Loại biên trở này dùng trong các mạch có công suất nhỏ dòng qua biến trở từ vài mA đến vài chục mA để phân cực cho các mạch điện là chủ yếu.. Tụ có cấu tạo ban đầu gồm có hai điện cực đ
Trang 1BỘ XÂY DỰNG
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ XÂY DỰNG
GIÁO TRÌNH MÔN H ỌC: KỸ THUẬT ĐIỆN TỬ CƠ BẢN NGÀNH/NGH Ề: ĐIỆN CÔNG NGHIỆP
TRÌNH ĐỘ: TRUNG CẤP
Qu ảng Ninh, năm 2021
Trang 3BÀI 1: LINH KI ỆN ĐIỆN TỬ 2.1 Điện trở
2.1.1 Công dụng, phân loại, cấu tạo, ký hiệu
a Công dụng
Điện trở dùng để hạn chế dòng điện, phân dòng, phân áp trong các mạch điện
b Cấu tạo và phân loại
Tuỳ theo kết cấu của điện trở mà người ta phân loại:
- Điện trở hợp chất cacbon
Điện trở có cấu tạo bằng bột cacbon tán trộn với chất cách điện và keo kết dính rồi
ép lại, nối thành từng thỏi hai đầu có dây dẫn ra để hàn
Các loại điện trở hợp chất bột than này có trị số từ 10 đến hàng chục mêgôm, công suất từ 1/4 W tới vài W
chục W; có tính ổn định cao, tạp âm nhỏ, nhưng có nhược điểm là dễ vỡ
Hình 1.1: M ặt cắt của điện trở màng cacbon
- Điện trở dây quấn
Điện trở này gồm một ống hình trụ bằng gốm cách điện, trên đó quấn dây kim loại có điện trở suất cao, hệ số nhiệt nhỏ như constantan mangani Dây điện trở có thể tráng men, hoặc không tráng men và có thể quấn các vòng sát nhau hoặc quấn theo những rãnh trên thân ống Ngoài cùng có thể phun một lớp men bóng và ở hai đầu có dây ra để hàn Cũng có thể
Trang 4trên lớp men phủ ngoài có chừa ra một khoảng để có thể chuyển dịch một con chạy trên
thân điện trở điều chỉnh trị số
Hình 1.2: Hình d ạng của điện trở dây quấn
Do điện trở dây quấn gồm nhiều vòng dây nên có một trị số điện cảm Để giảm thiểu
điện cảm này, người ta thường quấn các vòng dây trên một lá cách điện dẹt hoặc quấn hai
dây chập một đầu để cho hai vòng dây liền sát nhau có dòng điên chạy ngược chiều nhau.
Loại điện trở dây quấn có ưu điểm là bền, chính xác, chịu nhiệt cao do đó có công suất tiêu
tán lớn và có mức tạp âm nhỏ.Tuy nhiên, điện trở loại này có giá thành cao
- Điện trở màng kim loại
Điện trở màng kim loại được chế tạo theo cách kết lắng màng niken-crôm trên thân
gốm chất lượng cao, có xẻ rảnh hình xoắn ốc, hai đầu được lắp dây nối và thân được phủ
một lớp sơn Điện trở màng kim loại ổn định hơn điện trở than nhưng giá thành đắt gấp
khoảng 4 lần Công suất danh định khoảng 1/10W trở lên Phần nhiều người ta dùng loại
điện trở màng kim loại với công suất danh định 1/2W trở lên, dung sai 1% và điện áp
cực đại 200 V
- Điện trở ôxít kim loại
Điện trở ôxít kim loại được chế tạo bằng cách kết lắng màng ôxýt thiếc trên thanh
thuỷ tinh đặc biệt Loại điện trở này có độ ẩm rất cao, không bị hư hỏng do quá nóng và
cũng không bị ảnh hưởng do ẩm ướt Công suất danh định thường là 1/2W với dung sai
2%
Trang 5
Hình 1.3: a) Kí hiệu điện trở trên sơ đồ mạch b) Hình dạng thực của điện trở
-Bi ến trở
Biến trở dùng để thay đổi giá trị của điện trở Hình 3.4 minh hoạ biến trở
Hình 1.4: Cấu trúc của biến trở
Kí hiệu của biến trở trên sơ đồ nguyên lý được minh hoạ trên Hình 3.5
Hình 1.5: Ký hi ệu của biến trở
- Điện trở nhiệt (thermistor)
Điện trở nhiệt (thường gọi là thermistor) được chế tạo từ chất bán dẫn, có chức năng
nhạy cảm với nhiệt độ Themisto có hai loại:
+ Loại thermistor khi nhiệt độ tăng làm tăng giá trị số điện trở (nhiệt trở dương)
+ Loại thermistor khi nhiệt độ tăng làm giảm giá trị điện trở (nhiệt trở âm)
Hình 1.6: Ký hi ệu của các điện trở nhiệt (thermistor)
RR
Trang 6Hình 1.7: Hình d ạng của điện trở nhiệt Thermistor được ứng dụng rất nhiều trong các mạch điều khiển nhiệt độ ở nhiều lĩnh vực,
ví dụ điều khiển nhiệt độ trong phòng mổ (giữ nhiệt độ phòng mổ không đổi); điều khiển nhiệt độ trong kho vũ khí (giữ nhiệt độ trong kho vũ khí không đổi), điều khiển nhiệt độ trong các phản ứng hoá học (giữ nhiệt độ phản ứng không đổi)
c Ký hiệu
Ký hiệu của điện trở thông thường Trên điện trở thường ghi các thông số: Trị số công suất, trị số điện trở, sai số phần trăm Thông thường đối với các điện trở có điện tích bề mặt lớn thì các thông số được ghi trực
tiếp trên bên bề mặt của nó, còn đối với các điện trở có điện tích bề mặt nhỏ thì các thông
số được ghi bằng ký hiệu vòng màu hoặc mã số
Trang 7Tương tự khi ta ghép nhiều điện trở nối tiếp nhau như hình 1.8b thì giá trị điện trở tương đương bằng tổng của các điện trở:
1 1
R R
2 1
2 1
R R
R R R
R R
1
2
1 1
1 1
R
R
1
2
111
2.1.3 Đọc, đo, kiểm tra và xác định chất lượng điện trở
Trị số điện trở theo qui ước màu
Dưới đây là bảng quy ước mã màu cho điện trở có 4 vạch màu chúng ta sẽ sử dụng bảng này để đọc trị số của điện trở có 4 vạch màu.Đối với điện trở 3 hoặc 5 vạch màu sẽ không được sử dụng bảng này để đọc giá trị
Trang 8- Dùng VOM để kiểm tra, xác định chất lượng của điện trở
Dùng thang đo điện trở của đồng hồ đo vạn năng VOM
Ta có các thang đo: x1, x10, x100, x1k, x10k là khu vực để đo điện trở Khi vặn núm chọn thang đo ở vị trí nào thì giá trị thực của điện trở chính bằng giá trị đọc được trên vạch chia của đồng hồ nhân với giá trị của thang đo
Thí d ụ 1: Khi vặn ở thang đo x100, đo thấy kim chỉ thị vạch 20 thì giá trị thực của
Trang 9Thí d ụ 2: Khi vặn ở thang đo x1k, đo thấy kim chỉ thị vach 20 thì giá trị của điện trở đo được là: 20x1K = 20 k
Trước khi đo điện trở, ta lưu ý chập 2 que đo lại và quan sát kim đồng hồ chỉ ở vạch
0, nếu bị lệch phải chỉnh nút ADJ cho đúng Nếu chỉnh nút ADJ rồi mà vẫn không làm kim đồng hồ về 0 được thì phải thay pin nuôi trong đồng hồ
Lúc đo điện trở lưu ý không được chạm tay vào 2 que đo sẽ gây ra sai số, bởi vì thực
tế bản thân con người ta cũng có điện trở khoảng vài chục k đến vài M tuỳ khu vực tiếp xúc của cơ thể Điều này có thể tự kiểm tra bằng cách đặt thang đo ở vị trí Rx10k , rồi
thử chạm tay vào 2 đầu que đo sẽ thấy kim đồng hồ thay đổi
Những hư hỏng thường gặp của điện trở:
- Đứt: đo trị số điện trở, kim không chuyển động
- Cháy: do làm việc quá công suất chịu đựng
2.1.4 Các linh ki ện khác cùng nhóm và ứng dụng
Biến trở dùng để thay đổi giá trị của điện trở, qua đó thay đổi được sự cản trở điện trên mạch điện Hình 2.3 minh hoạ biến trở
Hình 1.10: Cấu trúc của biến trở
Kí hi ệu của biến trở:
Kí hiệu của biến trở trên sơ đồ nguyên lý được minh hoạ trên Hình 2.4
Kí hiệu biến trở thông thường
Trang 10
Hình 1.11: Kí hiệu các loại biến trở
Phân loại:
Biến trở than: Mặt biến trở được phủ lớp bột than, con chạy và chân của biến trở là kim loại để dễ hàn Loại biên trở này dùng trong các mạch có công suất nhỏ dòng qua biến trở
từ vài mA đến vài chục mA để phân cực cho các mạch điện là chủ yếu
Biến trở dây quấn: Mặt biến trở được quấn dây điện trở, con chạy và chân của biến trở là kim loại Loại biến trở này dùng để giảm áp hoặc hạn dòng trong các mạch điện có công suất lớn dòng qua mạch từ vài chục đến vài trăm mA Trong kỹ thuật điện đôi khi dòng rất lớn có thể đến vài A thường gặp trong các mạch kích từ các động cơ điện Khi sử dụng hay thiết kế mạch dùng loại điện trở này cần chú ý đến khả năng toả nhiệt của điện trở sao cho phù hợp
Ngoài cách chia thông thường trên trong kỹ thuật người ta còn căn cứ vào tính chất của biến trở mà có thể chia thành biến trở tuyến tính, biến trở logarit Hay dựa vào công suất
mà phân loại thành biến trở giảm áp hay biến trở phân cực Trong thực tế cần chú ý đến các cách chia khác nhau để tránh lúng túng trong thực tế khi gọi tên trên thị trường
b.Cấu tạo và phân loại
Tụ điện có nhiều loại và nhiều cỡ khác nhau Phạm vi trị số điện dung có từ 1,8pF đến trên 10.000ỡF Về cấu tạo, tụ điện được chia thành hai loại chính: Loại không phân cực và phân cực
- T ụ điện giấy: gồm có 2 lá kim loại đặt xen giữa là bản giấy dùng làm chất cách điện và
cuộn tròn lại ở hai đầu lá kim loại đã cuộn tròn có dây dẫn nối ra để hàn Tụ này có thể có
vỏ bọc bằng kim loại hay ống thuỷ tinh và hai đầu được bịt kín bằng chất keo plastic Tụ
giấy có ưu điểm là kích thước nhỏ, điện dung lớn Nhược điểm của tụ là rò điện lớn, dễ bị chập
Trang 11- T ụ điện mica: gồm những lá kim loại đặt xen kẽ nhau và dùng mica làm chất điện môi,
ngăn cách các lá kim loại Các lá kim loại lẻ nối với nhau và nối vào một đầu ra, các lá kim
loại chẵn nối với nhau và nối vào một đầu ra Tụ mica được bao bằng vỏ plastic Tụ mica
có tính năng tốt hơn tụ giấy nhưng giá thành đắt hơn
- Tụ điện gốm: tụ điện gốm dùng gốm làm điện môi Tụ gốm có kích thước nhỏ nhưng trị
số điện dung lớn
- T ụ điện dầu: tụ dùng dầu làm điện môi, có trị số lớn và chịu được điện áp cao
- Tụ hoá: tụ dùng một dung dịch hoá học là axit boric làm điện môi Chất điện môi này
được đặt giữa 2 lá bằng nhôm làm hai cực của tụ Khi có một điện áp một chiều đặt giữa 2
lá thì tạo ra một lớp oxyt nhôm mỏng làm chất điện môi, thường lớp này rất mỏng, nên điện dung của tụ khá lớn Tụ hoá thường có dạng hình ống, vỏ nhôm ngoài là cực âm, lõi
giữa là cực dương, giữa 2 cực là dung dịch hoá học Tụ được bọc kín đế tránh cho dung dịch hoá học khỏi bị bay hơi nhanh, vì dung dịch bị khô sẽ làm cho trị số của tụ giảm đi
Tụ hoá có ưu điểm là trị số điện dung lớn và có giá thành hạ, nhưng lại có nhược điểm là
dễ bị rò điện Khi dùng tụ hoá cần kết nối đúng cực tính của tụ với nguồn cung cấp điện Không dùng được tụ hoá cho mạch chỉ có điện áp xoay chiều tức là có cực tính biến đổi
- T ụ biến đổi: gồm các lá nhôm hoặc đồng xếp xen kẽ với nhau, một số lá thay đổi vị trí
được Tấm tĩnh (má cố định) không gắn với trục xoay Tấm động gắn với trục xoay và tuỳ theo góc xoay mà phần diện tích đối ứng giữa hai lá nhiều hay ít Phần diện tích đối ứng
lớn thì điện dung của tụ lớn, ngược lại, phần diện tích đối ứng nhỏ thì trị số điện dung của
tụ nhỏ Không khí giữa hai lá nhôm được dùng làm chất điện môi Tụ loại biến đổi còn được gọi là tụ không khí hay tụ xoay Tụ biến đổi thường gồm nhiều lá động nối song song
với nhau, đặt xen kẽ giữa những lá tĩnh cũng nối song song với nhau Những lá tĩnh được cách điện với thân tụ, còn lá động được gắn vào trục xoay và tiếp xúc với thân tụ Khi trục
tụ được xoay thì trị số điện dung của tụ cũng được thay đổi theo
- T ụ điện điện phân: có những đặc tính khác với tụ không phân cực Tụ có cấu tạo ban đầu
gồm có hai điện cực được phân cách bằng một màng mỏng của chất điện phân, ở giai đoạn cuối cùng, người ta dùng một điện áp đặt lên các điện cực có tác dụng tạo ra một màng oxyt kim loại rất mỏng không dẫn điện Do tụ điện điện phân được chế tạo có cực tính, tương ứng với cực tính ban đầu khi hình thành lớp điện môi, cực tính này được đánh dấu trên thân của tụ Nếu nối ngược cực tính có thể làm phá huỷ lớp điện môi, do đó, tụ sẽ bị hỏng Chất liệu chính dùng cho tụ điện điện phân là nhôm và chất điện môi là bột dung
Trang 12dịch điện phân Tụ điện điện phân có dạng hình ống đặt trong vỏ nhôm Những tụ điện phân loại mới có khả năng đạt được trị số điện dung lớn với kích thước nhỏ Phạm vi trị số
điện dung từ 0,1F đến 47F với cỡ rất nhỏ và từ 1F đến 4700F, thậm chí lớn hơn Điện
áp một chiều làm việc của tụ điện điện phân thường thấp từ 10V đến 250V hoặc 500V, mọi
tụ điện điện phân đều có dung sai lớn và ít khi chọn trị số tới hạn
c Ký hiệu
Kí hiệu của các loại tụ điện trên sơ đồ nguyên lý được giới thiệu trên Hình 3.10
Hình 1.12: Gi ới thiệu ký hiệu các dạng tụ điện thông dụng
2.2.2 Tính toán cách ghép tụ điện
a Ghép nối tiếp
Hình 1.13: Ghép n ối tiếp tụ điện
a) Ghép nối tiếp 2 tụ điện b) Ghép nối tiếp nhiều tụ điện
Ta xét hình 3.11a, hai tụ điện ghép nối tiếp nhau với điện dung là C1, C2 có cùng dòng điện nạp I nên điện tích của hai tụ nạp được sẽ bằng nhau do Q = I.t
Q C
Suy ra
2
1 1
1 1
C C
C hay
2 1
2 1
C C
C C C
Vậy khi mắc nối tiếp hai tụ điện thì điện dung tụ điện tương đương giảm đi một nửa Tương tự khi mắc nối tiếp nhiều tụ điện thì giá trị điện dung tương đương giảm (hình 3.11b)
Cn C
C C
1
2
1 1
1 1
Trang 13a) b)
Hình 1.14: Ghép song song t ụ điện
a) Ghép song song hai tụ điện b) Ghép song song nhiều tụ điện
Theo hình 2.3a, điện tích nạp vào tụ C1 là: Q = C1.V
2.2.3 Đọc, đo, kiểm tra và xác định chất lượng tụ điện
- Xác định bằng trực quan, quan sát hình dạng, màu sắc để xác định sơ bộ chất lượng tụ điện
- Kiểm tra chất lượng tụ điện theo kiểu đo nguội : Vặn VOM, DMM ở thang đo
R x 1khi đo tụ có trị số lớn hơn 100F
R x 10 khi đo tụ có trị số từ 10F 100F
R x 1k khi đo tụ có trị số từ 104 10F
R x 10k khi đo tụ có trị số từ 102 104
R x 1M khi đo tụ có trị số từ 100pF 102
R x 10M khi đo tụ có trị nhỏ hơn 100pF
+ Đo hai lần có đổi que đo:
- Nếu kim vọt lên rồi trả về hết, chứng tỏ khả năng nạp xả của tụ còn tốt
- Nếu kim vọt lên 0, chứng tỏ tụ bị nối tắt (còn gọi là tụ bị đánh thủng, bị chạm)
- Nếu kim vọt lên, nhưng trả về không hết, chứng tỏ tụ bị rò rỉ
- Nếu kim vọt lên và trả về lờ đờ, chứng tỏ tụ bị khô
- Nếu kim không lên, chứng tỏ tụ bị đứt Chú ý, khi đo chúng ta không bị nhầm với
trường hợp các tụ giá trị có trị số nhỏ hơn 1F mà ta vặn thang đo ở thang Rx1k, nguồn
của đồng hồ không đủ kích cho tụ nạp xả được
Trang 14Lưu ý:
Khi áp dụng cách đo trên, chúng ta đã sử dụng nguồn pin trong đồng hồ ở thang đo ôm để
nạp, xả cho tụ điện, đồng hồ chỉ cho độ chính xác tương đối mà thôi Bởi vì nguồn pin bên trong đồng hồ thực tế dẫn ra hai đầu que đo có trị số bé, nhất là đối với các đồng hồ VOM nội trở lớn hơn 10 k do đó khi đo tụ theo phương pháp trên tuy vẫn cho kết quả tốt, nhưng khi gắn vào các mạch thực tế đúng điện áp hoạt động, tụ lại gây nên các sai lỗi (pan)
Do đó ta nhớ lưu ý điểm sau:
+ Nếu đo tụ có áp chịu đựng lớn hơn 50V, ta nên thực hiện phương pháp đo nóng,
đo nóng là đo linh kiện trong mạch đang được cấp nguồn
+ Đo tụ theo phương pháp nạp, xả ở thang đo (còn gọi là đo nguội) ta nên dùng VOM, DMM có nội trở nhỏp hơn10 k
- Kiểm tra chất lượng tụ điện theo kiểu đo nóng:
+ Dùng thang đo DC có giá trị gần bằng áp chịu đựng ghi trong thân tụ rồi ghép nối tiếp với tụ (nếu là tụ hóa ta nhớ lưu ý cực tính +, -)
+ Đặt VOM, DMM ở thang đo VDC (cao hơn nguồn E) rồi đặt que đen của đồng hồ vào
âm nguồn E, que đỏ đấu với một đầu của tụ còn đầu kia của tụ đấu vào dương nguồn E:
+ Nếu kim vọt lên rồi trả về, chứng tỏ chất lượng tụ còn tốt
+ Nếu kim vọt lên bằng giá trị nguồn cấp và không trả về, chứng tỏ tụ đã bị nối tắt
+ Nếu kim vọt lên nhưng trả về không hết, chứng tỏ tụ bị rò rỉ
+ Nếu kim vọt lên rồi trả về lờ đờ, chứng tỏ tụ đã bị khô
+ Nếu kim không lên, chứng tỏ tụ đã bị đứt
Nên lấy chính nguồn cấp trên mạch tại chỗ mắc tụ để thực hiện phép đo nóng
- Kiểm tra hư hỏng của tụ biến đổi:
+ Dùng VOM, DMM vặn ở thang đo Rx 1
+ Đo hai chân CV rồi xoay trục hết vòng qua lại mà không bị rò rỉ, chạm, chứng tỏ chất lượng tụ còn tốt
Đo hai chân CV với trục không được chạm nhau
2.2.4 Các linh ki ện khác cùng nhóm và ứng dụng
+ Tụ giấy :
Được dùng để phân đường , ngăn nối tầng , lọc trong những mạch điện tần số thấp và một chiều
Trang 15+ Tụ màng nhựa , màng nhựa kim loại :
Trị số điện dung ổn đinh , điện trở cách điện lớn , nhiệt độ làm việc thấp
+ Tụ hóa :
Dùng trong các mạch điện như bộ lọc mạch nắn điện , nối tầng ở mạch tần số thấp Khi để lâu không dùng thì trị số điện dung giảm Nếu đấu ngược cực tụ sẽ hỏng
+ Tụ biên đổi ( tụ xoay) :
Thường dùng trong các mạch cộng hưởng cao tấn ở máy thu , phát Tụ biến đổi chỉ thay đổi trị số điện dung nhỏ từ 10 -:- 60 pF thường dùng để điều chỉnh lại các trị số điện dung
gọi là tụ tinh chỉnh
2.3 Cu ộn kháng
2.3.1 Công d ụng, phân loại, cấu tạo, ký hiệu
a Công dụng:
Cuộn kháng dùng để trở dòng điện xoay chiều và tạo ra cảm ứng điện từ
b Cấu tạo và phân loại
Theo cấu tạo, cuộn kháng gồm có các loại:
Cuộn kháng không có lõi là cuộn kháng được quấn trên cốt bìa, có ít số vòng dây
sử dụng nơi có tần số cao
Trang 16 Cuộn kháng được quấn trên cốt bằng sứ, cũng dùng cho tần số cao, loại này dùng
sứ là chất điện môi tốt, tiêu hao ít nên có hệ số phẩm chất cao
Cuộn kháng không cần cốt, số vòng ít, dùng cho tần số cao
Cuộn cảm được quấn nhiều vòng, nhiều lớp, dùng cho số trung và thấp
Để tăng trị số điện cảm người ta thường quấn nhiều vòng dây trên cốt và cho thêm lõi có độ từ thẩm lớn
Một loại cuộn kháng được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay đó là biến áp Biến áp là linh kiện dùng chủ yếu là để tăng, giảm điện áp xoay chiều, ngoài ra chúng cũng được sử
dụng để làm phương tiện phối hợp trở kháng giữa các tâng làm việc trong mạch điện tử Biến áp có cấu tạo gồm hai hay nhiều cuộn dây tráng sơn cách điện quấn chung trên một lõi thép gọi là mạch từ Lõi thép này cũng có thể là loại sắt lá, sắt bụi, không khí Cuộn dây
nhận dòng điện xoay chiều gọi là cuộn sơ cấp, cuộn dây lấy dòng điện xoay chiều ra gọi là cuộn thứ cấp
c Ký hiệu
- Các ký hiệu ghi trên cuộn kháng
Trị số giá trị điện cảm có thể ghi trực tiếp trên bề mặt cuộn kháng, hoặc có thể ghi bằng
ký vòng màu tương tự như điện trở
1 1 1
L L
L hay
2 1
2
1
L L
L L L
Trang 17Hình 1.17: Ghép song song 2 cu ộn kháng
2.3.3 Đọc, đo, kiểm tra và xác định chất lượng cuộn cảm
Đọc trị số cuộm cảm như hình sau
L = 24 100 H ± 4% ; L = 100.101 H ±2%
I, II III : ghép số theo vòng màu giống như ở điện trở, đơn vị là H
L : Số luỹ thừa số 10
S : Sai số
- Dùng đồng hồ đo vạn năng để kiểm tra chất lượng cuộn cảm:
Thực tế hư hỏng thường gặp ở cuộn dây là:
- Trường hợp cuộn cảm bị đứt, khi dùng đồng hồ VOM đặt ở thang đo điện trở để đo, kim không chuyển động
- Trường hợp cuộn cảm bị cháy, khi quan sát chúng ta thấy nám đen
Nói chung, để đo kiểm tra cuộn dây, ta vặn đồng hồ VOM ở thang đo R 1 hoặc R10
để đo xác định cuộn cảm có bị đứt hay không mà thôi, còn đo cuộn cảm có bị chạm vòng dây chỉ khi nào biết được trị số điện trở do người chế tạo cung cấp Trong thực tế, để xác định cuộn dây bị chạm, chúng ta thường căn cứ vào hoạt động trên mạch điện để xác định xem cuộn dây mau nóng hay không, từ đó xác định chất lượng của cuộn dây Để đo trị số điện trở của cuộn dây ta nhớ đo trị số điện trở của dây dẫn với vỏ máy và trị số của cuộn dây với lõi sắt (nếu có) để xác định xem cuộn dây có bị rò chạm với lõi sắt hoặc với vỏ không
2.3.4 Các linh ki ện khác cùng nhóm và ứng dụng
a/ Cuộn cảm âm tần :
Là cuộn dây quấn trên lõi sắt từ Cuộn dây có nhiều vòng để có điện cảm L lớn
Ứng dụng : Dùng trong các mạch nắn điện ( dùng làm bộ lọc) và trong các mạch điện xoay chiều âm tần
Trang 18a Công dụng
Dùng để tách sóng, tách tín hiệu ra khỏi sóng mang cao tần
b Phân loại, ký hiệu
- Điốt tách sóng
- Điốt zenner
- Điốt quang
- Điốt phát quang
- Điốt biến dung
2.4.2 C ấu tạo, nguyên lý làm việc
Đi ốt tiếp điểm như hình 1.18 gồm mũi nhọn kim loại là cực dương, tì lên mặt một
miếng bán dẫn loại N là cực âm Đi ốt tiếp điểm có thể tích nhỏ, công suất nhỏ, điện dung giữa hai cực nhỏ, nên dùng ở tần số cao, thường dùng để tách sóng Vùng tiếp xúc của điôt
tiếp điểm nhỏ, nên dòng điện cho phép qua điôt thường không quá 1015mA và điện áp ngược không quá vài chục vôn
Hình 1.18: a, Cấu tạo của điot tiếp điểm
Trang 19Hình 1.19: Tr ạng thái điện phân cực thuận
Cực âm nguồn về phía bán dẫn N, cực dương nguồn về phía kim loại như trình bày trên hình 1.19 Dưới tác động của điện trường do nguồn điện E tạo nên, các điện tử thừa trong bán dẫn N chạy ngược chiều điện trường, vượt qua phần tiếp giáp để sang kim loại
và đi về phía cực dương nguồn Các điện tử trong các cặp điện tử - lỗ trống cũng vượt qua tiếp giáp mà về cực dương nguồn Khi các điện tử chạy sang kim loại thì lại có dòng điện
tử tự do ở cực âm nguồn chạy tới thay thế, tạo thành dòng điên chạy theo chiều ngược lại Như vậy, khi được phân cực thuận thì điôt tiếp điểm có dòng thuận chạy theo chiều
từ cực dương qua kim loại tới bán dẫn N về cực âm nguồn Dòng điện này chủ yếu là do chuyển động của các điện tử thừa trong bán dẫn N tạo nên Nếu điện áp phân cực thuận tăng thì dòng thuận tăng lên Khi nhiệt độ tăng thì cặp điện tử-lỗ trống bị phá vỡ mối liên kết tăng lên làm cho dòng thuận cũng tăng lên
Phân cực ngược được trình bày trên hình 1.20 :
Theo Hình vẽ, cực dương nguồn được kết nối với bán dẫn N, cực âm nguồn được kết nối với kim loại (Hình 1.20)
Dưới tác dụng của điện trường E do nguồn tạo nên, các điện tử thừa trong bán dẫn N chạy ngược chiều điện trường, đi về phía cực dương nguồn, mà không vượt qua tiếp giáp,
do đó không tạo nên dòng điện qua điôt
Hình 1.20: Tr ạng thái phân cực ngược
Trong bán dẫn N có một số cặp điện tử-lỗ trống bị phá vỡ liên kết Lúc này lại có các điện tử tự do trong kim loại vượt qua tiếp xúc tới lấp lỗ trống và lại được các điện tử từ cực
âm nguồn chạy tới thay thế
Do cách kết nối như trên đã tạo nên dòng điện ngược rất nhỏ chạy từ cực dương nguồn qua bán dẫn N sang kim loại rồi về cực âm nguồn Khi nhiệt độ tăng thì dòng điện
Trang 20ngược tăng Khi điện áp phân cực ngược tăng thì dòng ngược cũng tăng rất chậm Khi điện
áp quá lớn thì dòng ngược tăng nhanh, dẫn tới mức phá hỏng tiếp giáp và điôt bị hỏng
2.4.3 Đọc, đo, kiểm tra và xác định chất lượng điốt
Mỗi một loại đi ốt có một hình dạng cấu tạo và ký hiệu riêng Để phân được các loại đi
ốt cần nắn được cấu tạo hình dạng các loại đi ốt Thông thường trên bề mặt đi ốt có ghi ký
hiệu và các thông số của đi ốt
Cách xác định cực tính của điôt: Chú ý đấu điôt đúng chiều quy định trong mạch điện
Cực N điôt thường có dấu ký hiệu trên thân đèn hoặc một bên chân đèn, đối với loại đi ốt dùng nắn dòng AC tần số thấp thì vạch sơn đánh dấu đa số đều là màu trắng, còn loại nắn dòng AC đột biến ( gọi là xung ) thì vòng sơn đánh dấu có màu đỏ, vàng , xanh lá lơ Các điôt tiếp điểm thì bên có chấm đỏ hay vàng là cực dương hoặc bên có chấm hoặc khoanh
đen là cực âm Nếu không phân biệt được cực của điôt thì dùng VOM, DMM ở thang đo
R để xác định Vặn đảo mạch của VOM, DMM ở thang Rx 1 đấu hai que đo với hai cực
để phân cực thuận ( điện trở khoảng vài chục đến vài trăm ôm ), thì chân đấu về cực dương
của pin trong đồng hồ là cực dương, chân đấu về cực âm của pin trong đồng hồ là cực âm Ngoài ra người ta còn ký hiệu điôt một đầu có sơn vạch trắng là cực katốt
Xác định chất lượng của điôt :
Trong điều kiện sử dụng thông thường, muốn xác định chất lượng của điôt thì cần đo điện trở thuận và điện trở ngược Thông thường, điện trở thuận thường vào khoảng vài chục đến vài trăm, có khi tới vài kilô ôm; còn điện trở ngược khoảng vài trăm kilô ôm Điện trở ngược càng lớn hơn điện trở thuận thì càng tốt Nếu điện trở ngược xấp xỉ điện trở thuận thì điôt bị hỏng Để kiểm tra chất lượng điôt ta vặn VOM, DMM ở thang đo ở Rx1 hoặc
(Rx10 ).Tiến hành đo hai lần có đảo que đo :
+ Nếu quan sát thấy kim đồng hồ một lần lên hết kim và một lần kim không lên, có nghĩa
Khi dùng điôt cần lưu ý những điểm sau:
+ Không để điôt phải chịu nhiệt độ quá cao Khi hàn hoặc nhả hàn chân điôt phải dùng kìm
bẹt, giẻ ướt kẹp giữa mối hàn và thân điôt để toả nhiệt Không nên hàn hoặc nhả hàn nhiều lần Khi hàn phải hàn nhanh, chổ hàn phải cách thân từ 1cm trở lên Khi bẻ gập chân điôt
phải dùng kìm bẹt, tránh làm nứt vỏ thuỷ tinh
+ Chú ý đấu điôt đúng chiều quy định trong mạch điện các điôt tiếp mặt thường có dấu
ký hiệu trên thân đèn hoặc một bên chân đèn Các điôt tiếp điểm thì bên có chấm đỏ hay vàng là cực dương hoặc bên có chấm hoặc khoanh đen là cực âm Nếu không phân biệt được cực của điôt thì dùng VOM, DMM ở thang đo R để xác định Vặn đảo mạch của VOM, DMM ở thang Rx1 đấu hai que đo với hai cực để phân cực thuận (điện trở khoảng vài chục đến vài trăm ôm), thì chân đấu về cực dương của pin trong đồng hồ là cực dương, chân đấu về cực âm của pin trong đồng hồ là cực âm
Trang 21+ Trong điều kiện sử dụng thông thường, muốn xác định chất lượng của điôt thì cần đo điện trở thuận và điện trở ngược Thông thường, điện trở thuận thường vào khoảng vài chục đến vài trăm, có khi tới vài k; còn điện trở ngược khoảng vài trăm k Điện trở ngược càng lớn hơn điện trở thuận thì càng tốt Nếu điện trở ngược xấp xỉ điện trở thuận thì điôt bị hỏng
+ Cần phải biết công dụng của từng loại điôt để dùng cho đúng Đi ốt tiếp mặt thông thường dùng để nắn điện, điôt tiếp điểm thương dùng để tách sóng
+ Khi dùng điôt để nắn điện cần phải chú ý không để biên độ điện áp ngược quá 75 - 80% biên độ điện áp ngược cho phép đối với điôt đó Nếu phải đấu nối tiếp một số điôt thì phải
có các đện trở bảo vệ đấu song song với từng điôt để san bằng điện áp ngược trên các điôt Điện trở bảo vệ phải có trị số lớn vừa phải, đảm bảo điều kiện RthĐ <<Rbv << RnghĐ như
vậy, mới điều hoà được giữa yêu cầu có hiệu suất nắn điện cao và yêu cầu san đều điện áp
ngược trên mỗi đi ốt Điện trở bảo vệ đối với các điôt nắn điện thường có trị số :
3
1
10 1
Trang 22b Phân loại, ký hiệu
Transistor có 2 lọai cơ bản sau :
Transistor lưỡng cực được viết tắt là BJT (Bipolar Junction Transistor)
Cấu tạo của transistor gồm 3 tấm bán dẫn P,N ghép lại với nhau tạo thành 2 mối nối P-N
Tùy theo cách xếp thứ tự các vùng bán dẫn mà có 2 loại transistor là NPN và NPN, tương ứng với 3 vùng bán dẫn là 3 cực của transistor:
Trang 23Hình 1.22: C ấu tạo của transistor lưỡng cực loại NPN
Hình 1.25: Sơ đồ cấu tạo
- Trường nối cực B với nguồn điện áp dương E1: với VC > VB > VE
hai vùng bán dẫn PN của cực B và cực E giống một đi ốt BE được phân cực thuận nên dẫn điện Electron từ lớp N tại cực E sang lớp P của cực B để tái hợp với lỗ trống Nhưng do mật độ hạt dương tại đây quá ít nên các điện tử tiếp tục xuyên dẫn đến cực dương của nguồn E1 tạo nên dòng IB (qui ước ngược lại)
Cực C nối vào điện áp dương cao hơn nên hút hầu hết electron trong vùng bán dẫn N tại cực E xuyên dãn sang cực C tạo thành dòng IC (qui ước ngược lại)
Cực E nối với nguồn điện áp âm nên khi vùng bán dẫn N bị mất electron sẽ hút điện tích âm từ nguồn âm E1 lên thế chổ tạo thành dòng IE (qui ước ngược lại)
Số lượng electron bị hút từ cực E đều chạy sang cực B và C nên dòng điện IB và IC đều chạy sang cực E
Như vậy: IE = IB + IC; với IB << IC, IE
Trang 24Về cấu tạo transistor NPN được xem như hai đi ốt ghép ngược như hình 1.25
Hình 1.26 : Sơ đồ cấu tạo
- Trường nối cực B với nguồn điện áp âm E1: với VE > VB > VC.Hai vùng bán dẫn PN của
cực B và cực E giống một đi ốt BE được phân cực thuận nên dẫn điện Lỗ trống từ lớp P
tại cực E sang lớp N của cực B để tái hợp với electron Nhưng do mật độ hạt điện tử tại đây quá ít nên các lỗ trống tiếp tục xuyên dẫn đến cực âm củanguồn E1 tạo nên dòng IB Cực C nối vào điện áp âm cao hơn nên hút hầu hết lỗ trống trong vùng bán dẫn P tại
cực E xuyên dãn sang cực C tạo thành dòng IC
Cực E nối với nguồn điện áp dương nên khi vùng bán dẫn P bị mất lỗ trống sẽ hút điện tích dương từ nguồn dương E1 lên thế chổ tạo thành dòng IE
Số lượng lỗ trống bị hút từ cực E đều chạy sang cực B và C nên dòng điện IB và IC đều từ cực E chạy sang
Như vậy: IE = IB + IC; với IB << IC, IE
Về cấu tạo transistor PNP được xem như hai đi ốt ghép ngược như hình 1.26
2.5.3 Đọc đo, kiểm tra và xác định chất lượng của Transistor
Để khỏi nhầm lẫn làm hỏng transistor hoặc phân tích mạch không đúng một số transistor có ghi vị trí các chân ngay ở thân transistor E hay là cực phát, B là cực gốc, C hay K là cực góp Nếu trên thân đèn không ghi vị trí các chân thì dùng VOM, DMM ở
Trang 25thang đo điện trở đo điện trở để xác định các cực.Khi dùng đo giữa hai cực thì tiếp giáp đó phân cực bằng nguồn pin 1,5 v trong đồng hồ Khi tiếp giáp được phân cực thuận thì có điện trở nhỏ Khi phân cực nghịch thì nó có điện trở lớn Dựa trên cơ sở đó, ta rút ra cách xác định các cực và chất lượng transistor Trước hết ta đánh số các chân là 1,2,3, và đưa từng đôi dây từ hai cực dương (+ ) và âm ( - ) của ôm mét tiếp với từng đôi chân Đồng
hồ đặt ở thang đo Rì 100 hoặc Rì 1000 đẻ có dòng nhỏ và điện áp thấp cho khỏi làm hỏng transistor
Đối với đôi chân ta có một điện trở thuận (R nhỏ) và một điện trở ngược (R lớn)
Khi đo hai chân nào mà có điện trở thuận lớn nhất thì chân còn lại không tham gia là cực gốc
Ví dụ:
- Đo giữa chân 1 và chân 2 được : 120(thuận), 50 k(ngược)
- Đo giữa chân 2 và chân 3 được 140 (thuận), 48 k(ngược)
- Đo giữa chân 1 và chân 3 được 5k (thuận), 120 k (ngược)
Khi đo giữa hai chân 1 và 3 có điện trở thuận lớn nhất nên chân 2 là cực gốc Tiếp
đó đấu que âm (-) với dương pin trong đồng hồ nếu là các đồng hồ có que dương là âm nguồn pin và que âm là dương nguồn pin ), với cực gốc, que kia đấu với bất kỳ cực nào còn lại nếu có điện trở ngược thì đó là transistor PNP, có điện trở nhỏ thì đó là transistor NPN
Sau cùng, đấu hai que đo với cực phát và cực góp sao cho có điện trở thuận Nếu là transitor PNP thì cực đấu về cực âm của nguồn pin trong đồng hồ là cực góp Nếu là transitor NPN thì cực đấu về cực dương của pin trong đồng hồ là cực góp
Một transistor tốt thì phải có ba điện trở thuận, ba điện trở ngược và khi đo kim đồng
Trang 26a Công dụng:
Thyristor được dùng để kiểm soát lượng lớn điện áp và năng lượng Vì những tính năng
ngưng hoạt động của các thiết bị
b Phân loại, ký hiệu
SCR có hai loại cơ bản : SCR loại P và SCR loại N
2.6.2 C ấu tạo, nguyên lý làm việc
a Cấu tạo
Thyristor được viết tắt SCR (Silicon Controlled Rectifier: bộ nắn điện được điều khiển làm bằng chất silic)
SCR được cấu tạo bởi bốn lớp bán dẫn PN ghép nối tiếp nhau và được nối ra ba cực
đó là: cực anốt (A), cực catốt (K), cực cửa (G), hình 3.26a
Người ta xem SCR như hai BJT một loại PNP và một loại NPN nối với nhau như hình 3.26b
Ký hiệu SCR như hình 1.27c
Hình 1.27: a, C ấu tạo b, Sơ đô tương đương c, Ký hiệu
Trang 27Hình 1.28 : Ký hi ệu, hình dạng của SCR
b Nguyên lý làm việc
Hình 1.29 : M ạch phân cực cho SCR
Để giải thích nguyên lý hoạt động của SCR ta mắc mạch như hình 1.29
- Trước tiên hãy xét trường hợp phân cực ngược thyristor với VAK < 0 Lúc này 2 đi ốt phân cực ngược mắc nối tiếp (J1 J3) (hình 1.29) Dòng qua thyristor chính là dòng dò ngược của đi ốt (giống hệt như dòng ngược bảo hoà của đi ốt ) Nếu tăng điện áp ngược dần đến
một giá trị nhất định thì hai chuyễn tiếp J1, J3 sẽ lần lượt bị đánh thủng theo cơ chế thác lũ
và cơ chế Zener, dòng ngược qua thyristor tăng lên đột ngột (dòng này là do cơ chế đánh thủng J3 quyết định) Nếu không có biện pháp ngăn chặn thì dòng ngược này sẽ làm hỏng SCR Vùng đặc tuyến ngược của thyristor trước khi bị đánh thủng gọi là vùng chắn ngược (hình 1.29)
- Trường hợp phân cực thuận: VAK > 0V
Khi cực G hở hay VG = 0V: lúc này Q2 không được phân cực nên Q2 ngưng dẫn, nên IB2 = 0, IC2 = 0 nên IB1 = 0, T1 cũng ngưng dẫn Trong trường hợp này SCR không dẫn điện nên dòng qua SCR là IA = 0 và VAK = VCC
Nếu khi tăng điện áp nguồn VCC lên mức đủ lớn làm điện áp VAK tăng theo đến điện áp ngập VBO thì điện áp VAK giảm xuống như đi ốt và dòng điện IA tăng lên, lúc này SCR chuyển sang trạng thái dẫn điện Dòng điện này gọi là dòng duy trì IH (xem hình 3.28)
Khi điện áp VG > 0V: đóng công tắt S để cấp nguồn VDC thì SCR chuyển sang trạng thái dẫn điện Lúc này Q2 được phân cực nên Q2 dẫn, có dòng IG vào cực cổng chính là dòng IB2 chạy vào Q2 nên trong mạch có dòng IC2 = IB1 T1 dẫn dẫn điện nên trong mạch có dòng IC1 cung cấp ngược lại cho T2 ( IC1 = IB2) Nhờ đó mà SCR sẽ rự duy trì trạng thái dẫn điện mà không cần dòng IG liên tục
Trang 28- Ta thấy: IC2 = IB1, IC1 = IB2 nên dòng điện qua hai BJT được khuếch đại lớn dần nên làm cho 2 BJT dẫn bảo hòa, nên lúc này điện áp VAK giảm xuống rất nhỏ khoảng 0,7V và dòng điện qua SCR là:
L CC
L
AK CC
R
VR
VV
b Phân loại, ký hiệu
Triac công suất lớn có thân hình to ( Chịu tải và dòng lớn )
Triac nhỏ ( Chịu tải nhỏ và dòng nhỏ )
Trang 29TRIAC được viết tắt bởi TRiode AC semiconductor switch (công tắc bán dẫn xoay chiều ba cực)
TRIAC được cấu tạo bởi các lớp PN ghép nối tiếp với nhau như hình 1.30a và được nối ra ba chân Hai chân hai đầu là A1 - A2, chân thứ 3 là chân G ( cực cửa)
TRIAC được xem như hai SCR mắc song song ngược cực tính nhau hình 3.29.1b TRIAC được ký hiệu như hình 1.30 c
Hình 1.30: a, Cấu tạo b, Sơ đồ tương đương dùng SCR c,Ký hiệu
Hình 1.31: Hình d ạng của TRIAC
b Nguyên lý làm việc
Từ hình ta thấy TRIAC thực chất là hai SCR mắc song song và ngược cực tính nhau,
do đó TRIAC có thể dẫn điện cả hai chiều Vì vậy ta xét sự hoạt động của TRIAC qua các trường hợp sau:
- Trường hợp VA2 > 0, VA1 < 0, VG > 0: khi nhấn công tắc để kích xung dương cho cực G thì TRIAC dẫn điện theo chiều từ A2 sang A1
Trang 30Hình 1.32: TRIAC kích kh ởi điện áp dương
- Trường hợp VA2 < 0, VA1 > 0, VG < 0: khi nhấn công tắc để kích xung âm cho cực G thì
TRIAC dẫn điện theo chiều từ A1 sang A2
Hình 1.33: TRIAC kích kh ởi điện áp âm
- Trường hợp sử dụng nguồn xoay chiều: ở bán kỳ dương của điện áp vào thì cực G được
kích xung dương, TRIAC dẫn điện theo chiều từ A2 sang A1, ở bán kỳ âm thì cực G dược
kích xung âm nên TRIAC dẫn theo chiều từ A1 sang A2 Như vậy, TRIAC dẫn điện cả hai
chiều
Hình 1.34: TRIAC v ới điện áp xoay chiều
2.7.3 Đọc, đo, kiểm tra chất lượng Triac
Cách kiểm tra Triac :
- Dùng thang đo R1 :
Đo thuận nghịch 2 đầu A1, A2 và G có sốrất lớn Tốt nhất ta mắc mạch sau để thử
Nếu Triac tốt thì ta bấm S rồi buông ra bóng đèn vẫn sáng
2.7.4 Các linh ki ện khác cùng nhóm và ứng dụng
- Kiểm soát các thiết bị gia dụng nhỏ chạy bằng điện xoay chiều
- Điều khiển động cơ nhỏ
- Điều khiển tốc độ quạt điện
Trang 31- Đèn điều chỉnh ánh sáng trong nhà…
2.8 Diac
2.8.1 Công d ụng, phân loại, ký hiệu
a Công dụng
Diac được sử dụng như diod zener trong các mạch điện xoay chiều, thường dùng để kích
b Phân loại, ký hiệu
5 lớp Loại diac 3 lớp phổ biến hơn và có điện áp ngắt (break-over voltage) khoảng 30V, hoạt động gần như đối xứng nhờ tính đối xứng của thiết bị
gọi là T1 và T2 và do tính chất đối xứng của DIAC nên không cần T1 – T2 hình 1.35a
Hình 1.35: a) C ấu tạo b) Ký hiệu c)Hình dạng của DIAC
b Nguyên lý làm việc
Trang 32Hình 1.36 : Sơ đồ nguyên lý
Xét sơ đồ hình 1.36, nguồn VCC có thể chỉnh được từ thấp đến cao Khi VCC có trị số thấp thì dòng điện qua DIAC chỉ là dòng điện rỉ Khi tăng VCC lên một giá trị đủ lớn là VB0 thì điện áp trên DIAC bị giảm xuống và dòng điện tăng lên nhanh Điện áp này gọi là điện
áp ngập và dòng diện lúc này gọi là dòng điện ngập IB0
2.8.3 Đọc, đo , kiểm tra và xác định chất lượng Diac
Kiểm tra xác định chất lượng DIAC:
Ta dùng thang đo R10 đo 2 lần đầu T1 và T2 nếu :
Khoảng > vài trăm tốt
Trang 33BÀI 2: L ẮP RÁP MẠCH ĐIỆN TỬ CƠ BẢN 2.1 L ắp ráp mạch chỉnh lưu
2.1.1 L ắp ráp mạch chỉnh lưu nửa chu kỳ
a Sơ đồ mạch điện
Mạch chỉnh lưu nửa chu kỳ
b.Tác dụng linh kiện:
+ BA: Biến áp cảm ứng để biến đổi điện áp U1 thành điện áp U2 phù hợp với tải , biến
áp này có 2 cuộn dây sơ cấp W1 và thứ cấp W2
+ D: đi ốt bán dẫn + Zt: tải một chiều
c Nguyên lý làm vi ệc:
+ Giả sử điện áp đặt vào 2 đầu cuộn sơ cấp W1 là điện áp xoay chiều biến thiên theo hình sin, theo nguyên lý cảm ứng của máy biến áp , 2 đầu cuộn thứ cấp W2 có điện áp xoay chiều U2 biến thiên hình sin và có biên độ phù hợp với tải Zt
+ Xét nửa chu kỳ từ 0 Điểm A có điện thế dương hơn điểm B (VA > VB)
Lúc này đi ốt D phân cực thuận dẫn điện qua tải, dòng điện qua tải có chiều:
Từ A (+) điốt D tải Zt B (-)
+ Xét nửa chu kỳ tiếp theo từ 2 , điện áp đổi chiều (VA < VB)
Điốt D phân cực ngược nên không có dòng điện qua tải It = 0
+ Xét nửa chu kỳ tiếp theo quá trình xảy ra tương tự như trên và ta có đồ thị dạng sóng như sau:
Trang 342.1.2 L ắp ráp mạch chỉnh lưu toàn chu kỳ dùng 2 đi ốt
+ Xét nửa chu kỳ từ 0 điện thế tại các điểm VA > VC > VB
Lúc này đi ốt D1 phân cực thuận, diốt D2 phân cực ngược, dòng điện qua tải Zt có chiều:
Từ A (+) điốt D 1 tải Zt C (-)
+ Xét nửa chu kỳ từ 2 điện thế tại các điểm VA < VC <VB
Lúc này đi ốt D2 phân cực thuận, diốt D1 phân cực ngược, dòng điện qua tải Zt có chiều:
Từ B (+) điốt D 2 tải Zt C (-).+ Xét tiếp ở các nửa chu kỳ tiếp theo quá trình lặp lại như trên Như vậy trong cả 2 nửa chu kỳ đều có dòng điện đi qua tải
Trang 35Đồ thị dạng sóng có dạng mạch chỉnh lưu 2 nửa chu kỳ dùng 2 điốt
2.1.3 Lắp ráp mạch chỉnh lưu toàn chu kỳ dùng 2 điốt có tụ lọc
- Như vậy trong cả 2 bán kỳ của tín hiệu vào đều có dòng điện đi qua tải nên điện áp trên tải có dạng như hình