Điều đó được giải thích bởi các lý do sau: Theo quan niệm của Malcolm Gillis thì DNNN được xác định theo 3 tiêu chuẩn sau: i Chính phủ là cổ đông chính trong doanh nghiệp, hoặc nếu không
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn : Th.S ĐẶNG THỊ LAN
Sinh viên thực hiện : DOÃN THỊ MAI HƯƠNG
Lớp : ANH 3 - K38 - KTNT
HÀ NỘI - 2003
Trang 2LỜI CẢM ƠN
EM XIN TRÂN TRỌNG CẢM ƠN CÔ GIÁO - THẠC SĨ ĐẶNG THỊ LAN – GIẢNG VIÊN KHOA QUẢN
TRỊ KINH DOANH TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI- ĐÃ TẬN TÌNH GIÚP ĐỠ EM
HOÀN THÀNH TỐT LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP VỚI ĐỀ TÀI: "CẢI CÁCH DNNN LÀ QUÁ TRÌNH TẤT
YẾU ĐỂ NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM"
EM CŨNG XIN CẢM ƠN CÁC THẦY CÔ GIÁO KHÁC CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
TRONG HƠN 4 NĂM QUA ĐÃ DẠY DỖ, TRANG BỊ CHO EM NHỮNG KIẾN THỨC QÚY BÁU LÀM
NỀN TẢNG CHO BÀI LUẬN VĂN NÀY
CON CŨNG XIN BÀY TỎ LÒNG BIẾT ƠN TỚI BỐ MẸ NGƯỜI ĐÃ GIÚP ĐỠ VÀ LUÔN TẠO CHO CON NHỮNG ĐIỀU KIỆN HỌC TẬP TỐT NHẤT
TÔI CŨNG RẤT TRÂN TRỌNG NHỮNG TÌNH CẢM VÀ SỰ KHUYẾN KHÍCH, ĐỘNG VIÊN CỦA BẠN BÈ – NHỮNG NGƯỜI LUÔN Ở BÊN VÀ GIÚP ĐỠ TÔI XIN CẢM ƠN CÁC BẠN
Trang 3MỤC LỤC
TRANG
LỜI NÓI ĐẦU 5
CHƯƠNG I: SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA VIỆC NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 6
I Khả năng cạnh tranh của nền kinh tế 6
1 Khái niệm 6
2 Những tiêu chí đánh giá khả năng cạnh tranh của nền kinh tế 7
3 Sự cần thiết khách quan của việc nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam 8
II Khái quát về doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam 10
1 Tất yếu khách quan của sự hình thành và phát triển doanh nghiệp Nhà nước 10
2 Quan niệm về doanh nghiệp Nhà nước 12
3 Vị trí, vai trò của doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế thị trường 14 3.1 Vị trí của DNNN 14
3.2 Vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường 15
CHƯƠNG II: CẢI CÁCH DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC LÀ QUÁ TRÌNH TẤT YẾU NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 18
I Quá trình cải cách DNNN 18
1 Các biện pháp đã được triển khai thực hiện 18
1.1 Đổi mới cơ chế, chính sách quản lý đối với DNNN 18
1.2 Sắp xếp, tổ chức lại các DNNN 20
1.3 Thực hiện cổ phần hoá các DNNN 23
2 Kết quả 24
2.1 Kết quả của việc đổi mới cơ chế, chính sách đối với DNNN 24
2.2 Kết quả của việc sắp xếp, tổ chức lại các DNNN 25
2.3 Một số kết quả của việc thực hiện cổ phần hóa các DNNN 26
3 Thực trạng DNNN hiện nay 29
3.1 Về số lượng, cơ cấuvà quy mô của DNNN 29
3.2 Về năng lực hoạt động của DNNN 33
II Nguyên nhân của những yếu kém tồn tại 38
1 Nhận thức về vị trí, vai trò của DNNN 38
2 Cơ chế, chính sách quản lý đối với DNNN còn nhiều hạn chế 39
3 Năng lực hoạt động của các DNNN còn nhiều hạn chế 41
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP TIẾP TỤC CẢI CÁCH DNNN NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ 45
I Phương hướng 45
1.Mục tiêu của cải cách DNNN 45
1.1 Một số quan điểm chủ yếu về nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN 45
1.2 Phương hướng cải cách 49
II Những giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN 52
1 Nâng cao năng lực của các DNNN 52
Trang 41.1 Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đối với DNNN 53
1.2 Hiện đại hóa công nghệ trong các DNNN 53
1.3 Nâng cao năng lực quản lý trong các DNNN 53
1.4 Quản lý và sử dụng có hiệu quả lao động trong các DNNN 54
1.5 Lành mạnh hóa tình hình tài chính của DNNN 55
2 Đổi mới tổ chức quản lý hệ thống DNNN 55
2.1 Đẩy mạnh cổ phần hóa DNNN 56
2.2 Thực hiện chế độ công ty đối với các DNNN và tổ chức Công ty đầu tư tài chính Nhà nước 56
2.3 Đổi mới mô hình tổng công ty Nhà nước 58
3 Nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với DNNN 60
3.1 Đổi mới mạnh mẽ cơ chế, chính sách quản lý đối với DNNN 60
3.2 Đổi mới cơ cấu tổ chức và chức năng quản lý nhà nước đối với DNNN 65
3.3 Nâng cao năng lực của cán bộ quản lý nhà nước đối với DNNN 67
KẾT LUẬN .69
PHỤ LỤC 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
TRONG NHỮNG NĂM QUA, VIỆT NAM ĐÃ CÓ NHỮNG BƯỚC ĐI QUAN TRỌNG TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ: GIA NHẬP ASEAN VÀ THAM GIA VÀO KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO ASEAN (AFTA) (1995); THAM GIA TIẾN TRÌNH Á - ÂU (ASEM) (1996) VÀ TRỞ THÀNH THÀNH VIÊN CHÍNH THỨC CỦA APEC (1998); KÝ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI SONG PHƯƠNG VIỆT NAM – HOA KỲ (2000) VÀ ĐANG ĐÀM PHÁN ĐỂ GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP NÀY ĐÃ MỞ RA CHO NỀN KINH TẾ VIỆT NAM NHIỀU CƠ HỘI PHÁT TRIỂN, NHƯNG BÊN CẠNH ĐÓ CŨNG ĐẶT RA KHÔNG ÍT THÁCH THỨC MỘT TRONG NHỮNG THÁCH THỨC RÕ RỆT NHẤT LÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM CÒN RẤT THẤP SO VỚI CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC VÀ TRÊN THẾ GIỚI
VÀ ĐỂ NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ, MỘT TRONG NHỮNG BIỆN PHÁP THƯỜNG ĐƯỢC NHẮC TỚI LÀ CẢI CÁCH DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VẬY CẢI CÁCH DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CÓ Ý NGHĨA NHƯ THẾ NÀO ĐẾN KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ? CHÚNG TA ĐÃ THỰC HIỆN NHỮNG GÌ VÀ NÊN TIẾP TỤC LÀM GÌ NHẰM CẢI CÁCH DNNN? NHỮNG CÂU HỎI NÀY KHIẾN EM THỰC SỰ RẤT MONG MUỐN ĐƯỢC PHÂN
TÍCH VÀ CHỨNG MINH LUẬN ĐIỂM "CẢI CÁCH DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC LÀ QUÁ TRÌNH
TẤT YẾU NHẰM NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM" TRONG LUẬN
VĂN TỐT NGHIỆP
QUÁ TRÌNH PHÂN TÍCH VÀ CHỨNG MINH SẼ ĐƯỢC TRÌNH BÀY CHỦ YẾU TRONG 3 CHƯƠNG:
CHƯƠNG 1 : SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA VIỆC NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH
TRANH CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
CHƯƠNG 2 : CẢI CÁCH DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC LÀ QUÁ TRÌNH TẤT YẾU NHẰM NÂNG
CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP TIẾP TỤC CẢI CÁCH DNNN NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH
TRANH CỦA NỀN KINH TẾ
TRONG QUÁ TRÌNH VIẾT LUẬN VĂN NÀY EM ĐÃ SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
LÀ PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG DUY VẬT, PHƯƠNG PHÁP LÔGIC, PHƯƠNG PHÁP TRỪU TƯỢNG HÓA KHOA HỌC, PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH VÀ TỔNG HỢP, PHƯƠNG PHÁP DIỄN DỊCH VÀ QUY NẠP, PHƯƠNG PHÁP LIỆT KÊ ĐỂ CÓ THỂ ĐƯA RA NHỮNG NHẬN ĐỊNH VÀ KẾT LUẬN ĐÚNG ĐẮN CHO TỪNG VẤN ĐỀ ĐƯỢC ĐỀ CẬP
DO GIỚI HẠN VỀ THỜI GIAN VÀ TẦM HIỀU BIẾT, LUẬN VĂN KHÔNG THỂ TRÁNH KHỎI NHỮNG THIẾU SÓT, HẠN CHẾ VÌ THẾ, EM RẤT MONG NHẬN ĐƯỢC NHỮNG Ý KIẾN ĐÓNG GÓP CỦA CÁC THẦY CÔ GIÁO VÀ CÁC BẠN
Trang 6CHƯƠNG 1
SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA VIỆC NÂNG CAO KHẢ NĂNG
CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ
Nhưng từ năm 1986, với chủ trương xây dựng nền kinh tế mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại cùng việc mất đi chỗ dựa là Liên Xô và các nước Đông Âu, nước ta đã thực sự tham gia vào thị trường khu vực và thế giới đầy tính cạnh tranh và đào thải Làm thế nào để có thể giữ vững vị thế của hàng nội địa tại thị trường trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu và thu hút đầu tư nhanh chóng trở thành những vấn đề có tính thời sự cấp bách Và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế cũng theo đó thu hút được sự quan tâm của mọi cấp, mọi ngành Vậy khả năng cạnh tranh của nền kinh tế là gì ?
Khi nói về khái niệm khả năng cạnh tranh của nền kinh tế (hay còn gọi là khả năng cạnh tranh quốc gia), các nhà chuyên môn của Việt Nam thường trích dẫn lại những định nghĩa do Ủy ban Cạnh tranh công nghiệp của Tổng thống Mỹ, Diễn đàn Kinh tế thế giới và OECD đưa ra:
Theo Ủy ban cạnh tranh công nghiệp của Tổng thống Mỹ, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế là
"mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của nhân dân nước đó"
Theo Báo cáo về cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế thế giới (World Economic Forum - WEF), khả năng cạnh tranh đối với một quốc gia là "khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên đầu người theo thời gian"
Còn Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD)
đã cố gắng kết hợp cả khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, ngành và quốc gia trong một định nghĩa chung
Đó là "khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế" [14, tr.12]
Những định nghĩa trên là chưa cụ thể và không phù hợp với cách hiểu của người Việt Nam Theo sự
nhìn nhận của cá nhân người viết, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế chủ yếu là khả năng thu hút, hấp thụ
đầu tư (đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài) và xác lập, duy trì, gia tăng lợi nhuận và thị phần của hàng hóa (hữu hình và vô hình) do nền kinh tế đó sản xuất ra trên thị trường trong nước và quốc tế Như vậy, khả
Trang 7năng cạnh tranh của nền kinh tế không phải là khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp hay khả năng cạnh tranh của hàng hóa Đó là 3 cấp độ khác nhau
Có quan điểm cho rằng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế là kết quả phép cộng khả năng cạnh tranh của tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế Lại có quan điểm cho rằng khả năng cạnh tranh của nền kinh
tế là kết quả phép cộng khả năng cạnh tranh của tất cả các hàng hóa do nền kinh tế sản xuất ra Trên thực tế, những quan điểm này chưa trọn vẹn vì mới đề cập đến năng lực cạnh tranh quốc gia trong lĩnh vực thương mại Để có năng lực cạnh tranh trong thu hút và hấp thụ đầu tư thì sức mạnh của doanh nghiệp và hàng hóa không phải là yếu tố duy nhất Muốn có được cái nhìn đầy đủ, ta hãy xem xét những tiêu chí đánh giá khả năng cạnh tranh của nền kinh tế
2 Những tiêu chí đánh giá khả năng cạnh tranh của nền kinh tế
Từ những khác biệt về cách tiếp cận và môi trường nghiên cứu, các nhà kinh tế học đã đưa ra rất nhiều tiêu chí khác nhau
Theo Michael Porter, tác giả cuốn sách "Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia" (The Competitive Advantages of Nations), khả năng cạnh tranh của nền kinh tế được quyết định bởi sự tác động qua lại giữa 6 nhân tố cơ bản:
- Các điều kiện sản xuất vốn có (lao động, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý )
- Các điều kiện của thị trường nội địa (số lượng cầu, sự đòi hỏi của người tiêu dùng )
- Các ngành công nghiệp bổ trợ và liên đới
- Chiến lược, cơ cấu của các công ty và sự cạnh tranh trong nội bộ ngành
- Chính phủ
- Các nhân tố ngẫu nhiên
Trong 6 nhân tố thì 4 nhân tố đầu đóng vai trò quyết định Nếu lợi thế dựa trên 1 trong 4 nhân tố được phát huy ở mức độ cao thì lợi thế dựa trên các nhân tố khác sẽ dần xuất hiện do có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các nhân tố Và chỉ khi đó lợi thế cạnh tranh của một quốc gia mới được giữ vững Việc mất lợi thế cạnh tranh dựa trên một trong những nhân tố trên cũng dễ dẫn đến việc mất lợi thế dựa trên những nhân
tố khác và sau đó là của cả quốc gia [20, tr.27]
Trên thực tế, trước năm 1996, để đánh giá và xếp hạng khả năng cạnh tranh của các quốc gia trên thế giới, Diễn đàn Kinh tế thế giới đã kết hợp với Viện Phát triển quản lý quốc tế (International Institute for Management Development - IMD) sử dụng mô hình tuyến tính đa nhân tố bao gồm 381 chỉ số Những chỉ số này được phân làm 8 nhóm nhân tố: độ mở cửa, chính phủ, hệ thống tài chính - tiền tệ, công nghệ, cơ sở hạ tầng, trình độ quản lý của doanh nghiệp, nguồn nhân lực và thể chế
Tuy nhiên, từ năm 1996 WEF và IMD quyết định đánh giá năng lực cạnh tranh của các quốc gia trên thế giới theo những phương pháp riêng Đối với IMD, phương pháp tính toán cũ hầu như được giữ nguyên, chỉ lược bỏ các chỉ số xuống còn 224 Về phần mình, WEF cũng giảm bớt số lượng chỉ số xuống còn
155, vừa kết hợp điều tra theo mẫu ở từng nước, vừa thăm dò ý kiến của 1500 công ty trên thế giới Khác
Trang 8với IMD, WEF không tiếp tục xem xét một số chỉ số như sự tăng trưởng của GDP, của xuất khẩu và của dòng FDI vào trong nước vì cho rằng đó là kết quả chứ không phải là nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh của một quốc gia WEF còn nhận định các nhóm nhân tố có tỷ trọng ảnh hưởng khác nhau
Từ năm 2000, WEF lại có sự điều chỉnh các nhóm tiêu chí, gộp thành 3 nhóm lớn là: sáng tạo kinh tế, khoa học công nghệ, tài chính và quốc tế hóa, trong đó trọng số của sáng tạo kinh tế, khoa học công nghệ đã tăng mạnh từ 1/9 lên 1/3 [12] [20]
Còn ở Việt Nam ta, năng lực cạnh tranh quốc gia thường được nhìn nhận theo các nhân tố sau 1 :
- Sự ổn định chính trị và trật tự - an toàn xã hội (nhất là sau sự kiện 11/9)
xã hội, hoạt động của Chính phủ, hệ thống tài chính - tiền tệ, hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, độ mở cửa của nền kinh tế, hệ thống pháp luật, trình
độ công nghệ, kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực và lợi thế tự nhiên Tuy tầm quan trọng và ảnh hưởng có khác nhau, giữa các nhân tố trên luôn có mối quan hệ tương tác qua lại và năng lực cạnh tranh quốc gia là sự cộng hưởng của tất cả
3 Sự cần thiết khách quan của việc nâng cao khả năng cạnh
tranh của nền kinh tế Việt Nam
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều theo đuổi nền kinh tế mở; theo
đó, các quan hệ kinh tế quốc tế, đặc biệt là ngoại thương và đầu tư đóng vai trò ngày một quan trọng Quốc gia nào cũng cố gắng đẩy mạnh xuất khẩu và thu hút đầu tư trong khi trên thị trường thế giới, mức cung nhiều mặt hàng đã dư thừa còn nhu cầu đối với vốn và công nghệ vẫn là vô hạn Thực tế này buộc họ phải tham gia vào một cuộc cạnh tranh gay gắt trong thương mại và thu hút đầu tư Phần thắng sẽ thuộc về ai có sức cạnh tranh cao hơn và thất bại đồng nghĩa với sự tụt hậu xa hơn nữa về kinh tế Vì vậy, năng lực cạnh tranh trở thành yếu tố quyết định vị trí của nền kinh tế quốc gia trong nền kinh tế thế giới Có được năng lực cạnh tranh càng cao thì nền kinh tế càng phát triển và ngược lại
1
Vũ Khoan "Hội nhập để phát triển" Tạp chí Cộng sản số đặc biệt + 2/2002 tr.21
Trang 9Một điều đáng nói nữa là khả năng cạnh tranh quốc gia luôn thay đổi Trong các Báo cáo cạnh tranh toàn cầu của WEF, Singapore đứng vị trí số 1 trong suốt 3 năm 1998, 1999, 2000 số 2 năm 2001 nhưng lại xuống thứ 10 năm 2002 Hà Lan có vị trí 12 năm 1998, lên 7 năm 1999, xuống 9 năm 2000 song lại vươn lên thứ 3 năm 2002 2 ví dụ trên chứng tỏ năng lực cạnh tranh cao ở hiện tại không đồng nghĩa với năng lực cạnh tranh cao trong tương lai và ngược lại Điều này buộc các nền kinh tế không ngừng nỗ lực nâng cao khả năng cạnh tranh của mình
Nỗ lực của Việt Nam phải lớn hơn nỗ lực của những nước khác rất nhiều vì sức cạnh tranh của nước ta từ trước đến nay rất thấp Năm 1986, khi đường lối mở cửa bắt đầu đi vào thực tiễn, Việt Nam bên trong khủng hoảng kinh tế - xã hội, bên ngoài bị cô lập cao độ Một nền kinh tế sản xuất không
đủ tiêu dùng, thu không đủ chi, xuất khẩu chỉ bằng 20 - 40% nhập khẩu, lạm phát lên đến 774,7% làm sao có được khả năng cạnh tranh cao Hơn 15 năm đã qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn về kinh tế, nhưng vẫn chưa thoát khỏi nhóm nước nghèo nhất thế giới và luôn đứng tốp cuối ở từng tiêu chí cũng như ở bảng xếp hạng khả năng cạnh tranh
Từ số liệu ở bảng dưới, có thể thấy năng lực cạnh tranh của Việt Nam rất thấp và đang có xu hướng tụt hậu Kể từ năm 1997, WEF đưa Việt Nam vào danh sách các nước được xếp hạng Tuy nhiên, có thể thấy vị trí của nước ta chưa bao giờ thoát khỏi nhóm 20 nước cuối bảng Về khả năng cạnh tranh kinh tế vi
mô, cũng là khả năng cạnh tranh hiện tại, năm 1997, Việt Nam là 1 trong 5 nước có sức cạnh tranh thấp nhất Năm 1998, nước ta vươn lên 43/53, nhưng là do nhiều nước trong khu vực và trên thế giới lâm vào khủng hoảng tài chính - tiền tệ Vị trí này từ đó đến năm 2001 liên tục giảm khi các nền kinh tế bị khủng hoảng nhanh chóng cải cách và hồi phục, khiến năng lực chậm được cải thiện của Việt Nam tiếp tục suy yếu trong tương quan so sánh: năm 1999 xuống 7 bậc so với năm 1998, đứng thứ 50; năm 2000 xuống 3 bậc, bị loại khỏi 50 nước; và năm 2001, xuống 9 bậc, xếp vị trí 62 Và năm 2002, tỡnh hỡnh cú khả quan hơn khi Việt Nam tiến lên hai bậc, đứng thứ 60 Tuy nhiên, về khả năng cạnh tranh tăng trưởng, tức khả năng cạnh tranh trong 5 đến 8 năm tới, vị trí của Việt Nam vị trớ của Việt Nam lại suy giảm, khi từ 60 xuống 65
Bảng 1 : Khả năng cạnh tranh của Việt Nam
theo các Báo cáo về cạnh tranh toàn cầu
Trang 10nghiệp) Trong năm 2002, theo bảng đánh giá mức độ tham nhũng của TI (Transparency International), Việt Nam thuộc nhóm 11 trong số 99 nhóm và tình trạng tham nhũng đã vượt Thái Lan (nhóm 16), Trung Quốc (nhóm 18) và Philippines (nhóm 20) [3][12][17]
Năm 2002, khả năng cạnh tranh hiện tại (current competitiveness index) của Việt Nam là 62/75, nhưng hoạt động và chiến lược doanh nghiệp và chất lượng môi trường kinh doanh đều chỉ đứng 64/75 Cũng trong năm này, PERC xếp Việt Nam đứng cuối bảng về mức độ công khai minh bạch trong hoạt động tài chính với số điểm 9,63/10 [12]
Với sức cạnh tranh yếu kém toàn diện như vậy, Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục phải đối mặt với nguy cơ tụt hậu
xa hơn nữa về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới Để đất nước không trở thành nơi khai thác tài nguyên thiên nhiên và là thị trường tiêu thụ cho các quốc gia khác, việc nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế là vấn đề tất yếu, có tầm quan trọng hàng đầu ở Việt Nam
II KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
1 Tất yếu khách quan của sự hình thành và phát triển doanh
nghiệp Nhà nước
DNNN được hình thành và tồn tại ở nhiều nước trên thế giới, tuy tỷ trọng có khác nhau giữa các nước Thực tế đó chỉ ra rằng, sự hình thành và phát triển của các DNNN không phải do ý chí chủ quan của một quốc gia, một tổ chức hay một cá nhân nào mà do những yếu tố khách quan quy định Các yếu tố đó bao gồm: sự gia tăng vai trò của nhà nước như một thực thể kinh tế, sự cần thiết phải khắc phục những khuyết tật của kinh tế thị trường, vai trò dẫn dắt và định hướng của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế hỗn hợp… Như vậy, tất yếu khách quan của DNNN thể hiện trên các mặt sau:
Một là, DNNN là công cụ để khắc phục những khuyết tật này của kinh tế thị trường Nền kinh tế thị
trường với đặc trưng chủ yếu là tự do kinh tế, tự do cạnh tranh với mục đích chủ yếu là thu lợi nhuận Do đó, kinh tế thị trường chứa đựng nhiều khuyết tật cố hữu như: tác động của chu kỳ kinh doanh dẫn đến khủng hoảng; cạnh tranh là động lực phát triển trong kinh tế thị trường nhưng đồng thời cũng gây ra sự đổ vỡ Mặt khác, trong thực tế cuộc sống, luôn có một số hàng hoá và dịch vụ mà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không làm được hoặc không muốn làm, còn trách nhiệm của nhà nước thì không thể để xã hội thiếu sản phẩm hoặc dịch vụ
Khu vực tư nhân không được phép làm có nghĩa là bị nhà nước cấm Có nhiều lý do cấm cụ thể Song
lý do chung nhất là, sự nguy hiểm, khó kiểm soát của việc sản xuất các hàng hoá và dịch vụ đó, nếu để khu vực tư nhân làm Chẳng hạn, việc trồng cây thuốc phiện để làm dược liệu cho bào chế thuốc bệnh, việc sản xuất vũ khí cho công cuộc bảo vệ Tổ quốc… Những sản phẩm này rất cần cho xã hội, nhưng nếu giao cho khu vực tư nhân sản xuất sẽ gây nguy hại cho xã hội
Trang 11Khu vực tư nhân không làm được có nghĩa là do tư nhân non gan, kém ý chí, thiếu hiểu biết, thiếu phương tiện và nguồn lực để đầu tư
Khu vực tư nhân không muốn làm có nghĩa là, việc sản xuất của các sản phẩm nào đó không mang lại lợi nhuận đủ sức hấp dẫn họ
Nhà nước không thể để cho xã hội thiếu sản phẩm và dịch vụ là vì, việc thiếu hàng hoá, dịch vụ có thể gây nên các bất ổn về chính trị – xã hội
Hai là, DNNN là một công cụ kinh tế quan trọng của nhà nước để thực hiện các tác động quản lý đối
với nền kinh tế nói riêng, xã hội nói chung
Trong nền kinh tế của bất kỳ quốc gia nào, nhà nước luôn là một thực thể kinh tế – chính trị quan trọng Thực tế ở nhiều nước chỉ ra rằng, sự thành công hay thất bại, tăng trưởng hay suy thoái, giàu hay nghèo đều tìm thấy nguyên nhân ở quản lý nhà nước và vai trò của nhà nước Để điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung, quan hệ xã hội trong kinh tế nói riêng, nhà nước có thể dùng phương pháp cưỡng chế, phương pháp tuyên truyền, thuyết phục và phương pháp kinh tế Mỗi phương pháp trên có lợi thế riêng của nó và chỉ
có thể áp dụng được trong những điều kiện nhất định Đồng thời, để áp dụng được mỗi phương pháp đó, Nhà nước phải chuẩn bị những phương tiện tương ứng Chẳng hạn, để cưỡng chế bằng pháp luật cần phải làm luật
và xây dựng lực lượng bảo vệ pháp luật Để tuyên truyền, thuyết phục phải xây dựng nội dung và hệ thống cơ quan, hệ thống phương tiện truyền thông Cũng như vậy, để kích thích kinh tế, Nhà nước phải có hệ thống các đòn bảy kinh tế Một trong những đòn bảy phải có là DNNN Vì thế mọi nước đều xây dựng một số DNNN nhất định, tuỳ môi trường và đối tượng quản lý của mỗi nước DNNN là một công cụ kinh tế rất đặc biệt Để có thực lực vật chất điều tiết nền kinh tế quốc dân, nhà nước có thể dùng vật tư dự trữ quốc gia Chẳng hạn, dùng dự trữ quốc gia để bán phá giá đầu cơ Tuy nhiên, có một số hàng hoá không thể dự trữ được, như điện năng, nước sạch và tất cả các loại dịch vụ Khi đó, chỉ có DNNN mới có thể đáp ứng được
Ba là, sự hình thành và tồn tại của DNNN ở nhiều nước như là một bộ phận kinh tế có vai trò định
hướng, dẫn dắt các thành phần kinh tế khác Trong nền kinh tế hỗn hợp gồm nhiều thành phần tham gia, cùng kinh doanh và bình đẳng trước pháp luật, kinh tế nhà nước chỉ là một bộ phận Tuy nhiên, đối với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thì "kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo, điều tiết, định hướng cho các thành phần kinh tế khác" [17, tr.27] Như vậy, trong hệ thống doanh nghiệp của nền kinh tế nhiều thành phần, DNNN có vai trò quan trọng là bộ phận cấu thành của kinh tế nhà nước Đối với các nước đang phát triển, để thực hiện chiến lược tăng tốc, tạo dựng cơ sở kinh tế của nhà nước XHCN, nhà nước tất yếu phải lựa chọn giải pháp phát triển các DNNN, tăng cường kinh tế nhà nước Việc lựa chọn này không mang tính chủ quan, mà là một tất yếu lịch sử trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia đang ở trình độ kinh tế chậm phát triển Đối với những nước này việc phát triển DNNN không chỉ là việc tập trung tư bản xã hội trong bước đầu phát triển kinh tế quốc dân mà còn có lợi thế hơn trong việc áp dụng công nghệ hiện đại Ngoài ra, DNNN còn trở thành "đối tác chính để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài trong hoạt động liên doanh, liên kết" [17, tr.27-28]
Bốn là, sự hình thành và phát triển DNNN như là một hình thức xã hội hoá sản xuất về mặt sở hữu
Sở hữu là một phạm trù kinh tế, nó vừa là kết quả, vừa là điều kiện cho sự phát triển của lực lượng sản xuất,
có tác dụng thúc đẩy hay kìm hãm đối với lực lượng sản xuất và suy cho cùng là đối với nền kinh tế của một quốc gia hay vùng lãnh thổ Sự biến đổi của quan hệ sở hữu là quá trình lịch sử, tất yếu và khách quan Trong
Trang 12các loại hình sở hữu thì sở hữu nhà nước có những đặc điểm mang tính quy luật của quá trình phát triển kinh
tế – xã hội Sở hữu nhà nước tuy mang tính đặc thù của mỗi chế độ chính trị – xã hội, nhưng nó có trình độ
xã hội hoá cao hơn sở hữu tư nhân Như vậy, sự ra đời và phát triển của DNNN – một bộ phận của sở hữu nhà nước, là sản phẩm tất yếu của việc xã hội hoá sản xuất kể cả ở các nước đang phát triển và các nước phát triển, cũng như các nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và các nước tư bản chủ nghĩa
Năm là, ở các nước theo định hướng XHCN, việc hình thành các DNNN là tất yếu khách quan nhằm định hướng nền kinh tế theo mục tiêu đã chọn, đồng thời góp phần làm cho kinh tế nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
2 Quan niệm về doanh nghiệp Nhà nước
Trong các tài liệu về kinh tế, có nhiều quan niệm khác nhau về DNNN Các quan niệm đó đều dựa trên các tiêu chí như sở hữu, mục đích hoạt động, cơ cấu tổ chức và hình thức hoạt động của doanh nghiệp, tuy vậy khái niệm về DNNN trên thế giới cũng được hiểu không thống nhất Cùng tiêu chí xác định doanh nghiệp như nhau nhưng có nước gọi là DNNN, song nước khác lại cho đó là doanh nghiệp tư nhân Mỗi khái niệm nhấn mạnh một số tiêu chí nhất định Tuy nhiên, cũng có thể tìm thấy những tiêu chí chung trong các định nghĩa của một số học giả như Johansen, Malcolm Gillis, Hanson, Ramanadham, Lintner, Short, Aharoni
và một số tổ chức quốc tế như Liên hiệp quốc, Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ thế giới Trong các quan niệm
về DNNN nêu trên thì quan niệm của Malcolm Gillis và Ramanadham được coi là phù hợp hơn với bản chất của DNNN và nó mang tính phổ biến Điều đó được giải thích bởi các lý do sau:
Theo quan niệm của Malcolm Gillis thì DNNN được xác định theo 3 tiêu chuẩn sau:
i) Chính phủ là cổ đông chính trong doanh nghiệp, hoặc nếu không thì Chính phủ có thể thực hiện việc kiểm soát những chính sách chung mà doanh nghiệp theo đuổi và bổ nhiệm hoặc cách chức ban quản lý doanh nghiệp
ii) Doanh nghiệp có nhiệm vụ sản xuất hàng hoá hoặc dịch vụ bán cho công chúng, hoặc cho các doanh nghiệp tư nhân hoặc DNNN khác
iii) Doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về thu chi trong hoạt động sản xuất – kinh doanh
Nếu một doanh nghiệp thiếu điều kiện thứ nhất thì doanh nghiệp đó là doanh nghiệp tư nhân Thiếu hoặc điều kiện thứ 2 hoặc điều kiện thứ 3 thì một tổ chức của Chính phủ không được coi là DNNN, mà được coi là cơ quan công cộng [17]
Theo V.V Ramanadham, DNNN là một tổ chức trong đó kết hợp những yếu tố "công ích" và những yếu tố "doanh nghiệp" [24]
Trang 13- Doanh nghiệp chịu trách nhiệm trước xã hội Điều đó không có nghĩa đơn giản chỉ là các nhà quản
lý doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước quyết định của họ, mà doanh nghiệp nói chung phải chịu trách nhiệm trước xã hội
ii) Những yếu tố "doanh nghiệp" là:
- Doanh nghiệp có thể tồn tại về mặt tài chính một cách dài hạn và hoạt động theo nguyên tắc thị trường
- Giá cả phải được thiết lập trên cơ sở chi phí, yêu cầu này xuất phát từ đòi hỏi giá của các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ phải bù đắp được chi phí sản xuất kinh doanh
Khả năng tồn tại về mặt tài chính và mối quan hệ giá cả - chi phí là những yếu tố phân biệt DNNN với các hoạt động công ích, ví dụ hoạt động an ninh, quốc phòng, giáo dục, y tế… Theo các định nghĩa trên, DNNN được xác định dựa trên những tiêu chí chung như quyền sở hữu, quyền kiểm soát của nhà nước, khả năng tồn tại trên thị trường, mục tiêu, mức độ tự chủ tài chính, quan hệ giá cả - chi phí Tuy nhiên, ranh giới xác định doanh nghiệp nào là DNNN chưa thống nhất Ví dụ, tiêu chí về quyến sở hữu của nhà nước trong DNNN rất khác nhau giữa các quốc gia Đối với Úc và Tây Ban Nha, DNNN là doanh nghiệp mà nhà nước nắm quyền sở hữu trên 50% tài sản, ở Italia là 25%, Malaysia là 20%, Hàn Quốc là 10% [19] Liên hiệp quốc đưa ra khái niệm về DNNN như sau: " Những xí nghiệp do nhà nước nắm toàn bộ hoặc một phần sở hữu và nhà nước kiểm soát tới một mức độ nhất định quá trình ra quyết định của xí nghiệp" [20]
Trong khi đó theo luật công ty (1994) của Trung Quốc, DNNN là doanh nghiệp mà nhà nước nắm cổ phần khống chế từ 35% trở lên [23] Như vậy, nhà nước không cần nắm giữ tỷ lệ vốn sở hữu lớn trong DNNN mà điều quan trọng là khả năng khống chế của nhà nước đối với doanh nghiệp Điều này cũng thống nhất với quan điểm của Đại hội lần thứ XV của Đảng Cộng sản Trung Quốc coi vai trò chủ đạo của "kinh tế quốc hữu… chủ yếu thể hiện ở sức mạnh khống chế của nó" [10, tr.39]
Như vậy, DNNN tồn tại ở nhiều nước trên thế giới và các doanh nghiệp này được sử dụng như một công cụ để phát triển và điều tiết nền kinh tế Quan niệm về DNNN ở các nước không giống nhau, nhưng vẫn
có điểm thống nhất chung, đó là căn cứ sở hữu và quyền chi phối đối với doanh nghiệp để phân biệt DNNN với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác
Ở Việt Nam, quan niệm về DNNN có sự thay đổi trong từng thời kỳ Theo Điều lệ xí nghiệp công nghiệp quốc doanh ban hành kèm theo Nghị định 50/HĐBT ngày 22/3/1988 và Quy chế về thành lập, giải thể DNNN ban hành kèm Nghị định 388/HĐBT ngày 20/11/1991 thì DNNN là doanh nghiệp do Nhà nước trực tiếp thành lập, tổ chức quản lý và điều hành hoạt động nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội của Nhà nước Việc thành lập các DNNN do cơ quan nhà nước đề nghị và trình cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thành lập Quan niệm về DNNN như vậy vẫn dựa trên tiêu chí sở hữu 100% vốn nhà nước và thể hiện sự can thiệp trực tiếp và toàn diện của nhà nước vào hoạt động của doanh nghiệp
Theo luật DNNN do Quốc hội khoá IX thông qua ngày 20/1/1995, DNNN là "tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao, DNNN có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi vốn do doanh nghiệp quản lý [18, tr.1] Nhìn chung, quan niệm về DNNN trong Luật cơ bản vẫn như đã quy định trong các văn bản pháp
Trang 14lý nêu trên Điểm khác biệt và tiến bộ là ở chỗ Luật này đã xác định rõ tư cách pháp nhân và trách nhiệm pháp lý hữu hạn của DNNN
Theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX và Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ ba (khoá IX) thì quan niệm về DNNN có đổi mới và được phát triển thêm một bước quan trọng Theo đó, DNNN không chỉ do Nhà nước nắm giữ 100% vốn mà còn bao gồm cả doanh nghiệp do Nhà nước chiếm cổ phần chi phối" [19, tr.6] Ngoài ra, DNNN không nhất thiết do Nhà nước trực tiếp thành lập và quản lý toàn
bộ hoạt động của doanh nghiệp mà Nhà nước chỉ quản lý và tổ chức thực hiện các quyền của chủ sở hữu đối với DNNN trong phần vốn góp của mình
Từ những phân tích trên có thể rút ra DNNN là doanh nghiệp do nhà nước nắm phần sở hữu khống chế do, chi phối hay quản lý các hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp Trong điều kiện của Việt Nam, DNNN
là những doanh nghiệp do Nhà nước đầu tư vốn và nắm tỷ lệ vốn khống chế
3 Vị trí, vai trò của doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế
thị trường
DNNN KHÔNG PHẢI LÀ DOANH NGHIỆP THÔNG THƯỜNG NHƯ CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ KHÁC DO VẬY, CÂU HỎI THẾ NÀO LÀ MỘT DNNN HOẠT ĐỘNG TỐT, HOẠT ĐỘNG CÓ HIỆU QUẢ, SẼ KHÔNG THỂ TRẢ LỜI ĐƯỢC, KHÔNG THỂ CÓ CÂU TRẢ LỜI LÀM VỪA Ý MỌI NGƯỜI, NẾU KHÔNG ĐỨNG TRÊN CÙNG MỘT XUẤT PHÁT ĐIỂM ĐÁNH GIÁ MỘT TRONG NHỮNG CƠ SỞ XUẤT PHÁT ĐIỂM ĐÓ LÀ VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA DNNN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
3.1 Vị trí của DNNN
DNNN có vị trí quan trọng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia Vị trí đó được xét trong ba mối quan hệ sau:
Một là, DNNN trong mối quan hệ với chính sách, chiến lược phát triển kinh tế, DNNN là lực lượng
trực tiếp tham gia thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội Trong mối quan hệ này vị trí của DNNN
có thể tăng hoặc giảm tuỳ theo chính sách và chiến lược phát triển kinh tế của từng giai đoạn phát triển nhất định
Hai là, tương quan của DNNN trong hệ thống giải pháp, công cụ kinh tế mà nhà nước lựa chọn để
điều tiết, thúc đẩy và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế Trong mối quan hệ này vị trí của DNNN được xem như là công cụ (trực tiếp hay gián tiếp) để điều tiết và thúc đẩy kinh tế
Ba là, tương quan giữa DNNN với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác trong nền
kinh tế hỗn hợp Tỷ trọng DNNN phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của mỗi nước Đối với các nước phát triển thì số lượng DNNN chiếm tỷ lệ nhất định và hoạt động trong một số ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh
tế Đối với những nước phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thì DNNN: "giữ vị trí then chốt
Trang 15trong nền kinh tế, làm công cụ vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô, làm lực lượng nòng cốt, góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo" [19, tr.6]
Ở Việt Nam, vị trí của kinh tế nhà nước và DNNN đã có bước chuyển quan trọng từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đó là, việc chuyển đổi khái niệm từ kinh tế quốc doanh sang khái niệm kinh tế nhà nước
và tách bạch giữa DNNN với kinh tế nhà nước Theo đó, DNNN được hiểu là một bộ phận quan trọng trong thành phần kinh tế nhà nước Bước chuyển về nhận thức này được bắt đầu từ Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đại hội Đảng khoá VII (tháng 1/1994) Trong báo cáo chính trị của Đảng tại Hội nghị này
đã khẳng định "Tài sản và vốn thuộc sở hữu nhà nước được sử dụng dưới nhiều hình thức, vừa đảm bảo hiệu quả kinh tế – xã hội cao, vừa tăng cường khả năng thúc đẩy và kiểm soát trực tiếp của Nhà nước đối với các hoạt động kinh tế như: đầu tư vào khu vực doanh nghiệp nhà nước, … giao quyền sử dụng đất lâu dài (đất đai, rừng…); cho thuê, tô nhượng (hầm mỏ), liên doanh; góp vốn cổ phần, mua cổ phiếu của các doanh nghiệp thuộc những thành phần kinh tế khác" [13]
Từ phân tích trên đây cho thấy, trong nền kinh tế thị trường việc hình thành sức mạnh của kinh tế nhà nước không chỉ từ các DNNN có 100% vốn Nhà nước mà còn bao gồm các nguồn thu từ vốn góp của Nhà nước vào các doanh nghiệp có sở hữu hỗn hợp và các doanh nghiệp thuần túy sở hữu khác
3.2 Vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị
TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM, CÁC DNNN CÒN ĐẢM BẢO CÁC ĐIỀU KIỆN CƠ SỞ HẠ TẦNG, DỊCH
VỤ XÃ HỘI NGÀY MỘT TỐT HƠN; CUNG ỨNG HÀNG HOÁ, VẬT
TƯ, NĂNG LƯỢNG CHỦ YẾU CHO NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN NHƯ ĐIỆN, SẮT THÉP, XI MĂNG, PHÂN BÓN, XĂNG DẦU, GIẤY VIẾT
… ĐỒNG THỜI, LÀ LỰC LƯỢNG CHỦ LỰC THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH XÃ HỘI THÔNG QUA CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG ÍCH DNNN LÀ ĐỘNG LỰC THÚC ĐẨY PHÂN BỐ LẠI NGUỒN LỰC, NHẤT LÀ NGUỒN VỐN VÀ NGUỒN NHÂN LỰC THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HOÁ TẠO TIỀN ĐỀ CHO VIỆC HÌNH THÀNH CÁC TRUNG TÂM KINH TẾ, VĂN HOÁ, ĐÔ THỊ MỚI
II)DNNN GIỮ VAI TRÒ QUAN TRỌNG CHI PHỐI NHỮNG NGÀNH, LĨNH VỰC VÀ SẢN PHẨM THEN CHỐT CỦA NỀN KINH TẾ DNNN BẢO ĐẢM HẦU HẾT YÊU CẦU SẢN PHẨM VÀ
Trang 16DỊCH VỤ CÔNG ÍCH, CÁC ĐIỀU KIỆN GIAO THÔNG, ĐIỆN, NƯỚC, THÔNG TIN, VẬT TƯ, HÀNG HÓA CHO XUẤT KHẨU VÀ THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC
III)DNNN LÀ LỰC LƯỢNG NÒNG CỐT TRONG TĂNG TRƯỞNG, XUẤT KHẨU, BẢO ĐẢM CÁC SẢN PHẨM QUAN TRỌNG CỦA NỀN KINH TẾ VÀ ĐÓNG GÓP CHO NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC; GÓP PHẦN QUAN TRỌNG BẢO ĐẢM CÁC CÂN ĐỐI LỚN VÀ ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ IV)CÁC DNNN LÀ NGƯỜI CUNG CẤP CÁC SẢN PHẨM CHỦ YẾU (CÁC HÀNG CÔNG NGHIỆP VÀ TIÊU DÙNG, TƯ LIỆU SẢN XUẤT VÀ CÁC DỊCH VỤ …) CHO NHU CẦU TRONG NƯỚC VÀ XUẤT KHẨU
V)CÁC DNNN LÀ ĐIỂM TỰA VÀ CÔNG CỤ QUAN TRỌNG CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC ĐIỀU TIẾT VĨ MÔ, KHẮC PHỤC NHỮNG KHUYẾT TẬT CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
DNNN LÀ LỰC LƯỢNG XUNG KÍCH ĐỂ NHÀ NƯỚC BỔ SUNG THỊ TRƯỜNG NHỮNG HÀNG HOÁ VÀ DỊCH VỤ CẦN THIẾT NHÀ NƯỚC SỬ DỤNG VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ XUNG KÍCH CỦA DNNN KHI NÀO LÀ LÚC CẦN THIẾT? ĐÓ LÀ KHI, KHU VỰC TƯ NHÂN KHÔNG LÀM ĐƯỢC HOẶC KHÔNG MUỐN LÀM, NHƯ ĐÃ PHÂN TÍCH Ở TRÊN CHỨC NĂNG NÀY ĐƯỢC CÁC DNNN THỰC HIỆN THÔNG QUA VIỆC CHÚNG CUNG CẤP NHỮNG HÀNG HOÁ VÀ DỊCH VỤ THEO CHỦ TRƯƠNG, KẾ HOẠCH CỦA NHÀ NƯỚC (CẦU) ĐỂ NHẰM VÀO CÁC KHOẢNG TRỐNG CỦA THỊ TRƯỜNG (CUNG)
TRONG VIỆC ĐIỀU TIẾT VĨ MÔ NỀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC PHẢI SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP VĨ MÔ NHƯ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH, CHÍNH SÁCH THUẾ, CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ… MẶT KHÁC, NHÀ NƯỚC CŨNG PHẢI DỰA VÀO DNNN ĐỂ KHỞI ĐỘNG, PHỤC HỒI KINH TẾ HOẶC KÌM HÃM LẠM PHÁT THÍ DỤ, KHI KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VẬT VỜ, UỂ OẢI, NHÀ NƯỚC SẼ ÁP DỤNG CÁC CHÍNH SÁCH VÀ BIỆN PHÁP VĨ MÔ NHẰM KÍCH THÍCH NHU CẦU NHƯNG DO LÃI SUẤT ÍT HOẶC THU HỒI VỐN CHẬM, NÓI CHUNG CÁC DOANH NGHIỆP KHÔNG MUỐN ĐẦU
TƯ DO VẬY, NHÀ NƯỚC PHẢI DỰA VÀO CÁC DNNN ĐỂ TĂNG NHU CẦU ĐẦU TƯ, TỪ ĐÓ THÚC ĐẨY TĂNG NHU CẦU
VI) DNNN LÀ NHỮNG CƠ SỞ QUAN TRỌNG NHẤT TRONG VIỆC ĐẦU TƯ, ỨNG DỤNG NHỮNG TIẾN BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ; THỰC HIỆN HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC ĐIỀU
ĐÓ THỂ HIỆN TRƯỚC HẾT BỞI SỰ CẤT CÁNH KINH TẾ CỦA MỖI QUỐC GIA KHÔNG THỂ THIẾU CÁC NGÀNH HẠ TẦNG VÀ KHÔNG THỂ KHÔNG XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH HẠ TẦNG, MÀ VIỆC XÂY DỰNG NÀY THƯỜNG ĐÒI HỎI NHỮNG KHOẢN ĐẦU TƯ LỚN, RỦI RO CAO, THU HỒI VỐN CHẬM, HIỆU QỦA XÃ HỘI RỘNG LỚN DO VẬY, NHỮNG DOANH NGHIỆP BÌNH THƯỜNG KHÔNG ĐỦ SỨC LÀM VÀ CŨNG KHÔNG MUỐN LÀM [2, TR.30-31] THỨ NỮA
LÀ, TRONG SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NGÀY NAY KHOA HỌC – KỸ THUẬT ĐÓNG VAI TRÒ THEN CHỐT CÁC DNNN MỚI CÓ CƠ SỞ VẬT CHẤT KỸ THUẬT VÀ NGUỒN LỰC ĐỂ CÓ KHẢ NĂNG CHUYỂN HOÁ THÀNH TỰU KHOA HỌC – KỸ THUẬT THÀNH LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT HIỆN THỰC TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM, VAI TRÒ DNNN CÒN THỂ HIỆN Ở VIỆC ĐỊNH HƯỚNG, DẪN DẮT CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ KHÁC
"GIỮ NHỮNG VỊ TRÍ THEN CHỐT, ĐI ĐẦU ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ;
Trang 17NÊU GƯƠNG VỀ NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ KINH TẾ – XÃ HỘI VÀ CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT" [15, TR.96]
BỞI LẼ DNNN CÓ MỘT VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ QUAN TRỌNG NHƯ VẬY ĐỐI VỚI NỀN KINH
TẾ, ĐỂ NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ, VIỆC CẢI CÁCH CÁC DNNN NHẰM NÂNG CAO KHẢ CẠNH TRANH LÀ MỘT YÊU CẦU TẤT YẾU
Trang 181 Các biện pháp đã được triển khai thực hiện
1.1 Đổi mới cơ chế, chính sách quản lý đối
Trên cơ sở Nghị quyết Đại hội VI của Đảng và Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ ba (khóa VI) năm 1987 về chuyển hoạt động của các đơn vị cơ sở kinh tế quốc doanh sang hạch toán kinh doanh
xã hội chủ nghĩa, Chính phủ đã có nhiều biện pháp quan trọng về đổi mới DNNN Khởi đầu là Quyết định 217/HĐBT ngày 14/11/1987 về việc thực hiện chế độ tự chủ sản xuất kinh doanh của các DNNN Tiếp đó, Chính phủ đã ban hành một số văn bản như Nghị định số 50/HĐBT ngày 23/3/1988 ban hành Điều lệ xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, Nghị định 98/HĐBT ngày 2/6/1988 ban hành Quy định về quyền làm chủ tập thể lao động tại xí nghiệp, Nghị định 27/HĐBT ban hành Điều lệ về liên hiệp xí nghiệp…
Năm 1990, Nhà nước thực hiện thí điểm trao quyền quản lý và sử dụng vốn, trách nhiệm bảo toàn vốn cho DNNN Đến năm 1991, mở rộng việc giao vốn nhà nước và quy định trách nhiệm bảo toàn vốn của DNNN Trong thời kỳ này, Nhà nước đã chuyển từ phương pháp quản lý trực tiếp bằng việc đầu tư vốn và tài sản ở DNNN sang hình thức giao cho tập thể cán bộ công nhân viên chức và giám đốc doanh nghiệp trực tiếp quản lý, sử dụng để sản xuất kinh doanh
Trang 19Tại Nghị định 196/HĐBT ngày 11/12/1988 và Nghị định 15/CP ngày 2/3/1993, Chính phủ đã quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các bộ trên lĩnh vực quản lý nhà nước về kinh tế theo hướng giảm bớt chức năng chủ quản của bộ Theo đó các bộ chỉ có 4 nhiệm vụ là: quyết định thành lập, tách nhập, giải thể DNNN; giao quyền sử dụng vốn và tài sản cho DNNN, bổ nhiệm giám đốc, phó giám đốc doanh nghiệp; kiểm soát hoạt động kinh doanh của DNNN Để hoàn chỉnh hơn khung pháp lý cho DNNN hoạt động, trong thời gian từ 1988 đến 1990 Chủ tịch Hội đồng Nhà nước đã công bố Pháp lệnh Kế toán thống kê ngày 29/9/1989, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế ngày 28/9/1989, Pháp lệnh Trọng tài kinh tế ngày 12/01/1990 Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII đã khẳng định: "Nhà nước quản lý nền kinh tế nhiều thành phần bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác" Việc thực hiện quản lý kinh tế bằng pháp luật cũng được khẳng định trong Hiến pháp năm 1992
Luật DNNN được Quốc hội thông qua ngày 20/4/1995 là một cơ sở pháp lý quan trọng, quy định:
"DNNN là thực thể pháp nhân độc lập, tạo điều kiện cho các DNNN hoạt động có hiệu quả và thực hiện các mục tiêu do Nhà nước giao" [10] Luật DNNN ra đời là sự chuyển đổi quan trọng trong quản lý hoạt động của DNNN, tạo cơ sở pháp lý để giải quyết và khẳng định nhiều vấn đề có liên quan trong quan hệ giữa DNNN với Nhà nước Luật này đã chỉ rõ quan niệm DNNN; phân định rõ DNNN hoạt động sản xuất kinh doanh và DNNN hoạt động công ích; quyền tự chủ của DNNN; nghĩa vụ của DNNN đối với Nhà nước; định hướng phát triển khu vực DNNN; phân định quyền của cơ quan quản lý nhà nước và quyền của DNNN Bộ Tài chính được giao quyền và chịu trách nhiệm quản lý tài sản nhà nước tại DNNN
Chủ trương thành lập các Tổng công ty nhà nước có quy mô quốc gia không trực thuộc Bộ, ngành chủ quản là nhằm xoá bỏ dần chế độ Bộ chủ quản và cấp hành chính chủ quản đối với DNNN Tiếp theo Luật DNNN, Chính phủ đã ban hành Nghị định 59/CP ngày 3/10/1996 (được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 27/1999/NĐ - CP ngày 20/4/1999) ban hành quy chế quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối với DNNN chất lượng quản lý tài chính của DNNN được tăng cường theo hướng:
- Nhà nước chuyển từ hình thức cấp vốn (vốn cố định và vốn lưu động) sang hình thức giao vốn cho DNNN và chuyển hình thức định mức vốn cho từng doanh nghiệp sang hình thức xác định vốn điều lệ cho DNNN
- DNNN được quyền sử dụng vốn, quỹ và thay đổi cơ cấu vốn, tài sản để phục vụ phát triển kinh doanh theo nguyên tắc hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn; được đầu tư ra ngoài doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp không thuộc sở hữu của Nhà nước); được quyền huy động vốn dưới các hình thức: phát hành trái phiếu, cổ phiếu, vay vốn, nhận vốn, góp vốn liên kết và các hình thức khác nhưng không làm thay đổi hình thức sở hữu của DNNN; áp dụng việc mua bảo hiểm tài sản trong DNNN; hạch toán vào chi phí kinh doanh
để hình thành quỹ dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng các khoản thu khó đòi, dự phòng các khoản giảm giá giữa đồng tiền Việt Nam so với ngoại tệ… thực hiện chế độ trích lập quỹ dự trữ tài chính, quỹ dự phòng mất việc làm trong các DNNN Khuyến khích thực hiện khấu hao nhanh để các DNNN có điều kiện hiện đại hoá và nhanh chóng đổi mới công nghệ DNNN được quyền cho thuê, thế chấp, cầm cố, nhượng bán tài sản thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp để phục vụ cho kinh doanh và thu hồi vốn sử dụng cho mục đích kinh doanh có hiệu quả hơn Trong giá thành sản phẩm, ngoài các khoản trích lập quỹ dự phòng như đã nói ở trên thì DNNN còn được chi trợ cấp thôi việc cho người lao động, tiền thuê đất hoặc thuế sử dụng đất, chi cho quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại cho các hoạt động kinh doanh Trong trường hợp đặc biệt DNNN
Trang 20thua lỗ thì ngân sách nhà nước không cấp bù như trước đây mà doanh nghiệp phải lấy lãi của các kỳ kế tiếp
đó để bù lỗ Việc phân phối thu nhập của DNNN cũng đã thay đổi theo nguyên tắc gắn hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và hài hoà giữa quyền lợi của Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động
Ngày 31/12/1994 Quốc hội đã ban hành Bộ luật Lao động làm căn cứ pháp lý trong sử dụng lao động Tiếp đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định về hợp đồng lao động, theo đó chuyển việc sử dụng lao động từ hình thức biên chế vĩnh viễn sang hình thức hợp đồng lao động; quy định nghĩa vụ, quyền lợi của doanh nghiệp, của người lao động trong việc chấm dứt hợp đồng lao động cũng như mất việc làm; về thoả ước lao động tập thể; về mức lương tối thiểu, hệ thống thang bảng lương, chế độ trả lương, tiền thưởng trong doanh nghiệp và một số quy định khác có liên quan đến tiền lương của người lao động; về chế độ bảo hiểm xã hội;
về an toàn lao động, vệ sinh lao động, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
1.2 Sắp xếp, tổ chức lại các DNNN
Sắp xếp và tổ chức lại các DNNN được tiến hành trên cơ sở phân loại DNNN, thu gọn đầu mối, loại
bỏ các DNNN làm ăn không hiệu quả, tổ chức lại các tổng công ty nhà nước nhằm chấn chỉnh và xây dựng khu vực DNNN hoạt động có hiệu quả, đảm nhiệm được vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Các biện pháp này thực hiện như sau:
A) PHÂN LOẠI VÀ SẮP XẾP LẠI DNNN
ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DNNN TRÊN CƠ SỞ THU GỌN ĐẦU MỐI, ĐỔI MỚI CƠ CẤU DNNN, NHÀ NƯỚC ĐÃ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUAN TRỌNG SAU:
NGÀY 01/9/4990 HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG ĐÃ BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH 315/HĐBT YÊU CẦU CÁC DNNN PHẢI RA SOÁT LẠI CHỨC NĂNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH, RA SOÁT LẠI CÁC YẾU TỐ SẢN XUẤT KINH DOANH (VỐN, CÔNG NGHỆ, THỊ TRƯỜNG, TỔ CHỨC LAO ĐỘNG, TỔ CHỨC BỘ MÁY VÀ CÁN BỘ, SOÁT XÉT LẠI TÌNH TRẠNG TÀI CHÍNH DNNN, VIỆC CHẤP HÀNH KỶ LUẬT TÀI CHÍNH, KẾ TOÁN, THỐNG KÊ) NHỮNG XÍ NGHIỆP LIÊN TIẾP LỖ TRONG THỜI GIAN DÀI DO KHÔNG TIÊU THỤ ĐƯỢC SẢN PHẨM, KHÔNG THỰC HIỆN ĐƯỢC NHIỆM VỤ KINH DOANH, KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG THANH TOÁN VÀ KHÔNG THỂ KHẮC PHỤC ĐƯỢC BẰNG CÁC BIỆN PHÁP NHƯ CHUYỂN HƯỚNG SẢN XUẤT, THAY ĐỔI MẶT HÀNG, ĐẦU
TƯ TRANG BỊ LẠI, CŨNG NHƯ CÁC BIỆN PHÁP VỀ CHẤN CHỈNH VÀ TỔ CHỨC LẠI SẢN XUẤT KINH DOANH VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CẤP TRÊN… CÓ THỂ BỊ TUYÊN BỐ GIẢI THỂ
NGÀY 20/11/1991 HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG BAN HÀNH NGHỊ ĐỊNH 388/HĐBT QUY ĐỊNH VIỆC THÀNH LẬP, ĐĂNG KÍ, GIẢI THỂ DNNN NHẰM LOẠI BỎ NHỮNG DNNN ĐÃ THÀNH LẬP MỘT CÁCH TRÀN LAN, Ồ ẠT TRONG NHỮNG NĂM TRƯỚC ĐÓ CÁC CƠ QUAN CHỨC NĂNG CỦA CHÍNH PHỦ NHƯ BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ, BỘ TÀI CHÍNH, NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM, BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI ĐÃ BAN HÀNH NHIỀU THÔNG TƯ HƯỚNG DẪN VIỆC THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH 388/HĐBT LÀ MỘT CHỦ TRƯƠNG LỚN CỦA CHÍNH PHỦ TRONG VIỆC SẮP XẾP DNNN ĐÂY LÀ LẦN ĐẦU TIÊN QUY ĐỊNH CÁC ĐIỀU KIỆN TỐI
Trang 21THIỂU VỀ VỐN PHÁP ĐỊNH, NGÀNH NGHỀ KINH DOANH, QUY MÔ NHỎ NHẤT, LUẬN CHỨNG
VỀ THỊ TRƯỜNG, TIÊU THỤ SẢN PHẨM TRONG VIỆC LÀM THỦ TỤC THÀNH LẬP DNNN THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH 388/HĐBT, CÁC BỘ, ĐỊA PHƯƠNG VÀ TỪNG DNNN ĐÃ PHỐI HỢP TIẾN HÀNH RÀ SOÁT LẠI CHỨC NĂNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA TỪNG ĐƠN VỊ ĐỂ TỔ CHỨC THEO ĐÚNG CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ ĐƯỢC QUY ĐỊNH, VỪA ĐẢM BẢO GIÁM SÁT NHÀ NƯỚC TRÊN CƠ SỞ XEM XÉT TÌNH TRẠNG TÀI CHÍNH CỦA DNNN, ĐÁNH GIÁ TÀI SẢN
CỐ ĐỊNH, VỐN LƯU ĐỘNG, KẾT QUẢ LÃI, LỖ, TỒN KHO, NỢ NẦN, VIỆC CHẤP HÀNH KỶ LUẬT TÀI CHÍNH, KẾ TOÁN THỐNG KÊ ĐỂ LÀM RÕ THỰC TRẠNG YẾU KÉM CỦA DNNN VÀ TỰ ĐỀ
RA CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
NGÀY 25/8/1995 THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ ĐÃ BAN HÀNH CHỈ THỊ 500/ TTG VỀ VIỆC KHẨN TRƯƠNG TỔ CHỨC, SẮP XẾP LẠI DNNN NHẰM HƯỚNG CÁC DNNN ĐI VÀO HOẠT ĐỘNG THEO LUẬT DNNN, KẾT HỢP VỚI VIỆC XOÁ BỎ CHẾ ĐỘ BỘ CHỦ QUẢN VÀ CẤP HÀNH CHÍNH CHỦ QUẢN, KHẮC PHỤC MỘT BƯỚC TÌNH TRẠNG CÓ NHIỀU DNNN HOẠT ĐỘNG CÙNG NGÀNH NGHỀ TRÊN CÙNG ĐIẠ BÀN NHƯNG DO NHIỀU BỘ, NGÀNH, ĐỊA PHƯƠNG QUẢN LÝ TRONG ĐÓ, ĐẶC BIỆT YÊU CẦU PHẢI SẮP XẾP LẠI NGÀNH XÂY DỰNG VÀ CƠ KHÍ ĐỐI VỚI CÁC DNNN ĐÃ ĐƯỢC THÀNH LẬP THEO NGHỊ ĐỊNH 388/HĐBT ĐANG HOẠT ĐỘNG
CÓ HIỆU QUẢ VÀ PHÙ HỢP VỚI QUY HOẠCH SẼ KHÔNG LÀM THỦ TỤC THÀNH LẬP LẠI ĐỐI VỚI CÁC DNNN TUY ĐÃ ĐƯỢC THÀNH LẬP LẠI THEO NGHỊ ĐỊNH 388/HĐBT NHƯNG HIỆU QỦA THẤP, QUY MÔ NHỎ THÌ CÓ THỂ TỔ CHỨC LẠI THÔNG QUAN VIỆC HỢP NHẤT HOẶC SÁP NHẬP ĐỂ LÀM ĂN CÓ HIỆU QUẢ HƠN HOẶC THÀNH LẬP CÁC DNNN LỚN CÓ HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ DNNN ĐỊA PHƯƠNG CÓ THỂ LÀ THÀNH VIÊN CỦA CÁC TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC DNNN THUỘC TRUNG ƯƠNG QUẢN LÝ CÓ THỂ CHUYỂN CHO ĐỊA PHƯƠNG ĐỂ SẮP XẾP LẠI THEO ĐỊA BÀN LÃNH THỔ YÊU CẦU CỦA CHỈ THỊ 500/TTG LÀ PHẢI PHÂN BIỆT RÕ DNNN HOẠT ĐỘNG CÔNG ÍCH VÀ DNNN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
NGÀY 21/4/1998, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ ĐÃ BAN HÀNH CHỈ THỊ 20/1998/CT – TTG ĐỂ ĐẨY MẠNH SẮP XẾP VÀ ĐỔI MỚI DNNN, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ YÊU CẦU CÁC CẤP, CÁC NGÀNH KHẨN TRƯƠNG TIẾN HÀNH PHÂN LOẠI VÀ SẮP XẾP DNNN; CỦNG CỐ VÀ HOÀN THIỆN TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC; THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP LÀNH MẠNH HOÁ TÀI CHÍNH; LẬP KẾ HOẠCH ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ, HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH CỦA DNNN TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ THEO SỐ LIỆU CỦA BAN ĐỔI MỚI QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP TRUNG ƯƠNG ĐẾN KHOẢNG THÁNG 4/2000 ĐÃ THẨM ĐỊNH 64 TRONG SỐ 74 ĐỀ ÁN TỔNG THỂ SẮP XẾP DNNN DO CÁC BỘ, NGÀNH, ĐỊA PHƯƠNG, TỔNG CÔNG TY 91 ĐỂ TRÌNH THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ ĐÃ PHÊ DUYỆT 56 ĐỀ ÁN
ĐỂ TRIỂN KHAI THI HÀNH LUẬT DNNN, NGÀY 28/8/1996 CHÍNH PHỦ BAN HÀNH NGHỊ ĐỊNH 50/CP VỀ THÀNH LẬP, TỔ CHỨC LẠI, GIẢI THỂ, PHÁ SẢN DNNN VÀ SAU ĐÓ, NGÀY 28/4/1997 CHÍNH PHỦ ĐÃ BAN HÀNH NGHỊ ĐỊNH 38/CP VỀ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH 50/CP
Trang 22CÁC NGHỊ ĐỊNH NÓI TRÊN ĐÃ QUY ĐỊNH NHỮNG NGÀNH, LĨNH VỰC ĐƯỢC ƯU TIÊN XEM XÉT KHI THÀNH LẬP DNNN ĐÓ LÀ NHỮNG NGÀNH, LĨNH VỰC, ĐỊA BÀN HOẠT ĐỘNG
MÀ Ở ĐÓ DNNN PHẢI CÓ MẶT ĐỂ ĐIỀU TIẾT, HƯỚNG DẪN, THÚC ĐẨY SỰ TĂNG TRƯỞNG NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN ĐỒNG THỜI, NGHỊ ĐỊNH CŨNG QUY ĐỊNH VỐN ĐIỀU LỆ TẠI THỜI ĐIỂM THÀNH LẬP KHÔNG THẤP HƠN MỨC VỐN PHÁP ĐỊNH CỦA NGÀNH NGHỀ KINH DOANH
BẰNG VIỆC THỰC HIỆN ĐỒNG BỘ CÁC BIỆN PHÁP NÊU TRÊN, SỐ LƯỢNG DNNN GIẢM ĐÁNG KỂ, CƠ CẤU DNNN BƯỚC ĐẦU ĐƯỢC ĐIỀU CHỈNH HỢP LÝ HƠN, NHỜ ĐÓ MÀ CÓ TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC TỚI QUÁ TRÌNH TÍCH TỤ VÀ TẬP TRUNG VỐN ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DNNN
TUY NHIÊN, BÊN CẠNH NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC, VIỆC SẮP XẾP DNNN MỚI CHỈ GIẢM ĐƯỢC SỐ LƯỢNG VÀ THU GỌN ĐƯỢC ĐẦU MỐI DNNN, CƠ CẤU VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DNNN CÒN NHIỀU HẠN CHẾ NĂM 2002, MỚI CÓ 40% DNNN HOẠT ĐỘNG CÓ HIỆU QUẢ, 31% KHI LÃI, KHI LỖ VÀ 29% LIÊN TỤC THUA LỖ; QUY MÔ DNNN VẪN CHỦ YẾU LÀ VỪA VÀ NHỎ (VỐN DƯỚI 5 TỶ ĐỒNG CHIẾM TỚI 24,75%, TRONG ĐÓ CÓ 5,73% DNNN VỐN TỪ
1 TỶ ĐỒNG TRỞ XUỐNG) [14] NHIỀU DNNN THUA LỖ, KHÔNG HIỆU QUẢ, VỐN NHỎ VẪN ĐANG HOẠT ĐỘNG TRONG NHỮNG LĨNH VỰC MÀ NHÀ NƯỚC KHÔNG NHẤT THIẾT PHẢI CHI PHỐI
Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG CÒN NHIỀU DNNN KHÔNG ĐỦ ĐIỀU KIỆN THÀNH LẬP LẠI THEO NGHỊ ĐỊNH 388/HĐBT NHƯNG VẪN CHƯA ĐƯỢC XỬ LÝ, TIẾP TỤC HOẠT ĐỘNG KHÔNG ĐĂNG KÍ KINH DOANH VIỆC THÀNH LẬP MỚI DNNN VẪN CÒN TRÀN LAN, TRONG NHIỀU TRƯỜNG HỢP CHƯA THỰC SỰ CẦN THIẾT, CHƯA ĐÚNG QUY ĐỊNH VÀ HỘI ĐỦ ĐIỀU KIỆN, NHẤT LÀ VỐN NHÀ NƯỚC CÒN RẤT NHỎ, PHẦN LỚN KHÔNG CÓ VỐN LƯU ĐỘNG DO NGÂN SÁCH CẤP SỐ DNNN ĐÃ LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN NHƯNG HẦU HẾT CHƯA THỰC HIỆN ĐƯỢC VIỆC PHÁ SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT
B) TỔ CHỨC LẠI CÁC TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC
ĐỂ NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÁC DNNN, ĐỒNG THỜI THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG XOÁ BỎ DẦN CHẾ ĐỘ BỘ CHỦ QUẢN, CẤP HÀNH CHÍNH CHỦ QUẢN VÀ TẬP TRUNG PHÁT TRIỂN DNNN TRONG NHỮNG NGÀNH QUAN TRỌNG, THEN CHỐT, NGÀY 7/3/1994, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ ĐÃ BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH SỐ 90/TTG VÀ QUYẾT ĐỊNH 91/TTG VỀ VIỆC THÀNH LẬP CÁC TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC TRÊN CƠ SỞ SẮP XẾP, ĐĂNG KÍ LẠI CÁC LIÊN HIỆP XÍ NGHIỆP, CÁC TỔNG CÔNG TY HIỆN CÓ MÀ CHƯA THỰC HIỆN ĐĂNG KÍ LẠI THEO NGHỊ ĐỊNH 388/HĐBT
NGÀY 20/1/1995 QUỐC HỘI THÔNG QUA LUẬT DNNN, TRONG ĐÓ QUY ĐỊNH: "TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC ĐƯỢC THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG TRÊN CƠ SỞ LIÊN KẾT CỦA NHIỀU ĐƠN VỊ THÀNH VIÊN, CÓ MỐI QUAN HỆ GẮN BÓ VỚI NHAU VỀ LỢI ÍCH KINH TẾ, CÔNG
Trang 23NGHỆ, CUNG ỨNG, TIÊU THỤ, DỊCH VỤ, THÔNG TIN, ĐÀO TẠO, NGHIÊN CỨU, TIẾP THỊ, HOẠT ĐỘNG TRONG MỘT HOẶC MỘT SỐ NGÀNH KINH TẾ – KỸ THUẬT CHÍNH, NHẰM TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG KINH DOANH CỦA CÁC ĐƠN VỊ THÀNH VIÊN VÀ THỰC HIỆN CÁC NHIỆM
VỤ CỦA CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI TRONG TỪNG THỜI KỲ" [18]
NGÀY 27/6/1995 CHÍNH PHỦ BAN HÀNH NGHỊ ĐỊNH 39/CP QUY ĐỊNH ĐIỀU LỆ MẪU VỀ
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC NHẰM CỤ THỂ HOÁ LUẬT DNNN
VÀ QUY ĐỊNH RÕ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA TỔNG CÔNG TY, HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ VÀ BAN KIỂM SOÁT, TỔNG GIÁM ĐỐC VÀ BỘ MÁY GIÚP VIỆC, TẬP THỂ NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG TỔNG CÔNG TY, ĐƠN VỊ THÀNH VIÊN CỦA TỔNG CÔNG TY, QUẢN LÝ PHẦN VỐN GÓP CỦA TỔNG CÔNG TY VÀ DNNN THÀNH VIÊN Ở CÁC DNNN KHÁC, TÀI CHÍNH CỦA TỔNG CÔNG
TY, MỐI QUAN HỆ CỦA TỔNG CÔNG TY VỚI CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC Ở TRUNG ƯƠNG VÀ ĐỊA PHƯƠNG
1.3 Thực hiện cổ phần hoá các DNNN
Cổ phần hóa DNNN là một chủ trương lớn, một giải pháp quan trọng tạo chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN ở Việt Nam Chủ trương này được đề ra tại Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương đảng khoá VII (vào tháng 11/1991): "Chuyển một số DNNN quốc doanh có điều kiện thành công ty cổ phần và thành lập một số công ty quốc doanh cổ phần mới, phải làm thí điểm chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm chu đáo trước khi mở rộng trong phạm vi thích hợp" [16] Mục tiêu chủ yếu của cổ phần hoá DNNN là nhằm thu hút thêm vốn cho DNNN tạo thêm động lực thúc đẩy các doanh nghiệp này kinh doanh có hiệu quả hơn, làm cho tài sản Nhà nước ngày càng tăng lên, không phải để tư nhân hóa như Nghị quyết Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (tháng 11/1994), Nghị quyết số 10/NQ – TW ngày 17/3/1995 của Bộ chính trị đã chỉ rõ: "tuỳ tính chất loại hình DNNN mà tiến hành bán một số tỷ lệ cổ phần cho cán bộ công nhân viên chức và các cá nhân ngoài DNNN" [5], [8] Ngày 26/12/1991, tại kỳ họp thứ 10, khoá VIII Quốc hội đã ra Nghị quyết về nhiệm vụ phát triển kinh
tế – xã hội 5 năm 1991 – 1995 trong đó ghi: "Thí điểm việc cổ phần hoá một số cơ sở kinh tế quốc doanh để rút kinh nghiệm và có thêm nguồn vốn phát triển" [11]
Thực hiện chủ trương cổ phần hoá DNNN của Đảng và Nhà nước, Chính phủ đã ban hành nhiều nghị quyết, quyết định, chỉ thị nhằm xác định cụ thể bước đi, phương thức tiến hành cổ phần hoá DNNN
Ngày 10/5/1990 Hội đồng Bộ trưởng đã ra Quyết định số 143/HĐBT đề ra chủ trương thí điểm chuyễn xí nghiệp quốc doanh thành công ty cổ phần đối với một số ít các xí nghiệp có đủ điều kiện và tiêu biểu Ngày 8/6/1992 Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định số 202/CT về tiếp tục thí điểm chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần; Ngày 8/6/1992 Hội đồng Bộ trưởng đã ra Quyêt định số 203/CT chọn 7 DNNN thí điểm và giao nhiệm vụ cho mỗi Bộ, Uỷ ban nhân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chọn từ 1-2 DNNN
để thí điểm chuyển thành công ty cổ phần Tiếp đó, ngày 4/3/1993 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 84/TTg về việc xúc tiến thực hiện thí điểm cổ phần hoá DNNN và các giải pháp đa dạng hoá hình thức sở hữu đối với DNNN
Trang 24Tháng 5/1996, Chính phủ ban hành Nghị định số 28/CP về chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần Đây là văn bản pháp lý đầu tiên quy định một cách tương đối đồng bộ về các chính sách đối với DNNN thực hiện cổ phần hoá Nghị định này được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 25/CP ngày 26/3/1997 và được thay thế bằng Nghị định số 44/1998/NĐ - CP ngày 19/6/1998 về việc chuyển DNNN thành công ty cổ phần Nghị định này còn quy định chính sách đối với DNNN và người lao động trong DNNN thực hiện cổ phần hoá như sau:
Về hình thức cổ phần hoá, Nghị định 44/CP quy định rõ ngoài ba hình thức quy định trước đây (theo Nghị định 28/CP) là: giữ nguyên giá trị thuộc vốn nhà nước hiện có tại các DNNN và phát hành cổ phiếu để thu hút thêm vốn; bán một phần giá trị thuộc vốn nhà nước hiện có tại DNNN; tách một bộ phận của DNNN
đủ điều kiện để cổ phần hoá nay bổ sung thêm một hình thức cổ phần hoá mới là bán toàn bộ giá trị hiện có thuộc vốn nhà nước tại DNNN để chuyển thành công ty cổ phần
Việc xác định giá trị DNNN thực hiện theo nguyên tắc: giá trị thực tế của DNNN là toàn bộ giá trị tài sản hiện có của DNNN tại thời điểm cổ phần hoá mà người mua và người bán cổ phần đều chấp nhận được (tức là phải theo giá thị trường) Lợi thế kinh doanh như vị trí địa lý, mặt hàng, chỉ được thêm tối đa là 30% vào giá trị thực tế của DNNN
Về chính sách đối với người lao động, Nghị định 44/CP thực hiện chính sách giảm giá 30% đối với số
cổ phần được mua với giá ưu đãi cho người lao động trong DNNN Người lao động có quyền sở hữu cổ phần của mình và có thể chuyển nhượng, thừa kế Chính sách này đã khắc phục được những khó khăn, tồn tại khi thực hiện Nghị định 28/CP
2 Kết quả
Đổi mới quản lý nhà nước đối với DNNN thời gian qua, thực chất là việc thay đổi cách ứng của Nhà nước đối với các DNNN thông qua việc thực hiện các biện pháp nhằm tháo gỡ cho DNNN Kết quả của các biện pháp đó cụ thể như sau:
2.1 Kết quả của việc đổi mới cơ chế, chính
và DNNN hoạt động sản xuất kinh doanh, quyền tự chủ của DNNN, nghĩa vụ của DNNN
Cơ chế, chính sách tài chính được đặc biệt quan tâm hoàn thiện theo hướng tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của DNNN đó là: DNNN được thực hiện nguyên tắc hạch toán kinh doanh, lấy thu bù chi,
Trang 25đảm bảo có lãi; Nhà nước giao vốn cho doanh nghiệp, doanh nghiệp có trách nhiệm quản lý, sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn của Nhà nước; DNNN được giữ khấu hao cơ bản tài sản cố định để tái đầu tư, đổi mới máy móc, thiết bị, mở rộng các hình thức huy động vốn cho DNNN
Ngoài phần vốn do ngân sách nhà nước cấp phát, doanh nghiệp được chủ động vay vốn ngân hàng, các đơn vị khác, các cá nhân trong và ngoài doanh nghiệp, được thí điểm phát hành trái phiếu để vay vốn; đa dạng hoá hình thức sở hữu các DNNN Nhà nước khuyến khích DNNN tích tụ tập trung vốn cho sản xuất – kinh doanh thông qua chính sách trích thưởng từ lợi nhuận tạo ra động lực vật chất gắn bó người lao động với DNNN…
Tuy vậy, việc đổi mới cơ chế chính sách quản lý đối với DNNN thời gian qua còn có những hạn chế cần sớm được nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện Nhiều cơ chế, chính sách còn chồng chéo gây khó khăn, phiền hà cho doanh nghiệp; thủ tục hành chính còn rườm rà, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, vay vốn, thẩm định dự án đầu tư… ảnh hưởng đến cơ hội kinh doanh của DNNN Chính sách thuế còn nhiều bất hợp lý, chưa tạo điều kiện thật sự để DNNN tích tụ vốn, chủ động tái đầu tư phát triển, chưa chú trọng nuôi dưỡng nguồn thu, tạo lập quỹ dự phòng của doanh nghiệp đề phòng rủi ro trong cơ chế thị trường Đối với loại hình DNNN công ích và DNNN hoạt động sản xuất kinh doanh chưa có cơ chế tài chính phù hợp với hình thức hoạt động của các DNNN này
Cơ chế quản lý nội bộ DNNN còn chậm đổi mới, chưa phát huy được vai trò làm chủ của người lao động, động viên sức lực, trí lực của các bộ quản lý, toàn tâm, toàn ý phục vụ DNNN Cơ chế tuyển chọn, bổ nhiệm giám đốc DNNN còn nhiều hạn chế, chưa gắn tiêu chuẩn, trách nhiệm và lợi ích của cán bộ quản lý với hiệu quả hoạt động của DNNN
2.2 Kết quả của việc sắp xếp, tổ chức lại các
DNNN
Trên cơ sở sắp xếp lại 250 liên hiệp xí nghiệp và tổng công ty, đến nay cả nước có 17 tổng công ty 91 với 532 DNNN thành viên và 77 tổng công ty 90 với 860 DNNN thành viên hạch toán độc lập Tính đến tháng 12 năm 2002, các tổng công ty nhà nước có 1.392 DNNN thành viên, chiếm 25,16% tổng số DNNN, 65% vốn nhà nước tại DNNN, 61% lao động của khu vực DNNN Các tổng công ty đã chi phối được các ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, là một công cụ vật chất quan trọng để Nhà nước đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đảm bảo các cân đối lớn, cung cấp những sản phẩm trọng yếu cho nền kinh tế quốc dân như điện, than, xi măng, phân bón, xăng dầu, giấy viết, thép… Các tổng công ty đã thực hiện nhiều biện pháp bảo toàn và phát triển vốn Ngoài vốn ngân sách nhà nước cấp, đến cuối năm 2002, riêng 17 tổng công ty 91 đã có nguồn vốn tự bổ sung thêm được 18.038 tỷ đồng, chiếm 22,5% tổng số vốn sản xuất kinh doanh của các tổng công ty 91 [1] (xem biểu 2.1)
Biểu 2.1 Một số chỉ tiêu về Tổng công ty 91
TT CÁC CHỈ TIÊU VỀ HOẠT ĐỘNG 1996 2001 CHÊNH LỆCH
1 SỐ DNNN SẢN XUẤT KINH DOANH 492 532 40
2 SỐ DNNN HÒA VỐN 12 12 0
3 SỐ DNNN LỖ 50 23 -27
4 SỐ DNNN CÓ LÃI 436 361 -75
Trang 26MỘT SỐ TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC ĐƯỢC GIAO NHIỆM VỤ NHƯNG CHƯA LÀM TỐT VAI TRÒ TRONG VIỆC BẢO ĐẢM CÂN ĐỐI KỊP THỜI NHU CẦU CỦA MỘT SỐ MẶT HÀNG THIẾT YẾU ĐỐI VỚI SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG CÓ TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC CÒN Ỷ LẠI VÀO LỢI THẾ CÓ ĐƯỢC VÀ SỰ BẢO HỘ CỦA NHÀ NƯỚC, KHÔNG PHẤN ĐẤU GIẢM GIÁ THÀNH, ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, DỊCH VỤ PHỤC VỤ NGƯỜI TIÊU DÙNG, CHƯA TÍCH CỰC CHUẨN BỊ CHO CẠNH TRANH VÀ HỘI NHẬP
2.3 Một số kết quả của việc thực hiện cổ
phần hóa các DNNN
Bằng việc triển khai thực hiện đồng bộ những biện pháp trong việc cổ phần hóa, đến ngày hết năm
2001 cả nước đã có 772 doanh nghiệp và bộ phận DNNN (bằng 13% tổng số DNNN hiện có) của 10/13 bộ, 54/61 địa phương và 12/17 Tổng công ty 91 hòa thành chương trình cổ phần hóa Tổng số vốn nhà nước được đánh giá lại khi cổ phần hóa các DNNN nói trên là gần 3000 tỷ đồng (tăng từ 10 – 15% so với giá trị ghi trên sổ sách) tăng khoảng 13,7% so với trước khi cổ phần hóa, bằng 1,97% tổng số vốn nhà nước trong các DNNN Trong đó DNNN đã cổ phần hóa có 45 DNNN trước khi cổ phần hóa kinh doanh thua lỗ; số còn lại khi lãi, khi lỗ, tính chung thì có lãi ở mức thấp, nhưng là lãi trên số vốn nhà nước chưa được đánh giá lại Tốc độ cổ phần hóa DNNN của những năm gần đây như sau: trước năm 1999 cổ phần hóa được 116 DNNN; trong năm 1999 được 249 DNNN; năm 2000 được 212 DNNN; năm 2001 được 186 DNNN (xem đồ thị 2.1)
Trang 27Nguồn: http://www.vnn.vn
Các DNNN đã cổ phần hóa có vốn nhà nước dưới 1 tỷ đồng là 255 DNNN, chiếm khoảng 40,4%; loại
từ 1 đến 5 tỷ đồng là 219 DNNN, chiếm 34,8%; loại từ 5 đến 10 tỷ đồng là 94 DNNN, chiếm 14,9%; loại trên 10 tỷ đồng là 63 DNNN, chiếm 9,9% Các DNNN đã cổ phần hóa thuộc các Bộ, ngành, tổng công ty 91 chiếm 25%; thuộc các địa phương chiếm 75%
Trong các hình thức cổ phần hóa như: giữ nguyên giá trị DNNN phát hành thêm cổ phiếu, tách một bộ phận DNNN để cổ phần hóa, chuyển toàn bộ DNNN thành công ty cổ phần, bán một phần giá trị DNNN thì hình thức bán một phần giá trị DNNN được áp dụng nhiều nhất, chiếm 46,12% số DNNN được cổ phần hóa (xem biểu 2.2) Điều này lý giải bởi những nguyên nhân chủ yếu là trong điều kiện kinh tế – xã hội Việt Nam, thị trường tài chính còn sơ khai, thiếu thông tin về tình hình hoạt động và tài chính của các DNNN cũng như các biện pháp kỹ thuật để xác định giá trị tài sản của DNNN còn hạn chế nên chưa thể áp dụng các biện pháp phát hành cổ phiếu rộng rãi cho công chúng Ngoài ra, vấn đề này còn chịu sự tác động bởi yếu tố tâm lý của đội ngũ các bộ quản lý và người lao động trong các DNNN và sự thận trọng của các nhà hoạch định chính sách khi lựa chọn các biện pháp cổ phần hóa
Trang 28TRONG SỐ 631 DNNN CỔ PHẦN HÓA:
NHÀ NƯỚC GIỮ CỔ PHẦN CHI PHỐI
GIÁ TRỊ TÀI SẢN TRƯỚC KHI CỔ PHẦN HÓA
GIÁ TRỊ TÀI SẢN SAU KHI CỔ PHẦN HÓA
CHÊNH LỆCH GIÁ TRỊ KHI CỔ PHẦN HÓA (TỶ ĐỒNG)
VỀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DNNN SAU KHI CỔ PHẦN HÓA, QUA THỰC TẾ TẠI 202 DNNN ĐÃ CỔ PHẦN HÓA TRÊN MỘT NĂM CHO THẤY: CÓ 160 DNNN SẢN XUẤT KINH DOANH PHÁT TRIỂN HƠN SO VỚI TRƯỚC KHI CỔ PHẦN HÓA TÍNH CHUNG DOANH THU CỦA CÁC DNNN NÀY TĂNG 1,4 LẦN, LỢI NHUẬN TĂNG 2 LẦN, CỔ TỨC BÌNH QUÂN MỘT THÁNG ĐẠT TỪ 1% ĐẾN 2%, NỘP NGÂN SÁCH TĂNG 1,2 LẦN, THU NHẬP BÌNH QUÂN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TĂNG 22%, SỐ LƯỢNG CÔNG NHÂN VIÊN TĂNG 5,1% PHẦN VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DNNN KHÔNG NHỮNG ĐƯỢC BẢO TOÀN MÀ CÒN TĂNG THÊM 66,420 TỶ ĐỒNG (TỪ 377,343 TỶ ĐỒNG LÊN 442,763 TỶ ĐỒNG) BẰNG NGUỒN LỢI NHUẬN ĐỂ LẠI [1] NGOÀI NHỮNG DNNN HOẠT ĐỘNG CÓ HIỆU QUẢ SAU KHI CỔ PHẦN HÓA, CŨNG CÓ 42 DNNN TUY MẶT NÀY, MẶT KHÁC GIẢM SO VỚI TRƯỚC KHI CỔ PHẦN HÓA, NHƯNG CHƯA CÓ DNNN NÀO LÂM VÀO TÌNH TRẠNG GIẢI THỂ, PHÁ SẢN
VỀ VIỆC THỰC HIỆN MỤC TIÊU HUY ĐỘNG THÊM VỐN TRONG XÃ HỘI, TRONG 772 DNNN ĐÃ CỔ PHẦN HÓA, GIÁ TRỊ TÀI SẢN TRÊN SỔ SÁCH KẾ TOÁN TRƯỚC KHI CỔ PHẦN HÓA LÀ 2.388 TỶ ĐỒNG, KHI CỔ PHẦN HÓA ĐƯỢC ĐÁNH GIÁ LẠI LÀ 2.714 TỶ ĐỒNG, TĂNG 13,7% SAU KHI CỔ PHẦN HÓA, CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT HÀNH THÊM 1.011 TỶ ĐỒNG
CỔ PHIẾU ĐỂ THU HÚT VỐN DO QUY MÔ VỐN NHÀ NƯỚC CỦA CÁC DNNN CỔ PHẦN HÓA NÓI CHUNG LÀ NHỎ (BÌNH QUÂN 3,78 TỶ ĐỒNG/DNNN) NÊN HUY ĐỘNG THÊM TRONG XÃ HỘI CÒN ÍT, MỚI ĐẠT 2.747 TỶ ĐỒNG
VIỆC CỔ PHẦN HÓA MỘT BỘ PHẬN DNNN ĐÃ TẠO RA LOẠI HÌNH DNNN CÓ NHIỀU HÌNH THỨC SỞ HỮU LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG CÓ CỔ PHẦN TRONG DNNN VÀ CỔ ĐÔNG NGOÀI DNNN TRỞ THÀNH NGƯỜI CHỦ THỰC SỰ CỦA DNNN, CÓ QUYỀN LỢI VÀ NGHĨA VỤ
RÕ RÀNG THEO LUẬT ĐỊNH ĐIỀU NÀY ĐÃ TẠO THÊM ĐỘNG LỰC TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ HÌNH THÀNH CƠ CHẾ KIỂM SOÁT CÓ HIỆU QUẢ HƠN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ
XÃ HỘI ĐỐI VỚI DNNN, TĂNG ĐƯỢC NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG, TIẾT KIỆM CHI PHÍ (CÁC CÔNG
TY CỔ PHẦN BÌNH QUÂN GIẢM ĐƯỢC CHI PHÍ KHOẢNG 20%, CÁ BIỆT CÓ CÔNG TY GIẢM TỚI 50% SO VỚI TRƯỚC KHI CỔ PHẦN HÓA), HẠ ĐƯỢC GIÁ THÀNH, NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH, BẢN THÂN NGƯỜI LAO ĐỘNG CÓ ĐƯỢC LỢI ÍCH LỚN HƠN (TỪ THU NHẬP VÀ CỔ TỨC), ĐỒNG THỜI VỚI LỢI ÍCH CỦA DNNN, LỢI ÍCH CỦA NHÀ NƯỚC CŨNG ĐƯỢC ĐẢM BẢO VIỆC THU HÚT VÀ PHÁT HUY TRÍ TUỆ CỦA CÁC CỔ ĐÔNG BÊN NGOÀI DNNN CŨNG TẠO THÊM ĐIỀU KIỆN NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ QUẢN LÝ Ở CÔNG TY CỔ PHẦN
Trang 29BÊN CẠNH NHỮNG KẾT QUẢ NÊU TRÊN, CÔNG VIỆC CỔ PHẦN HÓA CÒN TIẾN HÀNH CHẬM, VIỆC THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU CỔ PHẦN HÓA ĐỀ RA CÒN HẠN CHẾ NGUYÊN NHÂN CHỦ YẾU LÀ DO NHẬN THỨC VỀ CỔ PHẦN HÓA DNNN CHƯA NHẤT QUÁN; CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH CHƯA CỤ THỂ VÀ CÓ NHIỀU ĐIỂM CHƯA PHÙ HỢP VỚI THỰC TIỄN; SỰ LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO CỔ PHẦN HÓA KHÔNG ÍT NƠI CÒN DO DỰ VÌ SỢ "CHỆCH HƯỚNG"; MỘT SỐ CƠ QUAN NHÀ NƯỚC SỢ MẤT QUYỂN QUẢN LÝ CỦA MÌNH ĐỐI VỚI DNNN; NGƯỜI QUẢN LÝ VÀ NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DNNN ĐỀU SỢ MẤT SỰ BAO CẤP, SỰ BẢO HỘ CỦA NHÀ NƯỚC, SỢ MẤT QUYỀN LƠI, MẤT VIỆC LÀM
3 Thực trạng DNNN hiện nay
3.1 Về số lượng, cơ cấu và quy mô của
DNNN
A) SỐ LƯỢNG DNNN
SAU KHI THỰC HIỆN NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI DNNN, SỐ LƯỢNG DNNN HIỆN NAY
ĐÃ GIẢM MẠNH SO VỚI NHỮNG NĂM 1990 THEO SỐ LIỆU CỦA BAN ĐỔI MỚI QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP TRUNG ƯƠNG, SỐ DNNN GIẢM TỪ TRÊN 12.300 NĂM 1991 XUỐNG 5.571 VÀO THỜI ĐIỂM THÁNG 9 NĂM 2001 VÀ CÒN 5.531 VÀO THÁNG 6 NĂM 2002 (GIẢM 44,96% VỀ SỐ LƯỢNG, TRONG ĐÓ CHỦ YẾU LÀ DNNN QUY MÔ NHỎ VÀ DO ĐỊA PHƯƠNG QUẢN LÝ) TRONG ĐÓ, CÓ 1.877 DNNN DO TRUNG ƯƠNG QUẢN LÝ VÀ 3.654 DNNN DO ĐỊA PHƯƠNG QUẢN LÝ [1], [14]
SỐ LƯỢNG DNNN, LOẠI HÌNH TỔ CHỨC VÀ HÌNH THỨC SỞ HỮU VỐN CỦA NHÀ NƯỚC TRONG DNNN NHƯ BIỂU 2.3 DƯỚI ĐÂY:
- XÉT THEO MỤC TIÊU KINH TẾ XÃ HỘI VÀ MỤC ĐÍCH HOẠT ĐỘNG THÌ DNNN HOẠT ĐỘNG THEO LĨNH VỰC KINH DOANH CHIẾM ĐA SỐ, BẰNG 86,86% TỔNG SỐ DNNN CÁC DNNN HOẠT ĐỘNG CÔNG ÍCH CHỈ CHIẾM 13,14%
- THEO LOẠI HÌNH TỔ CHỨC DOANH NGHIỆP THÌ DNNN ĐỘC LẬP CHIẾM TỚI 58,09%, TỔNG CÔNG TY 90 CHIẾM 18,72% VÀ TỔNG CÔNG TY 91 CHIẾM 10,05%
BIỂU 2.3 DNNN PHÂN THEO TÍNH CHẤT HOẠT ĐỘNG VÀ HÌNH THỨC TỔ CHỨC
(THỜI ĐIỂM THÁNG 6/2002) PHÂN LOẠI DNNN SỐ LƯỢNG TỶ LỆ % TỔNG SỐ DNNN TRONG CẢ NƯỚC:
1.THEO TÍNH CHẤT HOẠT ĐỘNG:
- DNNN HOẠT ĐỘNG CÔNG ÍCH
- DNNN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
2.HÌNH THỨC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG:
- DNNN THÀNH VIÊN CỦA TỔNG CÔNG TY 91
- DNNN THÀNH VIÊN CỦA TỔNG CÔNG TY 90
- DNNN ĐỘC LẬP
5.571
732 4.839
560 1.043 3.326
100,00 13,14 86,86 10,05 18,72 58,09 NGUỒN HTTP://WWW.VNN.VN
Trang 30B) CƠ CẤU CỦA DNNN
BẰNG VIỆC THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI, SẮP XẾP DNNN CƠ CẤU DNNN, DNNN BƯỚC ĐẦU ĐƯỢC ĐIỀU CHỈNH TRÊN TẤT CẢ CÁC MẶT (THEO NGÀNH, VÙNG, QUY MÔ, HÌNH THỨC TỔ CHỨC DNNN VÀ HÌNH THỨC SỞ HỮU) NHƯ SAU:
- CƠ CẤU DNNN THEO LÃNH THỔ Ở BA MIỀN BẮC BỘ, TRUNG BỘ VÀ NAM BỘ ĐƯỢC THỂ HIỆN NHƯ SAU:
I) SO VỚI TỔNG SỐ DNNN TRONG CẢ NƯỚC, Ở CÁC TỈNH KHU VỰC BẮC BỘ, SỐ LƯỢNG CÁC TỔNG CÔNG TY 91 CHIẾM 60,3%, TỔNG CÔNG TY 90 CHIẾM 70,3% VÀ CÁC DNNN ĐỘC LẬP CHIẾM 43% TRONG ĐÓ, CÁC DNNN GIỮ 100% VỐN NHÀ NƯỚC CHIẾM 55%
II) Ở CÁC TỈNH KHU VỰC TRUNG BỘ, TỔNG CÔNG TY 91 CHIẾM 18,1%, TỔNG CÔNG TY
90 CHIẾM 6,9% VÀ CÁC DNNN ĐỘC LẬP CHIẾM 21,9% SỐ DNNN GIỮ 100% VỐN NHÀ NƯỚC CHIẾM 17%
III) Ở CÁC TỈNH KHU VỰC NAM BỘ, TỔNG CÔNG TY 91 CHIẾM 21,6%, TỔNG CÔNG TY 90 CHIẾM 22,8%, CÁC DNNN ĐỘC LẬP CHIẾM 35,1% SỐ DNNN GIỮ 100% VỐN NHÀ NƯỚC CHIẾM 28%
CƠ CẤU DNNN THEO VÙNG LÃNH THỔ CŨNG CÓ NHỮNG BIẾN ĐỔI TÍCH CỰC TUY NHIÊN, ĐẾN NAY CÁC DNNN PHÂN BỐ KHÔNG ĐỀU, CHỦ YẾU TẬP TRUNG Ở CÁC TỈNH KHU VỰC PHÍA BẮC (CHIẾM 57,5% SỐ DNNN) SỐ DNNN Ở CÁC KHU VỰC MIỀN TRUNG CHỈ CHIẾM 15,1% VÀ Ở CÁC TỈNH KHU VỰC PHÍA NAM CHIẾM 27,4%
TỪ VIỆC PHÂN TÍCH CƠ CẤU CỦA DNNN THEO LÃNH THỔ CÓ THỂ RÚT RA MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TÂM LÝ DÂN CƯ ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DNNN Ở VIỆT NAM NHƯ SAU:
MỘT LÀ, ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ CHỈ HUY, KẾ HOẠCH HÓA TẬP TRUNG TRƯỚC ĐÂY ẢNH
HƯỞNG RẤT LỚN ĐẾN DNNN TÍNH TRÌ TRỆ, Ỷ LẠI CỦA NHIỀU DNNN THỂ HIỆN RẤT RÕ Ở CÁC TỈNH PHÍA BẮC TÍNH QUÁ CỨNG (NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ TÍNH NGUYÊN TẮC) ĐÃ LÀM CHẬM QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI THỂ HIỆN RÕ HƠN ĐỐI VỚI CÁC DNNN Ở CÁC TỈNH KHU VỰC MIỀN TRUNG TÍNH NĂNG ĐỘNG NHƯNG CÓ PHẦN "TỰ DO" THỂ HIỆN RÕ Ở CÁC DNNN PHÂN BỐ Ở CÁC TỈNH PHÍA NAM TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG NHIỀU DNNN LÚNG TÚNG, BỊ ĐỘNG TRONG VIỆC SẢN XUẤT KINH DOANH NHƯNG VẪN CÓ TƯ TƯỞNG TRÔNG CHỜ, Ỷ LẠI VÀO CẤP TRÊN, VÀO NHÀ NƯỚC CƠ CHẾ BỔ NHIỆM GIÁM ĐỐC DNNN PHỤ THUỘC QUÁ NHIỀU VÀO CƠ QUAN CHỦ – BỘ CHỦ QUẢN CŨNG LÀM HẠN CHẾ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ DNNN HIỆN NAY
HAI LÀ, TÂM LÝ XÃ HỘI, ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÝ CỦA ĐỘI NGŨ GIÁM ĐỐC VÀ NGƯỜI
LAO ĐỘNG TRONG DNNN CHI PHỐI RẤT LỚN ĐẾN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC DNNN THEO CÁC VÙNG LÃNH THỔ TÍNH LIÊN KẾT CẦN THIẾT GIỮA CÁC DNNN Ở CÁC VÙNG LÃNH THỔ CỦA ĐẤT NƯỚC THỂ HIỆN RẤT YẾU NHIỀU TRƯỜNG HỢP DO CÁC DNNN
Trang 31CẠNH TRANH THIẾU PHỐI HỢP ĐÃ LÀM TỔN HẠI CHUNG CHO NỀN KINH TẾ, NHƯ VIỆC CÁC DNNN THU MUA LÚA, CÀ PHÊ, CAO SU TRONG THỜI GIAN QUA LÀ MỘT VÍ DỤ
2)CƠ CẤU DNNN THEO NGÀNH BƯỚC ĐẦU ĐÃ CÓ SỰ ĐIỀU CHỈNH THEO HƯỚNG DNNN NẮM GIỮ NHỮNG NGÀNH, LĨNH VỰC THEN CHỐT, HỆ THỐNG CƠ SỞ VẬT CHẤT, KỸ THUẬT
VÀ KẾT CẤU HẠ TẦNG KINH TẾ – XÃ HỘI CÓ TÍNH HUYẾT MẠCH TUY NHIÊN, TRÊN THỰC
TẾ HIỆN NAY DNNN PHÂN BỐ CÒN DÀN TRẢI Ở HẦU HẾT CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC KẾT QUẢ ĐIỀU TRA DOANH NGHIỆP CỦA TỔNG CỤC THỐNG KÊ THỜI ĐIỂM 06/2002 CHO THẤY TỶ TRỌNG CỦA DNNN TRONG CÁC NGÀNH KINH TẾ QUỐC DÂN NHƯ SAU: NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÀ LÂM NGHIỆP CÓ 801 DNNN, CHIẾM 14,48%; NGÀNH THỦY SẢN CÓ 48 DNNN, CHIẾM 0.87%; NGÀNH CÔNG NGHIỆP KHAI THÁC MỎ CÓ 135 DNNN, CHIẾM 2,44%; NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CÓ 1.515 DNNN, CHIẾM 27,39%; NGÀNH CÔNG NGHIỆP SẢN XUẤT, PHÂN PHỐI ĐIỆN, KHÍ ĐỐT VÀ NƯỚC CÓ 73 DNNN, CHIẾM 1,32% (CHỦ YẾU LÀ DO ĐỊA PHƯƠNG QUẢN LÝ); NGÀNH XÂY DỰNG CÓ 946 DNNN, CHIẾM 17,10%; NGÀNH THƯƠNG NGHIỆP CÓ 1.133 DNNN, CHIẾM 20,48%; KINH DOANH KHÁCH SẠN, NHÀ HÀNG CÓ 182 DNNN, CHIẾM 3,29%; NGÀNH VẬN TẢI, KHO BÃI VÀ THÔNG TIN CÓ 246 DNNN, CHIẾM 4,45%; NGÀNH TÀI CHÍNH, TÍN DỤNG CÓ 75 DNNN, CHIẾM 1,36%; NGÀNH DỊCH VỤ, TƯ VẤN CÓ 256 DNNN, CHIẾM 4,63%; NGÀNH Y TẾ CHỈ CÓ 1 DNNN, CHIẾM 0,02%; NGÀNH VĂN HÓA, THỂ THAO CÓ
55 DNNN, CHIẾM 0,99%, LĨNH VỰC PHỤC VỤ CỘNG ĐỒNG CÓ 65 DNNN, CHIẾM 1,18% [21] (XEM BIỂU 2.4) CÁC NGÀNH CÓ SỐ LƯỢNG DNNN CHIẾM TỶ LỆ CAO NHƯ: CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN 27,39%, XÂY DỰNG 17,10%, LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI, DỊCH VỤ, KHÁCH SẠN, NHÀ HÀNG, SỐ DNNN CHIẾM HƠN 23,75% TỔNG SỐ DNNN SỐ DNNN TRONG HẦU HẾT CÁC NGÀNH DO ĐỊA PHƯƠNG QUẢN LÝ CHIẾM TỶ TRỌNG CAO HƠN (66,01%) [42, TR28] TRONG KHI ĐÓ NGÀNH CÔNG NGHIỆP KHAI THÁC MỎ, SẢN XUẤT ĐIỆN – CUNG CẤP ĐIỆN, NƯỚC VÀ KHÍ ĐỐT LÀ NGÀNH QUAN TRỌNG CUNG CẤP NGUYÊN, NHIÊN, VẬT LIỆU CHO HẦU HẾT CÁC NGÀNH SẢN XUẤT VÀ DỊCH VỤ KHÁC LẠI CHIẾM TỶ LỆ RẤT THẤP (CHỈ ĐẠT Ở MỨC 2,44% VÀ 1,32%)
BIỂU 2.4 CƠ CẤU DNNN THÁNG 6/2002 PHÂN THEO NGÀNH HOẠT ĐỘNG
NG
CƠ CẤU THEO NGÀ
NH
TRUN
G ƯƠNG
ĐỊA PHƯƠ
NG TỔNG SỐ DNNN
Trang 32CÓ VỐN LỚN CHIẾM TỶ LỆ RẤT THẤP: DNNN CÓ VỐN TỪ 200 TỶ ĐẾN DƯỚI 500 TỶ CHIẾM 2,24% VÀ DNNN CÓ VỐN TRÊN 500 TỶ CHỈ CHIẾM 1,03% (XEM BIỂU 2.5)
BIỂU 2.5 SỐ LƯỢNG DNNN PHÂN THEO QUY MÔ VỐN
TỶ
TRÊN 1
TỶ VÀ DƯỚI 5
TỶ
TRÊN
5 TỶ
VÀ DƯỚI
10 TỶ
TRÊN 10
TỶ VÀ DƯỚI 50
TỶ
TRÊN
50 TỶ
VÀ DƯỚI
200 TỶ
TRÊN 200
TỶ VÀ DƯỚI 500
ƯƠNG 19 16 184 233 835 466 77 47
TỶ LỆ % 0,34 0,29 3,33 4,21 15,10 8,43 1,39 0,85 ĐỊA
PHƯƠNG 127 155 1.185 690 1.111 329 47 10
TỶ LỆ % 2,30 2,80 21,42 12,48 20,09 5,95 0,85 0,18
NGUỒN HTTP://WWW.VNEXPRESS.NET TÓM LẠI, VIỆC ĐỔI MỚI CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH, SẮP XẾP, TỔ CHỨC LẠI, CỔ PHẦN HÓA, SÁP NHẬP, GIAO, KHOÁN CÁC DNNN SỐ LƯỢNG DNNN ĐÃ GIẢM ĐI ĐÁNG KỂ ĐỂ NHÀ
Trang 33NƯỚC TẬP TRUNG NGUỒN LỰC ĐẦU TƯ, PHÁT TRIỂN CÁC DNNN HOẠT ĐỘNG Ở NHỮNG NGÀNH, LĨNH VỰC THEN CHỐT SONG TRÊN THỰC TẾ NĂNG LỰC HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DNNN VẦN CÒN NHIỀU YẾU KÉM NHƯ: QUY MÔ VỐN NHỎ, ĐẦU TƯ DÀN TRẢI, PHÂN TÁN ĐANG LÀ VẤN ĐỀ BỨC XÚC ĐỐI VỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ DNNN HIỆN NAY
3.2 Về năng lực hoạt động của DNNN
A) VỀ VỐN VÀ SỬ DỤNG VỐN CỦA DNNN
KẾT QUẢ ĐIỀU TRA DOANH NGHIỆP CỦA TỔNG CỤC THỐNG KÊ CHO THẤY TÍNH ĐẾN THỜI ĐIỂM 31/12/2001 GIÁ TRỊ TÀI SẢN (BAO GỒM TÀI SẢN CỐ ĐỊNH, TÀI SẢN LƯU ĐỘNG VÀ ĐẦU TƯ NGẮN, DÀI HẠN) CỦA DNNN SO VỚI NĂM 1990 ĐÃ ĐƯỢC NÂNG CAO (XEM BIỂU 2.6) TRONG ĐÓ, GIÁ TRỊ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH VÀ ĐẦU TƯ DÀI HẠN CHIẾM 33,69%; TÀI SẢN LƯU ĐỘNG VÀ ĐẦU TƯ NGẮN HẠN CHIẾM 66,04% NĂNG LỰC VỀ VỐN KINH DOANH CỦA DNNN
ĐÃ ĐƯỢC CẢI THIỆN SO VỚI NHỮNG NĂM 1990 VỐN BÌNH QUÂN CỦA MỘT DNNN TĂNG TỪ 3,3 TỶ ĐỒNG NĂM 1991 LÊN 22 TỶ ĐỒNG NĂM 2001 [1]
BIỂU 2.6 GIÁ TRỊ TÀI SẢN CỦA DNNN NĂM 2001
TRONG ĐÓ DNNN
TỔNG GIÁ TRỊ TÀI SẢN CỦA DNNN (TRIỆU ĐỒNG)
TÀI SẢN CỐ ĐỊNH VÀ ĐẦU TƯ DÀI HẠN (TRIỆU ĐỒNG)
TÀI SẢN LƯU ĐỘNG VÀ ĐẦU TƯ NGẮN HẠN (TRIỆU ĐỒNG)
CẢ NƯỚC 570.217.469 193.667.254 374.634.786
TỶ LỆ % 100,00 33,96 66,04 TRUNG
ƯƠNG
472.452.513 150.449.497 320.387.587
TỶ LỆ % 100,00 31,84 68,16 ĐỊA PHƯƠNG 97.764.956 43.517.757 54.247.199
TỶ LỆ % 100,00 44,51 55,49
NGUỒN HTTP://WWW.VNEXPRESS.NET CŨNG THEO SỐ LIỆU ĐIỀU TRA DOANH NGHIỆP CỦA TỔNG CỤC THỐNG KÊ ĐẾN CUỐI NĂM 2001 GIÁ TRỊ TÀI SẢN CỦA CÁC DNNN NHƯ SAU: TỔNG TÀI SẢN LƯU ĐỘNG VÀ ĐẦU TƯ NGẮN HẠN LÀ 374,6 NGÀN TỶ ĐỒNG; TÀI SẢN CỐ ĐỊNH VÀ ĐẦU TƯ DÀI HẠN LÀ 193,6 NGÀN
TỶ ĐỒNG, BÌNH QUÂN MỘT DNNN CÓ KHOẢNG 102,7 TỶ ĐỒNG
NHÌN CHUNG PHẦN LỚN CÁC DNNN ĐỀU CÓ QUY MÔ VỐN KHÔNG LỚN (THẬM CHÍ CÓ THỂ NÓI LÀ NHỎ), NẾU SO SÁNH VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TỪ NƯỚC NGOÀI THÌ QUÁ BÉ DO VẬY, ĐỂ CÓ ĐƯỢC NHỮNG TẬP ĐOÀN KINH TẾ MẠNH LÀM NÒNG CỐT, CÓ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH QUỐC TẾ CẦN PHẢI CÓ NHỮNG GIẢI PHÁP THU HÚT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC DNNN
B) VỀ CÔNG NGHỆ VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DNNN
QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DNNN THỜI GIAN QUA ĐÃ CÓ TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC ĐẾN VIỆC ĐỔI MỚI TRANG THIẾT BỊ VÀ HIỆN ĐẠI HÓA CÔNG NGHỆ THEO ĐÁNH GIÁ CỦA CÁC CHUYÊN GIA KỸ THUẬT, TRÌNH ĐỘ CÔNG NGHỆ CỦA CÁC DNNN ĐÃ CÓ TIẾN BỘ ĐÁNG KỂ
Trang 34KẾT QUẢ ĐIỀU TRA DOANH NGHIỆP CỦA TỔNG CỤC THỐNG KÊ Ở THỜI ĐIỂM 01/04/2001 CHO THẤY, ĐẾN CUỐI NĂM 2001 CẢ NƯỚC CÓ 15,64% DNNN ĐƯỢC TRANG BỊ KỸ THUẬT, CÔNG NGHỆ TIÊN TIẾN NGANG VỚI TRÌNH ĐỘ CỦA KHU VỰC VÀ QUỐC TẾ, 79,21% DNNN CÓ TRÌNH ĐỘ CÔNG NGHỆ Ở MỨC TRUNG BÌNH VÀ 5,15% DNNN CÓ CÔNG NGHỆ LẠC HẬU TRONG ĐÓ SỐ LƯỢNG DNNN DO ĐỊA PHƯƠNG QUẢN LÝ CÓ TRÌNH ĐỘ CÔNG NGHỆ LẠC HẬU LỚN HƠN 3,25 LẦN SỐ DNNN CÙNG LOẠI DO TRUNG ƯƠNG QUẢN LÝ (XEM BIỂU 2.7)
BIỂU 2.7 TRÌNH ĐỘ CÔNG NGHỆ CỦA CÁC DNNN NĂM 2001
TRÌNH ĐỘ CÔNG NGHỆ DNNN TỔNG SỐ
TIÊN TIẾN TRUNG BÌNH LẠC HẬU
CẢ NƯỚC 5.531 865 4.381 285
TỶ LỆ 100 15,64 79,21 5,15 TRUNG ƯƠNG 1.877 397 1.413 67
TỶ LỆ 100 21,15 75,28 3,57 ĐỊA PHƯƠNG 3.654 468 2.968 218
TỶ LỆ 100 12,81 81,23 5,97
NGUỒN HTTP://WWW.VNEXPRESS.NET ĐỐI VỚI CÁC DNNN TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP, TRÌNH ĐỘ TỰ ĐỘNG HÓA VÀ CƠ KHÍ HÓA CAO HƠN SO VỚI CÁC DNNN THUỘC NGÀNH KINH TẾ KHÁC CÁC DNNN DO TRUNG ƯƠNG QUẢN LÝ, TRÌNH ĐỘ TỰ ĐỘNG HÓA VÀ BÁN TỰ ĐỘNG HÓA ĐẠT 7,95%, TRÌNH
ĐỘ CƠ KHÍ VÀ BÁN CƠ KHÍ LÀ 60.1% CHỈ SỐ NÀY TRONG CÁC DNNN ĐÃ CỔ PHẦN HÓA TƯƠNG ỨNG LÀ 24,23% VÀ 63,63% CÁC DNNN CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI CÁC CHỈ SỐ NÀY ĐẠT MỨC CAO HƠN, TƯƠNG ỨNG LÀ 62,93% VÀ 35,71% (XEM BIỂU 2.8)
BIỂU 2.8 TRÌNH ĐỘ CÔNG NGHỆ CỦA DNNN CÔNG NGHIỆP
(ĐIỀU TRA TẠI THỜI ĐIỂM 30/6/2000)
TRÌNH ĐỘ CÔNG NGHỆ (%) LOẠI DNNN
TỔNG
SỐ DNNN
TỰ ĐỘNG HÓA
BÁN TỰ ĐỘNG HÓA
CƠ KHÍ
BÁN
CƠ KHÍ
THỦ CÔNG
Trang 35(ISO) NHIỀU DNNN ĐÃ CÓ SẢN PHẨM XUẤT KHẨU VÀ CHIẾM LĨNH ĐƯỢC THỊ PHẦN Ở NHIỀU NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI, NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DNNN VIỆT NAM THƯƠNG HIỆU HÀNG HÓA CỦA CÁC DNNN VIỆT NAM ĐÃ GÂY ĐƯỢC SỰ CHÚ Ý CỦA THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI NHƯ CÁC SẢN PHẨM CỦA NGÀNH DỆT – MAY, GIẦY – DA VÀ CÁC SẢN PHẨM CHẾ BIẾN TỪ NÔNG SẢN, THỰC PHẨM (XEM BIỂU 2.9)
BIỂU 2.9 NĂNG LỰC CẠNH TRANH QUỐC TẾ CỦA DNNN (ĐIỀU TRA TẠI THỜI ĐIỂM 01/04/2001)
DNNN ĐÃ XUẤT KHẨU DNNN CÓ TRIỂN VỌNG
CÓ TRIỂN VỌNG XUẤT KHẨU CŨNG CÓ KẾT QUẢ TƯƠNG ỨNG ĐIỀU ĐÓ CHỨNG TỎ RẰNG MUỐN NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DNNN CẦN PHẢI CHÚ TRỌNG TỚI VIỆC ĐỔI MỚI TRANG THIẾT BỊ, NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ CÔNG NGHỆ ĐỂ NÂNG CAO NĂNG XUẤT, CHẤT LƯỢNG VÀ HẠ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM (XEM BIỂU 2.8 VÀ 2.10)
BIỂU 2.10 NĂNG LỰC CẠNH TRANH DNNN CÔNG NGHIỆP THEO THỊ TRƯỜNG
(ĐIỀU TRA TẠI THỜI ĐIỂM 30/6/2000) LOẠI DNNN NĂNG LỰC CẠNH TRANH
I THỊ TRƯỜNG TRONG
NƯỚC DÀNH ƯU THẾ CHƯA VỮNG CHẮC
KHÔNG CẠNH TRANH ĐƯỢC 1.DNNN DO TRUNG
58,79
56,47
48,50
14,28 9,11 12,1
Trang 364.DNNN LIÊN DOANH
VỚI ĐỐI TÁC NƯỚC
NGOÀI
49,32 46,94 3,74
II THỊ TRƯỜNG NGOÀI
NƯỚC ĐÃ XUẤT KHẨU
TRIỂN VỌNG XUẤT KHẨU
KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG XUẤT KHẨU 1.DNNN DO TRUNG
24,25 14,61 24,2 34,7
38,84 52,40 39,4
16,3 NGUỒN: BỘ CÔNG NGHIỆP
NHÌN CHUNG TRÌNH ĐỘ CÔNG NGHỆ CỦA CÁC DNNN CÒN RẤT HẠN CHẾ, THEO SỐ LIỆU ĐIỀU TRA CỦA BỘ KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG TẠI NHIỀU DNNN THUỘC
7 NGÀNH NĂM 2000 CHO THẤY, MÁY MÓC THIẾT BỊ, DÂY CHUYỀN SẢN XUẤT CỦA CÁC DNNN Ở VIỆT NAM LẠC HẬU NHIỀU SO VỚI THẾ GIỚI (TỪ 10 ĐẾN 30 NĂM) KẾT QUẢ CỦA MỘT CUỘC ĐIỀU TRA KHÁC DO VIỆN KHOA HỌC BẢO HỘ LAO ĐỘNG THUỘC TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM TIẾN HÀNH CÙNG THỜI KỲ CHO THẤY CÓ ĐẾN 76% MÁY MÓC, THIẾT BỊ NHẬP KHẨU THUỘC THẾ HỆ NHỮNG NĂM 60 VÀ TRÊN 70% TRONG SỐ ĐÓ ĐÃ HẾT THỜI GIAN KHẤU HAO RIÊNG NGÀNH CÔNG NGHIỆP 10 NĂM QUA MỚI ĐẦU TƯ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ ĐƯỢC KHOẢNG 15 – 18% GIÁ TRỊ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG KHI ĐÓ, VỚI NHIỀU CÁCH LÝ GIẢI KHÁC NHAU MỘT SỐ DNNN VẪN NHẬP MÁY MÓC, THIẾT BỊ VÀ DÂY CHUYỀN CÔNG NGHỆ LẠC HẬU TÍNH ĐẾN THỜI ĐIỂM THÁNG 5 NĂM 2001, MỚI CHỈ CÓ 236 DNNN TRONG TỔNG SỐ 400 DOANH NGHIỆP ĐƯỢC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN ĐẠT TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ ISO/9000 [20, TR.31]
C) VỀ LAO ĐỘNG TRONG CÁC DNNN
THEO KẾT QUẢ ĐIỀU TRA DOANH NGHIỆP CỦA TỔNG CỤC THỐNG KÊ CHO THẤY ĐẾN THÁNG 12 NĂM 2001 TỔNG SỐ LAO ĐỘNG TRONG CÁC DNNN CỦA CẢ NƯỚC LÀ 1.944.328 NGƯỜI (TRONG ĐÓ LAO ĐỘNG NỮ CÓ 777.769 NGƯỜI, CHIẾM 40%), BÌNH QUÂN MỘT DOANH NGHIỆP CÓ 351 LAO ĐỘNG CÁC DNNN DO TRUNG ƯƠNG QUẢN LÝ CÓ 1.191.751 LAO ĐỘNG, CHIẾM 61,29%; DNNN DO ĐỊA PHƯƠNG QUẢN LÝ CÓ 752.577 LAO ĐỘNG, CHIẾM 38,71% QUY
MÔ LAO ĐỘNG TRONG CÁC DNNN RẤT KHÁC NHAU, CÓ NHỮNG ĐƠN VỊ SỬ DỤNG TỚI HÀNG NGHÌN LAO ĐỘNG (CHIẾM 6,49%), NGƯỢC LẠI CÓ NHỮNG DNNN CHỈ CÓ DƯỚI 10 LAO ĐỘNG LÀM VIỆC (CHIẾM 0,95%) SỐ DNNN SỬ DỤNG TỪ 50 LAO ĐỘNG ĐẾN 200 LAO ĐỘNG CHIẾM 40,44%; DNNN SỬ DỤNG TỪ TRÊN 200 LAO ĐỘNG ĐẾN 500 LAO ĐỘNG CHIẾM 23,07% [21]
NHÌN CHUNG VỀ TRÌNH ĐỘ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ VÀ NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DNNN CAO HƠN SO VỚI CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC CÁC THÀNH PHẦN KINH
TẾ KHÁC (TRỪ CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI) THEO KẾT QUẢ ĐIỀU TRA ĐIỂM CỦA TỔNG CỤC THỐNG KÊ, CHO THẤY TRONG TỔNG SỐ LAO ĐỘNG ĐANG LÀM VIỆC TRONG CÁC DNNN CÓ KHOẢNG 60% ĐÃ QUA ĐÀO TẠO CƠ BẢN, CÓ TRÌNH ĐỘ TAY NGHỀ TƯƠNG ĐỐI KHÁ TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG, SỐ LƯỢNG KỸ SƯ VỮNG VÀNG VỀ CHUYÊN MÔN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN CÓ KHẢ NĂNG THỰC HIỆN NHỮNG CÔNG