1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tài liệu quan lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số đối tượng

30 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công Tác Quản Lý Nhà Nước Về Văn Hóa Các Dân Tộc Thiểu Số
Trường học Học Viện Dân Tộc
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 305,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dưới góc độ quản lý văn hóa, văn hóa còn được tiếp cận dưới góc nhìn: Văn hóa là sự phản ánh tư duy, lao động, sáng tạo, tình cảm của con người; là tấm gương phản ánh hình bóng con người

Trang 1

TÀI LIỆU

Bồi dưỡng kiến thức dân tộc đối với công chức, viên chức

không giữ chức vụ lãnh đạo (đối tượng 4)

Chuyên đề CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

HÀ NỘI, 2019 Chuyên đề

Trang 2

CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

1 Một số khái niệm cơ bản

a) Khái niệm văn hóa:

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa là: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày

về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh

đó tức là văn hóa.Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”1

Dưới góc độ quản lý văn hóa, văn hóa còn được tiếp cận dưới góc nhìn: Văn hóa là sự phản ánh tư duy, lao động, sáng tạo, tình cảm của con người; là tấm gương phản ánh hình bóng con người trong sự tiến hóa, đồng hành và phát triển; là biện pháp để con người khắc phục những hạn chế của mình trong thích ứng, tồn tại, phát triển trong môi trường tự nhiên và xã hội; là biện pháp để con người phát huy những ưu điểm của mình trong thích ứng, tồn tại, phát triển trong môi trường

tự nhiên và xã hội; là nhân tố củng cố và nâng cao chất lượng quản lý và tiến bộ của các Nhà nước, các tổ chức xã hội…

b) Khái niệm văn hóa các dân tộc thiểu số

Là toàn bộ những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể do các cộng đồng tộc người thiểu số sáng tạo ra trong quá trình sinh tồn và phát triển, gắn với môi trường tự nhiên và xã hội; nó phản ánh những đặc điểm trong tư duy và lao động sáng tạo của các tộc người trong các giai đoạn phát triển với các thông tin về nội hàm và ngoại diên phản ánh sự vận động nội tại và trong mối quan hệ văn hóa ở

1() Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, H.2000, Tr.431

Trang 3

cấp độ tộc người và quốc gia2.

c) Khái niệm văn hóa vùng

Nói tới văn hóa vùng là đề cập đến việc tiếp cận, nhận diện và phản ánh văn hóa theo một không gian địa lý mà ở đó có một hoặc nhiều tộc người cư trú, sinh sống sáng tạo ra các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể mang đặc trưng tộc người

và điều kiện tự nhiên mà chúng ta có thể phân biệt được với văn hóa các vùng khác.“Vùng văn hóa là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống ở đó từ lâu đời đã có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch

sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế -xã hội, giữa họ đã diễn ra

sự giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác”3

d) Khái niệm văn hóa vùng dân tộc thiểu số

Văn hóa vùng dân tộc thiểu số là đề cập đến việc tiếp cận, nhận diện và phản ánh văn hóa theo một không gian địa lý chủ yếu ở vùng miền núi có các cộng đồng tộc người thiểu số cư trú, sinh sống sáng tạo ra các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể mang đặc trưng của các tộc người thiểu số gắn với các điều kiện tự nhiên mà chúng ta có thể phân biệt được với văn hóa các vùng tộc người đa số, đồng bằng,

đô thị

e) Khái niệm quản lý nhà nước về văn hóa

Theo quan niệm chung hiện nay, Quản lý nhà nước về văn hóa là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật và bộ máy của mình, nhằm phát triển văn hoá, điều chỉnh hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức,

cá nhân trong lĩnh vực văn hóa và liên quan, với mục đích giữ gìn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây

21 Lê Ngọc Thắng (chủ biên,1997) Dân tộc học đại cương, tập II, Trường Đại học Văn

hóa Hà Nội.

3 Ngô Đức Thinh ( chủ biên, 1993), Văn hóa và phân vùng văn hóa ở Việt Nam, Nxb

KHXH, Hà Nội

Trang 4

dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Định nghĩa trên cho chúng ta thấy nội hàm quản lý nhà nước về văn hóa, gồm các thành tố hoạt động quản lý như sau:

Thứ nhất: Chủ thể quản lý nhà nước về văn hóa là Nhà nước Nhà nước Việt

Nam được tổ chức thống nhất từ trung ương đến các địa phương Quyền quản lý được phân cấp: cấp trung ương, cấp tỉnh (tỉnh và các thành phố trực thuộc trung ương), cấp huyện (huyện thuộc tỉnh, quận thuộc thành phố), cấp xã (xã thuộc huyện, phường thuộc quận) Quản lý nhà nước về văn hóa ở cấp nào thì cơ quan nhà nước cấp ấy là chủ thể quản lý Quản lý nhà nước về văn hóa ở cấp xã thì UBND xã là chủ thể quản lý nhà nước Công chức văn hoá - xã hội xã được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về văn hóa giúp UBND xã có thể được coi là chủ thể quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn xã

Thứ hai: Khách thể quản lý nhà nước về văn hóa là văn hóa và các cơ quan, tổ

chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực văn hóa hoặc có liên quan đến lĩnh vực văn hóa Văn hóa với tư cách là khách thể quản lý được hiểu theo nghĩa cụ thể là: các hoạt động văn hóa (trong đó có các dịch vụ văn hoá, hoạt động sáng tạo…) và các giá trị văn hoá (cụ thể là các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể) Mặt khác, theo

sự phân công trong hệ thống các cơ quan nhà nước các cấp, không phải toàn bộ hoạt động văn hóa hiểu theo nghĩa rộng đều do ngành văn hóa quản lý Văn hóa giáo dục, khoa học công nghệ…do cơ quan giáo dục, khoa học công nghệ quản lý

Thứ ba: Mục đích quản lý nhà nước về văn hóa là giữ gìn và phát huy những

giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Tuy nhiên, trong hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa ở từng cấp, từng địa phương, từng hoạt động cụ thể thì mục đích quản lý nhà nước về văn hóa phải được xác định cụ thể sát với yêu cầu nhiệm

vụ và hoàn cảnh cụ thể

Thứ tư: Cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về văn hóa là Hiến pháp, Luật và

các văn bản quy phạm pháp luật khác Như vậy quản lý nhà nước về văn hóa có công cụ là hệ thống luật và các văn bản có tính pháp quy Quản lý bằng pháp luật chứ không phải bằng ý chí của nhà quản lý

Trang 5

Thứ năm: Cách thức quản lý là “sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích”

chứ không phải là việc làm có tính thời vụ, cũng không phải là sự thụ động của nhà quản lý, càng không phải là hoạt động đơn lẻ, tùy tiện của nhà quản lý

Như vậy, Quản lý nhà nước về văn hoá là sử dụng quyền lực của nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người khi tham gia vào các lĩnh vực hoạt động văn hoá để ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, chương trình, kế hoạch; tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về văn bản quy phạm pháp luật; thực thi quản lý hành chính nhà nước liên quan đến văn hóa (văn bản hướng dẫn thực hiện văn bản của cấp trên, cấp phép, xử phạt, giải quyết khiếu nại, tố cáo); đào tạo, tập huấn cán bộ; thanh tra, kiểm tra; phân bổ ngân sách; tổ chức thực hiện các chính sách văn hóa

g) Khái niệm quản lý văn hóa vùng dân tộc thiểu số: Là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước về văn hóa đối với các hoạt động văn hóa và hành vi của con người trong các phạm vi, lĩnh vực và thiết chế văn hóa theo Pháp luật trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số với những giá trị, đối tượng văn hóa của cộng đồng các tộc người nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý đề ra, góp phần vào xây dựng, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Việt Nam

2 Văn hóa các dân tộc thiểu số

a) Đặc điểm văn hóa các dân tộc thiểu số

- Văn hoá các dân tộc thiểu số nước ta vừa thống nhất vừa đa dạng

Quá trình lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm và phát triển kinh tế nông nghiệp lúa nước, mở mang bờ cõi đã tạo nên tính thống nhất của cộng đồng nhiều thành phần tộc người trong văn hóa Việt Nam Đó là ý thức về một quốc gia, là sử dụng một ngôn ngữ chung- tiếng Việt làm công cụ giao tiếp, truyền đạt các văn bản pháp

lý trong quản lý nhà nước chung của nhiều thành phần dân tộc Tính thống nhất còn biểu hiện ở lối sống và ứng xử của các cư dân thuộc nền văn hóa nông nghiệp trồng trọt lúa nước, đặc biệt là tinh thần yêu nước của các dân tộc Việt Nam Từ văn hóa Đông Sơn, văn minh sông Hồng sang văn hóa Đại Việt đến văn hóa các dân tộc trong thời đại Hồ Chí Minh, đó là hệ quả của một tiến trình lịch sử hình thành và định hình bản lĩnh, bản sắc văn hóa dân tộc - quốc gia Việt Nam Đó cũng

Trang 6

chính là nguyên nhân sâu xa và trực tiếp tạo nên tính thống nhất của văn hóa Việt Nam

Tính đa dạng trước hết biểu hiện ở sắc thái văn hóa vùng với những đặc điểm riêng được sáng tạo nên bởi các nhóm cư dân, các thành phần tộc người trên vùng lãnh thổ Về cơ bản, có các vùng văn hóa như sau: Vùng văn hóa Tây Bắc, Vùng văn hóa Đông Bắc, Vùng văn hóa đồng bằng Bắc bộ, Vùng văn hóa Trường Sơn - Tây Nguyên, Vùng văn hóa duyên hải miền Trung, Vùng văn hóa Nam bộ Cũng còn có cách phân loại văn hóa vùng các tộc người theo một cách khác làm tăng tính đa dạng của văn hóa các tộc người ở nước ta như: văn hóa vùng đồng bằng châu thổ, văn hóa vùng thung lũng, văn hóa vùng chân núi, văn hóa vùng cao nguyên, văn hóa rẻo cao Đây là cách phân loại gắn với các hệ sinh thái nông nghiệp hay hệ sinh thái nhân văn Theo nhóm ngôn ngữ thì tính đa dạng lại thể hiện ở những góc độ riêng mang tính lịch sử và giao thoa văn hoá tạo nên một cá tính riêng trong bức tranh văn hoá chung của quốc gia.Văn hoá của mỗi nhóm ngôn ngữ (nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, Tày -Thái, Môn- Khmer, Nam đảo, Hán-Tạng), đều có những nét rất riêng về các giá trị văn hoá vật thể (trang phục, kiến trúc, ẩm thực ) về văn hoá phi vật thể (tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội )

Tính đa dạng còn biểu hiện ngay trong từng tộc người, nhất là những tộc người có nhiều nhóm địa phương Đối với những tộc người có nhiều nhóm địa phương như: Thái, Dao, Mông, Lô Lô, Banar đều có những sắc thái văn hoá đa dạng và phong phú Với các nhóm địa phương của các tộc người trên tính đa dạng được biểu hiện qua các giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể

Tính đa dạng còn biểu hiện ở sắc thái văn hóa tộc người trong chính từng vùng văn hóa trên Cùng một môi trường tự nhiên, điều kiện địa lý trong cùng khu vực nhưng bản thân trong mỗi vùng văn hóa trên (Tây Bắc, Đông Bắc, Nam bộ ) các tộc người có những thích ứng và sáng tạo văn hóa khác nhau về nhà cửa, trang phục, lễ hội, hôn nhân, tang ma

- Văn hóa các dân tộc thiểu số ở nước ta được hình thành và phát triển từ một nền văn hóa dân gian

Các kết quả nghiên cứu khoa học về lịch sử, khảo cổ học, dân tộc học, folklore, nhân chủng học, địa chất học, địa danh học đã cung cấp nhiều bằng chứng cụ thể về một quốc gia Việt Nam có lịch sử hàng ngàn năm, một cái nôi của

Trang 7

nhân loại về mặt sinh học và về mặt trồng trọt Không nhiều quốc gia trên thế giới

có các nền văn hóa khảo cổ học phát triển liên tục từ đồ đá-đồng-sắt Các nền văn hóa của các khối cộng đồng người từ quốc gia Văn Lang, Âu Lạc đến quốc gia Đại Việt và Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hôm nay cho thấy sự phát triển liền mạch về chính trị - xã hội và văn hóa của một quốc gia với đặc điểm khác các nước phương Tây trong thời kỳ hình thành chủ nghĩa tư bản mà mang đặc điểm riêng của một quốc gia châu Á: một quốc gia sớm ra đời do nhu cầu trị thuỷ với nền văn minh lúa nước và nhu cầu chống ngoại xâm

Chủ nhân của các nền văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, đặc biệt

là Đông Sơn; của nền văn hóa Bắc sơn, Hòa Bình, Sa Huỳnh, Óc Eo, Phù Nam, Chân Lạp là tổ tiên của cộng đồng 54 dân tộc ở nước ta Trong các làng xã, mường bản, phum sóc, plây của các dân tộc nước ta qua nhiều thế kỷ đã tồn tại một giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của cư dân nông nghiệp trồng trọt, của một thiết chế xã hội công xã nông thôn với một hệ thống các triết lý và quan niệm với nhiều hình thức sinh hoạt gắn với chu kỳ đời người, chu kỳ trồng trọt, chu kỳ thời tiết Đó là những giá trị văn hóa dân gian

Văn hóa dân gian các dân tộc thiểu số và đa số là mạch nguồn chảy suốt quá trình hình thành và phát triển của dân tộc và quốc gia, từ thời đại Hùng Vương, qua các triều đại quốc gia phong kiến độc lập đến thời đại Hồ Chí Minh Các giá trị văn hóa dân gian là “nguyên liệu” chính cùng với các giá trị văn hóa bác học đã tạo nên bản sắc văn hóa của các dân tộc và của quốc gia

- Văn hoá các dân tộc thiểu số ở nước ta là sự phản ánh quá trình tiếp xúc và thích ứng văn hoá trong lịch sử và hiện tại; trong phạm vi quốc gia và quốc tế

Các dân tộc ở nước ta có một quá trình lịch sử lâu dài cùng chung sống sáng tạo và tụ hội nhiều giá trị văn hoá với những bản sắc mang tính tộc người, tính văn hoá vùng, tính văn hoá của nhóm ngôn ngữ Đó là diễn trình văn hoá được thể hiện, vận động và định hình trong một thời gian dài của văn hoá tộc người với nhiều thăng trầm để định hình một diện mạo văn hoá Việt Nam với sắc thái văn hoá đa dạng của 54 tộc người, trong tính thống nhất của văn hoá quốc gia Đó là quá trình giao thoa và tiếp biến văn hoá phản ánh những quá trình lịch sử với những thông số chung mang tính khu vực, tộc người; phản ánh sức sống mãnh liệt

Trang 8

với những yếu tố nội sinh được thử thách, tôi luyện và không bị đồng hoá trước nhiều âm mưu của các thế lực xâm lược ngoại bang.

Quá trình đó đồng thời cũng là quá trình diễn ra sự tiếp xúc và giao thoa văn hoá giữa các dân tộc trong một khu vực lịch sử - dân tộc học như Việt Bắc, Tây Bắc, miền Trung - Tây Nguyên, duyên hải, đồng bằng Nam Bộ, đồng bằng Bắc Bộ Các dân tộc anh em cùng chung sống trong một môi trường, khu vực thiên nhiên với hình thái cư trú láng giềng và các đặc điểm lịch sử khác đã có sự tiếp xúc, ảnh hưởng qua lại về các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể trong một tiến trình lịch sử lâu dài Đó là mối quan hệ văn hoá sâu sắc nhiều chiều giữa văn hoá Kinh với văn hoá Tày - Thái, Nam Đảo, Môn - Khmer ; là mối quan hệ giữa văn hoá Thái với văn hoá các cư dân Môn - Khmer ở Tây Bắc và bắc Trung bộ; giữa văn hoá Chăm với văn hoá một số tộc người ngữ hệ Nam Đảo và Môn - Khmer ở Trường Sơn - Tây Nguyên

Mặt khác, nhiều dân tộc thiểu số không chỉ cư trú trong nước mà còn cư trú ở các nước láng giềng Mối quan hệ văn hoá giữa các dân tộc Mông, Dao, Thái, Khmer sinh sống ở Việt Nam và các nước trong khu vực Đông Nam Á và Trung Quốc đã cho thấy mối quan hệ lịch sử văn hoá lâu đời của văn hoá các dân tộc thiểu số nước ta trong phạm vi quốc gia và quốc tế trên nhiều phương diện

b) Thực trạng văn hóa vùng dân tộc thiểu số

Trong thời gian qua, công tác văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS)

đã đạt được những kết quả quan trọng như sau:

- Nhiều giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số được bảo tồn, kế thừa và phát huy trong thực tiễn đời sống của đồng bào các dân tộc

Các cấp, các ngành đã triển khai hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống bằng nhiều hình thức Ở khu vực miền núi phía Bắc, các tỉnh Tuyên Quang, Lào Cai, Điện Biên, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hòa Bình, Nghệ An tiến hành kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể Trong đó, tỉnh Tuyên Quang tiến hành kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể của 16/26 dân tộc trên địa bàn tỉnh với 425 di sản phi vật thể; Tỉnh Lào Cai đã sưu tầm được 178 hiện vật dân tộc học; các tỉnh hàng năm đều tổ chức các lễ hội truyền thống đặc sắc của các DTTS trên địa bàn…

Trang 9

Ở khu vực phía nam và Tây Nguyên: đã sưu tầm và chỉnh lý khối lượng sử thi

đồ sộ Trong đó, tỉnh Đắk Lắk đã phát hiện được một số khối lượng sử thi lớn nhất nước ta, bao gồm 300 danh mục sử thi của dân tộc Mnông, Ê Đê, đã sưu tầm được

70 sử thi, dịch thành văn bản (song ngữ Việt-Ê Đê và Mnông-Việt), 40 sử thi (trong đó có 7 sử thi Ê Đê, 33 sử thi Mnông)4

Nhiều giá trị, di sản văn hóa các DTTS được nghiên cứu, tôn vinh là di sản văn hóa Quốc gia và của Nhân loại Di sản văn hóa vật thể và phi vật thể vùng DTTS được bảo tồn, tôn tạo; một số phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số được nghiên cứu, sưu tầm và phục dựng; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo

và sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân được quan tâm Công tác quản lý nhà nước về văn hóa được tăng cường, thể chế văn hóa từng bước được hoàn thiện; đội ngũ làm công tác văn hóa, văn nghệ ngày càng trưởng thành;

- Các hoạt động văn hóa dân tộc có quy mô lớn (ngày hội văn hóa và thể thao các dân tộc, liên hoan cồng chiêng, liên hoan ca múa nhạc dân gian, triển lãm trang phục các dân tộc ) được tổ chức hàng năm

Ngày hội văn hóa các dân tộc vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Ngày hội văn hóa dân tộc Mông, dân tộc Chăm, dân tộc Khmer…được tổ chức hằng năm đã tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số được giao lưu, học hỏi, thắt chặt tình đoàn kết các dân tộc, đồng thời làm cho nhiều giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của các dân tộc tiếp tục được khơi dậy, bảo tồn và phát huy trong đời sống cộng đồng Nhiều địa phương đã phục dựng các lễ hội, các nghề thủ công truyền thống và ẩm thực dân tộc lồng ghép với các hoạt động du lịch, đã góp phần phát triển kinh tế tại

4 Ngoài ra, ngành văn hóa Đắk Lắk còn sưu tầm được trên 1.000 trang truyện cổ Ê Đê, 3.000 trang truyện cổ Mnông, 1.000 trang lời nói vần Mnông, 1 bộ luật tục Ê Đê- Mnông Còn ở Gia Lai và Kon Tum đã sưu tầm và xuất bản 10 bộ sử thi Ba Na gồm 5.511 trang Trong kho tàng

sử thi đồ sộ của các tộc người Tây Nguyên, có 4 di sản sử thi đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Đó là: khan (sử thi) của người Ê Đê (Đắk Lắk), Ot Ndrong (sử thi) của người Mnông (huyện Tuy Đức, huyện Đắk Song, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông), Hơmon (sử thi) của người Ba Na (huyện Đăk Đoa, huyện Đắk Pơ, huyện Kbang, huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai); Hơmon (sử thi) của người Ba Na-Rơ Ngao (tỉnh Kon Tum)…Hiện nay, Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch đang chuẩn bị hồ sơ trình Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) công nhận sử thi Tây Nguyên là di sản văn hóa phi vật thể thế giới

Trang 10

các địa phương và góp phần quảng bá rộng rãi văn hóa các DTTS cả trong nước và quốc tế

Bên cạnh những thành tựu, văn hóa vùng DTTS vẫn còn có những tồn tại, hạn chế sau:

- Nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các DTTS đã, đang bị mai một nhanh chóng (ngôn ngữ, tín ngưỡng, trang phục, ẩm thực, kiến trúc, lễ hội, hôn nhân, tang ma…) Các giá trị văn hóa mới xâm nhập thiếu định hướng, nhiều giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp chưa được giữ gìn và chưa thật sự tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa từ bên ngoài

- Nhận thức của các ngành, các cấp về văn hóa DTTS còn hạn chế; mặt trái của cơ chế thị trường vẫn còn tác động đến quan điểm, thái độ, cũng như việc thực hiện chính sách đầu tư bảo tồn, phát triển văn hóa

- Bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số rất ít người (dưới 5.000 người và dưới 10.000 người) bị mai một, biến đổi theo hướng tiêu cực Nhiều chính sách bảo tồn văn hóa các DTTS được thực hiện thông qua những dự án, đề án và chương trình mục tiêu quốc gia còn chưa thể hiện rõ vai trò và tầm quan trọng của văn hóa, chính sách văn hóa trong mối quan hệ đối với các nội dung cũng như biện pháp phát triển kinh tế- xã hội ở vùng các DTTS

- Sự chênh lệch về hưởng thụ văn hoá còn lớn: Ở nhiều vùng nông thôn, nhất

là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các DTTS, vùng căn cứ cách mạng, kháng chiến trước đây, vùng biên giới, hải đảo, hoạt động văn hoá còn nghèo nàn, sự chênh lệch về hưởng thụ văn hoá so với thành thị còn lớn Đầu tư của Nhà nước cho bảo tồn, phát triển văn hoá các DTTS còn thấp và manh mún

- Việc huy động các nguồn vốn khác đầu tư cho văn hoá rất hạn chế do chính sách khuyến khích chưa cụ thể và thiết thực.Vai trò của chủ thể, của người dân, của cộng đồng chưa được phát huy và đặt đúng vị trí trong việc lập kế hoạch, xây dựng triển khai, tổ chức quản lý, giám sát các dự án từ cơ sở về văn hoá, ảnh hưởng tới chất lượng việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá của các DTTS

Trang 11

- Đội ngũ cán bộ làm công tác văn hoá vùng đồng bào DTTS còn thiếu, yếu, nhất là đội ngũ cán bộ trẻ, có năng lực Người có uy tín và các nghệ nhân người dân tộc thiểu số ngày càng ít dần và chưa được quan tâm đầu tư đúng mức.

- Chưa có những biện pháp hữu hiệu trong việc dạy và học chữ, học tiếng dân tộc đối với học sinh các DTTS Di sản văn hoá các DTTS Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển

- Nhiều di sản văn hóa truyền thống của các DTTS chưa được nghiên cứu, đánh giá một cách khoa học Nghệ thuật diễn xướng Then của các dân tộc Tày, Nùng, Thái; kho sách cổ của dân tộc Dao…,hàng nghìn làng, bản, buôn truyền thống với các giá trị văn hóa tiêu biểu của các dân tộc (kiến trúc, trang phục dân tộc, nghề truyền thống và các món ăn truyền thống, các làn điệu dân ca, dân vũ, lễ hội…) đang đứng trước nguy cơ biến mất theo xu hướng kiên cố hoá, hiện đại hoá hoặc do tác động mặt trái của cơ chế thị trường

c) Nhận diện những vấn đề đặt ra đối với văn hóa các dân tộc thiểu số

- Bối cảnh trong nước và quốc tế: Hiện nay xu thế toàn cầu hóa và nền kinh tế

thị trường đang diễn ra mạnh mẽ và tác động đến tất cả các lĩnh vực, trong đó có văn hóa Toàn cầu hóa sẽ giúp tranh thủ được các nguồn lực bên ngoài, truyền bá, giao lưu và quảng bá các giá trị văn hóa tạo môi trường thuận lợi hơn cho sự phát triển văn hóa Toàn cầu hóa sẽ tạo ra nhiều cơ hội hợp tác văn hóa Đây là cơ hội

để chúng ta trao đổi kinh nghiệm, tìm ra được hướng đi chung, làm phong phú thêm nền văn hóa của chính mình Nhưng từ góc độ văn hóa, có thể thấy quá trình hội nhập cũng sẽ làm cho văn hóa nước ta đang đứng trước những nguy cơ, thách thức không nhỏ

- Dự báo: Có thể xảy ra những khả năng trong xu thế vận động và phát triển

của văn hóa Việt Nam trong thời gian tới, như sau:

Thứ nhất, nếu văn hóa được quan tâm thật sự và đầy đủ, có định hướng rõ ràng, được thể chế hóa bằng luật và các văn bản dưới luật, các chế độ chính sách phù hợp, với bộ máy quản lý có hiệu quả, thì văn hóa nước ta sẽ có bước phát triển mới, tác động tích cực đến đời sống xã hội, thật sự đóng vai trò nền tảng và động lực của xã hội và trên nền truyền thống, văn hóa được hiện đại hóa

Trang 12

Thứ hai, sự du nhập ồ ạt, thiếu chọn lọc văn hóa ngoại lai sẽ là cơ hội tốt cho nhiều loại văn hóa đồi trụy, phản động, phi nhân tính tràn vào Dần dần, ý thức về chủ quyền dân tộc bị xói mòn, lu mờ Thay vào đó là lối sống hướng ngoại, xem nhẹ các giá trị truyền thống, xem nhẹ văn hóa dân tộc

Thứ ba, đó là sự kết hợp giữa khả năng thứ nhất và khả năng thứ hai, tạo ra sự pha trộn văn hóa Trong điều kiện đó, văn hóa sẽ phát triển theo nhiều chiều Mặt tích cực được phát huy nhờ những chủ trương, chính sách đúng đắn và những người hoạt động văn hóa chân chính Mặt tiêu cực cũng phát triển vì sự buông lỏng quản lý Thực tế nhiều năm qua cho thấy đây là khả năng dễ xảy ra nhất

- Những vấn đề đặt ra trong công tác văn hóa vùng dân tộc thiểu số:

Việc điều tra, nắm bắt thực trạng về văn hóa các dân tộc thiểu số và vùng miền chưa thường xuyên, chưa kịp thời đầy đủ, chưa xây dựng được bản đồ qui hoạch, kế hoạch bảo tồn, phát huy, phát triển văn hóa các dân tộc và vùng miền sát thực cho từng giai đoạn…Cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động văn hoá ở vùng dân tộc thiểu số còn quá nghèo nàn, lạc hậu

Chưa thể chế hóa kịp thời những chủ trương, chính sách của đảng, nhà nước trong công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số, đặc biệt là những dân tộc có số dân rất ít hoặc ở những vùng đặc biệt khó khăn đang có nguy cơ cao bị đồng hóa, mất bản sắc…

Nhiều di sản văn hoá đặc sắc của các dân tộc thiểu số chưa được nghiên cứu, lập hồ sơ để tôn vinh công nhận là di sản cấp tỉnh hoặc cấp quốc gia; đa số nghệ nhân của các dân tộc thiểu số chưa được quan tâm hỗ trợ, tạo điều kiện để phát huy trong việc bảo tồn những di sản văn hóa của dân tộc

Việc phục dựng một số sinh hoạt văn hóa truyền thống (lễ hội…) của các dân tộc thiểu số ở nhiều địa phương theo kiểu “sân khấu hóa” tuy có tạo ra được không khí và dư luận trong quần chúng về việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa nhưng lại

dễ làm biến dạng, méo mó phần nào giá trị của văn hóa truyền thống…

Việc giới thiệu, quảng bá văn hóa các dân tộc thiểu số theo nhiều mô hình, cấp độ tuy có lúc có nơi được chú ý, nhưng chưa được thường xuyên Nhiều giá trị

Trang 13

văn hóa truyền thống chưa được giới thiệu quảng bá nên việc phát huy tác dụng xã hội còn hạn chế…

Công tác sử dụng, phát huy và xây dựng đội ngũ cán bộ làm văn hóa ở vùng dân tộc thiểu số, nhất là cán bộ người dân tộc thiểu số tuy được chú ý, nhưng chưa đáp ứng nhu cầu của phong trào, chưa theo qui hoạch lâu dài và ổn định Đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa ở cơ sở đa số chưa được quy hoạch, đào tạo chuyên môn nghiệp vụ nên trình độ còn hạn chế, hiệu quả công tác chưa cao

Hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở vùng dân tộc thiểu số có nhiều cố gắng, mức hưởng thụ của đồng bào về văn hóa được cải thiện nhưng còn nhiều hạn chế về mặt bằng hưởng thụ văn hóa; một số thiết chế văn hóa truyền thống chưa được nghiên cứu để bảo tồn, phát huy

Một số cấp ủy, chính quyền chưa nhận thức đầy đủ các quan điểm, nhiệm vụ

và giải pháp đề ra, có lúc, có nơi chưa thống nhất, đồng bộ nên nhiều phong trào thiếu tính thiết thực, chưa thật sự thấm sâu vào các lĩnh vực đời sống xã hội

Một số tập tục lạc hậu có xu hướng phát triển Bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số chưa được phát huy đúng mức, mức hưởng thụ văn hóa của đồng bào còn thấp Nguồn lực đầu tư để bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số mỏng, mang tính bình quân, dàn trải, phân tán, nhỏ giọt, thiếu kịp thời, không tập trung, không đồng bộ Một số chủ trương, kế hoạch, dự án đã xây dựng

và phê duyệt không được thực hiện hoặc chậm tiến độ, hiệu quả không cao

Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở vùng dân tộc thiểu số, xây dựng làng, bản, buôn, phum, sóc, thôn, gia đình văn hóa còn gặp nhiều khó khăn, chất lượng chưa cao

3 Công tác quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số

a) Quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về văn hóa, quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số

* Quan điểm của Đảng về văn hóa, quản lý văn hóa

Từ ngày thành lập Đảng cho đến nay, quan điểm của Đảng về vai trò, vị trí của văn hoá cơ bản nhất quán:

Trang 14

- Đề cương văn hoá năm 1943 của Đảng là văn kiện đầu tiên khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của văn hoá trong sự nghiệp cách mạng với những vấn đề then chốt như: Muốn làm cách mạng Xã hội chủ nghĩa nhất thiết phải làm cách mạng văn hoá; Sự nghiệp văn hoá là của toàn dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng

- Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII (1998) đã đưa ra 5 quan điểm về văn hóa như sau:

(1) “Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội

(2) Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

(3) Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam

(4) Xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng

(5) Văn hoá là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hoá là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng.”

Tinh thần cơ bản của Nghị quyết TW5 khoá VIII tiếp tục được khẳng định

trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng: “Tiếp tục phát triển

sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”.

Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI, khẳng định 5 quan điểm:

(1) Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội

(2) Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học

Trang 15

(3) Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo

(4) Xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, trong đó chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng Phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa; cần chú ý đầy đủ đến yếu tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế

(5) Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng

Về Quản lý văn hóa: Trong Nghị quyết số 33 NQ/TW Hội nghị BCH Trung

ương 9, khóa XI (2014) ) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam

đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Đảng ta đã đưa ra các giải pháp về

“Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa”, trong đó, tập trung vào các vấn đề sau:

(1) Tập trung đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và sự bùng nổ của công nghệ thông tin và truyền thông

(2) Đẩy nhanh việc thể chế hóa, cụ thể hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa

(3) Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách về văn hóa, về quyền tác giả và các quyền liên quan, phù hợp với chuẩn mực quốc tế

và thực tiễn Việt Nam

(4) Điều chỉnh và hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp với tính đặc thù của văn hóa, nghệ thuật Bổ sung chính sách kinh tế trong văn hóa, văn hóa trong kinh

tế, xử lý hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa; có chính sách văn hóa đặc thù đối với đồng bào dân tộc thiểu số

(5).Đẩy mạnh quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý, tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp văn hóa, các hội nghề nghiệp trong lĩnh vực văn hóa theo

Ngày đăng: 22/10/2022, 16:36

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w