Lý luËn vÒ nhµ níc trong t¸c phÈm “Nguån gèc cña gia ®×nh cña chÕ ®é t h÷u vµ cña nhµ níc” cña ¨ngghen 2 11 Lý luËn vÒ nhµ níc trong t¸c phÈm “Nguån gèc cña gia ®×nh cña chÕ ®é t h÷u vµ cña nhµ n.
Trang 1I Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
Ăngghen viết tác phẩm ''Nguồn gốc của gia đình của chế độ t hữu và của nhà nớc'' trong hai tháng từ cuối tháng Ba đến cuối tháng Năm 1884 Đây là thời
điểm phát triển tơng đối hoà bình của chủ nghĩa đế quốc, đồng thời cũng là thời kì giai cấp vô sản tập hợp lực lợng để chuẩn bị cho những cuộc cách mạng sắp tới Ăngghen viết tác phẩm trong tình hình kinh tế, xã hội Đức kém phát trển so với các nớc đã tiến hành cách mạng t sản nh Anh, Pháp, Hà lan Giai cấp t sản
Đức mang tính hai mặt, một mặt muốn làm cách mạng để xoá bỏ chế độ phong kiến quân chủ, một mặt lại hèn nhát, cải lơng, sợ giai cấp vô sản Trong khi đó giai cấp vô sản Đức còn nhiều hạn chế, nó cha ý thức một cách rõ ràng vai trò lịch sử của mình, cha đợc tổ chức chặt chẽ và còn bị ảnh hởng của các t tuởng cơ hội, thoả hiệp xâm nhập Trong điều kiện đó xuất hiện các luận thuyết sai lầm của Bachopen, của Lecnan khi giải thích về lịch sử gia đình Đó cũng là những lí do thôi thúc Ăngghen viết tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế
độ t hữu và của nhà nớc”
Lúc đầu Ăngghen đề nghị in tác phẩm của mình trong tạp chí lí luận hợp pháp “Thời mới” của đảng dân chủ xã hội Đức nhng về sau ông bỏ kế hoạch vì nhận thấy tác phẩm sẽ không đợc ấn hành do khuynh hớng chính trị của nó Cuốn sách đã đợc ra mắt ở Xuyrich vào đầu tháng Mời năm 1884 Thời gian đầu, bọn cầm quyền Đức gây trở ngại cho việc phát hành, nhng về sau những khó khăn đó đã đợc khắc phục và tác phẩm đợc tiếp tục xuất bản những lần tiếp theo, với các thứ tiếng khác nhau nh tiếng Xecbi, Balan, Rumani, Italia, Đan mạch; Ăngghen đã hiệu đính các bản dịch tiếng Italia, Đan mạch
Tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ t hữu và của nhà nớc'' tiếp tục đợc xuất bản lần thứ t có sửa đổi và bổ sung vào cuối năm 1891 ở Stútgát Khi Ăngghen còn sống, tác phẩm đợc xuất bản lần thứ năm vào năm 1892 và lần thứ sáu vào năm 1894, nhng nội dung không có gì thay đổi so với lần xuất bản thứ t Tác phẩm của Ăngghen đợc xuất bản bằng tiếng Nga lần đầu tiên ở Pêtécbua vào năm 1894 Về sau tác phẩm nhiều lần đợc xuất bản bằng tiếng Nga và những tiếng khác
II Kết cấu của tác phẩm
Tác phẩm gồm có lời tựa cho lần xuất bản thứ nhất và 9 chơng
- Chơng I: Những giai đoạn văn hoá tiền sử;
- Chơng II: Gia đình;
- Chơng III: Thị tộc I-rô-qua;
- Chơng IV: Thị tộc Hy Lạp;
- Chơng V: Sự ra đời của Nhà nớc A-ten;
- Chơng VI: Thị tộc và Nhà nớc ở La Mã;
- Chơng VII: Thị tộc của ngời Kentơ và của ngời Giéc Manh;
- Chơng VIII: Sự hình thành Nhà nớc ở ngời Giéc Manh;
Trang 2- Chơng IX: Thời đại dã man và thời đại văn minh.
Tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ t hữu và của nhà nớc'' đợc
in trong C.Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, Tập 21 , Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 1995 (từ trang 41 đến trang 265).
1 Quan điểm duy vật lịch sử của Ăng ghen về vai trò của sản xuất vật chất
và tái sản suất ra đời sống hiện thực
Ăng ghen đã khẳng định một nguyên lý căn bản của chủ nghĩa duy vật lịch
sử về vai trò xét đến cùng quyết định sự tồn tại, phát triển xã hội là sản suất và tái sản suất ra đời sống, bao gồm sản xuất ra những t liệu sinh hoạt và sản xuất ra con ngời Trong lời tựa cho xuất bản lần thứ nhất, Ăng ghen viết: “Theo quan
điểm duy vật, nhân tố quyết định trong lịch sử, quy đến cùng, là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp Nhng bản thân sự xuất đó có hai loại Một mặt là sản xuất ra t liệu sinh hoạt: thực phẩm, quần áo, nhà ở và những công cụ cần thiết để sản xuất ra những thứ đó; mặt khác là sự sản xuất ra bản thân con ngời,
là sự truyền nòi giống ”1
Trong sản xuất ra đời sống xã hội bao gồm có sản xuất của cải vật chất ,sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con ngời Sản xuất vật chất, xét đến cùng quyết định các hình thức sản xuất khác Bởi vì sản xuất vật chất trực tiếp tạo ra của cải, t liệu sinh hoạt đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của con ngời và xã hội Song nền sản xuất vất chất chỉ có thể đợc tiến hành bởi những con ngời nhất
định Muốn có những con ngời để sản xuất vật chất và duy trì nòi giống thì cần phải có hoạt động sản xuất ra bản thân con ngời T tởng này của Ăng ghen đã
đ-ợc thực tiễn chứng minh là hoàn toàn đúng đắn Tuy nhiên, không đđ-ợc tuyệt đối hoá, coi sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp là hoạt động duy nhất quyết
định sự tồn tại và phát triển của xã hội
Theo Ăng ghen thì sản xuất vật chất và sản xuất ra con ngời quyết định trật
tự xã hội của thời đại và của mỗi quốc gia Hai loại sản xuất này do trình độ phát triển của lao động và trình độ phát triển của gia đình quy định Trong đó sự phát triển của lao động quy định trình độ phát triển của gia đình Dựa theo nguyên lý
về vai trò xét đến cùng quyết định của sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực mà trong quá trình nghiên cứu các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội,
Ăngghen đều xem xét chúng với sự phát triển của nền sản xuất vật chất.Quá trình nghiên cứu lịch sử gia đình, sự hình thành giai cấp cùng các thiết chế xã hội khác nhất là nhà nớc đều đợc Ăngghen đi từ sự vận động phát triển của nền sản xuất vật chất Đây chính là biểu hiện quan điểm nhất nguyên duy vật của Ăng ghen, hoàn toàn đối lập với các quan điểm duy tâm dới mọi mầu sắc
2 Quan điểm duy vật lịch sử về sự hình thành phát triển của các hình thức gia đình và hôn nhân
Ăng ghen đã khái quát cách phân chia thời đại của Moocgan trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ thành: thời đại mông muội, thời đại dã man, thời đại văn minh Đặc trng chủ yếu của thời đại mông muội là việc chiếm hữu các sản vật trong
tự nhiên Tơng ứng với thời đại này có chế độ quần hôn Thời đại dã man là thời đại
1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 44.
Trang 3trong đó con ngời học đợc cách chăn nuôi súc vật và làm ruộng, học đợc những
ph-ơng pháp thông qua hoạt động của con ngời để tăng việc sản xuất các sản vật tự nhiên Phù hợp với thời đại này là chế độ hôn nhân cặp đôi Khi con ngời học đợc cách tinh chế thêm đợc những sản vật tự nhiên, có công nghiệp và nghệ thuật, đó là thời đại văn minh Thời đại này, có chế độ một vợ một chồng đợc bổ sung bằng tệ ngoại tình và mại dâm Theo Ăngghen, thắng lợi cuối cùng của chế độ một
vợ một chồng là một trong những dấu hiệu của buổi đầu của thời đại văn minh
Nh vậy, Ăngghen đã nghiên cứu quan hệ gia đình gắn liền với sự phát triển của sản xuất vật chất trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ qua các giai đoạn của
nó Từ việc nghiên cứu lịch sử gia đình trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ,
Ăngghen tiếp tục đi vào phân tích hôn nhân t sản và đề cập tới hôn nhân của xã hội tơng lai- xã hội cộng sản chủ nghĩa Trên lập trờng duy vật triệt để, Ăngghen
đã phân tích và đi đến kết luận: muốn có đợc hôn nhân hoàn toàn tự do, bình
đẳng thì vấn đề đặt ra là phải xoá bỏ nền sản xuất t bản chủ nghĩa cùng các quan
hệ tài sản do nền sản xuất ấy tạo ra Những vấn đề này đợc Ăngghen trình bày tập trung trong chơng 2 của tác phẩm
3 Quan điểm duy vật lịch sử về các hình thức cộng đồng ngời trớc khi
có dân tộc.
Khi con ngời thoát ra khỏi trạng thái “bầy ngời nguyên thuỷ'', thì tổ chức xã hội đầu tiên, đồng thời là tổ chức cộng đồng ngời đầu tiên ra đời đó là thị tộc
Ăngghen chỉ rõ “thị tộc trong chừng mực những tài liệu hiện có cho phép chúng
ta phán đoán là một thiết chế chung cho tất cả các dân dã man, cho đến tận khi
họ bớc vào thời đại văn minh, và thậm chí còn lâu hơn nữa”2
Ăng ghen đã nghiên cứu thị tộc I-rô-qua, HyLạp, thị tộc của ngời Kentơ và của ngời Giécmanh, từ đó chỉ ra những đặc trng của thị tộc, trong đó quan hệ cộng đồng thân tộc- huyết tộc là đặc trng chủ yếu Đồng thời, thị tộc còn có những những mối liên hệ cộng đồng sau đây:
Các thành viên trong thị tộc có một thổ ngữ riêng
Mỗi thị tộc có những tục lệ, tập quán và nghi thức tín ngỡng riêng của mình Trong mỗi thị tộc hình thành những yếu tố văn hoá nguyên thuỷ mang sắc thái của cộng đồng sản sinh ra chúng
Mỗi thị tộc có tên gọi riêng
Thị tộc bầu ra tù trởng, thủ lĩnh quân sự và có thể bãi miễn họ khi thấy không xứng đáng
Nhiều thị tộc hợp lại thành một bào tộc, nhiều bào tộc hợp lại thành bộ lạc
Ăngghen viết: “Một thị tộc đã đợc coi là một đơn vị cơ sở của xã hội, thì toàn bộ chế độ thị tộc, bào tộc và bộ lạc đều phát triển từ đơn vị ấy với một sự tất yếu hầu nh không thể ngăn cản nổi - bởi vì đó là điều hoàn toàn tự nhiên: Cả ba tổ chức ấy là những mức độ khác nhau của quan hệ họ hàng, hơn nữa, mỗi tổ chức
đó là một thể hoàn chỉnh và tự quản lấy công việc của mình, nhng cũng lại bổ sung cho nhau”3
2 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 130.
3 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 146- tr 147.
Trang 4Cả ba tổ chức là thị tộc, bào tộc, bộ lạcđều có cơ sở chung từ chế độ thị tộc.
Và “với tất cả tính ngây thơ và giản dị của nó, chế độ thị tộc đó quả là một tổ chức tốt đẹp biết bao Không có quân đội, hiến binh và cảnh sát, không có quý tộc, vua chúa, tổng đốc, trởng quan và quan toà, không có nhà tù, không có những vụ sử án, thế mà mọi việc đều trôi chảy”4 Ăng ghen chỉ rõ: “Con ngời và xã hội loài ngời trớc khi có sự phân chia thành những giai cấp khác nhau là nh vậy đấy”5
Ăng ghen cho rằng các hình thức cộng đồng ngời trớc khi có giai cấp đều gắn với một nền sản xuất còn manh nha hoàn toàn, một dân c hết sức tha thớt, con ngời hoàn toàn phụ thuộc vào giới tự nhiên.Những con ngời của chế độ thị tộc không khác nhau và nh Mác nói, họ vẫn cha tách rời ra khỏi cái cuống nhau của cộng đồng nguyên thuỷ Ăngghen khẳng định quyền lực của cộng đồng nguyên thuỷ, của xã hội không giai cấp nhất định bị thay thế cho sự ra đời của chế độ văn minh mới - chế độ xã hội có giai cấp
Ăng ghen đã chỉ ra sự hình thành hình thức cộng đồng ngời gắn liền với sự phân chia giai cấp ,đó là bộ tộc Sự ra đời của bộ tộc phản ánh sự phát triển hơn của lực lợng sản xuất nhng cha có sự phát triển của kinh tế hàng hoá Ăng ghen viết:
“Do việc mua bán ruộng đất, do sự phát triển hơn nữa của phân công lao động giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp, giữa thơng nghiệp và hàng hải, và những thành viên của các thị tộc, bào tộc và bộ lạc chẳng bao lâu đã phải sống lẫn lộn với nhau;
và lãnh thổ của bào tộc và của bộ lạc đã phải thu nhận những ngời tuy cũng là đồng bào, nhng lại không thuộc những tập đoàn ấy, tức là những ngời lạ xét về nơi ở”6
4 Quan điểm duy vật lịch sử về giai cấp và đấu tranh giai cấp
Ăng ghen đã nghiên cứu phân tích trên lập trờng duy vật về sự hình thành giai cấp trong xã hội, đã chỉ ra những điều kiện kinh tế đã phá vỡ tổ chức hệ tộc, bộ lạc ngay từ giai đoạn cao các thời đại dã man và sự loại bỏ hoàn toàn các tổ chức đó khi xuất hiện thời đại văn minh Ăng ghen đã luận chứng một cách khoa học về sự hình thành giai cấp gắn liền với sự phát triển các lực lợng sản xuất, của những cuộc phân công lao động xã hội lớn Trong tác phẩm nguồn gốc của gia đình, của chế độ t hữu
và của nhà nớc”, Ăngghen đã trình bầy rõ ba lần phân công lao động xã hội lớn dẫn tới sự hình thành các giai cấp khác nhau trong xã hội văn minh
Sự phân công xã hội lớn đầu tiên là chăn nuôi tách khỏi trồng trọt, việc chăn
nuôi và coi giữ gia súc là ngành lao động chủ yếu của một số bộ lạc tiên tiến.
Những bộ lạc du mục tách rời khỏi bộ phận còn lại của những ngời dã man Vật phẩm chủ yếu mà các bộ lạc du mục trao đổi với những bộ lạc lân cận là gia súc, gia súc trở thành hàng hoá Ăngghen viết: “Những bộ lạc du mục tách rời khỏi bộ phận còn lại của những ngời dã man: Đó là sự phân công xã hội lớn đầu tiền Những bộ lạc du mục không những sản xuất nhiều thức ăn hơn những ngời dã man khác, mà những thức ăn do họ sản xuất ra cũng có nhiều loại hơn Không những họ
có nhiều sửa mà còn có de thú, len, lông dê cũng nh có một số lợng sợi và hàng diệt ngày càng tăng Vì vậy mà lần đầu tiên đã có thể có sự trao đổi đều đặn”7
4 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 147.
5 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 149.
6 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 166.
7 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 237- tr 238.
Trang 5Về thành tựu các công nghiệp trong giai đoạn này, Ăngghen chỉ ra có 2 thành tựu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đó là khung dệt và nấu quặng, chế tạo đồ kim loại (nhng cha biết khai thác sắt) Từ sự phân công xã hội lớn đầu tiên đã làm cho sản xuất tăng lên trong tất cả các ngành, sức lao động của con ngời “có khả năng sản xuất đợc nhiều sản phẩm hơn số sản phẩm cần thết cho sinh hoạt của họ” Sự phát triển của sản xuất đẻ ra nhu cầu phải thu hút những sức lao động mới và chiến tranh đã cung cấp những sức lao động mới, đó là tù binh bắt đợc trong chiến tranh
bị biến thành nô lệ Ăngghen đi đến khẳng định: “Trong những điều kiện lịch sử lúc
đó, sự phân công lao động xã hội lớn đầu tiên, do tăng năng xuất lao động, tức là tăng của cải và do mở rộng lĩnh vực hoạt động sản xuất, nhất định phải đa đến chế
độ nô lệ Từ sự phân công xã hội lớn đầu tiên, đã nẩy sinh sự phân chia lớn đầu tiên trong xã hội thành 2 giai cấp: chủ nô và nô lệ, kẻ bóc lột và ngời bị bóc lột”8
Sự phân công xã hội lớn đầu tiên đã làm thay đổi sự phân lao động trong gia
đình Việc tìm kiếm thức ăn cho những đàn gia súc của gia đình cá thể đợc trao cho ngời đàn ông, ngời đàn ông đảm nhiệm việc sản xuất ra công cụ và sử dụng công
cụ để tìm kiếm thức ăn cho gia súc Theo đó, sự thống trị của ngời đàn ông trong gia đình trở nên tất yếu
Phân tích tiếp sự phát triển của thời đại dã man, Ăngghen đã chỉ ra sự phân công lớn lần thứ hai, đó là: thủ công nghiệp đã tách khỏi nông nghiệp, từ đó xuất
hiện nền sản xuất hàng hoá Vào giai đoạn cao của thời đại dã man, con ngời biết
sử dụng sắt và chỉnh những công cụ bằng sắt đã làm cho của cả tăng nhanh và các ngành nghề phát triển theo hớng ngày càng chuyên môn hoá Ăngghen viết: “Của cải tăng lên nhanh chóng nhng với t cách là của cải các cá nhân, nghề dệt, nghề chế tạo đồ kim loại và những nghề thủ công khác ngày càng chuyên môn hoá, đã làm cho sản phẩm của chúng ngày càng có nhiều loại và ngày càng thêm hoàn hảo về mặt nghệ thuật Một hoạt động nhiều mặt nh thế không thể chỉ do độc một cá nhân tiến hành đợc nữa, sự phân công lớn thứ 2 đã diễn ra: thủ công nghiệp đã tách khỏi nông nghiệp”9 Và “Sự phân biệt giữa kẻ giầu và ngời nghèo đã xuất hiệu bên cạnh sự phân biệt giữa ngời tự do và ngời nô lệ: cùng với sự phân công mới là sự phân chia mới xã hội thành các giai cấp”10
Theo Ăngghen thì sự phân công lao động xã hội lớn lần thứ nhất và lần thứ hai gắn liền với giai đoạn giữa và giai đoạn cao của thời đại dã man Đến thời đại văn minh đã củng cố và phát triển các hình thức phân công đã có trớc nó và “bổ sung vào đó một sự
phân công thứ 3, một sự phân công chỉ đặc trng cho nó, có một ý nghĩa quyết định: Sự
phân công này sản sinh ra một giai cấp không còn tham gia sản xuất nữa, mà chỉ làm công việc trao đổi sản phẩm, đó là những thơng nhân”11
Sự phân tích quá trình hình thành giai cấp gắn với sự phát triển của lực lợng sản xuất, của phân công lao động xã hội trên đây của Ăngghen là sự phân tích hoàn toàn khoa học, thể hiện lập trờng duy vật triệt để của ông Theo Ăngghen thì nguyên nhân xét đến cùng của sự hình thành ra các giai cấp là sự phát triển của lực lợng sản xuất mà sự phát triển này là mang tính khách quan, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con ngời và của cộng đồn ngời: sự phát triển của lực lợng sản xuất tạo ra sản phẩm vợt hơn nhu cầu tối thiểu để tồn tại, tạo khả năng cho những ngời này chiếm đoạt lao động của ngời khác, và dẫn tới thay thế chế độ công hữu nguyên
8 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 240.
9 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 242.
10 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 243.
11 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 246.
Trang 6thuỷ về t liệu sản xuất bằng chế độ t hữu về t liệu sản xuất Chế độ t hữu này là cơ
sở trực tiếp của sự hình thành các giai cấp Tóm lại, là sự phân chia xã hội thành các giai cấp bắt nguồn từ nguyên nhân kinh tế và gắn liền với sản xuất vật chất, chứ không phải từ nguyên nhân chính trị, t tởng Sự xuất hiện giai cấp là một tất yếu lịch sử, là biểu hiện sự phát triển của xã hội bớc sang “thời đại văn minh” Ăngghen cũng đã chỉ rõ sự phân chia tiếp tục tồn tại trong suốt thời đại văn minh, “chế độ nô
lệ là hình thức bóc lột đầu tiên, mà chỉ riêng thế giới thời cổ mới có; kế tiếp nó là chế độ nông nô trong thời trung cổ, và chế độ lao động làm thuê trong thời hiện đại
Đó là ba hình thức nô dịch lớn đặc trng cho 3 thời kỳ lớn của thời đại văn minh”12 Theo t tởng của Ăngghen, khi nghiên cứu sự phân chia giai cấp trong xã hội cần phải đi từ nền sản xuất vật chất, từ sự phát triển của lực lợng sản xuất đợc biểu hiện qua phân công lao động xã hội, nhng cũng cần phải tính tới các yếu tố khác
ảnh hởng tới sự hình thành các giai cấp Đó là các cuộc chiến tranh, những thủ đoạn cớp bóc, những hành vi bạo lực đã góp hpần thúc đẩy nhanh quá trình phân hoá giai cấp Song bao lực không phải là nhân tố tạo ra chế độ t hữu và giai cấp Sự ra đời và mất đi của giai cấp đều dựa trên tính tất yếu kinh tế
Từ khi xã hội phân chia thành giai cấp thì đấu tranh giữa các các giai cấp với nhau là tất yếu và không thể điều hoà đợc Ăngghen viết: “Một xã hội do toàn bộ những điều kiện kinh tế của sự tồn tại của nó mà phải chia ra thành những ngời tự
do và nô lệ, thành những kẻ giầu có đi bóc lột và những ngời nghèo khổ bị bóc lột, một xã hội không những không thể lại điều hoà một lần nữa những mặt đối lập đó,
mà còn buộc phải đẩy chúng đi đến chỗ ngày càng gay gắt Một xã hội nh vậy chỉ có thể tồn tại trong cuộc đấu tranh không ngừng và công khai giữa các giai cấp đó với nhau ”13
Trong lời tựa viết cho lần xuất bản thứ nhất năm 1844, Ăngghen đã chỉ rõ sự khác nhau giữa xã hội cũ “dựa trân quan hệ dòng máu” với xã hội có sự phân chia giai cấp bị quan hệ sở hữu chi phối là ở đấu tranh giai cấp Và “Mâu thuẫn giai cấp cùng với đấu tranh giai cấp, cấu thành nội dung của toàn bộ lịch sử thành văn từ
tr-ớc đến nay”14
Đấu tranh giai cấp phát triển dần tới cách mạng xã hội Và theo Ăngghen thì tất cả mọi cuộc cách mạng đều nhằm bảo hộ loại sở hữu này chống lại một loại sở hữu khác Ăngghen đã chứng minh điều đó qua cách mạng Pháp Ngời viết: “Trong cuộc đại cách mạng Pháp ngời ta đã hy sinh sở hữu phong kiến để cứu sở hữu t sản”15
5 Quan điểm duy vật lịch sử về vấn đề nhà nớc.
Đây là một trong những vấn đề chủ yếu đợc Ăngghen trình bầy trong tác
phẩm và thể hiện sự phát triển sâu sắc những quan điểm của Mác về nhà nớc Vấn
đề nhà nớc đợc Ăngghen trình bày rõ qua chơng V đến chơng IX các tác phẩm, trong đó những kết luận quan trọng đợc chỉ ra trong chơng IX “thời đại dã man và thời đại văn minh”
12 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 261.
13 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 251.
14 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 44.- tr 45
15 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 173.
Trang 7Theo Ăngghen, nhà nớc ra đời là kết quả của sự phân công lao động xã hội, dẫn đến sự phân công xã hội thành giai cấp và mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà đợc dẫn đến sự ra đời của nhà nớc để duy trì xã hội trong một “trật tự” nhất
định Ăngghen viết: “Nhà nớc là sản phẩm của một xã hội đã phát triển tới một giai
đoạn nhất định; nó là sự thú nhận rằng xã hội đó bị lúng túng trong một mối mâu thuẫn với bản thân mà không sao giải quyết đợc, rằng xã hội đó đã bị phân thành những mặt đối lập không thể điều hoà mà xã hội đó bất lực không sao loại bỏ đợc Nhng muốn cho những mặt đối lập đó, những giai cấp có quyền lợi kinh tế mâu thuẫn nhau đó, không đi đến chỗ tiêu diệt lẫn nhau và tiêu diệt luôn cả xã hội trong một cuộc đấu tranh vô ích, thì cần phải có một lực lợng cần thiết, một lực lợng rõ ràng là đứng trên xã hội, có nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho sự sung
đột đó nằm trong vòng “trật tự” Và lực lợng đó, nẩy sinh ra từ xã hội, nhng lại
đứng trên xã hội và ngày càng tách khỏi xã hội, chính là nhà nớc”16
Sau này khi nghiên cứu quan điểm trên đây của Ăngghen, V.I.Lênin đã nhấn mạnh rằng Nhà nớc là sản phẩm của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà
đợc Và chỉ rõ t tởng của Ăngghen về việc Nhà nớc có thể “Làm dịu” mâu thuẫn, xung đột trong xã hội không có nghĩa Nhà nớc là cơ quan điều hoà mâu thuẫn giai cấp Nhà nớc không phải là một quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào xã hội, không phải là “hiện thực của ý niệm đạo đức” là “hình ảnh và hiện thực của lý tính” nh Hêghen khẳng định
Ăngghen đã chỉ ra những đặc trng cơ bản các nhà nớc, để phân biệt nhà nớc với các tổ chức trong xã hội Ăngghen viết: “So với tổ chức hệ tộc trớc kia thì đặc trng thứ nhất của nhà nớc là ở chỗ nó phân cia thần dân của nó theo địa vực , đặc trng thứ hai của nhà nớc là sự thiết lập một quyền lực công cộng, không còn trực tiếp là dân c tự tổ chức thành lực lợng vũ trang nữa, Để duy trì quyền lực công cộng đó, cần phải có sự đóng góp của công dân đó là thuế má” 17
Một điểm đặc biệt quan trọng mà trong tác phẩm “nguồn gốc các gia đình của chế độ t hữu và của nhà nớc” Ăngghen đã chỉ ra, đó là về bản chất giai cấp của nhà nớc Đi từ nguồn gốc ra đời của nhà nớc và những đặc trng cơ bản của nhà nớc trong xã hội có đối kháng giai cấp, Ăngghen đã chỉ rõ nhà nớc mang bản chất của một giai cấp, không có nhà nớc phi giai cấp Ăngghen viết: “Vì nhà nớc nảy sinh từ nhu cầu phải kiềm chế những sự đối lập giai cấp; vì nhà nớc đồng thời cũng nảy sinh ra giữa cuộc xung đột của các giai cấp ấy, cho nên theo lệ thờng, nhà nớc là nhà nớc của giai cấp có thế lực nhất, của cái giai cấp thống trị về mặt kinh tế và nhờ
có nhà nớc mà cũng trở thành giai cấp thống trị về mặt chính trị và do đó có thêm
đợc những phơng tiện mới để đàn áp và bóc lột giai cấp bị áp bức”18
Theo quan điểm của Ăngghen thì khi phân tích cơ cấu xã hội- giai cấp của một xã hội cụ thể, chúng ta có thể chỉ ra đợc nhà nớc trong xã hội ấy là của giai cấp nào Trong xã hội cũ dựa trên sự đối kháng giai cấp, chỉ có các nhà nớc của giai cấp chủ nô, giai cấp phong kiến, giai cấp t sản Không có cái gọi là nhà nớc phi giai cấp, nhà nớc điều hoà mâu thuẫn giai cấp nh những kẻ xuyên tạc chủ nghĩa Mác tuyên truyền Ăngghen còn khẳng định thêm: “Nhà nớc là một tổ chức của giai cấp hữu sản, dùng để bảo vệ giai cấp này, chống lại giai cấp không có của”19
16 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 252- tr 253.
17 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 253- tr 254.
18 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 255.
19 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 256.
Trang 8Tuy nhiên- theo Ăngghen- có những trờng hợp ngoại lệ nhà nớc tựa hồ nh của hai giai cấp cơ bản, đó là nhà nớc của thời kỳ mà trong đó cuộc đấu tranh của những giai cấp ấy đang ở thế “bình quân”, cân bằng tạm thời Song những trờng hợp này không tồn tại lâu dài Chẳng hạn nh chế độ quân chủ chuyên chế ở thế kỷ XVII và XVIII, chế độ Bônapáctơ của đế chế I, II, đế chế dân tộc Giécmanh mới thời Bixmác T tởng của Ăngghen về bản chất của Nhà nớc đã đợc Lênin trình bày rất chi tiết và sâu sắc trong tác phẩm “Nhà nớc và cách mạng”
Trong quá trình phân tích về nguồn gốc, bản chất giai cấp của nhà nớc,
Ăngghen luôn gắn những vấn đề đó với giai cấp và đấu tranh giai cấp Theo lôgíc trình bày của mình, Ăngghen xác định giai cấp là một phạm trù lịch sử gắn liền với giai đoạn phát triển kinh tế kinh tế nhất định và theo đó thì nhà nớc - sản phẩm trực tiếp của đấu tranh giữa các giai cấp - cũng là có tính lịch sử
Về t tởng nhà nớc tiêu vong, nhà nớc không tồn tại vĩnh viễn mà khi: “Giai cấp tiêu vong thì nhà nớc cũng không tránh khỏi tiêu vong theo Xã hội sẽ tổ chức lại nền sản xuất trên cơ sở liên hiệp tự do và bình đẳng giữa những ngời sản xuất, sẽ
đem toàn thể bộ máy nhà nớc xếp vào cái vị trí thật sự của nó lúc bấy giờ: vào viện bảo tàng đồ cổ, bên cạnh cái xa kéo sợi và cái rìu bằng đồng”20
Sau này trong tác phẩm “Nhà nớc và cách mạng”, Lênin đã bảo vệ và phát triển t tởng của Ăngghen về vấn đề nhà nớc tiêu vong Lênin chỉ ra rằng chỉ có nhà nớc vô sản mới tự tiêu vong đợc và để nó tự tiêu vong thì phải có đầy đủ những điều kiện cần thiết Trong “nguồn gốc của gia đình, của chế độ t hữu và của nhà nớc”,
Ăngghen cha có điều kiện đi vào phân tích quá trình tiêu vong của nhà nớc nhng
Ăngghen đã vạch ra những mâu thuẫn vốn có trong các chế độ xã hội cũ, khiến nó không thể tồn tại mà phải thay thế bằng chế độ xã hội cao hơn Kết thúc tác phẩm của mình, Ăngghen đã chỉ ra những điều mà xã hội có giai cấp trong thời đại văn minh đã làm đợc và những mâu thuẫn giai cấp sâu sắc của nó và để kết luận,
Ăngghen đã trích ra một xét đoán của Moócgan: “Sự diệt vong của xã hội đang
đứng sừng sững trớc mặt chúng ta một cách đe doạ nh là sự kết thúc của một quá trình lịch sử mà của cải là mục đích cuối cùng và duy nhất Vì một quá trình phát triển nh vậy đang chứa đựng những yếu tố làm cho chính nó bị tiêu diệt Đó sẽ là một sự hồi sinh- nhng dới một hình thức cao hơn- của tự do, bình đẳng và hữu ái của những thị tộc thời cổ”21
IV- ý nghĩa của tác phẩm
Trong khoảng thời gian rất ngắn, chỉ có hơn hai tháng, Ăngghen đã soạn thảo xong một tác phẩm lớn bàn về quá trình hình thành phát triển của xã hội loài ngời
từ khi hình thành cho đến khi bớc vào thời đại văn minh Ăngghen đã tập trung phân tích các vấn đề theo lập trờng duy vật, đặc biệt là các vấn đề về giai cấp, nhà nớc đã đợc trình bày hết sức sáng tỏ Các quan điểm Ăngghen đa ra có chỗ dựa tin cậy từ các tài liệu lịch sử, khoa học và đợc phát triển lên một trình độ cao, mang tính khoa học và cách mạng Do giá trị to lớn của tác phẩm cả về phơng diện lý luận
và thực tiễn mà sau này khi viết tác phẩm “Nhà nớc và cách mạng”, Lênin đã trích dẫn sử dụng những t tởng cơ bản trong tác phẩm của Ăngghen, coi đó là nguồn tài liệu cơ sở chủ yếu Những phần tử cơ hội xét lại, không chấp nhận đợc những t tởng quan trọng trong tác phẩm của Ăngghen khi bàn về giai cấp, nhà nớc, để tìm mọi
20 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 258.
21 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật Hà Nội 1995, tr 265.
Trang 9cách xuyên tạc những t tởng ấy Thực tế điều này cũng cho chúng ta thấy giá trị lâu bền của tác phẩm
Tác phẩm “nguồn gốc của gia đình, của chế độ t hữu và của nhà nớc” đợc viết sau khi Mác qua đời (1883) Đây là một việc làm mà sau này đợc Lênin đánh giá
nh là việc Ăngghen đã xây dựng cho C.Mác “một đài kỷ niệm vĩ đại” và trên đó
Ăngghen không ngờ đã khắc luôn tên tuổi của mình Tác phẩm ra đời cách đây đã hơn một trăm năm nhng nó đã và đang tỏ rõ sức sống mãnh liệt và giá trị bền vững của một tác phẩm kinh điển đánh dấu sự phát triển, hoàn thiện quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử của Ăngghen Sự phân tích lập luận của Ăngghen về lịch sử xã hội nguyên thuỷ và quá trình chuyển biến từ xã hội không giai cấp sang xã hội
có giai cấp; về xác định đấu tranh giai cấp nh là nội dung của lịch sử xã hội có giai cấp; về sự hình thành và tất yếu bị xoá bỏ của nhà nớc, đây là những nội dung căn bản đang thể hiện tính đúng đắn trong điều kiện mới Tuy nhiên, những nội dung này cha phải là hoàn tất mà nhiều điểm cần phải bổ sung, phát triển và cần phải nghiên cứu ở trong những tác phẩm kinh điển khác của Mác và Ăngghen
Chúng ta đang tiến hành công cuộc đổi mới đất nớc, xây dựng xã hội ở đó có dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu của cách mạng, có rất nhiều việc phải làm đồng thời, trong đó vấn đề quan trọng là phải xây dựng đợc Nhà nớc pháp quyền thật sự trong sạch vững mạnh, làm việc có hiệu quả, phải kiên trì và mềm dẻo linh hoạt trong tiến hành đấu tranh giai cấp Những công việc này đang rất cần phải đợc dẫn đờng bởi một lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, t tởng Hồ Chí Minh Trong đó, chúng ta không thể không nghiên cứu nắm vững thực chất các nội dung cơ bản của tác phẩm “nguồn gốc của gia đình, của chế độ t hữu và của Nhà nhớc” và bảo vệ phát triển nó một cách sáng tạo cho xứng với tầm vóc, giá trị lớn của tác phẩm này