2 17 Lý luËn vÒ nhµ níc trong t¸c phÈm “Nguån gèc cña gia ®×nh, cña chÕ ®é t h÷u vµ cña nhµ níc” cña ¨ngghen ý nghÜa trong viÖc x©y dùng vµ hoµn thiÖn nhµ níc ph¸p quyÒn x héi chñ nghÜa ë níc ta.
Trang 1I Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
Ăngghen viết tác phẩm ''Nguồn gốc của gia đình của chế độ t hữu và của nhà nớc'' trong hai tháng từ cuối tháng Ba đến cuối tháng Năm 1884, nhân có những công trình nghiên cứu của nhà Nhân chủng học ngời Mỹ H.Moócgan; cùng với việc nghiên cứu lịch sử nhà nớc Hylạp, Rôma, Giécmanh
Trong thời điểm này chủ nghĩa đế quốc phát triển tơng đối hoà bình, đồng thời cũng là thời kì giai cấp vô sản tập hợp lực lợng để chuẩn bị cho những cuộc cách mạng sắp tới
Tình hình kinh tế, chính trị- xã hội nớc Đức cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 diễn ra hết sức phức tạp:
Về kinh tế: nớc Đức vẫn là nớc kém phát triển so với các nớc đã tiến hành cách mạng t sản nh Anh, Pháp, Hà lan
Về chính trị- xã hội: giai cấp t sản Đức vừa yếu kém về kinh tế vừa bạc
nh-ợc về chính trị, nó mang tính hai mặt, một mặt muốn làm cách mạng để xoá bỏ chế độ phong kiến quân chủ, mặt khác lại sợ lực lợng cách mạng đang lên- sợ giai cấp vô sản, do đó giai cấp t sản Đức hèn nhát, cải lơng, thoả hiệp với giai cấp phong kiến
Trong khi đó, giai cấp vô sản Đức còn nhiều hạn chế: cha ý thức một cách
rõ ràng vai trò lịch sử của mình, cha đợc tổ chức chặt chẽ và còn bị ảnh hởng của các t tuởng cơ hội, thoả hiệp, cải lơng xâm nhập Trong điều kiện đó xuất hiện các luận thuyết sai lầm của Bachopen, của Lecnan khi giải thích về lịch sử gia đình
Từ các lý do nêu trên đã thôi thúc Ăngghen viết tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ t hữu và của nhà nớc”
Lúc đầu Ăngghen đề nghị in tác phẩm của mình trong tạp chí lí luận hợp pháp “Thời mới” của đảng dân chủ xã hội Đức nhng về sau ông bỏ kế hoạch vì nhận thấy tác phẩm sẽ không đợc ấn hành do khuynh hớng chính trị của nó Cuốn sách đã đợc ra mắt ở Xuyrich vào đầu tháng Mời năm 1884 Thời gian đầu, bọn cầm quyền Đức gây trở ngại cho việc phát hành, nhng về sau những khó khăn đó đã đợc khắc phục và tác phẩm đợc tiếp tục xuất bản những lần tiếp theo, với các thứ tiếng khác nhau nh tiếng Xecbi, Balan, Rumani, Italia, Đan mạch; Ăngghen đã hiệu đính các bản dịch tiếng Italia, Đan mạch
Tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ t hữu và của nhà nớc'' tiếp tục đợc xuất bản lần thứ t có sửa đổi và bổ sung vào cuối năm 1891 ở Stútgát Khi Ăngghen còn sống, tác phẩm đợc xuất bản lần thứ năm vào năm 1892 và lần thứ sáu vào năm 1894, nhng nội dung không có gì thay đổi so với lần xuất
Trang 2bản thứ t Tác phẩm của Ăngghen đợc xuất bản bằng tiếng Nga lần đầu tiên ở Pêtécbua vào năm 1894 Về sau tác phẩm nhiều lần đợc xuất bản bằng tiếng Nga và những tiếng khác
II Kết cấu của tác phẩm
Tác phẩm gồm có lời tựa cho hai lần xuất bản (lần thứ nhất năm 1848, lần thứ hai năm 1891) và 9 chơng:
- Chơng I: Những giai đoạn văn hoá tiền sử;
- Chơng II: Gia đình;
- Chơng III: Thị tộc I-rô-qua;
- Chơng IV: Thị tộc Hy Lạp;
- Chơng V: Sự ra đời của Nhà nớc A-ten;
- Chơng VI: Thị tộc và Nhà nớc ở La Mã;
- Chơng VII: Thị tộc của ngời Kentơ và của ngời Giéc Manh;
- Chơng VIII: Sự hình thành Nhà nớc ở ngời Giéc Manh;
- Chơng IX: Thời đại dã man và thời đại văn minh
Tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ t hữu và của nhà nớc'' đợc
in trong C.Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, Tập 21 , Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 1995 (từ trang 41 đến trang 265).
III Những quan điểm duy vật lịch sử về nhà nớc của Ăngghen trong tác phẩm
1 Quan điểm duy vật lịch sử về vấn đề nhà nớc.
Đây là một trong những vấn đề chủ yếu đợc Ăngghen trình bày trong tác
phẩm và thể hiện sự phát triển sâu sắc những quan điểm của Mác về nhà nớc Vấn
đề nhà nớc đợc Ăngghen trình bày rõ qua chơng V đến chơng IX của tác phẩm, trong đó những kết luận quan trọng đợc chỉ ra trong chơng IX “thời đại dã man và thời đại văn minh”
1.1 Tính tất yếu của nhà nớc
Trong xã hội nguyên thuỷ cha có sự xuất hiện của nhà nớc, qua phân tích các thị tộc Irôqua, thị tộc Hylạp, Ăngghen đã khẳng định ở xã hội đó cha có cơ sở để hình thành nhà nớc Ăngghen viết: “Căn cứ theo Moócgan, tôi đã mô tả lại chế độ
đó một cách chi tiết, vì ở đây, chúng ta có dịp nghiên cứu tổ chức của một xã hội cha từng biết đến nhà nớc”1
Tuy nhiên ông cũng chỉ ra rằng vẫn có các cơ quan điều hành chung của xã hội Đặc điểm của các cơ quan đó là các tù trởng, tộc trởng, liên minh các thiết chế xã hội tự nguyện nảy sinh để điều hành xã hội (Ăngghen phân tích từ trang 142
đến trang 147)
Về bản chất nó khác với bản chất nhà nớc sau này: nó không có quân đội, công an, cảnh sát, quan toà và nhà tù thế mà mọi việc đều trôi chảy Ăngghen viết:
“Với tất cả tính ngây thơ và giản dị của nó, chế độ thị tộc đó quả là một tổ chức tốt
1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 145- tr 146.
Trang 3đẹp biết bao! Không có quân đội, hiến binh và cảnh sát, không có quý tộc, vua chúa, tổng đốc, trởng quan và quan toà, không có nhà tù, không có những vụ xử án, thế mà mọi việc đều trôi chảy”2
Ăngghen khẳng định trong quá trình vận động, phát triển của xã hội, những thiết chế của xã hội cộng sản nguyên thuỷ tất yếu bị phá vỡ, thay thế vào đó một thiết chế phù hợp hơn đó là nhà nớc Ông viết: “Quyền lực của cộng đồng nguyên thuỷ đó nhất định phải bị đập tan- và nó đã bị đập tan Đã làm suy yếu xã hội thị tộc không có giai cấp và đã đa xã hội đó đến chỗ diệt vong Và bản thân xã hội mới, trong suốt hai nghìn năm trăm năm tồn tại, vẫn không phải là cái gì khác mà chỉ là
sự phát triển của cái thiểu số nhỏ, một sự phát triển bằng mồ hôi nớc mắt của tuyệt
đại đa số những ngời bị bóc lột, áp bức và hiện nay xã hội đó vẫn là nh vậy, trên một mức độ lớn hơn bao giờ hết”3
Nh vậy, Ăngghen đã khẳng định một xã hội để hình thành nhà nớc phải có những cơ sở của nó, nhà nớc không phải là thứ quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào
1.2 Về nguồn gốc nhà nớc
Ăngghen đã phê phán quan điểm duy tâm về nguồn gốc của nhà nớc: nhà nớc không phải là một quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào xã hội, không phải là hiện thực của ý niệm đạo đức hay là hình ảnh và hiện thực của lý tính nh Hêghen khẳng định
Ông viết: “Nhà nớc quyết không phải là một quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào xã hội, không phải là “hiện thực của ý niệm đạo đức” là “hình ảnh và hiện thực của lý tính” nh Hêghen đã khẳng định”4
Nhà nớc nảy sinh trong xã hội; theo Ăngghen, nhà nớc ra đời do hai nguồn gốc: Nguồn gốc sâu xa: xuất phát từ nguồn gốc kinh tế, đó là kết quả của sự phân công lao động xã hội, chế độ chiếm hữu t nhân t liệu sản xuất Ăngghen viết: “Nó
đã bị sự phân công và hậu quả của sự phân công ấy- tức là sự phân chia của xã hội thành giai cấp- phá tan Nó đã bị nhà nớc thay thế”5
Về nguồn gốc trực tiếp: biểu hiện về mặt chính trị xã hội, dẫn đến sự phân công xã hội thành giai cấp và mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà đợc dẫn đến
sự ra đời của nhà nớc để duy trì xã hội trong một “trật tự” nhất định Từ mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà đợc đã dẫn tới giai cấp thống trị đã buộc các cơ quan
đứng đầu thị tộc, bộ lạc dần dần xa rời nhân dân đối lập với lợi ích của nhân dân và trở thành cơ quan áp bức nhân dân Ăngghen viết: “Nhà nớc là sản phẩm của một xã hội đã phát triển tới một giai đoạn nhất định; nó là sự thú nhận rằng xã hội đó bị lúng túng trong một mối mâu thuẫn với bản thân mà không sao giải quyết đợc, rằng xã hội đó đã bị phân thành những mặt đối lập không thể điều hoà mà xã hội đó bất lực không sao loại bỏ đợc Nhng muốn cho những mặt đối lập đó, những giai cấp có quyền lợi kinh tế mâu thuẫn nhau đó, không đi đến chỗ tiêu diệt lẫn nhau và tiêu diệt luôn cả xã hội trong một cuộc đấu tranh vô ích, thì cần phải có một lực lợng cần thiết, một lực lợng rõ ràng là đứng trên xã hội, có nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung
đột và giữ cho sự xung đột đó nằm trong vòng “trật tự” Và lực lợng đó, nẩy sinh ra
2 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 147.
3 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 150.
4 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 252.
5 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 251.
Trang 4từ xã hội, nhng lại đứng trên xã hội và ngày càng tách khỏi xã hội, chính là nhà n-ớc”6
Sau này khi nghiên cứu quan điểm trên đây của Ăngghen, Lênin đã nhấn mạnh rằng Nhà nớc là sản phẩm của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà
đợc Và chỉ rõ t tởng của Ăngghen về việc Nhà nớc có thể “làm dịu” mâu thuẫn, xung đột trong xã hội không có nghĩa Nhà nớc là cơ quan điều hoà mâu thuẫn giai cấp Rõ ràng nhà nớc không phải là một quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào xã hội, không phải là “hiện thực của ý niệm đạo đức” là “hình ảnh và hiện thực của lý tính”
nh Hêghen khẳng định
1.3 Về đặc trng của nhà nớc
Ăngghen đã chỉ ra hai đặc trng cơ bản của nhà nớc, để phân biệt nhà nớc với các tổ chức trong xã hội Đặc trng của nhà nớc đợc Ăngghen phân tích một cách sâu sắc, ông cho rằng nhà nớc có đặc trng phân chia dân c theo địa vực và thiết lập quyền lực công cộng
Đặc trng thứ nhất của nhà nớc đợc Ăngghen phân tích và ông cho rằng nhà
n-ớc có đặc trng phân chia dân c theo địa vực c trú tức là phân chia theo lãnh thổ; nhà nớc quản lý thần dân theo lãnh thổ chứ không theo huyết thống Ăngghen viết: “So với tổ chức hệ tộc trớc kia thì đặc trng thứ nhất của nhà nớc là ở chỗ nó phân chia thần dân của nó theo địa vực Cách tổ chức những công dân của nhà nớc theo địa vực họ c trú nh thế, là một đặc điểm chung của tất cả các nhà nớc”7 Ăngghen cũng chỉ ra đó là kết quả của sự đấu tranh gay go và lâu dài mới xác lập đợc, Ông viết:
“Cho nên chúng ta thấy tổ chức đó hình nh là điều tự nhiên; nhng chúng ta đã thấy rằng cần phải trải qua một cuộc đấu tranh gay go và lâu dài nh thế nào thì tổ chức
đó mới đợc xác lập, ở Aten và ở La Mã, thay cho tổ chức cũ theo thị tộc”8
Đặc trng thứ hai của nhà nớc là sự thiết lập một quyền lực công cộng đặc biệt, bản thân nhà nớc là một bộ máy là cơ quan quyền lực chính trị, gắn với nó là công
cụ đặc biệt- tổ chức ra lực lợng vũ trang, nhà tù và không còn trực tiếp là dân c tự
tổ chức thành lực lợng vũ trang nữa Ăngghen viết: “Đặc trng thứ hai của nhà nớc là
sự thiết lập một quyền lực công cộng, không còn trực tiếp là dân c tự tổ chức thành lực lợng vũ trang nữa Quyền lực công cộng đặc biệt đó là cần thiết, vì từ khi có phân chia xã hội thành giai cấp thì không thể có tổ chức vũ trang tự hoạt động của dân c đợc nữa Quyền lực công cộng đó đều tồn tại trong mỗi nhà nớc”9
Để duy trì quyền lực công cộng đó, nhà nớc cần phải huy động sự đóng góp của công dân đó là thuế Ăngghen viết tiếp: “Để duy trì quyền lực công cộng đó, cần phải có sự đóng góp của công dân đó là thuế má Nắm đợc quyền lực công cộng và quyền thu thuế, bọn quan lại, với t cách là những cơ quan của xã hội, đợc
đặt lên trên xã hội” 10 Sau này quyền thu thuế đợc tách ra thành đặc trng riêng của nhà nớc
1.4 Về bản chất của nhà nớc
6 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 252- tr 253.
7 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 253.
8 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 253
9 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 253- tr 254.
10 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 254.
Trang 5Một điểm đặc biệt quan trọng mà trong tác phẩm “nguồn gốc các gia đình của chế độ t hữu và của nhà nớc”, Ăngghen đã chỉ ra, đó là về bản chất giai cấp của nhà nớc Đi từ nguồn gốc ra đời của nhà nớc và những đặc trng cơ bản của nhà nớc trong xã hội có đối kháng giai cấp, ông đã chỉ rõ nhà nớc mang bản chất của một giai cấp, không có nhà nớc phi giai cấp Nhà nớc là công cụ áp bức của giai cấp này với giai cấp khác và nhà nớc bao giờ cũng của một giai cấp nhất định- giai cấp đó thống trị xã hội bằng kinh tế- quyền lực kinh tế Vì vậy nhà nớc mang bản chất của một giai cấp tổ chức ra nó, không thể có một nhà nớc chung chung phi giai cấp Ăngghen viết: “Vì nhà nớc nảy sinh từ nhu cầu phải kiềm chế những sự đối lập giai cấp; vì nhà nớc đồng thời cũng nảy sinh ra giữa cuộc xung đột của các giai cấp ấy, cho nên theo lệ thờng, nhà nớc là nhà nớc của giai cấp có thế lực nhất, của cái giai cấp thống trị về mặt kinh tế và nhờ có nhà nớc mà cũng trở thành giai cấp thống trị về mặt chính trị và
do đó có thêm đợc những phơng tiện mới để đàn áp và bóc lột giai cấp bị áp bức”11 Theo quan điểm của Ăngghen thì khi phân tích cơ cấu xã hội- giai cấp của một xã hội cụ thể, chúng ta có thể chỉ ra đợc nhà nớc trong xã hội ấy là của giai cấp nào Trong xã hội cũ dựa trên sự đối kháng giai cấp, chỉ có các nhà nớc của giai cấp chủ nô, giai cấp phong kiến, giai cấp t sản Không có cái gọi là nhà nớc phi giai cấp, nhà nớc điều hoà mâu thuẫn giai cấp nh những kẻ xuyên tạc chủ nghĩa Mác tuyên truyền Ăngghen còn khẳng định thêm: “Nhà nớc là một tổ chức của giai cấp hữu sản, dùng để bảo vệ giai cấp này, chống lại giai cấp không có của”12
Tuy nhiên, theo Ăngghen có những trờng hợp ngoại lệ, trong chừng mực nào
đó nhà nớc ở vị trí trung lập, đại diện cho một số giai cấp nhất định, nó phản ánh thế cân bằng tạm thời giữa các giai cấp và cuộc đấu tranh giai cấp sẽ phá vỡ thế cân bằng đó Theo Ăngghen nhà nớc tựa hồ nh của hai giai cấp cơ bản, đó là nhà nớc của thời kỳ mà trong đó cuộc đấu tranh của những giai cấp ấy đang ở thế “bình quân”, cân bằng tạm thời Song những trờng hợp này không tồn tại lâu dài Chẳng hạn nh chế độ quân chủ chuyên chế ở thế kỷ XVII và XVIII, chế độ Bônapáctơ của
đế chế I, II, đế chế dân tộc Giécmanh mới thời Bixmác Ăngghen viết: “Cũng có tr-ờng hợp ngoại lệ là có những thời kỳ trong đó những giai cấp đang đấu tranh lẫn nhau lại gần đạt đợc một thế bình quân khiến cho chính quyền nhà nớc, tựa hồ một
kẻ trung gian giữa các bên, lại tạm thời có đợc một mức độ độc lập nào đó đối với cả hai giai cấp Chẳng hạn nh chế độ quân chủ chuyên chế ở thế kỷ XVII và XVIII
đã giữ thế thăng bằng giữa bọn quý tộc và giai cấp t sản; nh chế độ Bônapáctơ của
Đế chế I và đặc biệt là của Đế chế II ở Pháp, đã đẩy giai cấp vô sản chống lại giai cấp t sản, rồi lại đẩy giai cấp t sản chống lại giai cấp vô sản”13
Ví dụ nh nhà nớc Cămpuchia hiện nay cũng là biểu hiện của thế cân bằng đó, theo quy luật nó sẽ bị phá vỡ thế cân bằng ấy khi đấu tranh về lợi ích của các giai cấp nổ ra
T tởng của Ăngghen về bản chất của Nhà nớc đã đợc Lênin trình bày rất chi tiết và sâu sắc trong tác phẩm “Nhà nớc và cách mạng”
Trong quá trình phân tích về nguồn gốc, bản chất giai cấp của nhà nớc,
Ăngghen luôn gắn những vấn đề đó với giai cấp và đấu tranh giai cấp Theo lôgíc trình bày của mình, Ăngghen xác định giai cấp là một phạm trù lịch sử gắn liền với
11 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 255.
12 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 256.
13 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 255.
Trang 6giai đoạn phát triển kinh tế nhất định và theo đó thì nhà nớc- sản phẩm trực tiếp của
đấu tranh giữa các giai cấp- cũng là có tính lịch sử
1.3 Về vấn đề nhà nớc tiêu vong
Về t tởng nhà nớc tiêu vong, nhà nớc không tồn tại vĩnh viễn mà khi không còn giai cấp thì nhà nớc cũng tự tiêu vong Theo Ăngghen, nhà nớc là một phạm trù lịch sử, quá trình ra đời, tồn tại của nó gắn với những điều kiện nhất định, khi những điều kiện đó mất đi thì nhà nớc cũng tiêu vong Ăngghen viết: “Giai cấp tiêu vong thì nhà nớc cũng không tránh khỏi tiêu vong theo Xã hội sẽ tổ chức lại nền sản xuất trên cơ sở liên hiệp tự do và bình đẳng giữa những ngời sản xuất, sẽ đem toàn thể bộ máy nhà nớc xếp vào cái vị trí thật sự của nó lúc bấy giờ: vào viện bảo tàng đồ cổ, bên cạnh cái xa kéo sợi và cái rìu bằng đồng”14
Tuy nhiên, Ăngghen cha bàn về vấn đề nhà nớc tự tiêu vong mà sau này trong tác phẩm “Nhà nớc và cách mạng”, Lênin đã bảo vệ và phát triển t tởng của Ăngghen về vấn đề nhà nớc tiêu vong, Lênin chỉ ra rằng chỉ có nhà nớc vô sản mới tự tiêu vong đợc và để nó tự tiêu vong thì phải có đầy đủ những điều kiện cần thiết
Mặc dù trong tác phẩm “nguồn gốc của gia đình, của chế độ t hữu và của nhà nớc”, Ăngghen cha có điều kiện đi vào phân tích quá trình tiêu vong của nhà nớc nhng ông đã vạch ra những mâu thuẫn vốn có trong các chế độ xã hội cũ, khiến nó không thể tồn tại mà phải thay thế bằng chế độ xã hội cao hơn Kết thúc tác phẩm
của mình, Ăngghen đã chỉ ra những điều mà xã hội có giai cấp trong thời đại văn
minh đã làm đợc và những mâu thuẫn giai cấp sâu sắc của nó và để kết luận,
Ăngghen đã trích ra một xét đoán của Moócgan: “Sự diệt vong của xã hội đang
đứng sừng sững trớc mặt chúng ta một cách đe doạ nh là sự kết thúc của một quá trình lịch sử mà của cải là mục đích cuối cùng và duy nhất Vì một quá trình phát triển nh vậy đang chứa đựng những yếu tố làm cho chính nó bị tiêu diệt Đó sẽ là một sự hồi sinh- nhng dới một hình thức cao hơn- của tự do, bình đẳng và hữu ái của những thị tộc thời cổ”15
2 Quan điểm của Ăngghen về một số nội dung của chủ nghĩa duy vật lịch
sử trong tác phẩm.
2.1 Về giai cấp và đấu tranh giai cấp
Ăng ghen đã nghiên cứu phân tích trên lập trờng duy vật về sự hình thành giai cấp trong xã hội, đã chỉ ra những điều kiện kinh tế đã phá vỡ tổ chức hệ tộc, bộ lạc ngay từ giai đoạn cao các thời đại dã man và sự loại bỏ hoàn toàn các tổ chức đó khi xuất hiện thời đại văn minh Ăng ghen đã luận chứng một cách khoa học về sự hình thành giai cấp gắn liền với sự phát triển các lực lợng sản xuất, của những cuộc phân công lao động xã hội lớn Trong tác phẩm nguồn gốc của gia đình, của chế độ t hữu
và của nhà nớc”, Ăngghen đã trình bày rõ ba lần phân công lao động xã hội lớn dẫn tới sự hình thành các giai cấp khác nhau trong xã hội văn minh
Sự phân công xã hội lớn đầu tiên là chăn nuôi tách khỏi trồng trọt, việc chăn
nuôi và coi giữ gia súc là ngành lao động chủ yếu của một số bộ lạc tiên tiến.
14 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 258.
15 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 265.
Trang 7Những bộ lạc du mục tách rời khỏi bộ phận còn lại của những ngời dã man Vật phẩm chủ yếu mà các bộ lạc du mục trao đổi với những bộ lạc lân cận là gia súc, gia súc trở thành hàng hoá Ăngghen viết: “Những bộ lạc du mục tách rời khỏi bộ phận còn lại của những ngời dã man: Đó là sự phân công xã hội lớn đầu tiên Những bộ lạc du mục không những sản xuất nhiều thức ăn hơn những ngời dã man khác, mà những thức ăn do họ sản xuất ra cũng có nhiều loại hơn Không những họ
có nhiều sữa, nhiều sản phẩm làm bằng sữa và nhiều thịt hơn, mà còn có da thú, len, lông dê cũng nh có một số lợng sợi và hàng diệt ngày càng tăng, vì khối lợng nguyên liệu đã tăng lên Vì vậy mà lần đầu tiên, đã có thể có sự trao đổi đều đặn”16
Về thành tựu các công nghiệp trong giai đoạn này, Ăngghen chỉ ra có 2 thành tựu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đó là khung dệt và nấu quặng, chế tạo đồ kim loại (nhng cha biết khai thác sắt) Từ sự phân công xã hội lớn đầu tiên đã làm cho sản xuất tăng lên trong tất cả các ngành, sức lao động của con ngời “có khả năng sản xuất đợc nhiều sản phẩm hơn số sản phẩm cần thết cho sinh hoạt của họ” Sự phát triển của sản xuất đẻ ra nhu cầu phải thu hút những sức lao động mới và chiến tranh đã cung cấp những sức lao động mới, đó là tù binh bắt đợc trong chiến tranh
bị biến thành nô lệ Ăngghen đi đến khẳng định: “Trong những điều kiện lịch sử lúc
đó, sự phân công lao động xã hội lớn đầu tiên, do tăng năng xuất lao động, tức là tăng của cải và do mở rộng lĩnh vực hoạt động sản xuất, nhất định phải đa đến chế
độ nô lệ Từ sự phân công xã hội lớn đầu tiên, đã nẩy sinh sự phân chia lớn đầu tiên trong xã hội thành 2 giai cấp: chủ nô và nô lệ, kẻ bóc lột và ngời bị bóc lột”17
Sự phân công xã hội lớn đầu tiên đã làm thay đổi sự phân lao động trong gia
đình Việc tìm kiếm thức ăn cho những đàn gia súc của gia đình cá thể đợc trao cho ngời đàn ông, ngời đàn ông đảm nhiệm việc sản xuất ra công cụ và sử dụng công
cụ để tìm kiếm thức ăn cho gia súc Theo đó, sự thống trị của ngời đàn ông trong gia đình trở nên tất yếu
Phân tích tiếp sự phát triển của thời đại dã man, Ăngghen đã chỉ ra sự phân công lớn lần thứ hai, đó là: thủ công nghiệp đã tách khỏi nông nghiệp, từ đó xuất
hiện nền sản xuất hàng hoá Vào giai đoạn cao của thời đại dã man, con ngời biết
sử dụng sắt và chỉnh những công cụ bằng sắt đã làm cho của cả tăng nhanh và các ngành nghề phát triển theo hớng ngày càng chuyên môn hoá Ăngghen viết: “Của cải tăng lên nhanh chóng nhng với t cách là của cải các cá nhân, nghề dệt, nghề chế tạo đồ kim loại và những nghề thủ công khác ngày càng chuyên môn hoá, đã làm cho sản phẩm của chúng ngày càng có nhiều loại và ngày càng thêm hoàn hảo về mặt nghệ thuật Một hoạt động nhiều mặt nh thế không thể chỉ do độc một cá nhân tiến hành đợc nữa, sự phân công lớn thứ 2 đã diễn ra: thủ công nghiệp đã tách khỏi nông nghiệp”18 Và “Sự phân biệt giữa kẻ giầu và ngời nghèo đã xuất hiệu bên cạnh sự phân biệt giữa ngời tự do và ngời nô lệ: cùng với sự phân công mới là sự phân chia mới xã hội thành các giai cấp”19
Theo Ăngghen thì sự phân công lao động xã hội lớn lần thứ nhất và lần thứ hai gắn liền với giai đoạn giữa và giai đoạn cao của thời đại dã man Đến thời đại văn minh đã củng cố và phát triển các hình thức phân công đã có trớc nó và “bổ sung vào đó một sự
phân công thứ 3, một sự phân công chỉ đặc trng cho nó, có một ý nghĩa quyết định: Sự
16 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 237- tr 238.
17 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 240.
18 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 242.
19 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 243.
Trang 8phân công này sản sinh ra một giai cấp không còn tham gia sản xuất nữa, mà chỉ làm công việc trao đổi sản phẩm, đó là những thơng nhân”20
Sự phân tích quá trình hình thành giai cấp gắn với sự phát triển của lực lợng sản xuất, của phân công lao động xã hội trên đây của Ăngghen là sự phân tích hoàn toàn khoa học, thể hiện lập trờng duy vật triệt để của ông Theo Ăngghen thì nguyên nhân xét đến cùng của sự hình thành ra các giai cấp là sự phát triển của lực lợng sản xuất mà sự phát triển này là mang tính khách quan, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con ngời và của cộng đồng ngời: sự phát triển của lực lợng sản xuất tạo ra sản phẩm vợt hơn nhu cầu tối thiểu để tồn tại, tạo khả năng cho những ngời này chiếm đoạt lao động của ngời khác, và dẫn tới thay thế chế độ công hữu nguyên thuỷ về t liệu sản xuất bằng chế độ t hữu về t liệu sản xuất Chế độ t hữu này là cơ
sở trực tiếp của sự hình thành các giai cấp
Tóm lại, là sự phân chia xã hội thành các giai cấp bắt nguồn từ nguyên nhân kinh tế và gắn liền với sản xuất vật chất, chứ không phải từ nguyên nhân chính trị, t tởng Sự xuất hiện giai cấp là một tất yếu lịch sử, là biểu hiện sự phát triển của xã hội bớc sang “thời đại văn minh” Ăngghen cũng đã chỉ rõ sự phân chia tiếp tục tồn tại trong suốt thời đại văn minh, “chế độ nô lệ là hình thức bóc lột đầu tiên, mà chỉ riêng thế giới thời cổ mới có; kế tiếp nó là chế độ nông nô trong thời trung cổ, và chế độ lao động làm thuê trong thời hiện đại Đó là ba hình thức nô dịch lớn đặc
tr-ng cho 3 thời kỳ lớn của thời đại văn minh”21
Theo t tởng của Ăngghen, khi nghiên cứu sự phân chia giai cấp trong xã hội cần phải đi từ nền sản xuất vật chất, từ sự phát triển của lực lợng sản xuất đợc biểu hiện qua phân công lao động xã hội, nhng cũng cần phải tính tới các yếu tố khác
ảnh hởng tới sự hình thành các giai cấp Đó là các cuộc chiến tranh, những thủ đoạn cớp bóc, những hành vi bạo lực đã góp phần thúc đẩy nhanh quá trình phân hoá giai cấp Song bao lực không phải là nhân tố tạo ra chế độ t hữu và giai cấp; sự ra đời và mất đi của giai cấp đều dựa trên tính tất yếu kinh tế
Từ khi xã hội phân chia thành giai cấp thì đấu tranh giữa các các giai cấp với nhau là tất yếu và không thể điều hoà đợc Ăngghen viết: “Một xã hội do toàn bộ những điều kiện kinh tế của sự tồn tại của nó mà phải chia ra thành những ngời tự
do và nô lệ, thành những kẻ giầu có đi bóc lột và những ngời nghèo khổ bị bóc lột, một xã hội không những không thể lại điều hoà một lần nữa những mặt đối lập đó,
mà còn buộc phải đẩy chúng đi đến chỗ ngày càng gay gắt Một xã hội nh vậy chỉ có thể tồn tại trong cuộc đấu tranh không ngừng và công khai giữa các giai cấp đó với nhau”22
Trong lời tựa viết cho lần xuất bản thứ nhất năm 1844, Ăngghen đã chỉ rõ sự khác nhau giữa xã hội cũ “dựa trên quan hệ dòng máu” với xã hội có sự phân chia giai cấp bị quan hệ sở hữu chi phối là ở đấu tranh giai cấp Và “Mâu thuẫn giai cấp cùng với đấu tranh giai cấp, cấu thành nội dung của toàn bộ lịch sử thành văn từ
tr-ớc đến nay”23
Đấu tranh giai cấp phát triển dần tới cách mạng xã hội Và theo Ăngghen thì tất cả mọi cuộc cách mạng đều nhằm bảo hộ loại sở hữu này chống lại một loại sở
20 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 246.
21 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 261.
22 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 251.
23 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 44.- tr 45
Trang 9hữu khác Ăngghen đã chứng minh điều đó qua cách mạng Pháp Ngời viết: “Trong cuộc đại cách mạng Pháp ngời ta đã hy sinh sở hữu phong kiến để cứu sở hữu t sản”24
2.2 Về vai trò của sản xuất vật chất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực
Ăng ghen đã khẳng định một nguyên lý căn bản của chủ nghĩa duy vật lịch
sử về vai trò xét đến cùng quyết định sự tồn tại, phát triển xã hội là sản suất và tái sản suất ra đời sống, bao gồm sản xuất ra những t liệu sinh hoạt và sản xuất ra con ngời Trong lời tựa cho xuất bản lần thứ nhất, Ăng ghen viết: “Theo quan
điểm duy vật, nhân tố quyết định trong lịch sử, quy đến cùng, là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp Nhng bản thân sự sản xuất đó lại có hai loại Một mặt là sản xuất ra t liệu sinh hoạt: thực phẩm, quần áo, nhà ở và những công cụ cần thiết để sản xuất ra những thứ đó; mặt khác là sự sản xuất ra bản thân con ngời, là sự truyền nòi giống ”25
Trong sản xuất ra đời sống xã hội bao gồm có sản xuất của cải vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con ngời Sản xuất vật chất, xét đến cùng quyết định các hình thức sản xuất khác Bởi vì sản xuất vật chất trực tiếp tạo ra của cải, t liệu sinh hoạt đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của con ngời và xã hội Song nền sản xuất vất chất chỉ có thể đợc tiến hành bởi những con ngời nhất
định Muốn có những con ngời để sản xuất vật chất và duy trì nòi giống thì cần phải có hoạt động sản xuất ra bản thân con ngời T tởng này của Ăng ghen đã
đ-ợc thực tiễn chứng minh là hoàn toàn đúng đắn Tuy nhiên, không đđ-ợc tuyệt đối hoá, coi sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp là hoạt động duy nhất quyết
định sự tồn tại và phát triển của xã hội
Theo Ăngghen, thì sản xuất vật chất và sản xuất ra con ngời quyết định trật
tự xã hội của thời đại và của mỗi quốc gia Hai loại sản xuất này do trình độ phát triển của lao động và trình độ phát triển của gia đình quy định Trong đó sự phát triển của lao động quy định trình độ phát triển của gia đình Dựa theo nguyên lý
về vai trò xét đến cùng quyết định của sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực mà trong quá trình nghiên cứu các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội,
Ăngghen đều xem xét chúng với sự phát triển của nền sản xuất vật chất Quá trình nghiên cứu lịch sử gia đình, sự hình thành giai cấp cùng các thiết chế xã hội khác nhất là nhà nớc đều đợc Ăngghen đi từ sự vận động phát triển của nền sản xuất vật chất Đây chính là biểu hiện quan điểm nhất nguyên duy vật của
Ăngghen, hoàn toàn đối lập với các quan điểm duy tâm dới mọi màu sắc
2.3 Về sự hình thành phát triển của các hình thức gia đình và hôn nhân
Ăng ghen đã khái quát cách phân chia thời đại của Moócgan trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ thành: thời đại mông muội, thời đại dã man, thời đại văn minh Đặc trng chủ yếu của thời đại mông muội là việc chiếm hữu các sản vật trong
tự nhiên Tơng ứng với thời đại này có chế độ quần hôn Thời đại dã man là thời đại trong đó con ngời học đợc cách chăn nuôi súc vật và làm ruộng, học đợc những
ph-ơng pháp thông qua hoạt động của con ngời để tăng việc sản xuất các sản vật tự nhiên Phù hợp với thời đại này là chế độ hôn nhân cặp đôi Khi con ngời học đợc cách tinh chế thêm đợc những sản vật tự nhiên, có công nghiệp và nghệ thuật, đó là
24 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 173.
25 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 44.
Trang 10thời đại văn minh Thời đại này, có chế độ một vợ một chồng đợc bổ sung bằng tệ ngoại tình và mại dâm Theo Ăngghen, thắng lợi cuối cùng của chế độ một
vợ một chồng là một trong những dấu hiệu của buổi đầu của thời đại văn minh
Nh vậy, Ăngghen đã nghiên cứu quan hệ gia đình gắn liền với sự phát triển của sản xuất vật chất trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ qua các giai đoạn của
nó Từ việc nghiên cứu lịch sử gia đình trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ,
Ăngghen tiếp tục đi vào phân tích hôn nhân t sản và đề cập tới hôn nhân của xã hội tơng lai- xã hội cộng sản chủ nghĩa Trên lập trờng duy vật triệt để, Ăngghen
đã phân tích và đi đến kết luận: muốn có đợc hôn nhân hoàn toàn tự do, bình
đẳng thì vấn đề đặt ra là phải xoá bỏ nền sản xuất t bản chủ nghĩa cùng các quan
hệ tài sản do nền sản xuất ấy tạo ra Những vấn đề này đợc Ăngghen trình bày tập trung trong chơng 2 của tác phẩm
2 4 Về các hình thức cộng đồng ngời trớc khi có dân tộc.
Khi con ngời thoát ra khỏi trạng thái “bầy ngời nguyên thuỷ'', thì tổ chức xã hội đầu tiên, đồng thời là tổ chức cộng đồng ngời đầu tiên ra đời đó là thị tộc
Ăngghen chỉ rõ “thị tộc trong chừng mực những tài liệu hiện có cho phép chúng
ta phán đoán là một thiết chế chung cho tất cả các dân dã man, cho đến tận khi
họ bớc vào thời đại văn minh, và thậm chí còn lâu hơn nữa”26
Ăng ghen đã nghiên cứu thị tộc I-rô-qua, HyLạp, thị tộc của ngời Kentơ và của ngời Giécmanh, từ đó chỉ ra những đặc trng của thị tộc, trong đó quan hệ cộng đồng thân tộc- huyết tộc là đặc trng chủ yếu Đồng thời, thị tộc còn có những những mối liên hệ cộng đồng sau đây:
Các thành viên trong thị tộc có một thổ ngữ riêng
Mỗi thị tộc có những tục lệ, tập quán và nghi thức tín ngỡng riêng của mình Trong mỗi thị tộc hình thành những yếu tố văn hoá nguyên thuỷ mang sắc thái của cộng đồng sản sinh ra chúng
Mỗi thị tộc có tên gọi riêng
Thị tộc bầu ra tù trởng, thủ lĩnh quân sự và có thể bãi miễn họ khi thấy không xứng đáng
Nhiều thị tộc hợp lại thành một bào tộc, nhiều bào tộc hợp lại thành bộ lạc
Ăngghen viết: “Một thị tộc đã đợc coi là một đơn vị cơ sở của xã hội, thì toàn bộ chế độ thị tộc, bào tộc và bộ lạc đều phát triển từ đơn vị ấy với một sự tất yếu hầu nh không thể ngăn cản nổi - bởi vì đó là điều hoàn toàn tự nhiên: Cả ba tổ chức ấy là những mức độ khác nhau của quan hệ họ hàng, hơn nữa, mỗi tổ chức
đó là một thể hoàn chỉnh và tự quản lấy công việc của mình, nhng cũng lại bổ sung cho nhau”27
Cả ba tổ chức là thị tộc, bào tộc, bộ lạc đều có cơ sở chung từ chế độ thị tộc
Và “Với tất cả tính ngây thơ và giản dị của nó, chế độ thị tộc đó quả là một tổ chức tốt đẹp biết bao! Không có quân đội, hiến binh và cảnh sát, không có quý tộc, vua chúa, tổng đốc, trởng quan và quan toà, không có nhà tù, không có những vụ xử án, thế mà mọi việc đều trôi chảy”28 Ăng ghen chỉ rõ: “Con ngời và
26 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 130.
27 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 146- tr 147.
28 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 147.