưng ở Hồ Biểu Chánh ông nhìn thấy được ở một bối cảnh mới, điều kiện mới, những quan hệ xã hội dần bị phá vỡ bởi “đồng tiền”
Trong bối cảnh kinh tế đang khá ổn định và có phần phát triển, con người dần bị cuốn vào tâm lý làm giàu, nhiều giá trị bị đảo lộn Có thể thấy điều này qua nhân vật bà Phủ trong Ai làm được tâm địa độc ác, ham của giàu sang, bà ta rắp tâm hại
Trang 14chết mẹ của Bạch Tuyết tức vợ cả của quan Phủ rồi lại tìm đủ mọi cách để Bạch Tuyết gả cho cháu bà nhằm giành lấy tài sản của ông Khiếu Nhàn (ông ngoại của Bạch Tuyết) “Bà Phủ thấy con ghẻ Bạch Tuyết, từ nhỏ chí lớn, tính nết dè dặt, ít nói
ít cười mà còn là cháu ngoại Khiếu Nhàn, hễ Khiếu Nhàn qua đời rồi thì cô hưởng trọn gia tài rất lớn, nên thuở nay bà để ý gả Bạch Tuyết cho thằng cháu ruột của bà
là thẳng Đồ”
Và nhân vật bà Phủ (cô Hai Lành) ở Tiền bạc bạc tiền: “Tờ chúc ngôn làm trước
mặt nô-te đủ phép, bởi vậy tuy bà con ai cũng nghi cho bà Phủ dùng thuốc độc mà giết cha con quan Phủ đặng đoạt gia tài […]” Ở tác phẩm này, lấy bối cảnh thực
dân Pháp đang hoàn tất cuộc bình định Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, Hồ Biểu Chánh lại phơi bày mặt trái của xã hội bị đồng tiền thao túng, những cuộc tranh cử, những mối quan hệ ruột thịt và những cuộc hôn nhân bị thế lực đồng tiền chi phối Những bà phủ, những ông hội đồng bị của cải mê hoặc, rồi họ lại vịn vào
sự vững chắc của đồng tiền để chà đạp người khác, đánh mất tình nghĩa – giá trị tốt
đẹp vốn có của một con người Nam Bộ Trong “Tiền bạc bạc tiền”, cuộc tranh cử
chức Hội đồng Quản hạt như một cuộc đua tài sản của các ông lớn, đến mức Lý
Thiên Thành – một người “có tài học rộng lại có danh nhiều” “thấy thái độ cử tri
hèn hạ, ai cũng quyết đem quyền bỏ thăm ra mà bán, chớ không biết dùng quyền ấy
mà lại người xứng đáng đặng bầu cử để thay lo cho những việc ích quốc lợi dân, bởi vậy anh ta thối chí ngã lòng, còn vài ngày nữa bỏ thăm, anh ta cáo thối không thèm tranh nữa”
Mặt khác, Hồ Biểu Chánh cũng không phủ nhận giá trị của đồng tiền, thông qua việc ông để các nhân vật tuy tốt đẹp, thiện lương nhưng lại sống trong nghèo khó, không có tiền nên chẳng thể có được hạnh phúc trọn vẹn, như vợ chồng Bạch Tuyết, Chí Đại trong Ai làm được, Chí Ðại không tìm được việc làm vững chắc, vợ chồng thiếu trước hụt sau, nợ nần không trả nổi Bạch Tuyết trong hoàn cảnh đó lại
có thai, sinh con, nhưng con họ phải chịu đói, đau ốm rồi chết vì không có tiền thuốc thang chạy chữa Hoàn cảnh đáng thương, vô cùng bi đát đó là thực tế đời sống – xã hội của người dân Nam Bộ lúc bấy giờ Người chân chất hiền lành, không
Trang 15tiền, nghèo khó thì cuộc sống cơ cực, người bị đồng tiền che mờ mắt thì tâm địa đa đoan, tính toán khéo léo thậm chí là ác độc, đánh mất nhân nghĩa…
Có thể nói, những biến động trong đời sống – xã hội của Nam Bộ đều được
Hồ Biểu Chánh nắm bắt và phản ánh rất kịp thời, đầy đủ và tương đối chân thực Thông qua việc lựa chọn bối cảnh Nam Bộ làm bối cảnh diễn ra câu chuyện của mình, những tồn tại xã hội đương thời được nhà văn ghi nhận, phản ánh trực tiếp vào trong các tác phẩm Từ đó giúp cho người đọc thấy được mọi sự biến đổi của vùng đất Nam Bộ không chỉ ở thành thị mà còn ở cả nông thôn, sự biến đổi trong từng giai cấp, từng tầng lớp trong xã hội
2.2 Thể hiện qua tính cách nhân vật
2.2.1 Con người Nam Bộ coi trọng tình nghĩa hơn tiền bạc
Bên cạnh việc xây dựng bối cảnh xã hội – đời sống ở Nam Bộ, Hồ Biều Chánh còn thông qua việc xây dựng tính cách nhân vật để thể hiện cá tính riêng của vùng đất này Người Nam Bộ trong xã hội thực tế lẫn người Nam Bộ trên những trang sách đều cùng chung tính cách thân thiện, gần gũi, có lòng thương người, trọng tình trọng nghĩa Họ có thể thoải mái tiếp chuyện với người lạ, kiên nhẫn nghe người khác chia sẻ nỗi khổ riêng, sau đó nếu có khả năng giúp đỡ thì sẽ liền hỗ trợ ngay lập tức, người dân Nam Bộ đối đãi với nhau theo cái cách tự nhiên đến mức tưởng chừng như đã thân thiết từ lâu
Trong tác phẩm Ngọn cỏ gió đùa, nhân vật Lê Văn Đó đã khai hoang Cần
Đước, xây dựng sự nghiệp lớn mạnh rồi lấy đó làm nền tảng cưu mang bà con tứ
xứ Trong chuyện của Lý Ánh Nguyệt, rõ ràng giữa ông và Ánh Nguyệt không hề
có một mối dây liên kết, Ánh Nguyệt chỉ vì nghe ông là người thiện lương, sẵn sàng đón nhận người cùng khổ nên tìm đến để nương nhờ Nhưng chỉ vì ông không biết, không giúp cô được kịp thời dẫn đến những chuyện không may, thân cô đã mang bệnh lại càng thêm nguy kịch Sau khi Ánh Nguyệt mất, ông trực tiếp đến đón Thu Vân – con gái của Ánh Nguyệt đang nương nhờ ở đậu nhà người, thay cô nuôi nấng và yêu thương Thu Vân đến khi gả được cô bé cho nhà đàng hoàng
Trang 16Bên cạnh đó, chúng ta cũng không thể bỏ qua được nhân vật Ông sáu Thới, tuy ông chỉ là láng giềng của Ánh Nguyệt, song luôn nhiệt tình giúp đỡ cô, từ việc đưa cô lên Gia Định tìm cha đến khi cô bị phụ bạc buộc phải trở về quê cũ, ông đã
an ủi và chăm sóc cô hết lòng như đối đãi với con cháu ruột thịt Ngoài ra, ông cũng
là người đồng hành với Lê Văn Đó trong những buổi đầu nuôi nấng Thu Vân
Một nhân vật khác trong tác phẩm này cũng thể hiện khá rõ đức tính trọng nghĩa khinh tài, từng lời nói hành động của người này đều toát lên sự thấu hiểu, biết nghĩ cho người khác, phân rõ đúng sai – Vương Thể Phụng Cậu trai trẻ trải qua tuổi thơ không có cha mẹ thì đột nhiên biết tin cha mình còn sống Tuy giận dỗi vì cha còn sống mà không về tìm mình nhưng Thể Phụng vẫn dò đường đến chỗ của ông Ngay sau khi tỏ tường chuyện cũ với nhiều sự hiểu lầm lớn, Thể Phụng liền bày tỏ mong muốn ở lại bên cha, dùng hết thời gian còn lại của mình để làm tròn hiếu đạo Mặc cho cha cậu khuyên đừng tới lui nữa mà hãy trở về nhà với ông ngoại, tránh để ông giận mà từ mặt, ngày sau không được hưởng gia tài, Thể Phụng
đã đáp lại rằng: “Cha tưởng gia tài đó quí cho bằng cha hay sao Con không màng
đâu Thử đem mười cái gia tài như vậy mà đổi cha, coi con có thèm hay không mà”
Không những vậy, ở phương diện tình cảm nam nữ cậu cũng là người rất chân thành, lần đầu tiên Thể Phụng trở về sau chuyến bỏ nhà là vì để thưa với ông ngoại
muốn lấy Thu Vân: “Thưa ông, số là gần một năm nay cháu ở bên Ðịnh Tường Có
một ông già nhà nghèo mà ông có một đứa cháu gái tài học đã cao, mà nhan sắc lại đẹp nữa Cháu thấy nàng ấy cháu phải lòng, nên cháu xin kết tóc trăm năm với nàng Ông của nàng buộc cháu phải về thưa cho ông với dì hay, đặng ông với dì qua đứng chủ hôn mà cưới người ta mới gả.” Nhưng ông ngoại không những
không đồng ý mà còn chế nhạo cậu gặp phải hạng con gái không đàng hoàng và khuyên cậu nên lấy những tiểu thư đài cát khác Song Thể Phụng tiếp tục bỏ đi vì
cậu trọng chân tình, không phải Thu Vân thì không lấy “Thưa ông, bây giờ ông
cưới tiên trên trời cháu cũng không chịu Nếu cháu không cưới được nàng Thu Vân, thì cháu không thèm ai hết.”
Trang 17Tiếp theo, chúng ta đến với Ai Làm Được, một không gian ấm áp đầy tình
thương giữa người với người Đầu tiên là nhân vật Phan Chí Đại, tuy gia cảnh nghèo khó, chưa có công việc ổn định nhưng là người có học thức, xem trọng lễ nghĩa và biết suy nghĩ cho người khác, khi thấy Bạch Tuyết đòi theo mình, anh đã
ba lần bốn lượt từ chối để giữ danh tiết cho cô chứ không có lòng ham lấy con quan:
“thân tôi côi cúc, phận tôi bần cùng, đã không có thế lực, mà cũng không có tiền
tài, bởi vậy dầu thương cô tôi cũng chẳng biết làm sao giúp cô, thế thì cô theo tôi
cô đã nhơ danh mà lại không có ích gì.” Thậm chí anh cảm thấy tủi nhục khi biết
Bạch Tuyết mang theo vàng để đi cùng mình: “Cô đem vàng theo nhiều chừng nào
càng nhục thêm cho tôi nhiều chừng ấy”
Bên cạnh đó, nhân vật Bạch Tuyết cũng là một người trọng tình không kém,
cô gái này thà mang danh hư hỏng chứ không chịu sống dưới sự áp đặt của kẻ thù giết mẹ Bạch Tuyết khi bỏ nhà đi không mang theo bất kì tài sản nào của cha và mẹ
kế mua cho, chỉ đem theo tiền riêng của mình Cô không quan tâm Chí Đại sang
hèn, bày tỏ muốn trở thành người nâng khăn sửa túi cho anh: “Thầy để cho tôi đi
theo thầy, ấy là thầy cứu tôi trong cơn khốn khổ nầy, chớ phải thầy, dụ dỗ chi đó hay sao mà thầy ngại.”, chẳng mảy may để ý chồng mình nghèo khó, gia cảnh bần
cùng đói khổ, cô vẫn đồng hành cùng anh, dứt khoát không chịu trở lại Cà Mau
hưởng phúc bất luận Chí Đại nằng nặc xin cô bỏ anh mà về với ông ngoại: “Em nói
thiệt nếu anh chịu về Cà Mau với em thì em mới đi, bằng không thì anh ở đâu em ở
đó, giàu nghèo chẳng cần gì.” Khoảng thời gian Chí Đại đi làm tận Ấn Độ Dương,
Bạch Tuyết một mình mưu sinh ở Sài Gòn, cô giúp đỡ Băng Tâm có nơi ăn chốn ở
dù lúc đó mặc dù chẳng biết cô ấy là ai, là người như thế nào? Đến khi hiểu rõ hoàn
cảnh của Băng Tâm, Bạch Tuyết đã giữ Băng Tâm lại chỗ mình: “Thôi, cô ở đây
làm chị em với tôi, tôi lãnh đồ rồi hai chị em mình may với nhau, tôi tưởng có lẽ kiếm đủ tiền nuôi miệng được, chẳng cần phải đi đâu làm chi tiền”
Tiếp theo là Bạch Khiếu Nhàn, đây là nhân vật đã chiếm được cảm tình của
người đọc tác phẩm Ai làm được chỉ trong vài trang đầu quyển sách với hình ảnh
lão niên hiền lành, đức độ, không phân sang hèn, thích giúp đỡ người khác Bạch
Trang 18Khiếu Nhàn xem trọng tài học của Chí Đại, không những tự chủ động làm quen rồi mời anh về nhà mình cơm nước, ngủ nghỉ, ông còn hỗ trợ công việc, đối đãi anh như con cháu trong nhà, có lòng tính gả Bạch Tuyết cho Chí Đại dù hai bên chẳng
hề môn đăng hộ đối Về sau, Bạch Khiếu Nhàn quyết định hùn vốn với ông buôn Lâm Liễn Thành nhằm tạo cơ sở cho Chí Đại đi làm ở Ấn Độ Dương đặng anh không nghĩ mình được thương hại, khi Chí Đại trở về và bày tỏ mong muốn có thể
trả lại cho ông cả vốn lẫn lời thì Bạch Khiếu Nhàn lập tức từ chối, bảo rằng: “Ðể
ông nói cho mấy cháu nghe, gia tài của ông đây là gia tài của vợ chồng Chí Ðại Ông đã cho nó một muôn đồng bạc đặng giúp nó hùn buôn bán, nay có lời nhiều nó không chịu lấy, nó trả vốn mà cũng trả lời cho ông nữa Như có lấy thì ông lấy vốn lại thôi chớ có lẽ nào lấy tới lời nữa Mà ông lấy vốn thì lấy cất đó cho vợ chồng
nó, chớ lấy rồi đem đi đâu ”
Cuối cùng, chúng ta cũng không thể quên đi hai nhân vật Băng Tâm và Trường Khanh, trong tình cảnh Bạch Tuyết mang bệnh dần trở nặng, hai người họ
đã ngày đêm chăm sóc cô cho đến khi bà Phủ - mẹ kế của cùng cha cô ngồi tàu lên Sài Gòn để đưa người trở lại Cà Mau Đối diện với người đàn bà độc ác đã được Bạch Tuyết cảnh báo, một bên Băng Tâm đi theo chăm nom cô suốt chặng đường, bên còn lại là Trường Khanh nhanh trí chạy về Cà Mau trước để báo tin cho Bạch Khiếu Nhàn nhằm kịp thời ngăn chặn rủi ro ảnh hưởng đến tính mạng Bạch Tuyết
Dù quen biết không lâu nhưng họ đều ra sức bảo vệ Bạch Tuyết hết mình, nghĩa tình đáng quý
Tiếp theo, chúng ta bước vào tác phẩm Tiền bạc bạc tiền để gặp gỡ những
con người bị cuốn vào vòng xoáy xã hội chỉ biết danh lợi đi đầu nhưng họ vẫn giữ được cái nghĩa giản đơn của tấm chân tình Đầu tiên là nhân vật Đỗ Bá Kỳ với hình ảnh chàng thanh niên trẻ tài đức vẹn toàn, anh không xem thường người bạn Hiếu Liêm phận nghèo, vừa là bạn tốt vừa có “tham vọng” gả em gái mình là Thanh Kiều
cho Hiếu Liêm, bởi anh coi trọng tài năng, nhân cách của Hiếu Liêm: “Bạn ôi! Tôi
vẫn biết tánh bạn cứng, chí bạn cao, dầu bạn không được vào làm rể nhà tôi thì bạn cũng không tiếc gì, nhưng mà theo phận tôi, thì tôi tiếc lắm…” Nhân vật Hiếu
Trang 19Liêm là người học rộng có tài, song khiêm tốn, hiếu thảo, có lòng tự trọng cao Anh chơi với Bá Kỳ là công tử nhà giàu nhưng không màng tài sản nhà bạn, anh bị ông
bà Bá Vạn, Đỗ Thị chê nghèo không muốn gả con gái, ngoài mặt tuy không tỏ vẻ gì nhưng trong lòng anh có thương Thanh Kiều, song thương cũng không phải vì
muốn hưởng của nhà vợ, anh nói mẹ mình rằng: “Con thương Thanh Kiều là vì nết
vì hạnh, chớ tiền bạc mà sá gì.”, về sau khi hội ngộ Thanh Kiều, cô nói anh vốn đã
nghèo còn nuôi thêm cô chi cực thân, Hiếu Liêm liền giận dữ mà rằng: “Cưới vợ là
kết nhơn nghĩa, chớ không phải cầu lợi ích Tôi cưới vợ là tính nuôi vợ, chớ không phải tính vợ nuôi” Ngoài ra em gái Bá Kỳ - nhân vật Thanh Kiều cũng cùng chung
tư tưởng giống anh mình, cô có ý với Hiếu Liêm vì quý anh là chính nhân quân tử chứ không hề xem trọng tiền tài như mẹ mình và chị gái, tỏ rõ thái độ không muốn
lấy chồng giàu theo sự sắp đặt của cô mình là bà Phủ:“…Thân con là con gái, nếu
phải lấy chồng thì chọn nơi nhơn nghĩa, chớ có phải bán thân hay sao mà lựa chỗ nhiều tiền” Khi Đỗ Thị có ý định lấy chồng khác để hưởng sang giàu, Thanh Kiều
nói rằng:“Con nhớ ba con, con tủi trong lòng, con làm sao mà vui cho đặng Má
muốn thế nào tự ý má, chứ con biết sao mà dám nói”
2.2.2 Con người Nam Bộ hiếu khách, sống rộng rãi
Thuở xưa đến nay, Nam Bộ vốn là nơi “đất rộng người thưa”, quanh năm cây trái xum xuê, phù sa màu mỡ, thiên nhiên ưu đãi, đời sống của dân đất này thường được coi là tương đối “dư dả” về mặt lương thực Chính sự sung túc như thế cùng bản chất tốt bụng, hào phóng của người dân đã hình thành nên nét đẹp văn hóa giao đãi đặc biệt, góp phần tạo nên một cá tính nổi bật ở con người Nam Bộ Người dân Nam Bộ sống thân thiện, thoải mái, họ lúc nào cũng vui vẻ, niềm nở, có dịp liền mời mọc nhau hoặc là mời khách phương xa tới nhà ăn uống, thậm chí là ngủ lại qua đêm nhưng hoàn toàn không cảm thấy phiền hà hay khó chịu Thế nên, sự rộng rãi và lòng hiếu khách nổi bật này của con người nơi đây xuất hiện trong các tiểu thuyết viết về Nam Bộ của Hồ Biểu Chánh là điều đương nhiên
Trong tác phẩm Tiền bạc bạc tiền, khi hay tin Bà Kỳ cùng bạn là Hiếu Liêm
về nhà báo tin thi đậu, cha của Bá Kỳ là ông Bá Vạn đã mời Hiếu Liêm ở lại nhà ăn
Trang 20tiệc: “Hồi trưa thầy nghe thằng Bá Kỳ nó nói chắc nó đậu, nên thầy cũng biểu gia
dịch nấu cơm Tây đặng thầy ăn mừng cho nó Sẵn có cháu ghé lại đây, thôi cháu ở đây ăn cơm với thầy, để thầy biểu xe hơi vô nhà cho chị hay và mời chị ra đây mà
dự tiệc chung cho vui” Có thể thấy được rằng Bá Vạn rất niềm nở đón tiếp Hiếu
Liêm, thậm chí ông còn cho cả xe vào nhà để rước mẹ Hiếu Liêm ra chung vui cùng gia đình mình Khi Bá Kỳ đi học từ Hà Nội về, không muốn ở lại nhà cô mà ngỏ ý
xin ở đậu nhà Hiếu Liêm, Hiếu Liêm và mẹ cũng đã vui vẻ đón tiếp anh: “Hai
người mừng rỡ rồi dắt nhau về nhà Hiếu Liêm Cao Thị chào mừng rồi lo dọn cơm” Ngoài ra, Hồ Biểu Chánh còn thể hiện cá tính này của người Nam Bộ thông
qua nhân vật bà Hai trong Ngọn cỏ gió đùa, khi nhân vật Lê Văn Đó đến nhà và xin
được nương nhờ, bà chỉ hỏi ông họ tên và từ đâu tới, rồi cứ thế cho vào ở, giúp đỡ
ông rất nhiều Còn trong Ai làm được, nhân vật Bạch Khiếu Nhàn đã mời cậu thanh
niên Phan Chí Đại về nhà mình làm khách, hỏi han an cần họ tên, tuổi tác, người thân của anh Sau đó ông sắp xếp mọi thứ từ ăn uống, ngủ nghỉ để Chí Đại qua đêm:
“Tôi có biểu bọn trẻ dọn chỗ cho trò em rồi đây”
2.2.3 Con người Nam Bộ thật thà, thẳng thắn
Một trong những nét nổi bật mà chúng tôi cảm thấy cần được nhắc đến nhất của người dân vùng đất Nam Bộ chính là tính cách đơn giản, ruột để ngoài da, trong bụng nghĩ sao nói vậy Con người Nam Bộ khi giao tiếp thường rất bộc trực, vô tư,
họ không kiểu cách, cẩn thận, không rào trước đón sau Nhà văn Hồ Biểu Chánh đã lựa chọn cá tính này để xây dựng các nhân vật trong tác phẩm của mình, làm cho nhân vật chiếm được cảm tình của người đọc không chỉ vì hoàn cảnh, đời sống mà còn là vì cách sống đơn thuần, thẳng thắn, thật thà của nhân vật Điều này đồng thời cũng thể hiện phần nào cá tính Nam Bộ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh
Ở Ngọn cỏ gió đùa, khi Lý Ánh Nguyệt bị ông Phạm Kỳ xử oan, Lê Văn đó
đã trực tiếp đứng ra đôi co với quan để mang lẽ phải về cho cô:“Nó đờn mướn chứ
không có làm đĩ Ông xử như vậy thì hiếp nó Huống chi Trịnh Tường ỷ giàu, ỷ sang, ỷ thế làm nhục nó, nó cự, lại đánh đạp nó rồi xô nó xuống sông Trịnh Tường
đã vô lễ, bất nhơn, lại tàn bạo, lẽ ra ông phải bắt Trịnh Tường mà trị tội, sao ông tư
Trang 21vị, nhà giàu ông không nói tới, lại đi theo bắt mà làm hại một người đờn bà nghèo hèn bị tai nạn như vầy Tôi nói cho ông biết, nếu ông bắt con nầy thì tôi phải lên tỉnh mà cáo ông, vì tôi không đành để cho ông làm hại một ngưởi nghèo hèn vô tội” Những lời nói này của Lê Văn Đó đã khiến cho Phạm Kỷ tim đập chân run,
mặt mày tái mét
Khi Ánh Nguyệt qua đời, Lê Văn Đó lại một lần nữa thể hiện sự bộc trực
trong người mình qua câu nói “Bây là quân khốn nạn! Bây giết con Ánh Nguyệt đó
thấy chưa?” Và cũng trong trong tác phẩm này, sự thẳng thắng của con người Nam
Bộ tiếp tục được thể hiện qua đoạn hội thoại của cặp đôi cha vợ Đàm Tự Chấn và con rể Vương Thể Hùng Chuyện là Thể Hùng xin ông Tự Chấn để mình rời nhà đi theo Lê văn Duyệt khởi nghĩa, ông Tự Chấn lo rằng Thể Hùng đi theo tả quân thì sẽ
bị triều đình chém đầu Thế nhưng Thể Hùng không sợ hãi chi, đáp: “Hứ! Có giỏi
chém rồi thì đây sẽ chém! Ông Khôi đã giết hết rồi, còn gì mà chém được nữa”
Song, dù con rể đã nói thế nhưng ông Tự Chấn vẫn không hài lòng mà rằng:“Mày
giỏi thì mày đi theo quân phản tặc đó mà nhờ” Có thể thấy cuộc trò chuyện, hai
cha con đã không hề ngần ngại mà nói ra những gì trong đầu họ nghĩ, không khéo
léo ẩn ý điều gì mà đơn giản là “lời sao ý vậy” Hay như trong Ai làm được, Lý Trường Khanh đã nói với Quan Phủ:“Thưa ông, người ta sao lại không biết thương
con! Nhưng ông thương chị tôi đây ông lại quyết giết chị tôi chết cho mau, thế thì cái thương đó hại hơn là cái ghét nữa” để phản đối việc ông ta đưa Bạch Tuyết
đang bệnh nặng về Cà Mau, thẳng thắn nói ra lòng mình mà không hề ngần ngại
việc Quan Phủ thuộc bậc cha chú Còn trong Tiền bạc bạc tiền, biết rằng gia tài của
người cô là do làm chuyện xấu mà có cũng như hay tin má mình định sang ở đậu
nhà cô ấy, Bá Kỳ đã tức giận nói: “Má đã đến nước nầy mà còn mê mùi giàu sang
Đồng bạc của cô Phủ là đồng bạc bất nhơn, má ăn làm gì”, sau này khi má mình và
cô Phủ mất, Bá Kỳ nói chuyện mình không tham gia ăn chia tài sản với Hiếu Liêm
và rằng:“…Tại ý tôi không muốn ăn gia tài bất nghĩa đó”
Trang 222.2.4 Con người Nam Bộ dễ thích nghi với môi trường sống mới
Nam Bộ luôn được biết đến là vùng đất được khai phá sau di dân, vừa trù phú, đa dạng, vừa có sự hòa hợp của nhiều dân tộc khác nhau cùng chung sống Trước đây vốn thuộc lãnh thổ của nước Phù Nam, sau đó thuộc lãnh thổ nước Chân Lạp (thế kỷ VII – XVI), nhưng từ thế kỷ XVII, Nam Bộ chào đón và nuôi sống rất nhiều người từ phía Bắc vào ở Bởi xuất phát từ những cuộc di dân đã nói trên nên người miền Nam khá dễ dàng trong việc thích nghi với những môi trường sống mới,
họ linh hoạt, không ngại đi xứ này xứ nọ để làm ăn và hòa hợp rất nhanh với những địa phương khác nhau Thế nên không lạ gì khi những con người có gốc Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh đã chẳng hề ngần ngại trong việc di chuyển cũng như thay đổi vùng đất sống
Ví như nhân vật Lê Văn Đó trong Ngọn cỏ gió đùa, sau khi trốn khỏi nhà tù
và trở về thăm mộ mẹ ở quê nhà thì ông đã quyết định ở lại Cần Đước làm ăn sinh sống Sau này khi đón được Thu Vân thì ông lại mang Thu Vân đến đất Định Tường ở Cùng đồng hành với Lê Văn Đó còn có ông Sáu Thới, ông Sáu đã bỏ lại vùng đất mình đã gắn bó mấy mươi năm cuộc đời để giúp đỡ Lê Văn Đó nuôi nấng
Thu Vân, không hề do dự Còn trong tác phẩm Ai làm được, Lê Bạch Tuyết và Phan
Chí Đại đã cùng nhau lên Sài Gòn lập nghiệp, dù cả hai gặp rất nhiều khó khăn nhưng vẫn nhanh chóng thích nghi được với cuộc sống mới
2.2.5 Phụ nữ Nam Bộ: địa vị cao và sống phóng khoáng
Trong một số tài liệu lịch sử, tổ tiên chúng ta đã có cuộc di dân vào đất Nam Ban đầu, họ chỉ sống ở những nơi mà người Miên đã bỏ đi, sau này chúng ta liền trực tiếp đến những khu vực của người Miên sinh sống, ta đến đâu thì họ lùi đến đó Đời sống của người Việt ta và người Miên vì vậy có những nét giao thoa về văn hóa Trong xã hội của người Miên, người phụ nữ có vai vế khá cao và điều này ít nhiều cũng ảnh hưởng đến văn hóa người Việt đang sinh sống tại vùng đất Nam Bộ
Người phụ nữ Nam Bộ ít nhiều vẫn có tiếng nói của mình, được nói lên những điều mà lòng mình đang nghĩ Trong gia đình, tiếng nói của người phụ nữ
Trang 23được lắng nghe và thậm chí có thể thuyết phục được người đàn ông làm theo ý
mình Như nhân vật bà Phủ (mẹ kế của Bạch Tuyết) trong Ai làm được đã thuyết phục thành công Quan Phủ gả Bạch Tuyết cho cháu bà, “Quan Phủ nghe bà thỏ thẻ
mới vài ngày mà ông đã đổi ý, nên chịu gả con cho cháu” Và không chỉ bà Phủ,
Đỗ Thị Đào (vợ Bá Vạn) trong “Tiền bạc bạc tiền” cũng đã khiến chồng nghe lời
mình mà đi ra tranh cử, “Ông Bá Vạn bổn tính không chịu se sua” mà vì bà vợ có
máu hiếu danh, cứ theo nói hoài nên lâu ngày chầy tháng, ông Bá Vạn cũng nhiễm theo ý kiến của vợ nên mới quyết kỳ tuyển cử gần tới đây sẽ ra tranh cử Hội đồng Quản
Không chỉ có địa vị khá cao trong gia đình mà trong đời sống xã hội, người phụ nữ Nam Bộ cũng không bị bó buộc quá nhiều bởi các định kiến Điển hình là trong vấn đề tái giá, người phụ nữ Nam Bộ có thể tự do đi thêm bước nữa mà không phải chịu nhiều lời sỉ nhục, chê trách hay dị nghị nào của người đời mà thậm chí
còn được ủng hộ Trong Tiền bạc bạc tiền, Bà Phủ Khánh Long – chị ông Bá Vạn
đã nói với Đỗ Thị rằng “Tao coi mày thạo việc đời chút đỉnh, nếu mày ưng ổng thì
thân mày sẽ sung sướng, mà có lẽ sấp con của mày cũng nhờ nhiều được” Hay
trong Ngọn cỏ gió đùa, nhân vật Thị Phi sau khi nghe Ánh Nguyệt kể chuyện bị Hải Yến bội bạc đã an ủi và khuyên Ánh Nguyệt rằng “Để thủng thẳng thím coi chỗ
nào giàu có, thím làm mai giùm cho mà nhờ tấm thân”
Ngoài ra, trong vấn đề tình cảm nam nữ, nếu so sánh với các miền ngoài thì chúng tôi cảm thấy ít nhất là trong ba tác phẩm lấy bối cảnh Nam Bộ đã khảo sát, người phụ nữ miền Nam có phần thoải mái khi biểu lộ tâm tư tình cảm của mình, không những vậy mà còn chủ động làm theo những gì trái tim mách bảo Chúng ta
có thể thấy một Từ Thu Vân vì Thể Phụng mà mất ăn mất ngủ, càng thấy rõ ở em
gái cậu Bá Kỳ - cô Thanh Kiều dũng cảm nói rằng: “Em đã nhứt nguyện không lấy
chồng, bởi vậy dầu ai đem một xe hơi hột xoàn mà cưới em cũng không vui nữa”
Song, bên cạnh thừa nhận yêu thích, các cô gái cũng mạnh dạn bày tỏ sự chán ghét của mình đối với những người không ưng, như Lý Ánh Nguyệt năm lần
bảy lượt không chịu Từ Hải Yến: “Cậu là con nhà học trò, chớ phải là đồ thất phu
Trang 24hay sao mà cậu vô lễ như vầy… Tôi nói cho cậu biết, tuy thân phận tôi nghèo hèn mặc dầu song tôi trọng danh giá của tôi lắm, thà là tôi chết, chớ tôi không để cho ai làm nhơ danh tôi đâu” Bạch Tuyết không ngại nói với cha mình không ưng cháu
trai của mẹ kế: “Con thưa thiệt, có lỗi với cha thì con chịu lỗi, chớ nếu cha gả
bướng thì con tự vận con chết theo mẹ con.” Theo như Lý Trường Khanh kể lại với
Bạch Tuyết, Băng Tâm thà tự vẫn thành xác trôi sông cũng không trao thân: “Em
đem cho cậu mợ cô một trăm đồng bạc mà năn nỉ thuận tình ban đêm mở cửa cho
em vô nhà mà ngủ với cô… em cũng tưởng con nhà nghèo hễ cho tiền nhiều thì nó chịu, chớ không có khó gì, nào dè cô rầy la om sòm rồi lại nhảy xuống sông muốn
về xã hội và con người Nam Bộ đầy mộc mạc, thân thương mà bên cạnh đó còn thấy rõ một lượng lớn vốn từ địa phương của giới bình dân Nam Bộ mà ông sử dụng Dưới đây, chúng tôi đã thử tìm hiểu về phương ngữ Nam Bộ được tác giả Hồ Biểu Chánh đưa vào các tiểu thuyết của mình Qua các cách sử dụng từ ngữ, hành văn theo lối nói Nam Bộ, nhà văn thể hiện được cách sống của mình có sự kết nối đặc biệt với con người và mảnh đất nơi đây
Về khái niệm, phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân thông dụng hay với một phương ngữ khác Có thể hiểu, phương ngữ là dạng ngôn ngữ hình thành từ cuộc sống và phản ánh cuộc sống của từng địa phương khác nhau về kinh tế, văn hóa khác nhau Ở Việt Nam chủ yếu có ba vùng phương ngữ chính: phương ngữ Bắc bộ, phương ngữ Trung bộ, phương ngữ Nam
Trang 25Bộ Các phương ngữ này khác nhau chủ yếu ở ngữ âm, từ vựng Phương ngữ Nam
Bộ có những nét khu biệt với phương ngữ Bắc bộ hay Trung bộ
Có một số từ ngữ ở miền Bắc, miền Trung gọi bằng một tên, như thuyền hay đò thì ở Nam Bộ lại có nhiều tên gọi khác nhau để chỉ rõ đặc trưng, công dụng, kích cỡ của mỗi loại khi tham gia giao thông đường thủy, như: tàu, ghe Riêng loại “ghe” có rất nhiều tên gọi: ghe bầu, ghe cửa, ghe giàn, ghe ngo, xuồng ba
lá, vỏ lãi, tắc ráng,… Hay, nếu phần lớn các tỉnh phía Bắc gọi cha mẹ, bố mẹ, thầy u,… thì ở Nam Bộ gọi là cha mẹ, ba má, tía dú, nếu ở phía Bắc gọi hổ thì về vùng Nam Bộ lại có các têm gọi như: hùm, cọp, ông ba mươi,
Người dân Nam Bộ thường được biết đến là phóng khoáng, nồng hậu, rất dễ gần gũi và kết thân Cá tính ấy được thể hiện rõ nét qua lối giao đãi và ăn sâu vào lời ăn tiếng nói của con người xứ này Là người con của vùng đất Nam Bộ nên trong văn chương Hồ Biểu Chánh mang đậm đà phương ngữ địa phương, mà phần lớn thấy được các lời văn ấy xuất phát từ chính phát âm của con người phía Nam Xét về phương diện ngữ âm, các tác phẩm của ông mang đậm nét cải biến của ngôn ngữ Nam Bộ, đặc biệt là sự thay đổi âm vị ở vị trí âm chính của người dân Nam Bộ,
như từ âm “a” sang âm “ươ”, từ âm “â” sang âm “ơ”/ “ư”, từ âm “i” sang âm “a”,
từ âm “ê” sáng âm “i” Bên cạnh đó, còn có sự cải biến từ vần “uyên” sang vần
“iên”, hay xu hướng đồng hóa những phụ âm đầu với nhau như: “tr” thành “gi”/
“ch”, “r/gi” thành “d” Ví dụ: chơn thật (chân thật), nhơn nghĩa (nhân nghĩa), khai
sanh (khai sinh), chánh đáng (chính đáng), chính chiên (chính chuyên), giời (trời), thăm bịnh (thăm bệnh), dọi (rọi), dùm (giùm),… Trích lời nói của Bá Vạn trong
đoạn đối thoại với Bá Kỳ và Hiếu Liêm từ tác phẩm Tiền bạc bạc tiền: “Cháu là anh
em bạn bè thân thiết của thằng Bá Kỳ, tuy cháu ở bên trường Sư Phạm còn nó ở bên
trường Bổn Quốc, mà mấy năm nay hễ chúa nhựt cùng là bãi trường thì hai đứa bây
khảo dượt, chơi bời với nhau như anh em ruột Nay hai đứa bây thi bằng tốt nghiệp
đậu hết cả hai, mà cháu là con nhà nghèo lại giựt được giải nhứt, nên thầy mừng
mà cũng khen cháu lắm.” Hay trong Ngọn cỏ gió đùa ở đoạn đầu cũng có đoạn
thoại: “…rồi sao mầy lại dám giựt cháo heo của người ta mà chạy…” Và nhiều
Trang 26đoạn đối thoại khác trong các tác phẩm được khảo sát cũng xuất hiện các từ như
vậy, bên cạnh việc thay đổi âm “â” thành “ư” còn có một từ khác như “đang” viết
là “đương”, “sinh” viết là “sanh”, “nấp” viết là “núp”, “chân chính” thì được viết là
“chơn chánh”, “chứ” viết là “chớ”…
“Ðêm nay nàng ngồi đương ngó giọt mưa, đương nghe tiếng dế, bỗng chút
cái thai trong bụng nàng máy động, làm cho nàng giựt mình, lật đật lấy tay
mà rờ, rồi miệng chúm chím cười.” (Ngọn cỏ gió đùa)
“Ngài nói như vậy song không cho Khiếu Nhàn thấy mặt cháu Khiếu Nhàn
hỏi thăm chứng bịnh và hỏi thăm chuyện đi dọc đàng một hồi rồi xin rước
Bạch Tuyết về nuôi Quan Phủ lặng thinh, không nhứt định.” (Ai làm được)
“Khi ông dừng chơn đứng coi sắp nhỏ lội đua, khi ông mỉm cười bầy chó
rượt nhau cắn lộn.” (Ai làm được)
“Chí Ðại làm vừa được một năm thì quan Phủ xin tăng lương thêm mỗi
tháng mười lăm đồng, lại cậy Chí Ðại mỗi chúa nhựt qua dinh dạy dùm con
trai nhỏ của ông học chữ quốc ngữ.” (Ai làm được)
“Từ đây người xa kẻ gần chẳng ai dám kêu “Cô Hai Lành” nữa, thảy đều
kêu là "Bà Phủ Khánh Long", làm cho người lương thiện chơn chánh, ai
cũng lắc đầu, ai cũng trách thói văn minh tà mị dị thường, mới hôm qua còn bán phấn mua son, mà bữa nay lại làm bà Huyện, bà Phủ.” (Tiền bạc bạc tiền)
Một số từ phổ biến khác có lối đọc viết thay đổi không theo cách phát âm nhưng vẫn mang nghĩa tương đồng với các từ chuẩn như: “đặng” mang nghĩa là được hoặc để, “rầy” mang nghĩa là la mắng, “hết thảy” là hết tất cả, “cùng mình”
tức là đầy mình, “cẳng” tức là bộ phận chân Như trong câu thoại “Nay trò em
niên kỷ đặng bao nhiêu?” (Ai làm được) thì đặng này có nghĩa là được, ý hỏi được
bao nhiêu tuổi, còn trong câu thoại “Ông Nhiêu Lang là anh em bạn thiết của ông
thân cháu thấy vậy động lòng, mới cho lúa cho mẹ con cháu ăn rồi giúp tiền cho mẹ
cháu làm vốn mua bán trầu cau đặng kiếm lời độ nhựt.” (Ai làm được) thì “đặng”
Trang 27lại có nghĩa là để làm một cái gì đó Một số ví dụ khác: “Má phải rầy chị Hai mới
được.”; “Anh ở Ðất Hộ đi làm việc dưới Thượng thơ, ảnh hà tiện đến nỗi không
dám đi xe lửa, cứ kéo cẳng đi bộ hoài”; “sớm mai bận màu nầy, chiều bận màu khác, khăn choàng hầu mua tới mười hai đồng một cái, sắm hột xoàn đeo cùng
mình” (Tiền bạc bạc tiền) Sở dĩ, cách viết như vậy phổ biến là vì nó thuận cách
đọc với người dân Nam Bộ thời bấy giờ mà Hồ Biểu Chánh là một nhà văn hướng đến thị hiếu của công chúng bạn đọc nên các tác phẩm của ông dày đặc các từ ngữ với lối phương âm địa phương Nam Bộ nhằm giúp người đọc dễ tiếp nhận hơn
Thêm vào đó, việc phát âm thanh ngã và thanh hỏi bị trùng làm một cũng là một đặc trưng trong lối nói của người dân vùng Nam Bộ Vì thế nên, trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh hay bắt gặp được những trường hợp “viết sai chính tả” như thế
“[…] công việc làm chẳng hề để trể nải, hễ có quan Lang sa đến thì anh ta
thông ngôn, hễ có giấy tờ chi bằng chữ Lang sa thì anh ta cắt nghĩa, bởi vậy quan Phủ càng ngày càng trọng dụng, các việc cho Chí Ðại coi sóc hết thảy.” (Ai làm được)
Đi sâu vào các tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh, ông sử dụng phần lớn các phương ngữ Nam Bộ trong lối kể chuyện của mình
“Người trai ấy viết ít chữ rồi ngó sững phía ngoài đường, ngó rồi day vô
viết, rồi lại ngâm nho nhỏ Chú Lỳ rót một chén nước trà nóng đem lại mời
Khiếu Nhàn uống Khiếu Nhàn tay bưng chén nước mà mắt ngó người trai
ấy hoài.” (Ai làm được)
“Nàng Kim Diệp ngó con mà cười song nếu ai coi cho kỹ thì ắt thấy vẻ cười của nàng có xen lộn nét lo Nàng liếc mắt dòm cha, rồi lại ngó ra trước cửa,
bộ coi lơ lửng dường như trông ai đợi ai Cách chẳng bao lâu Vương Thể
Hùng ở ngoài hàng rào bước vô sân, thấy vợ con đương đứng trước cửa thì
chúm chím cười” (Ngọn cỏ gió đùa)
Trang 28Các từ “dòm”, “ngó” đều chỉ cách “nhìn” theo phương ngữ toàn dân, trong
đó “dòm” có nghĩa là nhìn, trông một cách chú ý (Huỳnh Công Tín 2007: 453), còn
“ngó” tức là nhìn, trông, xem về một hướng nào đó để quan sát (Huỳnh Công Tín 2007: 877)
Về phương diện từ vựng, người đọc có thể thấy nét đặc sắc riêng trong các tác phẩm của ông Đó chính là các từ ngữ phản ánh nét đặc trưng của con người Nam Bộ, những từ mà nếu không tìm hiểu về con người miền Nam thì khó lòng mà hiểu được văn phong của ông Các từ chỉ sự vật như: trâu cò (trâu trắng), trã cháo (nồi cháo, kiểu nồi đất rộng miệng), trại đáy (dụng cụ bằng lưới hình loa dùng bắt
cá tôm), đước, bần, Các từ ngữ chỉ hành động, trạng thái, tính chất, như: van vầy (van xin), cậy (mượn), nhảy xoi xói (nhảy liên tục), dùn mình (rùng mình, thân thể
cử động mạnh và bất ngờ), ngoai rạch (cuộn tròn), thon von (đơn độc), mừng quýnh, chết điếng,
“Cô vừa nghe Bá Kỳ thỏ thẻ xin gả Thanh Kiều cho Hiếu Liêm thì cô thò tay
móc một cục thuốc sống mà xỉa ngoai rạch, rồi cười gằn mà nói rằng…”
(Tiền bạc bạc tiền)
“Ông Bạch Khiếu Nhàn tuổi đã quá lục tuần mà sức hãy còn mạnh khỏe Từ
khi con gái ông bất hạnh, tủi phận thon von nên ít muốn đi chơi, cứ lui cui ở
nhà hoặc sửa kiểng xem hoa, hoặc uống trà đọc sách.” (Ai làm được)
Trên một bình diện khác, Hồ Biểu Chánh là người có tài năng trong việc cài cắm các tiết đoạn miêu tả bao gồm ngoại hình nhân vật và không gian bên ngoài, phân tích tâm lý vào trong dòng trần thuật Ông đã đưa cái thực và sức mạnh của các chi tiết vào trong tác phẩm tự sự Đặc biệt, ông làm chủ được kỹ thuật nắm bắt ngôn ngữ, cử chỉ của nhân vật để từ đó phản ánh cá tính và đời sống nội tâm nhân vật trong mạch truyện của mình Như trường hợp các từ miêu tả biểu hiện của nhân vật sau đây:
“Ở trong nhà chủ khách vui say cười hỉ hả, ở ngoài sân một người nghèo khổ bị đánh rêm mình, mà lại nhịn đói bụng xếp ve Tình cảnh nầy người có