1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn HV chính sách và phát triển) tổ chức lãnh thổ công nghiệp tại thành phố hải phòng

82 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên tổ chức lãnh thổ vẫn còn là một khái niệm mới ở nước ta, nghiên cứu chuyên sâu về nó còn hạn chế, mang tính tổng quát cao và riêng biệt từng loại tổ chức lãnh thổ trên phạm vi

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân và không sao chép dưới bất kỳ hình thức nào Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng, tuân thủ đúng nguyên tắc và kết quả trình bày trong luận văn được thu thập trong quá trình nghiên cứu là trung thực, chưa từng được ai công bố trước đây

Hà Nội, ngày 01 tháng 06 năm 2019

Tác giả khóa luận

Hà Hoài Ly Ly

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 2

3 Giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Cấu trúc của đề tài khóa luận 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP 4

1.1 Cơ sở lý luận 4

1.1.1 Tổ chức lãnh thổ kinh tế 4

1.1.2 Tổ chức lãnh thổ công nghiệp 10

1.2 Thực tiễn tổ chức lãnh thổ công nghiệp tại một số tỉnh, thành phố 24

1.2.1 Tỉnh Nghệ An 24

1.2.2 Tỉnh Hà Nam 28

1.3 Vận dung cho TCLT CN thành phố Hải Phòng 31

1.3.1 Xây dựng cơ sở lí luận tổ chức lãnh thổ công nghiệp 31

1.3.3 Các nhiệm vụ của tổ chức lãnh thổ công nghiệp thành phố Hải Phòng 36

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 38

2.1 Khái quát hiện trạng phát triển kinh tế thành phố Hải Phòng 38

2.1.1 Về tăng trưởng kinh tế 38

2.1.2 Về tổng sản phẩm theo các ngành kinh tế 39

2.1.3 Đầu tư phát triển 41

2.2 Điều kiện phát triển các hình thức tổ chức công nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng 42

2.2.1 Vị trí địa lý 42

2.2.2 Quỹ đất 43

2.2.3 Kết cấu hạ tầng 45

2.3 Hiện trạng phát triển một số hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp 47

Trang 4

2.3.1 Khu công nghiệp 47

2.3.2 Cụm công nghiệp 59

2.3.3 Đánh giá chung 59

2.3.3.2 Hạn chế 60

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ĐẾN NĂM 2030 62

3.1 Bối cảnh, quan điểm và phương hướng tổ chức lãnh thổ công nghiệp Hải Phòng 62

3.1.1 Bối cảnh phát triển công nghiệp Hải Phòng theo lãnh thổ 62

3.1.2 Bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội Hải Phòng 63

3.1.3 Quan điểm định hướng tổ chức lãnh thổ công nghiệp Hải Phòng giai đoạn đến năm 2030 64

3.1.4 Phương hướng tổ chức lãnh thổ công nghiệp Hải Phòng 66

3.2 Các giải pháp phát triển tổ chức công nghiệp thành phố Hải Phòng 69

3.2.1 Về tổ chức quản lý 69

3.2.2 Giải pháp về thu hút vốn đầu tư 70

3.2.3 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 71

KẾT LUẬN 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Ts Phạm Ngọc Trụ,

là người tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian làm khóa luận tốt nghiệp

Tôi xin cảm ơn các Thầy, Cô giáo đang công tác tại Học viện Chính sách

và Phát triển đã giảng dạy tôi trong suốt thời gian học tập tại trường và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này

Cảm ơn bạn bè đã cổ vũ động viên tôi trong suốt quá trình học tập tại trường

Tuy đã có những cố gắng nhất định nhưng do thời gian và trình độ có hạn nên chắc chắn khóa luận này còn nhiều thiếu sót và hạn chế nhất định Kính mong nhận được sự góp ý của Thầy Cô và các bạn

Hà Nội, ngày 01 tháng 06 năm 2019

Tác giả khóa luận

Hà Hoài Ly Ly

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CCN Cụm công nghiệp CMH Chuyên môn hóa

CN Công nghiệp FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài KCN Khu công nghiệp

PCLĐXH Phân công lao động xã hội UBND Ủy ban nhân dân

TCLT Tổ chức lãnh thổ

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH ẢNH

Biểu đồ 2.1 Tốc độ tăng GRDP (%) thành phố Hải Phòng giai đoạn 2012 –

2018 Biểu đồ 2.2 Tốc độ tăng GRDP (%) thành phố Hải Phòng và một số tỉnh, thành phố năm 2018

Biểu đồ 2.3 Tổng sản phẩm (tỉ đồng – giá thực tế) phân theo các ngành kinh tế thành phố Hải Phòng giai đoạn 2016 – 2018

Biểu đồ 2.4 Cơ cấu (%) hiện trạng sử dụng đất thành phố Hải Phòng năm 2018 Biểu đồ 2.5 Đầu tư FDI (triệu USD) vào các khu công nghiệp tại thành phố Hải Phòng qua các năm

Biểu đồ 2.6 Đầu tư trong nước (tỷ đồng) vào các khu công nghiệp thành phố Hải Phòng qua các năm

Biểu đồ 2.7 Cơ cấu (%) lao động theo giới của thành phố Hải Phòng năm 2017 Biểu đồ 2.8 Cơ cấu lao động theo quốc tịch của thành phố Hải Phòng năm 2017 Bảng 1.2 Lợi nhuận (triệu đồng) của các dự án đang hoạt động trong khu công nghiệp tại tỉnh Nghệ An qua các năm

Bảng 1.3 Tình hình hoạt động 4 khu công nghiệp chính thành phố Hải Phòng tính đến tháng 12 năm 2017

Hộp 2.3 Khu công nghiệp Tràng Duệ (thành phố Hải Phòng)

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, vấn đề tổ chức lãnh thổ nổi lên là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu bởi bất cứ địa phương nào để phát triển cũng cần phải tiến hành tổ chức lãnh thổ nhằm thu đạt hiệu quả kinh tế cao, thực hiện được một cách thống nhất phát triển toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm trên địa phương mình Tuy nhiên tổ chức lãnh thổ vẫn còn là một khái niệm mới

ở nước ta, nghiên cứu chuyên sâu về nó còn hạn chế, mang tính tổng quát cao và riêng biệt từng loại tổ chức lãnh thổ trên phạm vi cả nước, bản thân các địa phương đã hình thành các bản quy hoạch phát triển tỉnh, tuy nhiên, hầu như các tỉnh đều chưa tổng hợp nghiên cứu sâu chuyên đề tổ chức lãnh thổ cho địa phương mình, những công trình nghiên cứu vấn đề này hiện vẫn còn rất hạn chế dẫn đến tình trạng mơ hồ trong bước đi, cũng như lạc quan thái quá về sự phát triển của kinh tế, nhìn nhận chưa sâu sắc giữa thực tế và lý thuyết Vì vậy, cần phân tích đánh giá các hình thức tổ chức lãnh thổ một cách thấu đáo cả về lý thuyết và thực hành, nhận rõ thực trạng phát triển, cùng các ưu điểm nhược điểm của các hình thức tổ chức, để rồi đưa ra các giải pháp phù hợp để phát triển các hình thức này

Hải Phòng là thành phố đạt kết quả vượt bậc về thu hút đầu tư trong và ngoài nước là do hạ tầng giao thông thuận tiện, nhất là phát triển cảng biển, cảng hàng không, đường cao tốc Tuy nhiên, việc xây dựng các khu cụm công nghiệp vẫn còn một số hạn chế: Tốc độ triển khai dự án xây dựng cơ sở hạ tầng còn thấp, chưa có các biện pháp cụ thể và mạnh mẽ để triển khai đầu tư như đã cam kết Sự chậm trễ trong công tác xây dựng, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật của một

số khu đã làm cản trở các nhà đầu tư vào thuê đất dẫn đến khả năng lấp đầy còn khó khăn Tốc độ thu hút vốn đầu tư chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế sẵn có của các KCN Hải Phòng một phần còn do công tác thu hút đầu tư của các doanh nghiệp phát triển KCN thiếu linh hoạt, chưa hiệu quả; việc đầu tư hệ

Trang 9

thông, cấp điện, cấp thoát nước, nhà ở cho người lao động còn yếu kém, làm giảm hiệu quả đầu tư của các KCN Hải Phòng Trong khi đó các khu cụm công nghiệp thành lập theo quyết định của UBND thành phố hình thành còn chậm (từ khâu quy hoạch chi tiết đến khâu huy động vốn đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật, lựa chọn nhà đầu tư và kinh doanh hạ tầng ) Xuất phát từ thực tiễn trên,

tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Tổ chức lãnh thổ công nghiệp tại thành phố Hải Phòng” làm khóa luận tốt nghiệp

2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

2.1 Mục tiêu

Trên cơ sở dữ liệu xem xét điều kiện và hiện trạng tổ chức lãnh thổ công nghiệp Hải Phòng tác giả đề xuất một số giải pháp phát huy vai trò và hiệu quả của các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp

2.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục tiêu trên khóa luận tập trung giải quyết các nhiệm vụ chính:

- Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ công nghiệp

- Phân tích điều kiện và đánh giá hiện trạng tổ chức lãnh thổ công nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng

- Đề xuất một số giải pháp phát huy vai trò và hiệu quả của các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở thành phố Hải Phòng

3 Giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu

- Về không gian: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi toàn bộ lãnh thổ thành phố Hải Phòng bao gồm các quận, huyện: Thủy Nguyên, An Dương, Vĩnh Bảo,

Đồ Sơn, Tiên Lãng, Kiến Thụy, An Lão, Hải An, Cát Hải

- Về thời gian: Đề tài tập trung phân tích đánh giá thực trạng TCLT CN thành phố Hải Phòng 2000 – 2017 và đề xuất giải pháp hoàn thiện tổ chức lãnh thổ công nghiệp thành phố Hải Phòng đến năm 2030

Trang 10

- Nội dung: Tập trung đi sâu phân tích điều kiện, đánh giá hiện trạng TCLT

CN Hải Phòng, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy tác dụng của các hình thức TCLT CN

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp thu thập số liệu

Đây là phương pháp khá thông dụng trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu làm đề tài Các tài liệu được tác giả thu thập từ nhiều nguồn như các giáo trình,

sử dụng thông tin sẵn có, chọn lọc, quan sát các chi tiết có liên quan, phỏng vấn

số liệu thống kê, các công trình nghiên cứu có nội dung liên quan Ngoài ra tác giả còn điều tra thêm thông tin từ báo chí, Internet, các trang web điện tử …để phục vụ tìm kiếm số liệu cho đề tài

4.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh

Các tài liệu sau khi thu thập sẽ được xử lí qua các bước như phân tích, tổng hợp, so sánh…để trở thành những tài liệu, dẫn chứng thuyết phục phục vụ tốt cho mục đích của tác giả trong đề tài

4.3 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa

Là phương pháp khảo sát một nhóm đối tượng trên diện rộng để phát hiện các quy luật phân bố và các đặc điểm của đối tượng nhằm kiểm chứng những lý luận của tác giả, hướng sự phát triển theo mục tiêu dự kiến

5 Cấu trúc của đề tài khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và các phụ lục, nội dung chính của khóa luận được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ công nghiệp

Chương 2: Thực trạng tổ chức lãnh thổ công nghiệp thành phố Hải Phòng Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện tổ chức lãnh thổ công nghiệp thành phố Hải Phòng đến năm 2030

Trang 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC

LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Tổ chức lãnh thổ kinh tế

1.1.1.1 Phân công lao động xã hội: cơ sở nền tảng của tổ chức lãnh thổ kinh tế

Phân công lao động xã hội (PCLĐXH) là một tất yếu khách quan bắt nguồn từ nhu cầu và sự phát triển đời sống xã hội Kinh tế hàng hóa là một hình thái của nền sản xuất xã hội nối tiếp và cao hơn nền sản xuất tự cung tự cấp, trong đó, sản phẩm được sản xuất ra để trao đổi thông qua mua bán trên thị trường Điều kiện chung của tồn tại sản xuất hàng hóa là PCLĐXH và sự tách biệt (độc lập) kinh tế giữa những người sản xuất Phân công lao động xã hội tạo ra sự CMH sản xuất và từng ngành nghề riêng biệt làm cho hoạt động sản xuất ngày càng đa dạng, phong phú

và rộng khắp Như vậy, PCLĐXH có hai hình thức cơ bản là phân công lao động theo ngành và phân công lao động theo lãnh thổ

Phân công lao động xã hội theo ngành chính là tổ chức lao động xã hội theo các ngành để tạo ra những sản phẩm cụ thể phục vụ yêu cầu xã hội PCLĐXH theo ngành phát triển từ thấp đến cao, từ nông nghiệp đến công nghiệp rồi đến dịch vụ Quá trình PCLĐXH theo ngành đã kéo theo quá trình phân công lao động theo lãnh thổ - đây là một quá trình tất yếu thể hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa PCLĐXH theo ngành và PCLĐXH theo lãnh thổ

“Phân công lao động theo lãnh thổ chính là tổ chức lao động xã hội theo ngành gắn với lãnh thổ, làm cho mỗi lãnh thổ có một chức năng riêng và công năng tương đối khác nhau” [4] Quá trình phân công lao động theo lãnh thổ thúc đẩy việc hình thành CMH sản xuất của từng vùng (địa phương) dựa vào những thế mạnh riêng của mình về sự khác biệt của điều kiện sản xuất cũng như tài năng của người lao động, nhằm tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa có chất lượng cao, giá thành hạ nhằm mang lại hiệu quả kinh tế

Phân công lao động xã hội theo lãnh thổ không phải là bất biến mà là một phạm trù kinh tế, xã hội, lịch sử; quá trình này không chỉ phản ánh những quan hệ

Trang 12

xã hội của con người do lịch sử tạo ra mà còn phản ánh cả trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội Do đó, có thể thấy rằng tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội nói chung, TCLT CN nói riêng có quan hệ hữu cơ với PCLĐXH theo lãnh thổ, hay nói cách khác, PCLĐXH theo lãnh thổ có ý nghĩa đặc biệt đối với tổ chức lãnh thổ kinh tế

1.1.1.2 Quan niệm về tổ chức lãnh thổ kinh tế Theo quan điểm của trường phái địa lý Xô Viết, tổ chức lãnh thổ kinh tế là sự sắp xếp, bố trí và phối hợp các đối tượng có ảnh hưởng lẫn nhau, có mối quan hệ qua lại giữa các hệ thống sản xuất, hệ thống dân cư nhằm sử dụng hợp lý các nguồn lực để đạt hiệu quả cao về kinh tế, xã hội và môi trường [5]

Theo quan điểm của trường phái địa lý phương Tây, tổ chức lãnh thổ (còn gọi là tổ chức không gian kinh tế) được coi là sự lựa chọn về nghệ thuật sử dụng lãnh thổ một cách đúng đắn nhằm tìm kiếm một tỉ lệ, quan hệ hợp lý về phát triển kinh tế - xã hội giữa các ngành trong một vùng, giữa các lãnh thổ nhỏ trong một vùng lớn hoặc giữa các vùng trong cùng một quốc gia có xét đến mối liên hệ giữa các quốc gia để tạo ra giá trị mới [4] Theo quan điểm này, về mặt

địa lý, tổ chức không gian kinh tế xã hội được xem như là một hoạt động có tính chất định hướng, hướng tới sự công bằng về không gian giữa trung tâm và ngoại

vi, giữa các cực với không gian ảnh hưởng nhằm giải quyết việc làm, cân đối giữa nông thôn và thành thị, bảo vệ môi trường sống của con người

Như vậy, có thể hiểu “tổ chức không gian kinh tế” là sự “sắp xếp” và “phối hợp” các đối tượng trong mối quan hệ liên ngành, liên vùng nhằm sử dụng một cách hợp lí các tiềm năng tự nhiên, lao động, vị trí địa lý kinh tế, chính trị và cơ

sở vật chất kỹ thuật đã và sẽ được tạo dựng để đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao và nâng cao mức sống dân cư, đảm bảo sự phát triển bền vững của lãnh thổ

1.1.1.3 Các lý thuyết liên quan đến tổ chức lãnh thổ công nghiệp

Kinh tế lãnh thổ và những lí thuyết kinh tế quan trọng có liên quan với nhau Các nhà địa lý kinh tế - xã hội nghiên cứu kinh tế lãnh thổ, phát hiện những vấn đề có tính qui luật và đúc rút chúng thành những lí thuyết phát triển kinh tế và không gian kinh tế

Trang 13

của sự phát triển Dưới đây là một số lí thuyết phổ biến ứng dụng trong TCLT CN

a Lí thuyết tổ chức

Hệ thống lãnh thổ kinh tế - xã hội nói chung, hệ thống lãnh thổ công nghiệp nói riêng cần phải được tổ chức Giữa ngành với ngành, giữa ngành với lãnh thổ cần được bố trí theo một trật tự hợp lí, được định hướng phát triển đúng đắn [4]

Việc bố trí các ngành (xí nghiệp) trên lãnh thổ cần tôn trọng các qui luật tự nhiên, qui luật kinh tế - xã hội diễn ra trên lãnh thổ và xem xét trong mối quan

hệ với lãnh thổ khác nhằm đảm bảo được hiệu quả cao nhất về kinh tế - xã hội - môi trường

b Lý thuyết khu vị luận công nghiệp Với việc công bố Über den Standort der Industrie (Theory of the Location

of Industries - Lý thuyết về Vị trí của ngành công nghiệp) vào năm 1909, Alfred Weber (1868-1958) đưa ra lý thuyết đầu tiên về định vị công nghiệp Mô hình của ông đã tính toán các nhân tố không gian cho việc tìm kiếm vị trí tối ưu và chi phí tối thiểu cho các nhà máy sản xuất Các điểm để định vị một ngành công nghiệp giảm thiểu chi phí vận chuyển và lao động yêu cầu phân tích của ba yếu tố:

- Các điểm vận chuyển tối ưu dựa trên các chi phí về khoảng cách với "chỉ số vật liệu", tỷ lệ trọng lượng với các sản phẩm trung gian (nguyên liệu) đến thành phẩm

- Các biến dạng lao động, trong đó nhiều nguồn thuận lợi hơn của lao động làm cho chi phí thấp hơn có thể biện minh cho khoảng cách vận chuyển lớn hơn

- Các lực tích tụ và không tích tụ [15]

Vấn đề xác định vị trí cho một ngành công nghiệp ngày càng phù hợp với thị trường toàn cầu ngày nay và các tập đoàn xuyên quốc gia Chỉ tập trung vào các cơ chế của mô hình Weber có thể biện minh khoảng cách vận chuyển lớn hơn đối với lao động rẻ và chưa được khai thác nguyên liệu thô Khi nguồn tài nguyên đang cạn kiệt hoặc có những vấn đề nảy sinh của người lao động, ngành công nghiệp có thể

di chuyển đến các nước khác nhau [6]

Trang 14

Tóm lại, mục đích của sự định vị công nghiệp tập trung là để “cực tiểu hóa chi phí và cực đại hóa lợi nhuận” Lý thuyết này coi trọng vai trò của thành phố và xem thành phố là trung tâm thị trường, thành phố có lực hút lớn để lan tỏa ra xung quanh Lý thuyết này chỉ phù hợp với một nền kinh tế đang ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa Và A Weber là người đầu tiên nghiên cứu lý thuyết tổng hợp về định vị công nghiệp, đưa ra mô hình không gian về phân bố công nghiệp

c Lý thuyết các điểm trung tâm của W Christaller - (Đức, 1933)

Sự phân bố và kích thước của các vị trí đô thị là một câu hỏi quan trọng trong khoa học đô thị Walter Christaller, một nhà địa lý Đức, là người đầu tiên đưa ra “Lí thuyết điểm trung tâm” (CPT) vào năm 1933 Christaller đang nghiên cứu các khu định cư đô thị ở miền nam nước Đức và lý thuyết cao cấp này như một phương tiện để nhận biết làm thế nào các khu định cư đô thị phát triển và có khoảng cách trong mối quan hệ với nhau

Một vị trí trung tâm là một khu định cư hoặc một điểm nút phục vụ khu vực xung quanh với hàng hoá và dịch vụ (Mayhew, 1997) Mô hình của Christaller cũng được dựa trên tiền đề rằng tất cả các hàng hoá và dịch vụ được mua bởi người tiêu dùng từ các địa điểm trung tâm gần nhất, mà nhu cầu được đặt trên tất cả các địa điểm trung tâm trong đồng bằng tương tự, và rằng không

có nơi tập trung nào thực hiện lợi nhuận quá mức

CPT của Christaller đã được phát triển từ khái niệm về tập trung như một nguyên tắc đặt hàng Chirstaller đề xuất rằng nếu tập trung khối lượng xung quanh hạt nhân là một hình thức cơ bản về trật tự, thì cùng một nguyên tắc có thể đánh đồng với việc tập trung hóa tại các khu định cư đô thị Mô hình Christaller đề xuất một sự sắp xếp thứ bậc của các khu định cư và khái niệm mô hình với sự sắp xếp lục giác Các hình lục giác tốt nhất tương đương một vòng tròn bảo hiểm tối đa và một số vấn đề của chồng chéo trong sắp xếp tròn đã được gỡ bỏ từ sắp xếp lục giác Quy mô dân số và tầm quan trọng của trung tâm không nhất thiết đồng nghĩa, nhưng các trung tâm của nơi này đã được xác định

Trang 15

về tầm quan trọng của nó trong khu vực xung quanh nó [17]

Các lý thuyết bao gồm các khái niệm cơ bản của trung tâm, ngưỡng, và

phạm vi Tính trung tâm vẽ đến một nơi cụ thể Ngưỡng là thị trường tối thiểu

cần thiết để mang lại một công ty mới hoặc nhà cung cấp dịch vụ mới, sự tồn tại

thành phố và giữ cho nó hoạt động, và phạm vi là khoảng cách tối thiểu trung

bình mà mọi người sẽ đi du lịch để mua các dịch vụ, hàng hóa Đây là nguyên tắc tiếp thị trong mô hình của Christaller

Trong những năm 1940, August Losch, một nhà kinh tế Đức đã mở rộng và sửa đổi cho CPT của Christaller Ông xây dựng một mô hình tiêu dùng dựa trên

cơ cấu hành chính và sản xuất nhưng trái ngược với các trung tâm dịch vụ trong

mô hình của Christaller Losch bắt đầu từ "đáy" của mô hình bằng cách xem xét một trong những "khách hàng tương đương" hoặc một đơn vị tiêu thụ và xây dựng từ đó

Từ các lý thuyết trên đây đã hình thành lý thuyết mang tính qui luật trong phân bố không gian từ tương quan giữa các điểm dân cư, phát hiện một trật tự mang tính qui luật trong phân bố các thành phố, các đô thị, các thị trấn, làng mạc nông thôn, sau này được áp dụng trong nghiên cứu phân cấp đô thị, xác định các nút trọng điểm trong một lãnh thổ nhất định

d Lí thuyết phát triển các cực

François Perroux giới thiệu ý tưởng của “Cực tăng trưởng kinh tế” vào năm

1949 Ông và những người khác đã mở rộng thêm khái niệm này, nhưng vẫn không có nhiều sự đồng thuận trong giới nghiên cứu Tuy nhiên, nó đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với các nhà hoạch định chính sách Các nhà hoạch định chính sách cho rằng các nhà kinh tế có thể cung cấp các phân tích kỹ thuật cần thiết để tăng thêm ý nghĩa cho chính sách dựa trên khái niệm cực tăng trưởng

Khái niệm trực quan của các cực tăng trưởng xác định một cực tăng trưởng là một ngành công nghiệp hoặc một nhóm ngành công nghiệp Tuy nhiên, Perroux

quy định các cực tăng trưởng trong ý tưởng của ông là không gian kinh tế trừu tượng Perroux cho rằng không gian kinh tế trừu tượng là có ba loại:

Trang 16

Bất chấp sự từ chối của Perroux rằng các cực tăng trưởng ứng dụng trong không gian địa lý, các ý tưởng này đã được vận dụng vào không gian địa lý Ví dụ, nền kinh tế khu vực của Paris có thể được coi là một cực tăng trưởng Trường hợp của Paris cho thấy ảnh hưởng của sự phân cực trên khu vực địa lý bao quanh không phải luôn luôn tích cực Sự hấp dẫn của Paris quá lớn nên nó đã vô cùng khó khăn

để thúc đẩy phát triển kinh tế ở bất kỳ khu vực bên ngoài khu vực Paris Các nhà

hoạch định chính sách Pháp đề cập đến điều này như là hiện tượng của Paris và sa mạc Pháp

Ở Mỹ, khái niệm cực tăng trưởng thường được hiểu như việc nhấn mạnh vị

trí địa lý và nó được gọi là trung tâm tăng trưởng Các trung tâm tăng trưởng có

liên quan đến các khái niệm về tích tụ [6] Trong nhiều phương diện, các tác phẩm của Mỹ về các trung tâm tăng trưởng gần như độc lập với Perroux và tư tưởng Pháp về các cực tăng trưởng

Nhà kinh tế người Mỹ, John R Friedman, đã phát triển một khái niệm có liên quan nhưng khác biệt với những ý tưởng của các cực tăng trưởng và trung tâm tăng trưởng Nó được gọi là vật chất của trung tâm so với ngoại vi

Friedman đã phát triển ý tưởng này trong việc phân tích các mối quan hệ của các khu vực bên trong của Venezuela đối với các vùng ven biển Những người khác

đã mở rộng khái niệm đối với mối quan hệ của trung tâm Bắc Đại Tây Dương của Tây Âu và Bắc Mỹ đến châu Mỹ La tinh, châu Phi và Đông Nam Á

Nhìn chung các khái niệm về các cực tăng trưởng ban đầu không gắn với việc phân tích các vấn đề kinh tế vùng Tuy nhiên ý tưởng về cực tăng trưởng đã

có một vai trò quan trọng trong việc xây dựng chính sách khu vực

Trang 17

Lí thuyết cực tăng trưởng đã được áp dụng rộng rãi ở châu Á, nhất là ở các nước ASEAN và qua thực tế đã có nhiều kinh nghiệm và kết quả thích hợp với các quốc gia còn thiếu vốn cần kêu gọi vốn nước ngoài Đây cũng là lí thuyết giải thích sự cần thiết của phát triển kinh tế lãnh thổ theo hướng phát triển có trọng điểm

Trong các lí thuyết này thì lí thuyết các điểm trung tâm và lí thuyết phát triển các cực được đặc biệt quan tâm Đặc biệt là việc vận dụng nó vào tổ chức lãnh thổ công nghiệp Nghệ An với việc hình thành mạng lưới đô thị tạo ra lực hút của lãnh thổ nhằm thúc đẩy sự ra đời của các điểm CN, CCN, KCN

1.1.2 Tổ chức lãnh thổ công nghiệp

1.1.2.1 Quan niệm về tổ chức lãnh thổ công nghiệp

Tổ chức lãnh thổ công nghiệp là một trong những hình thức tổ chức của nền sản xuất xã hội theo lãnh thổ Nó có vai trò to lớn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trải qua quá trình lâu dài, được nghiên cứu dưới nhiều góc độ, thuật ngữ

“tổ chức lãnh thổ công nghiệp” được sử dụng rộng rãi trong các tài liệu khoa

học và thực tiễn A.T.Khơrusov (1979) đã cho rằng: TCLT CN là hệ thống các mối liên kết không gian của các ngành và các kết hợp sản xuất lãnh thổ khác nhau trên cơ sở sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, vật chất, lao động cũng như tiết kiệm chi phí để khắc phục sự không phù hợp trong lịch sử về phân bố các nguồn nguyên nhiên liệu, năng lượng, nơi sản xuất và nơi tiêu thụ sản phẩm, góp phần đạt hiệu quả kinh tế cao [5]

“Ở Việt Nam, hầu hết các nhà khoa học đều thống nhất: Tổ chức lãnh thổ công nghiệp là việc bố trí hợp lý các cơ sở sản xuất công nghiệp, các cơ sở phục

vụ cho hoạt động công nghiệp, các điểm dân cư cùng kết cấu hạ tầng trên phạm

vi một lãnh thổ nhất định nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên trong cũng như bên ngoài của lãnh thổ đó” [5]

Như vậy, tổ chức lãnh thổ công nghiệp là việc tìm ra các mối liên kết không gian, là việc bố trí hợp lí các cơ sở kinh tế trên một lãnh thổ nhất định Nói cách

Trang 18

khác, đối với công nghiệp, đây là việc định vị các xí nghiệp, các khu công nghiệp

để tạo nên các không gian công nghiệp thuộc các cấp khác nhau, trên cơ sở các lợi thế so sánh của từng lãnh thổ sao cho đạt hiệu quả cao về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường

1.1.2.2 Các đặc tính của tổ chức lãnh thổ công nghiệp

Tổ chức lãnh thổ công nghiệp có 3 đặc tính cơ bản, đó là:

+ Tính kết cấu hệ thống + Tính lãnh thổ

+ Tính đa phương án [7]

Tính kết cấu hệ thống: Tổ chức là sắp xếp các đối tượng đa dạng, luôn luôn

vận động và phát triển, chúng độc lập tương đối và có tác động qua lại Hệ thống lãnh thổ có giới hạn, sức chứa của nó quy định tính chất và trình độ phát triển

Do đó, cấu trúc các ngành công nghiệp trên lãnh thổ cần được định hướng nhằm đảm bảo sự phát triển hài hòa, nhịp nhàng và hiệu quả

Tính lãnh thổ: Tính lãnh thổ thể hiện ở sự đa dạng không gian Trong một

vùng có nhiều tiểu vùng với các điều kiện không thật giống nhau làm cho việc phân bố các ngành công nghiệp, các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp trong vùng có sự đa dạng linh hoạt nên tổ chức phải có những xem xét liên lãnh thổ và để một "biên độ" thay đổi sau đó

Tính đa phương án: quá trình xây dựng phương hướng tổ TCLT CN có thể

gặp khó khăn do thiếu thông tin, thiếu nhiều căn cứ cần thiết khi nghiên cứu tổ chức lãnh thổ; đồng thời việc dự báo các nhân tố ảnh hưởng tới TCLT CN trong tương lai cũng bị nhiều giới hạn bởi các nhân tố dự báo thay đổi khó lường, nên khi xây dựng phương hướng TCLT CN cần phải tính toán nhiều phương án, trong đó

có một phương án chủ đạo được lựa chọn để thực hiện

1.1.2.3 Nguyên tắc tổ chức lãnh thổ công nghiệp

- Tổ chức lãnh thổ công nghiệp phải thoả mãn yêu cầu về khả năng tài nguyên và nhu cầu thị trường, đảm bảo lợi ích của cộng đồng và đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao

Trang 19

- Hài hoà, tương tác, hỗ trợ cùng phát triển đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội cho tổng thể

- Sự phù hợp với trình độ nguồn nhân lực và trình độ khoa học công nghệ

- Phải kiến thiết cho được những khu nhân (những trung tâm đô thị, thành phố, khu vực ngoại vi) để tạo động lực cho sự hình thành các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp mang lại hiệu quả cao nhất [4]

1.1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ công nghiệp

a Vị trí địa lí và tài nguyên thiên nhiên

- Tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên thiên nhiên được coi là cơ sở quan trọng trong việc phát triển công nghiệp, nhất là khi công nghiệp mới phát triển ở giai đoạn đầu Chúng ảnh hưởng đến việc lựa chọn ngành công nghiệp để sản xuất, tình hình phát triển cũng như việc tổ chức lãnh thổ của ngành

+ Khoáng sản: là một trong những nguồn lực hàng đầu ảnh hưởng đến việc

tổ chức lãnh thổ công nghiệp Các loại khoáng sản với những đặc điểm về số lượng, trữ lượng, hàm lượng (chất lượng) và sự kết hợp các loại khoáng sản theo lãnh thổ sẽ chi phối quy mô, cơ cấu và tổ chức các xí nghiệp công nghiệp trên lãnh thổ đó

+ Tài nguyên nước: Bất cứ một hoạt động sản xuất nào cũng cần đến nước,

đặc biệt là công nghiệp vì đây là ngành sản xuất vật chất Do tính chất của ngành sản xuất nên sử dụng nước trong công nghiệp có những đòi hỏi riêng về số lượng và chất lượng nước Nước là nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp như thuỷ điện, nhiệt điện, nhà máy giấy, dệt, Mức độ thuận lợi hay khó khăn

Trang 20

về nguồn cung cấp và thoát nước là điều kiện quan trọng để định vị các xí nghiệp công nghiệp

+ Khí hậu: tham gia như một nguồn lực có ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ

công nghiệp ở hai điểm chính: Chúng chi phối việc lựa chọn kĩ thuật và công nghệ sản xuất; sự đa dạng, phức tạp của khí hậu theo không gian và theo mùa tạo điều kiện cho việc đa dạng hoá tập đoàn cây trồng, vật nuôi, là cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông sản Các hiện tượng thời tiết xấu như bão, nước lớn gây ngập lụt có ảnh hưởng nhất định đến việc định vị các xí nghiệp hợp

lý theo lãnh thổ cũng như đến thời gian hoạt động của chúng

Ngoài ra đất đai, tài nguyên sinh vật cũng ảnh hưởng đến sự lựa chọn và định vị của các xí nghiệp

b Dân cư và nguồn lao động

Công nghiệp là ngành sản xuất đòi hỏi phải có đội ngũ lao động đủ trình độ chuyên môn và tay nghề Dân cư với những tập quán sản xuất, tiêu dùng và nguồn lao động có vai trò lớn trong việc tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở hai góc độ: sản xuất và tiêu dùng

Dân cư là lực lượng sản xuất chủ yếu trong công nghiệp, cả xét về số lượng lẫn chất lượng Nơi có nguồn lao động dồi dào, rẻ thì nơi đó có khả năng để phân bố và phát triển các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động: công nghiệp nhẹ, công nghiệp hàng tiêu dùng Nơi có đội ngũ lao động với chất lượng cao thì cho phép phát triển các ngành có hàm lượng kĩ thuật cao như điện tử, chế tạo

Xét về mặt tiêu dùng: Dân cư vừa là người sản xuất vừa là người tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp, vì thế thị trường tiêu thụ gắn với số dân có thể coi là một nguồn lực quan trọng

c Trình độ khoa học - công nghệ “là yếu tố quan trọng để thực thi các

phương án tổ chức không gian” [4] Những tiến bộ về khoa học và công nghệ sẽ làm thay đổi khả năng khai thác lãnh thổ cả về chiều rộng và chiều sâu Những qui trình khai thác và sản xuất dựa trên công nghệ hiện đại sẽ làm giảm thiểu sự lãng phí tài nguyên và ô nhiễm môi trường, đặc biệt là các công nghệ trong lĩnh

Trang 21

vực xử lí chất thải công nghiệp Sự phát triển của khoa học - công nghệ sẽ tạo khả năng tận dụng được các phụ phẩm và phế phẩm để đưa vào quá trình tái sản xuất, làm đa dạng hóa sản phẩm tạo điều kiện cho sự ra đời các dây chuyền sản xuất đồng bộ, khép kín, tiết kiệm cao nhất các chi phí sản xuất và tăng khả năng tập trung hóa sản xuất trong một không gian nhất định

d Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật

- Mạng lưới đô thị có vai trò là nhân tố thu hút đối với hoạt động sản xuất

công nghiệp nói chung, sự hình thành các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp nói riêng

- Kết cấu hạ tầng phục vụ ngành công nghiệp bao gồm cơ sở hạ tầng (hệ

thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc, cung cấp điện, nước ) và cơ sở vật chất kĩ thuật có vai trò ngày càng quan trọng trong phân bố công nghiệp Sự tập trung cơ sở hạ tầng trên một lãnh thổ đã làm thay đổi vai trò của nhiều nhân tố phân bố công nghiệp, đem lại nhiều yếu tố mới trong bức tranh TCLT CN

- Sự hỗ trợ về năng lượng, nguyên vật liệu từ bên ngoài có tác động thúc

đẩy nhanh hơn việc tổ chức lãnh thổ công nghiệp

e Môi trường chính sách

Các chiến lược và đường lối cũng như các chính sách và cơ chế quản lý của Nhà nước cũng như của từng địa phương đối với việc phát triển công nghiệp có thể thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển công nghiệp nói chung và tổ chức lãnh thổ công nghiệp nói riêng; vì thế, chúng phải dựa trên những điều kiện cụ thể và phù hợp với nhu cầu thị trường

f Các nguồn lực tài chính

- Nguồn vốn, ngân sách quốc gia đầu tư cho công nghiệp cũng ảnh hưởng

không nhỏ đến việc TCLT CN, đặc biệt là những nước chậm phát triển

- Các dòng vốn đầu tư từ bên ngoài có ảnh hưởng đến việc lựa chọn xí

nghiệp, hướng chuyên môn hoá, ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ Các dòng vốn đầu tư, đặc biệt là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò thúc đẩy mạnh mẽ

Trang 22

đối với sự phát triển của TCLT CN, làm tăng cao hiệu quả hoạt động sản xuất của các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp

g Thị trường và các mối quan hệ liên lãnh thổ

- Thị trường trong và ngoài nước

Ở trong nước, các đô thị lớn ngoài chức năng trung tâm - hạt nhân công nghiệp còn là thị trường quan trọng, khuyến khích sự phát triển của sản xuất

Thị trường quốc tế cũng rất quan trọng, vì sản phẩm công nghiệp trong nước luôn nhằm thỏa mãn thị trường trong nước và hội nhập với thị trường quốc tế

- Các xu thế kinh tế quốc tế, các mối quan hệ hợp tác liên vùng, quốc tế có

tác dụng thúc đẩy quá trình tổ chức lãnh thổ nhanh hay chậm

“Thông qua nhu cầu tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của các vùng khác, những quan hệ về dùng chung mạng lưới giao thông, hệ thống thông tin liên vùng, những quan hệ nguyên liệu - sản phẩm giữa các vùng lãnh thổ, tính chất thị trường khu vực… mà tác động đến sự thay đổi tổ chức không gian” [4] của ngành công nghiệp

Các lĩnh vực hợp tác chủ yếu là: sự hỗ trợ vốn đầu tư, chuyển giao kĩ thuật

và công nghệ, chuyển giao kinh nghiệm tổ chức quản lý

Ngoài ra, sự phát triển của các ngành kinh tế khác như nông nghiệp và dịch

vụ cũng tác động đến sự phân bố và tổ chức công nghiệp Đồng thời sự phát triển của công nghiệp lại thúc đẩy nhanh hơn các quá trình công nghiệp hoá trong nông nghiệp như cơ giới hoá, hoá học hoá

Tóm lại, TCLT CN chịu ảnh hưởng của nhiều nguồn lực, chúng không tác động riêng lẻ mà tác động tổng hợp, đồng thời Tuy nhiên, thường ở một lãnh thổ cụ thể có một hay một vài nhân tố chủ đạo, đóng vai trò quyết định

Các trung tâm kinh tế và mạng lưới đô thị luôn có những điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển một số hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp Bởi lẽ, nơi đây thường hội tụ những thế mạnh về kết cấu hạ tầng, nguồn lao động có chất lượng cao, thị trường tiêu thụ rộng lớn do dân đông và thị hiếu tiêu dùng cũng đa dạng

Trang 23

Tổ chức lãnh thổ công nghiệp chịu ảnh hưởng của các nhân tố bên trong cũng như các nhân tố bên ngoài lãnh thổ Trong đó, yếu tố quyết định đến sự hình thành

và tổ chức lãnh thổ phải kể đến là các nhân tố bên trong Các nhân tố bên ngoài có vai trò bổ trợ, thúc đẩy nhanh hơn quá trình này Tuy nhiên trong một số trường hợp cụ thể, nhân tố bên ngoài chi phối mạnh mẽ, thậm chí có thể có ý nghĩa quyết định đến tổ chức lãnh thổ công nghiệp

1.1.2.5 Các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp

a, Các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp trên thế giới

Các hình thức TCLT CN rất đa dạng và phong phú Lịch sử nghiên cứu các hình thức TCLT CN đã có từ lâu, song cho tới nay quan niệm về các hình thức TCLT CN có những nét khác nhau giữa các nước

- Khái niệm công viên công nghiệp hay khu công nghiệp

Một khu công nghiệp (industrial park hoặc industrial estate) là một khu vực quy hoạch cho mục đích phát triển công nghiệp Các khu công nghiệp thường được đặt bên ngoài khu dân cư chính của thành phố và thường cung cấp các dịch

vụ vận chuyển tốt, bao gồm cả đường bộ và đường sắt [18] Các khu công nghiệp thường nằm gần nút giao thông cơ sở, đặc biệt là nơi tập trung nhiều loại hình vận tải: đường cao tốc, đường sắt, sân bay, và các cảng

Việc xây dựng khu công nghiệp dựa trên một số cơ sở:

+ Để có thể tập trung chuyên dụng cơ sở hạ tầng trong một khu vực được giới hạn để giảm chi phí kinh doanh trên cơ sở hạ tầng đó Như vậy cơ sở hạ tầng bao gồm đường, đường sắt, cảng biển, cung cấp điện năng lượng cao (thường bao gồm cả điện ba pha), cáp thông tin cao cấp, cung cấp lượng nước lớn và khối lượng khí lớn

+ Để có thể thu hút các doanh nghiệp mới bằng cách cung cấp một cơ sở hạ tầng tích hợp trong một địa điểm

+ Việc đặt vị trí các KCN thường nằm bên ngoài khu vực đô thị để cố gắng làm giảm tác động môi trường và xã hội trong những ứng dụng công nghiệp

+ Có năng lực kiểm soát môi trường thích hợp với một khu vực công nghiệp

Trang 24

Tại Hồng Kông, công viên công nghiệp thường được gọi là khu công nghiệp Ở Vương quốc Anh khu công nghiệp nhỏ có một phần dùng để kinh doanh bất động sản Một "phiên bản" khác của công viên công nghiệp là công viên kinh doanh hoặc công viên văn phòng, trong đó có văn phòng và công nghiệp nhẹ, hơn là công nghiệp nặng [6]

Khu công nghiệp khác nhau thực hiện các tiêu chí này ở mức độ khác nhau

Nhiều cộng đồng nhỏ đã thành lập các khu công nghiệp chỉ với việc gần một loại phương tiện giao thông duy nhất như đường cao tốc hay đường sắt và với cơ sở hạ tầng cơ bản nhất, thậm chí không có một đảm bảo nào cho môi trường Từ những năm 1970 đến 1990, người ta đã chứng kiến vô số những công viên công nghiệp ở

Mỹ phát triển và cho đến bây giờ nhiều công viên đã trở nên vô ích Các công viên này bị chỉ trích do biệt lập với đời sống đô thị và có nhiều công viên đã phá hủy các vùng đất nông nghiệp có giá trị và có năng suất cao, và một vấn đề nữa là các công viên công nghiệp ngày càng xa rời với thị trường lao động [6]

Ngoài ra, mới đây người ta còn đề xuất khái niệm công viên công nghiệp sinh thái Nó được xác định là loại hình công viên tuân thủ các nguyên tắc sinh thái học công nghiệp, trong đó các hoạt động công nghiệp được gắn kết với nhau

và chúng hỗ trợ chứ không phá hủy hệ sinh thái Đây là khái niệm còn tương đối mới nên chưa có một định nghĩa chuẩn và được chấp nhận rộng rãi, tuy nhiên người ta chấp nhận những đặc điểm chung của một công viên công nghiệp sinh thái là: một cộng đồng các doanh nghiệp cộng tác với nhau và với cộng đồng địa phương để chia sẻ một cách hiệu quả các nguồn (thông tin, nguyên vật liệu, nước, năng lượng, cơ sở hạ tầng và nơi sinh cư tự nhiên), bằng cách hướng đến các kết quả kinh tế, chất lượng môi trường, và củng cố các nguồn lực con người cho các doanh nghiệp và cộng đồng địa phương [6]

Như vậy, khái niệm công viên công nghiệp hay khu công nghiệp ở các nước phương Tây và các nước phát triển không mang nhiều tính chất hàn lâm

mà gắn với thực tiễn và nhấn mạnh nhiều đến quan niệm, nội dung, đặc điểm cũng như quá trình hình thành khu công nghiệp nhằm xác định hiệu quả thực tế

Trang 25

của hình thức tổ chức lãnh thổ này

- Khái niệm quận công nghiệp

Thuật ngữ “quận công nghiệp” (industrial district) lần đầu tiên được Alfred Marshall sử dụng trong cuốn sách “Các nguyên tắc kinh tế học” (1922) của ông Trong kinh tế học thuật ngữ này đã phát triển và ngày nay nó có nghĩa là quá trình chuyên môn hóa kinh tế xuất hiện thông qua việc tập hợp thành cụm công nghiệp tại các vùng đô thị Trong mô hình ban đầu của quận công nghiệp, Marshall hình dung ra một khu vực sản xuất mà cơ cấu kinh doanh bao gồm các doanh nghiệp địa phương sở hữu, ra quyết định đầu tư và sản xuất tại địa phương Qui mô nền kinh tế thấp và các giao dịch thương mại chỉ diễn ra giữa người mua và người bán trong khu vực quận công nghiệp với các hợp đồng và cam kết dài hạn Như vậy, sự hợp tác với các công ty bên ngoài dường như là tối thiểu Vậy, điều đặc biệt của mô hình quận công nghiệp của Marshall chính là bản chất và chất lượng của thị trường lao động địa phương và độ linh hoạt của các hoạt động diễn ra trong quận công nghiệp Quận này được xem như là một cộng đồng tương đối ổn định, cho phép sự phát triển mạnh mẽ của bản sắc văn hóa địa phương và chuyên môn công nghiệp được chia sẻ [20]

Từ khái niệm này, có thể nhận định các quận công nghiệp đầu tiên và tiêu biểu bắt đầu từ Bắc Ý, là nơi các cụm công nghiệp với các xí nghiệp vừa và nhỏ phát triển rất mạnh Các cụm công nghiệp này có vị trí gần kề và chuyên môn hóa hẹp và sâu Mô hình này đã có những thành công nhất định, đáng chú ý nhất trong

số này là công nghiệp dệt may trong Carpi và Prato, các đồ nội thất trong Brianza

và Casrina, công nghiệp giày dép ở Vigerano và Puglia Lần đầu tiên các máy công

cụ của Ý đã xuất khẩu trên toàn châu Âu, máy đóng gói của Bologra đã xuất khẩu sang Nhật Bản Như vậy, với những thành công của các quận công nghiệp Ý dựa trên các xí nghiệp vừa và nhỏ đã kích thích các tổ chức kinh tế của toàn thế giới chấp nhận thúc đẩy phát triển cụm như một cách tiếp cận mới nhằm kích thích tăng trưởng và tạo việc làm [20]

Một số khu vực đã được chỉ định là quận công nghiệp, chủ yếu là do khả

Trang 26

năng cạnh tranh, tăng trưởng của nó, mô hình tích tụ và tương đồng nhất định với mô hình quận công nghiệp của Marshall Các ví dụ nổi tiếng nhất: Bắc Mỹ là khu vực của Hollywood, Silicon Valley và Orange County Các học giả Anh đã xác định được khu vực giữa London và Bristol, tại Pháp là Grenoble, Montpellier

và Sophia-Antipolis; tại Thụy Điển khu Gnösjo; ở Đức, Baden-Württemberg, một

số vùng của Tây Ban Nha và Đan Mạch… [20]

Như vậy, khái niệm quận công nghiệp có những nét đặc trưng riêng so với khái niệm công viên công nghiệp hay khu công nghiệp Về qui mô quận công nghiệp nhỏ hơn khu công nghiệp do nó là tập hợp của các xí nghiệp vừa và nhỏ

Mặt khác, mối liên kết giữa bên ngoài và bên trong quận công nghiệp là mối liên kết yếu Tuy nhiên, điểm đặc sắc của nó là nằm trong khu vực đô thị, cho phép phát huy những nét đặc thù của văn hóa địa phương với các sản phẩm truyền thống và có tính năng động cao

Cũng giống như phương Tây, các nước trong khu vực Châu Á nhấn mạnh đến quan niệm và quá trình hình thành các KCN Hơn 40 năm qua, một số nước

đã có nhiều thành công trong việc xây dựng những KCN, khu chế xuất, khu thương mại tự do, khu kinh tế cửa khẩu và nó đã có vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế của các nước này

Việc phát triển các KCN, khu chế xuất ở một số nước Châu Á đã góp phần cho những nước này tăng trưởng xuất khẩu hoặc gián tiếp tăng, bởi có KCN chỉ đẩy mạnh sản xuất công nghiệp đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa song đã có tác dụng giảm nhập khẩu Bên cạnh đó, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tiếp thu công nghệ mới, kinh nghiệm quản lý tiên tiến đã tạo ra lợi nhuận cao, đẩy mạnh đô thị hoá, phát triển kinh tế - xã hội từng vùng và thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế

b, Các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp trong điều kiện Việt Nam

Trước thập kỉ 90 của thế kỉ XX hầu như chưa có các nghiên cứu về các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở Việt Nam Năm 1994, Viện chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đưa ra 6 hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở

Trang 27

Việt Nam là: điểm công nghiệp, cụm công nghiệp, khu công nghiệp, trung tâm công nghiệp, dải công nghiệp, vùng (địa bàn) công nghiệp trọng điểm

- Điểm công nghiệp

Điểm công nghiệp thường là một hay hai xí nghiệp phân bố riêng biệt, có kết cấu hạ tầng riêng, gần nguồn nguyên liệu hoặc tiêu thụ và có thể là hạt nhân

để phát triển thành cụm hay KCN [5]

Ví dụ: các nhà máy sản xuất xi măng (Hoàng Thạch, Bỉm Sơn ) lấy nguyên liệu từ đá vôi nên thường phân bố gần nguồn nguyên liệu, do đó 1 nhà máy là một điểm công nghiệp

- Cụm công nghiệp

Cụm công nghiệp bao gồm một vài xí nghiệp công nghiệp và được phân bố trên một khu vực nhỏ, không có ranh giới rõ ràng và không có Ban quản lý riêng

CCN được phân bố ở các thị trấn, thị xã, dọc theo các trục giao thông

Ngày 19/8/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 105/2009/QĐ-TTg ban hành quy chế quản lý CCN, tạo khung pháp lý thống nhất

về quy hoạch, thành lập, mở rộng, đầu tư và quản lý nhà nước đối với các CCN trên cả nước

Cụm công nghiệp được thành lập khi đáp ứng đủ các điều kiện:

+ Có quy mô diện tích không quá 50ha, trường hợp cần thiết phải mở rộng CCN hiện có thì tổng diện tích sau khi mở rộng cũng không vượt quá 75 ha

+ Được thành lập chủ yếu nhằm di dời, sắp xếp, thu hút các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cá nhân, hộ gia đình ở địa phương vào đầu tư sản xuất, kinh doanh

+ Có trong Quy hoạch phát triển CCN đã được phê duyệt

+ Có chủ đầu tư xây dựng hạ tầng CCN và có khả năng đạt tỷ lệ lấp đầy không thấp hơn 30% trong vòng 1 năm sau khi thành lập [8]

Đây là các điều kiện rất cần thiết để khuyến khích sử dụng tiết kiệm và hiệu quả quỹ đất của từng địa phương, đảm bảo tính khả thi của CCN, tránh đầu tư dàn trải gây lãng phí nguồn lực của xã hội

Trang 28

- Khu công nghiệp

So với khái niệm của khoa học địa lý Xô viết, KCN ở Việt Nam là một hình thức TCLT CN hoàn toàn khác Theo Nghị định 29/2008/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 14/3/2008 qui định về KCN, khu chế xuất và khu kinh

tế, thì KCN ở nước ta là KCN tập trung do chính phủ quyết định thành lập, có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ

hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống [9]

Ngoài ra, một biến dạng của KCN là khu chế xuất Đây là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với KCN quy định tại Nghị định này

+ Điều kiện thành lập KCN:

* Phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển KCN đã được phê duyệt

* Tổng diện tích đất công nghiệp của các KCN đã được thành lập trên địa bàn lãnh thổ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã cho các dự án đăng ký đầu tư, cấp Giấy chứng nhận đầu tư thuê đất, thuê lại đất ít nhất là 60%

+ Khu công nghiệp ở nước ta có các đặc điểm sau:

* Tập trung nhiều xí nghiệp công nghiệp trên một khu vực có ranh giới rõ ràng, sử dụng chung kết cấu hạ tầng

* Các xí nghiệp nằm trong KCN được hưởng quy chế ưu đãi riêng

* Có Ban quản lý thống nhất

* Có sự phân cấp về quản lý và tổ chức sản xuất

+ Phân loại:

Theo vị trí địa lý:

* Khu công nghiệp nằm ở trung du hay miền núi

* Khu công nghiệp ven biển

* Khu công nghiệp dọc theo quốc lộ

* Khu công nghiệp nằm trong các thành phố lớn Theo tính chất chuyên môn hoá, cơ cấu và đặc điểm sản xuất:

Trang 29

* Khu công nghiệp chuyên môn hoá (sử dụng một loại nguyên liệu cơ bản)

* Khu công nghiệp tổng hợp (cơ cấu đa dạng với nhiều ngành sản xuất)

* Khu chế xuất (sản xuất chủ yếu để xuất khẩu) Theo quy mô:

* Khu công nghiệp có quy mô lớn, có diện tích trên 300 ha

* Khu công nghiệp có quy mô vừa, có diện tích từ 150 - 300 ha

* Khu công nghiệp có quy mô nhỏ có diện tích dưới 150 ha Tính chất độc lập hay phụ thuộc:

* Khu công nghiệp nằm ngoài các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp cao hơn nó

* Khu công nghiệp là một bộ phận của trung tâm hay dải công nghiệp

Theo trình độ công nghệ chia ra khu công nghiệp kỹ thuật cao

Theo phương diện tổ chức lãnh thổ chia khu công nghiệp làm 5 nhóm lớn:

* Khu công nghiệp được hình thành trên cơ sở một xí nghiệp liên hợp

* Khu công nghiệp được hình thành trên cơ sở các xí nghiệp có mối liên hệ chặt chẽ về kĩ thuật và công nghệ theo chu trình năng lượng sản xuất nhất định

* Khu công nghiệp hình thành trên cơ sở các xí nghiệp chỉ sử dụng chung kết cấu hạ tầng mà không có mối liên hệ về công nghệ

* Khu công nghiệp được hình thành trên cơ sở chuyên môn hoá khai thác khoáng sản và các xí nghiệp phục vụ có liên quan với việc sử dụng chung kết cấu hạ tầng và ban quản lý thống nhất

* Khu công nghiệp được hình thành do sự tập hợp ngẫu nhiên của các xí nghiệp hầu như không có mối liên hệ sản xuất, không sử dụng chung kết cấu hạ tầng và trên một lãnh thổ không có ranh giới rõ rệt [5]

- Trung tâm công nghiệp

Trung tâm công nghiệp là khu vực tập trung công nghiệp gắn liền với các

đô thị vừa và lớn Mỗi trung tâm công nghiệp có thể gồm một số KCN, CCN với những xí nghiệp hạt nhân có sức thu hút các lãnh thổ lân cận Các hạt nhân này thường là cơ sở cho việc hình thành các trung tâm công nghiệp

Trang 30

Các trung tâm công nghiệp rất đa dạng Có thể phân loại các trung tâm công nghiệp trên cơ sở một số tiêu chí tiêu biểu như: vai trò của nó trong sự phân công lao động theo lãnh thổ, giá trị sản xuất, tính chất CMH và đặc điểm sản xuất… [5]

- Dải công nghiệp

Đây là một hình thức TCLT CN của Việt Nam Dải công nghiệp là sự đan xen và kéo dài dọc theo các trục đường giao thông quan trọng của các điểm công nghiệp, CCN và cả các KCN Chúng thường xuất hiện từ các đô thị lớn (đồng thời cũng là các trung tâm công nghiệp lớn) và lan toả theo các hướng có nhiều thuân lợi về giao thông vận tải và các điều kiện khác Các dải công nghiệp ở nước ta không nhiều, chủ yếu tập trung xung quanh các thành phố - trung tâm công nghiệp hàng đầu của cả nước như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và các phụ cận

- Vùng (địa bàn) công nghiệp trọng điểm

Đây là hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp đặc thù, nó tương đương với cấp vùng công nghiệp của các nhà khoa học Xô Viết trước đây, nhưng quy mô nhỏ hơn nhiều và cụ thể hơn

Vùng công nghiệp trọng điểm của nước ta có một số đặc điểm sau:

+ Là bộ phận lãnh thổ lớn nhất trong số các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp, nhưng ranh giới chỉ mang tính ước lệ, không rõ ràng về mặt pháp lý

+ Có thể bao gồm tất cả các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp từ thấp đến cao, hoặc cũng có thể chỉ chứa đựng một vài hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp nào đó

+ Không có bộ máy quản lý riêng để chỉ đạo phát triển công nghiệp của cả địa bàn Sự chỉ đạo này được tiến hành theo các Bộ chủ quản, các địa phương và các Ban quản lý khu công nghiệp [5]

Tuy nhiên, trên thực tế thì địa bàn công nghiệp trọng điểm của nước ta trùng với các địa bàn kinh tế trọng điểm và chưa có nhiều nghiên cứu về hình thức TCLT CN này

Trang 31

Hiện nay, công nghiệp Việt Nam đang được phân định theo 6 vùng lãnh thổ [52, 56] Trong đó:

Vùng 1: 14 tỉnh trung du miền núi phía Bắc Vùng 2: 14 tỉnh đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ Vùng 3: 10 tỉnh ven biển Trung bộ

Vùng 4: 4 tỉnh Tây Nguyên Vùng 5: 8 tỉnh Đông Nam Bộ Vùng 6: 13 tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long Việc phân chia lãnh thổ ra thành 6 vùng công nghiệp do Bộ Công Thương đề xuất và được Chính Phủ phê duyệt Sự phân chia này phần nhiều thiên về mặt quản

lí hành chính Tuy nhiên, cũng giống như hình thức địa bàn công nghiệp trọng điểm thì đây là hình thức tổ chức lãnh thổ cao nhất của nước ta và nó có thể bao gồm tất

cả các hình thức tổ chức lãnh thổ nhỏ hơn, nhưng không có bộ máy quản lý riêng

mà việc chỉ đạo phát triển công nghiệp do Bộ chủ quản đảm nhận

Như vậy, trong số các hình thức TCLT CN ở Việt Nam, KCN là một trong những hình thức quan trọng hàng đầu, tuy là hình thức khá mới mẻ nhưng đầy tiềm năng ở Việt Nam, đã và đang có đóng góp tích cực cho công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước

1.2 Thực tiễn tổ chức lãnh thổ công nghiệp tại một số tỉnh, thành phố

1.2.1.1 Điểm công nghiệp

Điểm công nghiệp là hình thức tổ chức lãnh thổ phổ biến trong phân bố công nghiệp Nghệ An Mật độ điểm công nghiệp trên lãnh thổ Nghệ An còn tương đối thấp, trung bình chỉ khoảng 1 điểm công nghiệp/10km2

(năm 2010)

Trang 32

Trên địa bàn tỉnh có những điểm công nghiệp tiêu biểu như: Nhà máy đường Tate & Lyle (Quì Hợp), Xi măng Hoàng Mai (Quỳnh Lưu) Đây là những điểm công nghiệp đóng vai trò động lực cho phát triển công nghiệp địa phương và khai thác một cách hiệu quả nhất những tiềm năng đặc thù của địa phương

và khu vực

- Nhà máy mía đường Tate & Lyle tổng vốn đầu tư 120 triệu USD, công suất 16.000 tấn mía cây/ngày, tỉnh đã ưu tiên động viên nông dân trồng đủ nguyên liệu cho nhà máy, đầu tư trên 100 tỉ đồng, xây dựng trên 100 km đường để vận tải mía từ ruộng về nhà máy Kết quả, chỉ sau ba vụ ép, nhà máy đã đạt 100% công suất, và năm thứ 4 bắt đầu có lãi xấp xỉ 5 triệu USD, góp phần giải quyết việc làm cho hơn 30.000 lao động

Nhà máy mía đường Tate & Lyle được hình thành dựa trên cơ sở nguyên liệu vùng mía đường Phủ Quì (Quì Hợp) Việc tận dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ làm giảm bớt chi phí vận chuyển và hạn chế nguồn nguyên liệu ngoại nhập góp phần khai thác mạnh mẽ những tiềm năng sẵn có của địa phương, đồng thời tăng cường

sự đầu tư về cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng cho địa phương Ngoài ra, hiện có khoảng 25.000 hộ nông dân trên địa bàn 6 huyện vùng Tây Bắc của tỉnh Nghệ An đang tham gia trồng và cung cấp mía nguyên liệu cho Nhà máy đường Nghệ An Tate & Lyle

Nhà máy đường Tate & Lyle là hạt nhân để hình thành cụm công nghiệp Phủ Quì với sự ra đời của các ngành công nghiệp sau đường (cồn rượu, bột ngọt, giấy, gỗ ép ) và tận dụng chung một kết cấu hạ tầng, công nghệ sản xuất, sản phẩm và phụ phẩm Công ty mía đường Tate & Lyle lắp đặt hai máy phát điện

sử dụng bã mía với công suất 2.000KVA đã giúp công ty chủ động toàn bộ điện cho sản xuất, đồng thời tiết kiệm được chi phí điện năng, giảm hẳn chi phí xử lý

bã thải

- Nhà máy xi măng Hoàng Mai là một đơn vị sản xuất nằm bên ngoài khu công nghiệp Hoàng Mai, thuộc xã Quỳnh Thiện, huyện Quỳnh Lưu Vị trí của nhà máy có những đặc điểm hết sức thuận lợi: sử dụng nguồn nguyên liệu tại

Trang 33

chỗ với trữ lượng lớn, tiện đường giao thông (đường sắt và đường ôtô) Đặc biệt tuyến đường quốc lộ 1A đi qua điểm công nghiệp này đã tạo điều kiện cho việc lưu thông sản phẩm của nhà máy đến với các thị trường trong và ngoài tỉnh Đây

là nhà máy có qui mô lớn nhất của tỉnh với công suất 1,4 triệu tấn/năm, thiết bị công nghệ hiện đại đồng bộ của Pháp - Italia - Đức Tổng mức đầu tư 232 triệu USD Từ khi nhà máy này đi vào hoạt động đã nâng công suất xi măng của toàn tỉnh lên 1,65 triệu tấn/năm [12]

1.2.1.2 Cụm công nghiệp

Trong thời gian qua Nghệ An có 5/20 huyện, thị thành phố có CCN được thành lập và đã đi vào hoạt động Trong đó, thành phố Vinh có 4 CCN là Đông Vĩnh, Nghi Phú, Hưng Lộc, Hưng Đông Riêng CCN Đông Vĩnh là địa điểm di dời của phần lớn các điểm công nghiệp của khu vực tập trung công nghiệp đã được giải tỏa trong nội thành Các huyện còn lại là Diễn Châu, Đô Lương, Anh

Sơn, Quỳ Hợp, mỗi huyện có một cụm công nghiệp đã đi vào hoạt động

Tình hình đầu tư xây dựng các cụm công nghiệp đã đạt được kết quả như sau:

- CCN Đông Vĩnh được UBND thành phố Vinh giao cho Công ty hạ tầng và phát triển đô thị Vinh làm chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật Tổng mức đầu tư 5,063 tỷ đồng, trong đó vốn giải phóng và san lấp mặt bằng là 1,4 tỷ đồng phần lớn từ nguồn ngân sách hỗ trợ của tỉnh, thành, vốn đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật 3,663 tỷ đồng gồm các hạng mục san nền, giao thông, cấp thoát nước, đường điện Đến nay, các hạng mục trên cơ bản đã hoàn thiện [13]

- Cụm công nghiệp Hưng Lộc dự án đầu tư hạ tầng kỹ thuật đã hoàn thành

và được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 2114/QĐ.UB-CN ngày 08/11/2004 với tổng mức đầu tư là 20,98 tỷ đồng bao gồm các hạng mục: san nền, giao thông, cây xanh, cấp thoát nước và điện, thực hiện theo mô hình nhà nước và doanh nghiệp cùng làm Trong đó chi phí giải phóng và san lấp mặt bằng, rà phá bom mìn và xử lý môi trường 3,375 tỷ đồng, chi phí xây lắp các

Trang 34

hạng mục 16,97 tỷ đồng [13] Hiện UBND thành phố Vinh đang tiếp tục triển khai các bước công việc để sớm giải quyết địa điểm cho doanh nghiệp

- CCN Nghi Phú do BQL dự án Khu công nghiệp nhỏ Nghi Phú quản lý xây dựng hạ tầng Các hạng mục ngoài hàng rào do nhà nước đầu tư xây dựng, các doanh nghiệp bỏ tiền để thực hiện các hạng mục trong hàng rào theo phần diện tích được thuê UBND tỉnh Nghệ An đã có Quyết định phê duyệt dự án đầu

tư và đang triển khai thực hiện với tổng mức đầu tư hạ tầng kỹ thuật 20 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn ngân sách là 12 tỷ đồng, vốn doanh nghiệp đóng góp 8 tỷ đồng [13]

- CCN Hưng Đông đã hoàn thành công tác quy hoạch, công tác lập dự án đầu tư đang được triển khai thực hiện để trình UBND tỉnh phê duyệt Trong đó toàn bộ vốn chuẩn bị đầu tư, đền bù giải phóng mặt bằng, thiết kế dự toán, cắm mốc và các hạng mục ngoài hàng rào sẽ do nguồn ngân sách nhà nước đầu tư xây dựng, sau đó tiến hành giao đất cho doanh nghiệp Các hạng mục trong hàng rào sẽ do các doanh nghiệp bỏ vốn xây dựng theo thiết kế

- CCN Diễn Hồng tổng mức đầu tư 11,5 tỷ đồng trong đó vốn san lấp giải phóng mặt bằng 1,5 tỷ đồng, vốn đầu tư hạ tầng kỹ thuật 10 tỷ đồng [13] Đây là CCN cũng thực hiện hình thức nhà nước và doanh nghiệp cùng làm

1.2.1.3 Khu công nghiệp tập trung

Đến năm 2010, Nghệ An đã có 5 khu công nghiệp (KCN) được lập qui hoạch chi tiết: Bắc Vinh, Nam Cấm, Cửa Lò, Hoàng Mai, Đông Hồi Trong đó 3 khu công nghiệp đã được thành lập và đi vào sản xuất là KCN Bắc Vinh, KCN Nam Cấm, KCN Hoàng Mai

Lợi nhuận thu được của các dự án đang sản xuất trong KCN ngày càng tăng, từ 1.561 triệu đồng năm 2005 lên 56.784 triệu đồng năm 2010 Tốc độ tăng lợi nhuận KCN của cả giai đoạn là 112,8% KCN Bắc Vinh có tốc độ tăng lợi nhuận khá đều KCN Nam Cấm sau một thời gian đi vào sản xuất thì năm

2010 lợi nhuận đã bắt đầu tăng vọt và vượt lên dẫn đầu các khu công nghiệp với 29.206 triệu đồng (bảng 1.2)

Trang 35

Bảng 1.2: Lợi nhuận (triệu đồng) của các dự án đang hoạt động trong KCN tại tỉnh Nghệ An qua các năm Năm

Bắc Vinh 1.339,0 1.550,2 4.762,1 18.633,5 20.309,0 24.078,0 Nam Cấm 222,0 2.553,8 7.946,2 2.147,6 8.106,9 29.206,0

KCN chung 1.561,0 4.104,0 12.708,3 20.781,1 32.915,9 56.784,0

Nguồn: Ban Quản lý KKT Đông Nam Nghệ An [4]

1.2.1.4 Trung tâm công nghiệp Vinh

Trung tâm công nghiệp Vinh là một kiểu trung tâm công nghiệp đa ngành,

cỡ trung bình của cả nước, và là một trong những trung tâm công nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với khu vực Bắc Trung Bộ

Các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp: Dệt kim Hoàng thị Loan, cụm công nghiệp Bến Thuỷ, cụm công nghiệp Ga Vinh (là các khu vực tập trung công nghiệp), : Khu công nghiệp Bắc Vinh, CCN Đông Vĩnh, CCN Hưng Đông, CCN Nghi Phú, CCN Hưng Lộc; một số nhà máy lớn đang được đầu tư xây dựng nhưng ở ngoài địa bàn thành phố như: Nhà máy Bia Sài Gòn (Hưng Nguyên - Nam Đàn), Các nhà máy trong khu Công nghiệp Nam Cấm (Nghi Lộc)

1.2.2 Tỉnh Hà Nam

TCLT CN tỉnh Hà Giang đã phát triển và khai thác được các tiềm năng và lợi thế so sánh của tỉnh Sự hình thành vf phát triển các KCN, CNN, đã phát huy vai trò của mình, tạo ra bước đột phá trong thu hút đầu tư để phát triển công nghiệp, thúc đẩy phát triển kinh tế, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa

1.2.2.1 Điểm công nghiệp

Trên địa bàn tỉnh Hà Nam hiện nay có rất nhiều điểm công nghiệp được phân bố ở hầu hết các huyện, thành phố trong đó tiêu biểu ở huyện Kim Bảng, Thanh Liêm, TP Phủ Lý Một số điểm công nghiệp quan trọng có vai trò phát

Trang 36

triển to lớn của tỉnh, bao gồm công ty xi măng Bút Sơn, công ty cổ phần bia Sài Gòn – Hà Nam, nhà máy xi măng Hòa Phát, công ty dệt Hà Nam

1.2.2.2 Cụm công nghiệp, TTCN làng nghề

Cho đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn toàn tỉnh đã và đang hình thành 22 cụm CN-TTCN, cụm TTCN làng nghề gọi tắt là các cụm công nghiệp với tổng diện tích quy hoạch 357 ha Trong đó: 17 cụm CN-TTCN quy mô cấp huyện và

05 cụm TTCN làng nghề cấp xã

Tình hình hoạt động một số cụm công nghiệp:

1 Cụm CN-TTCN Cầu Giát được thành lập tại văn bản số 478/UB-CN, ngày 29/07/2002 của UBND tỉnh Hà Nam về việc lập dự án đầu tư xây dựng cụm CN-TTCN Cầu Giát huyện Duy Tiên Cụm công nghiệp Cầu Giát với diện tích quy hoạch là 35 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 100% đã thu hút được 8 dự án đầu tư,

có 6 dự án đi vào hoạt động sản xuất, tạo việc làm cho 968 lao động địa phương

Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 210.000 triệu đồng

2 Cụm TTCN làng nghề Thanh Lưu của huyện Thanh Liêm được thành lập năm 2003 do UBND xã Thanh Lưu quản lý với diện tích quy hoạch là 5,7

ha, diện tích đã giao cho các dự án là 5,2 ha (chiếm 91%) đã thu hút được 6 dự

án và cả 6 dự án đều đi vào hoạt động, giải quyết việc làm cho 325 lao động địa phương Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 12.000 triệu đồng

3 Cụm TTCN làng nghề Nhật Tân của huyện Kim Bảng được thành lập năm 2003 do UBND xã Nhật Tân quản lý với diện tích quy hoạch 17,5 ha, diện tích đã giao cho các dự án là 6,6 ha (chiếm 37,7%) đã thu hút được 23 dự án đăng kí đầu tư, trong đó có 18 dự án đã đi vào hoạt động, còn 5 dự án đang triển khai xây dựng Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 8.280 triệu đồng

4 Cụm TTCN làng nghề Ngọc Động của huyện Duy Tiên được thành lập năm 2004 do UBND xã Hoàng Đông quản lý với diện tích quy hoạch 9,1 ha, diện tích đã giao cho các dự án 7,29 ha (chiếm 80,1%) đã thu hút được 18 dự án

và cả 18 dự án đều đi vào hoạt động

Trang 37

5 Cụm TTCN làng nghề Bắc Lý của huyện Lý Nhân mới được thành lập năm 2009 do UBND xã Bắc Lý quản lý với diện tích quy hoạch 8,5 ha, hiện nay mới có 1 dự án đăng kí đầu tư

1.2.2.3 Khu công nghiệp tập trung

Tỉnh Hà Nam có 8 KCN đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, đó là:

Khu công nghiệp Đồng Văn I, diện tích 138 ha; Khu công nghiệp Đồng Văn II, diện tích 264 ha; Khu công nghiệp Châu Sơn, diện tích 170 ha; Khu công

nghiệp Hoà Mạc, diện tích 200 ha (giai đoạn I: 131 ha); Khu công nghiệp

Ascendas - Protrade, diện tích 300 ha; Khu công nghiệp ITAHAN, diện tích 300 ha; Khu công nghiệp Liêm Cần - Thanh Bình, diện tích 200 ha; Khu công nghiệp Liêm Phong, diện tích 200 ha Tổng diện tích 8 KCN là 1.772 ha

Một số khu công nghiệp tiêu biểu:

* KCN Đồng Văn I

Hiện nay, KCN Đồng Văn I quy mô 138 ha, hạ tầng kỹ thuật đồng bộ đến nay đã cơ bản được lấp đầy, đã thu hút được 59 nhà đầu tư trong đó có 15 nhà đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đầu tư đăng ký là 4.007.451 triệu đồng, số lao động thu hút theo dự án 16.762 lao động Hiện đã có 49 nhà máy đi vào hoạt động, thu hút 9.279 lao động, trong đó lao động địa phương là 7.155 lao động

Thu nhập bình quân người lao động là 2.250.000 đồng/ tháng

* KCN Đồng Văn II

Hiện nay KCN Đồng Văn II quy mô 263,82 ha, hạ tầng kỹ thuật đồng bộ

cơ bản đã hoàn thiện, đến cuối năm 2010 tỉ lệ lấp đầy đạt 70%, đã thu hút được

10 nhà đầu tư với tổng số vốn đầu tư đăng ký là 1.940.669 triệu đồng, số lao động thu hút theo dự án 4.192 lao động Hiện đã có 9 dự án (01 doanh nghiệp kinh doanh hạ tầng KCN Đồng Văn II) đi vào hoạt động, thu hút 759 lao động trong đó lao động địa phương là 472 lao động Thu nhập bình quân người lao

động là 2.300.000 đồng/ tháng

Trang 38

* KCN Châu Sơn

Hạ tầng kỹ thuật của KCN được xây dựng theo hình thức cuốn chiếu, cơ bản đáp ứng được yêu cầu của nhà đầu tư Đến nay đã có 13 dự án được cấp phép, trong đó có 07 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đầu tư là 2.605.900 triệu đồng, dự kiến thu hút 3.442 lao động, hiện đã thu hút 2.274 lao động Đến thời điểm này đã có 9 doanh nghiệp (01 doanh nghiệp kinh doanh hạ tầng KCN Châu Sơn) đi vào hoạt động, thu nhập bình quân của người lao động

là 2.300.000 đồng/tháng, số vốn đã thực hiện là 2.198.472 triệu đồng

1.2.2.4 Khu vực tập trung công nghiệp thành phố Phủ Lý

Thành phố Phủ Lý là khu vực tập trung công nghiệp, là động lực của nền công nghiệp Hà Nam phát triển Thành phố đã triển khai quy hoạch và xây dựng

khu công nghiệp Châu Sơn, cụm công nghiệp Tây Nam thành phố, cụm CN-TTCN Châu Sơn nhằm ổn định địa điểm sản xuất cho các doanh nghiệp, đồng thời ban hành các cơ chế khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp áp dụng công nghệ mới vào sản xuất Để sản xuất CN-TTCN phát triển vững chắc, thành phố Phủ Lý đã chủ động bám sát vào các chương trình, đề án phát triển công nghiệp của Sở Công

Thương, của UBND tỉnh Hà Nam, tạo hành lang pháp lý thông thoáng, định hướng

cho các cơ sở sản xuất Tổng giá trị sản xuất CN-TTCN theo giá thực tế của thành phố Phủ Lý năm 2009 đạt 3.244.462 triệu đồng

1.3 Vận dung cho TCLT CN thành phố Hải Phòng

1.3.1 Xây dựng cơ sở lí luận tổ chức lãnh thổ công nghiệp

Nghiên cứu TCLT CN Hải Phòng là một quá trình nghiên cứu nhằm thu thập được đầy đủ thông tin cần thiết, nhất là thông tin về các điều kiện cơ bản của tỉnh, các thông tin về tình hình sắp xếp các đối tượng như các xí nghiệp, cụm công nghiệp, khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Trên cơ sở đó, đi đến các mục tiêu cụ thể sau:

- Đánh giá lợi thế so sánh ở các địa phương trong tỉnh

- Đánh giá được tính hợp lý trong sự phân hoá lãnh thổ công nghiệp Hải Phòng hiện tại

Trang 39

- Đưa ra các định hướng TCLT CN theo yêu cầu của phát triển kinh tế -

xã hội với quan điểm dài hạn

TCLT CN Hải Phòng trong quá trình phát triển phải đảm bảo được những nguyên tắc sau:

1.3.1.1 Trong không gian công nghiệp phải tạo ra được một trật tự hợp lý có tính tới khả năng tài nguyên và yêu cầu thị trường, đảm bảo lợi ích cộng đồng

và đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao

TCLT CN thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay được xác định là một không gian kinh tế dựa trên nền tảng những lợi thế so sánh của thành phố, với các nguồn lực chính bao gồm các nguồn lực tự nhiên, các nguồn lực kinh tế

- xã hội của thành phố tạo tiền đề vật chất cho tổ chức không gian công nghiệp của thành phố

Hải Phòng có điều kiện tự nhiên rất phong phú, giàu đẹp, đa dạng và có nhiều nét độc đáo mang sắc thái của cảnh quan nhiệt đới gió mùa; vị trí địa lý nằm trên tuyến đường quốc lộ 5 - là đường giao thông huyết mạch nối cụm cảng Hải Phòng với thủ đô Hà Nội, miền Bắc Việt Nam, còn là một phần của đường Xuyên Á AH14, vốn đất với giá thuê đất có tính thu hút taoh tiền đề để thuận lợi cho việc bố trí các cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố, trong đó đặc biệt phải kể đến nguồn nguyên liệu cho phát triển công nghiệp biển, công nghiệp đóng tàu và sửa chữa biển, chế biến thủy hải sản, khai thác và chế biển sa khoáng biển

Hải Phòng là thành phố đông dân của Việt Nam, nguồn lao động năng động, sáng tạo tạo điều kiện thuận lợi cho việc ra đời những ngành công nghiệp đòi hỏi nhiều lao động, nhất là lao động nữ

Hải Phòng là đô thị loại I của cả nước, là trung tâm của vùng duyên hải Bắc

Bộ Đây là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế - xã hội nói chung và công nghiệp nói riêng của thành phố

Trang 40

Cơ sở hạ tầng của thành phố đang được đầu tư ngày càng mạnh mẽ và đồng

bộ đã phát huy được những lợi thế về vị trí địa lí, cùng với các chính sách thu hút đầu tư đã tạo nên sức hấp dẫn các nhà đầu tư vào thành phố Hải Phòng

TCLT CN Hải Phòng có bộ khung vững chắc là mạng lưới đường giao thông trong tỉnh, bao gồm đường bộ (quốc lộ 5, quốc lộ 10, quốc lộ 37), các tuyến đường cao tốc như Đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, Đường cao tốc ven biển Quảng Ninh – Hải Phòng – Ninh Bình, đường sắt (Hà Nội – hải Phòng), đường hàng không (sân bay Cát Bi), là cửa ngõ ra biển kết nối với thế giới của cả miền Bắc, mạng lưới sông ngòi dày đặc

Sự vận động của các luồng vốn đầu tư, sản phẩm và thị trường tiêu thụ, sự tích tụ về vốn, lao động, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật tại các cực tăng trưởng đã quy định xu hướng biến đổi các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp của thành phố

Các nguồn lực bên ngoài vừa là động lực, vừa là mục tiêu hướng tới của TCLT CN Hải Phòng Với những lợi thế sẵn có của mình và được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, Hải Phòng đang thu hút được những nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, nguồn vốn từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước Môi trường đầu tư trong tỉnh đang ngày càng thông thoáng và cởi mở Bên cạnh đó, thị trường tiêu thụ đang ngày càng mở rộng là cơ sở cho việc xây dựng các nhà máy có sản phẩm đáp ứng các nhu cầu của các thị trường đó Chính vì vậy, vốn đầu tư nước ngoài và thị trường tiêu thụ cũng là mục tiêu mà TCLT CN Hải Phòng đang hướng tới

1.3.1.2 Tổ chức lãnh thổ công nghiệp Hải Phòng phải đảm bảo có sự phát triển hài hoà và tương tác

Một không gian công nghiệp Hải Phòng hài hoà là một không gian mà ở đó các ngành, các tiểu lãnh thổ có sự phát triển nhịp nhàng, đảm bảo cùng phát triển

và có sự kết hợp, trao đổi lẫn nhau giữa các ngành, lĩnh vực, tiểu lãnh thổ này với ngành, lĩnh vực, tiểu lãnh thổ khác để tạo ra sức mạnh tổng hợp cho toàn tỉnh Sự phát triển của ngành nông nghiệp tạo nguồn nguyên liệu phong phú cho công

Ngày đăng: 22/10/2022, 10:05

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm