Để đạt được mục tiêu đó, khóa luận sẽ thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau: -Hệ thống hóa những khái niệm, lí luận chung về phân tích tài chính doanh nghiệp -Đánh giá thực trạng tình hình
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài/Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế cạnh tranh khốc liệt, mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển cần xây dựng cho mình đề án, chiến lược thường xuyên để thích nghi với sự biến động của thị trường, để có thể nâng cao giá trị của công ty cũng như tối đa hóa lợi nhuận Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hoạt động tài chính xuất hiện và bao quát trong cả quá trình hoạt động của doanh nghiệp, từ khâu tạo vốn ban đầu cho đến khâu phân phối lợi nhuận cuối cùng Đồng thời, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, những mối quan hệ tài chính cũng ngày càng phong phú và phức tạp Chính vì vậy, mỗi doanh nghiệp cần phải tiến hành phân tích kĩ lưỡng tình hình tài chính hàng năm, dựa trên đó để đánh giá lại điểm mạnh, điểm yếu của công ty và xây dựng hướng đi đúng đắn trong tương lai
Hiện nay, cuộc Cách mạng 4.0 đã là xu hướng tất yếu của thời đại, doanh nghiệp và nhà nước đều nhận ra rằng không thích nghi chính là tự loại bỏ mình khỏi cuộc chơi Bởi vậy nhanh chóng đón đầu xu thế chính là nhiệm vụ, sứ mạng và con đường duy nhất để phát triển Đối với Công ty cổ phần FPT, đơn vị hàng đầu của Việt Nam trong lĩnh vực công nghệ và điện tử viễn thông, thì phần trách nhiệm càng nặng
nề, quan trọng Công ty cổ phần FPT là đơn vị tiên phong trong cuộc cách mạng số, chuyển đổi số diễn ra trong cả nước, nắm vai trò xây dựng và cung cấp hạ tầng cơ sở cho cuộc cách mạng 4.0 diễn ra tại Việt Nam
Trong những năm gần đây, Công ty cổ phần FPT đã có những thành tựu ấn tượng như lọt vào top 10 doanh nghiệp tư nhân hàng đầu Việt Nam và đạt được nhiều giải thưởng cao quý cấp nhà nước và khu vực như giải thưởng ở hạng mục Chính quyền số của Tổ chức Công nghiệp điện toàn Châu Á-Châu Đại Dương và giải thưởng thương hiệu xuất sắc thế giới do Tổ chức thương hiệu Châu Á-Thái Bình Dương trao tặng FPT rõ ràng vẫn thể hiện vị thế hàng đầu của mình trong ngành công nghệ và viễn thông Các chỉ số tài chính của FPT vẫn luôn duy trì ở mức cao so với trung bình ngành Tuy nhiên, sự tăng trưởng của FPT trong giai đoạn 2016-2018 không phải là một sự tăng trưởng ổn định mà vẫn có những biến động lớn ở những chỉ số doanh thu
và lợi nhuận trước thuế Bởi vậy, cần thiết phải có sự nghiên cứu, tìm hiểu và phân
Trang 2tích tình hình tài chình của Công ty cổ phần FPT để thấy được nguyên nhân của sự biến động và từ đó đưa ra những biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh cho công ty
Nhận thức được tầm quan trọng của việc phân tích tình hình tài chính Công ty cổ phần
FPT, em quyết định chọn đề tài "Phân tích tình hình tài chính giai đoạn 2016-2018
nhằm đưa một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công ty cổ phần FPT" để làm khóa luận tốt nghiệp.
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu của khóa luận là phân tích tình hình tài chính của công ty Cổ phần FPT, từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động tài chính của công ty Để đạt được mục tiêu đó, khóa luận sẽ thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau:
-Hệ thống hóa những khái niệm, lí luận chung về phân tích tài chính doanh nghiệp
-Đánh giá thực trạng tình hình tài chính Công ty cổ phần FPT dựa trên việc phân tích các báo cáo tài chính
-Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa hoạt động tài chính của Công ty cổ phần FPT
3 Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở dữ liệu: dựa trên báo cáo tài chính hợp nhất của công ty cổ phần FPT trong 3 năm 2016-2018
Phương pháp nghiên cứu: để đạt được mục tiêu đề ra, bài khóa luận sử dụng công cụ thống kê mô tả kết hợp với phương pháp tổng hợp và so sánh kết quả kinh doanh của Công ty cổ phần FPT giữa các năm từ 2016-2018 với nhau, cũng như so sánh với công ty cùng ngành Bài viết tiếp cận ở góc độ so sánh, đánh giá sự biến động của các chỉ tiêu tài chính để đưa ra kết luận
4 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận tốt nghiệp được chia làm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận chung về Tài chính doanh nghiệp và phân tích tài chính doanh nghiệp
Chương 2 Tổng quan và thực trạng tình hình tài chính của công ty cổ phần FPT
Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả tài chính của công ty cổ phần FPT
Trang 3Chương 1 Cơ sở lý luận chung về Tài chính doanh nghiệp và phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1 Tổng quan về tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm TCDN
"Tài chính doanh nghiệp là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền
tệ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm góp phần đạt tới mục tiêu của doanh nghiệp".1
Các hoạt động liên quan tới tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ chính
là hoạt động tài chính của doanh nghiệp Hoạt động tài chính của doanh nghiệp là biểu hiện của những mối quan hệ tài chính của doanh nghiệp với các chủ thể khác trong nền kinh tế, bao gồm: mối quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà nước, mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác là đối tác, khách hàng, và mối quan hệ nội
bộ bên trong doanh nghiệp
Quan hệ của doanh nghiệp thể hiện qua việc nhà nước cấp vốn cho các doanh nghiệp nhà nước hoạt động, hay đưa ra những gói hỗ trợ cho những doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động trong những lĩnh vực đặc thù Ngược lại, doanh nghiệp thực hiện nghĩa
vụ đóng các loại thuế, phí, lệ phí cho nhà nước
Quan hệ của doanh nghiệp với các đối với các chủ thể kinh tế khác thể hiện ở các mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác, với các tổ chức tín dụng, Mối quan hệ về mặt thanh toán giữa các doanh nghiệp như vay vốn hoặc cho vay vốn, đầu tư, mua bán vật tư, hàng hóa, trả tiền phí dịch vụ, tiền bảo hiểm, trả
cổ tức, tiền lãi trái phiếu, ; mối quan hệ phát sinh trong quá trình vay vốn, hoàn trả vốn và thanh toán tiền lãi cho các ngân hàng, tổ chức tín dụng, chính là biểu hiện của quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác
Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp thể hiện ở những mối quan hệ đối với các phòng ban, đơn vị trong việc nhận, tạm ứng, thanh toán tạm ứng, thanh toán tài sản cũng như việc thành lập các quỹ; mối quan hệ đối với nhân viên công ty trong việc trả lương, thưởng, thu tiền nộp phạt, Ngoài ra, là các hoạt động khác như phân phối lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp, tạo lập các quỹ đầu tư phát triển trong tương lai hay
1 Giáo trình "Tài chính doanh nghiệp", NXB Đại học Kinh tế Quốc dân (2016), tr.11
Trang 4trả cổ tức cho cổ đông
1.1.2 Chức năng, vai trò của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp có 3 chức năng chính:
1.1.2.1 Chức năng xác định, huy động, tổ chức và luân chuyển nguồn vốn để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục
Doanh nghiệp là đơn vị sản xuất kinh doanh, cung cấp hàng hóa dịch vụ cho thị trường, bởi vậy sẽ phát sinh nhu cầu về vốn Tùy theo loại hình, quy mô, phương thức, lĩnh vực hoạt động mà doanh nghiệp có thể huy động tại các nguồn: Ngân sách nhà nước cấp, vốn liên doanh, vốn tự bổ sung, vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác,
Nội dung của chức năng này bao gồm:
Thứ nhất, định mức nhu cầu vốn (bao gồm cả vốn lưu động và vốn cố định) để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh Để thực hiện hoạt động này cần phải dựa trên đặc thù kinh doanh của doanh nghiệp như quy trình sản xuất, đặc thù của sản phẩm, Đồng thời, nhà hoạch định chiến lược còn phải nắm được quy luật biến động
và mối quan hệ giữa các chỉ số doanh thu, tài sản, nguồn vốn để đưa ra quyết định Để định mức nhu cầu vốn cần dựa vào Báo cáo tài chính kỳ trước cùng với dự kiến doanh thu của kỳ kế hoạch
Thứ hai, xem xét và cân đối hợp lý giữa nhu cầu về vốn và khả năng huy động vốn Nếu nguồn vốn doanh nghiệp dồi dào, khả năng về vốn lớn hơn nhu cầu, doanh nghiệp có thể tính đến việc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, tìm kiếm thêm thị trường để phát triển Ngược lại, nếu nhu cầu sử dụng vốn lớn hơn khả năng doanh nghiệp có thể đáp ứng, cần phải có biện pháp huy động thêm nguồn vốn bên ngoài, nhưng phải đảm bảo chi phí sử dụng vốn ở mức hợp lý
Thứ ba, phân bổ hợp lý nguồn vốn sao cho với lượng vốn ít nhất nhưng đạt được hiệu quả cao nhất Đây là một nguồn lực hữu hạn, bởi vậy quyết định phân bổ nguồn vốn có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với tương lai của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp đã tăng trưởng ổn định trong nhiều năm thì quyết định phân bổ nguồn vốn càng khó khăn hơn Bởi họ phải đứng trước lựa chọn khó khăn như nên đầu tư vào những lĩnh vực tiềm năng khác hay tăng cường năng lực cạnh tranh của ngành kinh
Trang 5doanh chính hoặc nên trả hoặc tăng cổ tức hay không hoặc nên tiến hành mua lại hoặc đầu tư vào công ty khác hay không,
1.1.2.2 Chức năng phân phối thu nhập tài chính doanh nghiệp
Thu nhập có được từ bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, lợi tức cổ phiếu, lãi cho vay, thu nhập từ các hoạt động khác thường được doanh nghiệp phân phối như sau:
Đầu tiên là để bù đắp những yếu tố đầu vào đã tiêu hao trong quá trình sản xuất kinh doanh như: khấu hao tài sản cố định, chi phí vật tư, vật liệu, nguyên nhiên liệu, chi phí nhân công, tiền lương và các khoản trích theo lương, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền, thuế thu nhập doanh nghiệp (nếu có lãi),
Phần lợi nhuận còn lại sẽ được phân bổ để: bù đắp các chi phí không được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, chia lãi cho các thành viên góp vốn, chia cổ tức cho các cổ đông hoặc phân phối lợi nhuận vào các quỹ của doanh nghiệp
1.1.2.3 Chức năng giám đốc đối với quá trình sản xuất kinh doanh
Hoạt động giám đốc tài chính là việc kiểm soát quá trình hình thành và vận động của các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Thông qua việc kiểm tra, đánh giá các thông số về cơ cấu, tỷ trọng của nguồn vốn được huy động và sử dụng trong hoạt động kinh doanh; thông qua việc tính toán các yếu tố của chi phí giá thành và chi phí lưu thông; thông qua việc thống kê các khoản thanh toán các khoản công nợ nộp vào ngân sách nhà nước, các khoản trả người bán, trả lãi tín dụng, chi trả cho công nhân viên, chủ thể quản lý doanh nghiệp có thể nhận ra những sơ hở trong công tác điều hành, quản lý doanh nghiệp, từ đó có thể đưa ra những quyết định để ngăn chặn những tổn thất có thể xảy ra Ngoài ra, việc kiểm tra thường xuyên, toàn diện việc chấp hành các quy định về kỷ luật tài chính, kỷ luật tín dụng hay kỷ luật toán cũng giúp cho nhà quản
lý duy trì và nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh doanh
1.2 Phân tích TCDN
1.2.1 Khái niệm, ý nghĩa và mục tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm về phân tích tài chính doanh nghiệp
Từ cuối thế kỉ XIX, phân tích tài chính doanh nghiệp đã được các nhà quản trị chú ý Và từ đầu thế kỉ XX đến nay, sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống tài chính và
sự phổ biến rộng rãi của công nghệ thông tin đã thúc đẩy nhu cầu nâng cao hiệu quả
Trang 6quản lý doanh nghiệp, chính nhờ vậy mà vai trò của hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp ngày càng trở nên cần thiết cho mỗi doanh nghiệp
Quy trình thực hiện phân tích tài chính ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong mọi đơn vị kinh tế, từ các doanh nghiệp cho đến các tổ chức công cộng, tổ chức xã hội hay các cơ quan quản lý Tất nhiên, do sự phát triển trong mỗi thời kì khác nhau mà sẽ
có nhiều quan điểm khác nhau về phân tích tài chính doanh nghiệp Nhưng tựu chung
có thể trình bày khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp như sau:
"Phân tích tài chính doanh nghiệp là việc ứng dụng các công cụ và kĩ thuật phân tích đối với các báo cáo tài chính tổng hợp và mối liên hệ giữa các dữ liệu để đưa ra các dự báo và các kết luận hữu ích trong phân tích hoạt động tài chính của doanh nghiệp Phân tích tài chính còn là việc sử dụng các báo cáo tài chính để phân tích năng lực và vị thế tài chính của một doanh nghiệp, và từ đó đánh giá và dự báo năng lực tài chính của doanh nghiệp trong tương lai"2
1.2.1.2 Ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp
Hoạt động phân tích tài chính có ý nghĩa rất lớn đối với mỗi doanh nghiệp
Thông qua việc so sánh, đánh giá các số liệu, nhà quản trị nắm vững thực trạng và nhận thức được những tiềm năng của doanh nghiệp Từ đó, kết hợp với việc phân tích báo cáo tài chính, tính toán các chỉ tiêu đặc trưng, các nhà hoạch định chiến lược của công ty sẽ đưa ra những dự báo, xác định được hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro có thể gặp phải trong tương lai Nhờ quy trình phân tích tài chính mà những nhận định chủ quan, trực giác trong kinh doanh sẽ giảm bớt, tính chắc chắn trong hoạt động kinh doanh sẽ được nâng cao Ngoài ra, phân tích tài chính góp phần kiểm tra một cách toàn diện và có hệ thống về tình hình sản xuất của doanh nghiệp Như vậy, kết quả của hoạt động phân tích tài chính đã làm rõ những yếu tố để đưa ra dự báo tài chính, mà dự báo chính là nền tảng để đưa ra nhưng quyết định quản trị Có thể nói, phân tích tài chính góp phần tích cực nâng tầm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, khiến cho doanh nghiệp phát huy được ưu điểm, hạn chế được nhược điểm
1.2.1.3 Mục tiêu của việc phân tích tài chính doanh nghiệp
Mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là đánh giá khả năng
2 Giáo trình "Tài chính doanh nghiệp", NXB Đại học Kinh tế Quốc dân (2016), tr.93
Trang 7thanh toán, khả năng cân đối vốn, khả năng hoạt động và sinh lời của doanh nghiệp, từ
đó đưa ra những dự đoán về kết quả hoạt động cũng như mức doanh lợi doanh nghiệp
có thể đạt tới Cũng có thể nói, phân tích tài chính là cơ sở để các đối tượng liên quan đưa ra những dự báo tài chính Phân tích tài chính có thể để phục vụ những đối tượng khác nhau tùy theo mục đích của họ như để tác nghiệp (đối với những nhà quản lý, nhà đầu tư, ) hoặc để nghiên cứu (đối với những đối tượng cả trong và ngoài doanh nghiệp) hoặc để kiểm tra, kiểm soát (đối với cơ quan nhà nước) Mỗi đối tượng khi phân tích tài chính sẽ có góc nhìn khác nhau và hướng tới những mục tiêu khác nhau,
cụ thể:
Đối với những người quản lý doanh nghiệp: Mục tiêu hướng tới là xây dựng một quy trình đánh giá tài chính thường xuyên, theo chu kì để phân tích hoạt động kinh doanh trong quá khứ, đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn, khả năng thanh toán
và khả năng sinh lời trong giai đoạn tiếp theo Đây cũng là cơ sở để đưa ra những tham vấn cho lãnh đạo cấp cao hơn, đảm bảo những quyết định cuối cùng phù hợp với thực
tế doanh nghiệp có thể đáp ứng Phân tích tài chính là tiền đề để xây dựng đề án hoạt động cho doanh nghiệp trong tương lai
Đối với các nhà đầu tư (các cổ đông, thành viên góp vốn hay các nhà đầu tư khác): Vốn của các nhà đầu tư được giao cho doanh nghiệp sử dụng và họ được hưởng lợi từ cổ tức được chia hoặc sự thặng dư giá trị của phần vốn họ sở hữu Tất nhiên, họ cũng có thể gặp những rủi ro bởi lợi ích họ được hưởng phụ thuộc vào lợi nhuận thu được của doanh nghiệp Bởi vậy, mối quan tâm của họ là sức sinh lời bình quân của mỗi đồng vốn họ bỏ ra là bao nhiêu? Giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp trên thị thường
so với mệnh giá chênh lệch như thế nào, biến động ra sao? Các dự án đầu tư dài hạn có được xây dựng trên một cơ sở vững chắc hay không, có tiềm năng sinh lời hay không?
Như vậy, có thể thấy mục đích của các nhà đầu tư khi phân tích tài chính doanh nghiệp chính là để phát hiện triển vọng của doanh nghiệp và giá trị của các cổ phiếu trên thị trường chứng khoán
Đối với chủ nợ của doanh nghiệp (những người cho vay, ngân hàng, các tổ chức tín dụng): Những nhà cung cấp tín dụng cho doanh nghiệp kiếm thu nhập bằng lãi suất tiền vay và họ quan tâm nhất khả năng hoàn trả tiền vay của doanh nghiệp Đối với các
Trang 8khoản vay ngắn hạn, tổ chức tín dụng sẽ quan tâm đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp, kiểm tra xem nguồn tiền mặt và các tài sản khác có khả năng thanh khoản cao của doanh nghiệp có đủ duy trì hoạt động kinh doanh và trả tiền lãi hay không Đối với khoản vay dài hạn, các nhà cung cấp tín dụng dài hạn sẽ thẩm định những dự án đầu tư dài hạn của doanh nghiệp, đánh giá khả năng sinh lời từ dự án cũng như kiểm soát dòng tiền mà doanh nghiệp đầu tư vào dự án Tất cả là để đảm bảo khả năng doanh nghiệp hoàn trả nợ nhờ lợi nhuận của dự án đầu tư dài hạn
Đối với người lao động hưởng lương trong doanh nghiệp: Người lao động trong doanh nghiệp có thu nhập từ tiền lương và một số còn có một phần vốn góp nhất trong doanh nghiệp (nhiều doanh nghiệp thưởng cho nhân viên bằng cổ phiếu công ty) Hai nguồn thu nhập này đều phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Bởi vậy, mục đích hướng tới của những cá nhân cũng tập trung vào việc đánh giá lợi nhuận của công ty, cùng với đó là cơ hội thăng tiến và những chính sách khen thưởng của doanh nghiệp
Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (cơ quan thuế, cơ quan tài chính các cấp,
cơ quan hải quan, cơ quan quản lý thị trường, cơ quan thống kê, ): Các cơ quan này
có nhiệm vụ thực hiện công tác giám sát các đơn vị trong nền kinh tế Mà diễn biến của nền kinh tế đều được phản ánh qua sự chuyển động của các nguồn lực tài chính giữa các doanh nghiệp và các chủ thể liên quan khác Thế nên, phân tích tài chính doanh nghiệp giúp cho các cơ quan thực hiện tốt việc giám sát các doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ với nhà nước và tuân thủ pháp luật hiện hành
1.2.2 Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.2.1 Thông tin sử dụng phân tích tài chính doanh nghiệp
-Thông tin từ bên ngoài doanh nghiệp:
Thông tin bên ngoài mà doanh nghiệp quan tâm là những thông tin chung về nền kinh tế (trạng thái nền kinh tế, chính sách thuế, ưu đãi, lãi suất, những quy định pháp luật sắp được ban hành, ) và ngành kinh doanh mà doanh nghiệp tham gia (cơ cấu, tỉ trọng, vai trò và vị trí của ngành trong nền kinh tế, công nghệ mới được áp dụng, tình trạng sản phẩm, thị phần, ) Căn cứ vào những thông tin này, doanh nghiệp
có thể nắm được khái quát tình hình diễn biến của cả nền kinh tế nói chung và biến
Trang 9động của riêng từng ngành, lĩnh vực kinh doanh nói riêng Từ đó, nhà hoạch định chiến lược của doanh nghiệp có thể phát hiện những tiềm năng và hạn chế của nền kinh tế
Để tiếp cận nguồn thông tin bên ngoài, doanh nghiệp có thể tham khảo thông tin từ các cơ quan nhà nước, tổ chức tài chính, các ngân hàng thương mại Đây là các đơn vị có nhiều thông tin về tình hình phát triển chung của xã hội, tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, Công ty, tổng công ty lớn có sức ảnh hưởng đến nền kinh tế Ngoài ra, doanh nghiệp cũng có thu thập thông tin từ chính những đối thủ cạnh tranh trong cùng lĩnh vực Hàng năm, các doanh nghiệp sẽ phải công khai tình hình tài chính của mình qua các báo cáo thường niên và báo cáo tài chính Nguồn thông tin này
có vai trò quan trọng giúp các nhà quản lý nhận biết được thực lực của đối thủ và từ đó đưa ra chiến lược để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
-Thông tin từ bên trong doanh nghiệp:
Thông tin bên trong doanh nghiệp bao gồm mọi nguồn thông tin liên qua đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó, như các thông tin về: phát triển sản phẩm, nhân sự, tài chính, Trong đó, hệ thống báo cáo tài chính nắm một vai trò hết sức quan trọng và báo cáo tài chính thường niên của doanh nghiệp chính là tư liệu mang tính bắt buộc để tiến hành quá trình phân tích Báo cáo tài chính trình bày những thông tin hết sức tổng quát nhưng lại chỉ ra được tình hình chung của công ty từ tài sản, các nguồn vốn, các khoản nợ và sự vận động của chúng Báo cáo tài chính cung cấp nhưng thông tin tài chính chủ yếu của doanh nghiệp để từ đó có thể đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh trong kì hoạt động Báo cáo tài chính còn giúp nhà quản lý kiểm soát được tình hình huy động và sử dụng vốn vào hoạt động đầu tư kinh doanh
có hiệu quả không Hệ thống báo cáo tài chính bao gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Thuyết minh báo cáo tài chính
1.2.2.2 Các bước thực hiện phân tích tài chính doanh nghiệp
-Thu thập thông tin:
Thu thập thông tin
Xử lý thông tin
Dự báo và ra quyết định
Trang 10Để đưa ra được quyết định thích đáng, nhà phân tích cần tận dụng mọi nguồn thông tin liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm cả thông tin nội bộ bên trong doanh nghiệp và những thông tin chung của nền kinh tế bên ngoài doanh nghiệp, các thông tin có thể là dưới dạng số liệu, có thể dưới dạng giá trị Tất nhiên, hoạt động thu thập phải đảm bảo các tài liệu có tính chính xác và khách quan
Nhiệm vụ đầu tiên của nhà phân tích chính là tập hợp các nguồn thông tin đó, để chuẩn
bị cho bước đánh giá tiếp theo
-Xử lý thông tin:
Những nhà phân tích với mục đích và ứng dụng khác nhau sẽ sử dụng những phương pháp khác nhau để tiến hành phân tích những tài liệu đã thu thập được ở bước đầu tiên Ngoài ra, diễn biến của hoạt động tài chính chịu ảnh hưởng từ nhiều nguyên nhân tổng hòa lại mà thành Bởi vậy, để đánh giá tác động của các nguyên nhân khác nhau ảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu, các nhà phân tích tài chính phải sử dụng nhiều cách thức phân tích khác nhau (so sánh, liên hệ, toán kinh tế, ) để đưa ra những
số liệu dưới các dạng khác nhau (số tương đối, số tuyệt đối, số bình quân, ) Nói chung, hoạt động xử lý thông tin tài chính là quá tình sắp xếp, vận dụng, tính toán các thông tin đã thu thập được theo những mục tiêu nhất định, nhằm xác định những nguyên nhân cốt lõi dẫn tới kết quả đạt được, tạo tiền đề cho quá trình dự báo và ra quyết định tiếp theo
-Dự báo và ra quyết định:
Dù cho nhà phân tích là các nhà quản lý doanh nghiệp, các nhà đầu tư hay các nhà cho vay, các đơn vị tín dụng, thì mục tiêu chủ yếu của quá trình phân tích tài chính doanh nghiệp cũng là để hỗ trợ cho việc ra quyết định Kết quả của việc phân tích tài chính là nền tảng cho những chiến lược sắp tới của doanh nghiệp (giữ nguyên hay cải tiến quy trình hoạt động), hay những dự án sắp tới của nhà đầu tư Bởi vậy, quyết định của các lãnh đạo doanh nghiệp, của các nhà đầu tư, của các tổ chức tín dụng, có hợp
lý, có thích đáng hay không chính là phụ thuộc vào chất lượng của hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp Có thể nói phân tích tình hình tài chính là cơ sở khoa học để
dự báo tình hình tài chính doanh nghiệp trong giai đoạn sau và góp phần tăng tính khách quan và chính xác cho những quyết định cuối cùng của những nhà hoạch định
Trang 11Khi tiến hành phương pháp so sánh, tùy theo mục đích mà các nhà phân tích sẽ
áp dụng các gốc so sánh khác nhau Khi muốn đánh giá xu hướng, tốc độ phát triển của một chỉ tiêu tài chính, cần so sánh kỳ này với kỳ trước (hoặc nhiều kỳ trước) Kỳ gốc thường nằm ở 1-5 năm về trước Khi muốn nhận định về vị thế của doanh nghiệp trong ngành, cần lấy gốc là chỉ tiêu ở mức trung bình của toàn ngành hoặc các chỉ tiêu của đối thủ cạnh tranh trong ngành để so sánh với chỉ tiêu của doanh nghiệp Khi muốn kiểm soát tình hình thực hiện dự án, cần lấy gốc so sánh là chỉ tiêu mà kế hoạch đặt ra đem đối chiếu với chỉ tiêu thực tế trong hiện tại Khi muốn thấy được ý nghĩa của từng khoản mục tác động đến tình hình tài chính như thế nào, cần đánh giá theo chiều dọc để thấy được tỉ trọng của mỗi khoản mục Các nhà phân tích sẽ kết hợp các phương hướng so sánh nêu trên để đưa ra một kết luận tổng quát về các tỷ số phân tích
Có hai dạng so sánh bao gồm so sánh bằng số tuyệt đối và so sánh bằng số tương đối So sánh bằng số tuyệt đối mang tính định lượng rõ ràng, cho thấy sự tăng giảm về mặt qui mô của chỉ tiêu cần phân tích So sánh bằng số tương đối cho thấy mối tương quan về tỉ lệ giữa các chỉ tiêu trong kỳ gốc và kỳ so sánh Có hai loại số tương đối thường được sử dụng là số tương đối động thái và số tương đối điều chỉnh
Số tương đối động thái chỉ ra tốc độ, nhịp độ biến đổi của chỉ tiêu Số tương đối điều chỉnh thể hiện mức độ và chiều hướng thay đổi của mỗi chỉ tiêu khi điều chỉnh một số nhân tố nhất định trong từng chỉ tiêu phân tích về cùng một giai đoạn để thu hẹp phạm
vi so sánh
Phương pháp so sánh có ưu điểm là đơn giản, dễ sử dụng, khi thực hiện có thể
Trang 12thấy được chiều hướng thay đổi theo thời kỳ của các chỉ tiêu cần phân tích Tuy nhiên
có điểm hạn chế là không kiểm soát được chất lượng của nguồn thông tin dùng để so sánh
1.2.3.2 Phương pháp cân đối
Một trong những đặc trưng của các báo cáo tài chính là có tính cân đối: Tổng tài sản = Tài sản ngắn hạn + Tài sản dài hạn; Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn; Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí; Dòng tiền thuần = Dòng tiền vào - dòng tiền ra Dựa vào
sự cân đối này, nhà phân tích có thể xem xét ảnh hưởng của những nhân tố riêng lẻ đến sự biến động của chỉ tiêu phân tích (khi chúng có mối quan hệ tổng hoặc hiệu) Cụ thể, muốn tính mức độ ảnh hưởng của một nhân tố, chỉ cần tính ra sự chênh lệch giữa
kỳ gốc với hiện tại của chính nhân tố đó
1.2.3.3 Phương pháp tỷ lệ
Phương pháp tỷ lệ được áp dụng phổ biến trong phân tích tài chính và thường được áp dụng kết hợp với phương pháp so sánh Các nhà phân tích thường đặt ra các định mức và so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp, từ đó rút ra kết luận về tình hình tài chính doanh nghiệp Phương pháp này được áp dụng nhiều bởi ưu điểm mang tính thực tế cao đồng thời được hỗ trợ bởi nền tảng công nghệ kỹ thuật ngày càng phát triển Có thể thấy rằng nhờ công nghệ thông tin mà doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận các nguồn thông tin, nhờ kỹ thuật tin học mà doanh nghiệp có thể tích hợp nhiều dữ liệu
và tính toán với tốc độ cao Đó chính là cơ sở để doanh nghiệp có thể đưa ra những tỷ
số tham chiếu đáng tin cậy và phân tích một cách hiệu quả hàng loạt chỉ tiêu trong chuỗi thời gian liên tục Các tỷ lệ thường được các nhà quản lý quan tâm:
Tỷ lệ về khả năng thanh toán: Phản ánh khả năng trả các khoản nợ ngắn hạn
Tỷ lệ về cơ cấu nguồn vốn: Phản ánh mức độ ổn định cũng như khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp
Tỷ lệ về khả năng sản xuất kinh doanh: Phản ánh mức độ hiệu quả trong việc sử dụng nguồn vốn vào hoạt động kinh doanh
Tỷ lệ về khả năng sinh lời: Phản ánh hiệu quả kinh doanh tổng hợp
1.2.3.4 Phương pháp Dupont
Phương pháp phân tích tài chính Dupont được một kỹ sư điện - nhà quản lý tài
Trang 13chính của công ty hóa học Dupont sáng lập ra Phương pháp này từ khi ra đời đã giúp cho các Công ty lớn thiết lập được hệ thống hoạch định và kiểm soát tài chính một cách hiệu quả Từ đó đến nay, phương pháp Dupont đã được sử dụng rộng rãi trong hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp
Mỗi chỉ tiêu phân tích dưới dạng tỷ số phản ánh mối quan hệ tài chính, sự biến động của chỉ tiêu sẽ phụ thuộc vào sự tăng, giảm trên tử số hoặc dưới mẫu số của tỷ số tài chính đó Ngoài ra, các tỷ số còn có thể biến động bởi sự thay đổi của các quan hệ tài chính liên quan hoặc chính quan hệ tài chính nội tại mà nó phản ánh Chính vì vậy, nếu có thể thiết lập được quan hệ của tỷ số tài chính với những nhân tố ảnh hưởng một cách có hệ thống, có logic sẽ giúp cho nhà phân tích nhìn nhận rõ ràng hơn thực trạng tài chính doanh nghiệp và có biện pháp tác động vào từng nhân tố một cách hợp lý Và bản chất của phương pháp Dupont chính là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh mức sinh lợi của doanh nghiệp như ROA (tỷ số lợi nhuận trên tài sản) hay ROE (tỷ số lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu) thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau
Mô hình Dupont cho thấy tính ứng dụng rất cao trong hoạt động phân tích tài chính như: Khảo sát hoặc giải thích kết quả của ROA, so sánh với các đối thủ cạnh tranh trong từng ngành, xác định xu hướng hoạt động của doanh nghiệp trong một thời
kỳ, cho thấy tác động nếu chuyên môn hóa một chức năng cụ thể, Các bước tiến hành phân tích theo phương pháp Dupont:
-Ví dụ: Doanh nghiệp có thể tiến hành phân tích tỷ số ROA như sau:
ROA = Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản =
Lợi nhuận sau thuếDoanh thu x
Doanh thuTổng tài sản Đẳng thức đã cho thấy Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản ROA phụ thuộc vào tỷ suất doanh lợi doanh thu và vòng quay tổng tài sản Từ đây, nhà phân tích
Thu thập số liệu kinh doanh
Tính toán, phân tích
Đưa ra kết luận
Nếu kết luận đưa ra không đúng thực tế, kiểm tra số liệu và phân tích lại
Trang 14rút ra nhận xét tỷ số ROA sẽ tăng nếu tăng doanh lợi doanh thu, vòng quay tổng tài sản hoặc cả hai Nếu lợi nhuận sau thuế có mức tăng so với kỳ gốc nhiều hơn doanh thu thì
tỷ suất doanh lợi sẽ tăng Nếu tổng tài sản không biến động nhưng doanh thu tăng lên thì vòng quay tổng vốn cũng sẽ tăng Dựa vào những kết quả đạt được, doanh nghiệp
có thể tiến hành biện pháp phù hợp để khắc phục những yếu tố còn tồn tại để tăng lợi nhuận cho công ty
Doanh nghiệp có thể phân tích tỷ số ROE:
ROE = ROA x Tổng tài sản
Vốn chủ sở hữu = ROA x
11- Hệ số nợ
= (Tỷ suất lợi nhuận doanh thu) x (Vòng quay tổng vốn) x 1- Hệ số nợ 1
Có thể thấy rằng ROE tăng khi ROA tăng, tỷ số tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu tăng hoặc cả hai cùng tăng Tỷ số tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu tỷ lệ thuận với tổng tài sản và tỷ lệ nghịch với vốn chủ sở hữu
Ưu điểm của phương pháp Dupont là tính toán đơn giản Ngoài ra, kết quả đạt được cũng dễ dàng kết nối đến các chính sách tài chính khác của công ty Qua việc ứng dụng phương pháp Dupont, nhà phân tích đã được cung cấp những thông tin cơ bản để xác định phương hướng tích cực trong việc sử dụng vốn của doanh nghiệp
Cùng với đó, cấp quản lý sẽ thấy rõ thực tế hoạt động của doanh nghiệp và đưa ra kế hoạch tiến hành mở rộng hoạt động của công ty hay thôn tính đối thủ, hoặc tiến hành cải tổ nội bộ, thay đổi quy trình hoạt động về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, Khuyết điểm của phương pháp này là phải phụ thuộc vào mức độ tin cậy của báo cáo tài chính
Như vậy, có thể thấy vai trò quan trọng của phương pháp Dupont trong quản trị tài chính doanh nghiệp, nó đã cho nhà phân tích cài nhìn đầy đủ và khách quan đối với từng nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Từ đó đưa ra được các biện pháp toàn diện và sâu sắc trong việc điều hành và quản lý tài chính doanh nghiệp để không ngừng nâng cao sức cạnh tranh của công ty
Trang 15
Sơ đồ phân tích phương trình Dupont
1.2.4 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.4.1 Phân tích bảng cân đối kế toán
"Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản tại một thời điểm nhất định"3 Mọi đối tượng có nhu cầu phân tích tài chính doanh nghiệp như nhà quản lý, nhà đầu tư, nhà nghiên cứu, đều phải đánh giá Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp Bởi lẽ bảng cân đối kế toán phản ánh một cách tổng quát tình hình tài chính doanh nghiệp về mặt số lượng tài sản, vốn chủ sở hữu, khả năng thanh toán, khả năng tự chủ, của doanh nghiệp
TSLĐ khác
(x)
Trang 16Bảng cân đối kế toán được xây dựng trên mối quan hệ theo phương trình:
Tổng tài sản = Nợ + Vốn chủ sở hữu Bảng cân đối kế toán có thể trình bày dưới hai hình thức:
+ Hình thức theo dạng tài khoản: Cột bên trái thể hiện tài sản doanh nghiệp, bên phải phản ánh nợ và vốn chủ sở hữu
+ Hình thức theo dạng báo cáo: Phản ánh tất cả tài sản, nợ và vốn chủ sở hữu trong cùng một cột
Các khoản mục nhỏ của bảng cân đối kế toán được phân loại theo tính thanh khoản của tài sản, tính chất ngắn hạn hoặc dài hạn của nợ và vốn chủ sở hữu Cụ thể như sau:
-"Tài sản là các nguồn lực có giá trị kinh tế, có khả năng mang lại lợi ích trong tương lai"4 Tài sản của doanh nghiệp có nhiều loại khác nhau với đặc điểm tính chất khác nhau, tiềm ẩn những rủi ro khác nhau và có tiềm năng tạo ra lợi nhuận khác nhau
Tài sản được chia thành tài sản ngắn hạn và dài hạn
+"Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một chu kỳ kinh doanh hoặc trong một năm tài chính"5
Tài sản ngắn hạn bao gồm những loại chính:
Tiền: là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ số tiền hiện có của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo, gồm có tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, vàng, ngoại tệ,
Các khoản tương đương tiền: là chi tiêu phản ánh những khoản đầu tư ngắn hạn (trong vòng 3 tháng) có khả năng thanh khoản cao, không có rủi ro khi chuyển đổi thành một khoản tiền nhất định kể từ ngày tiến hành khoản đầu tư
đó tại thời điểm báo cáo ví dụ như Trái phiếu sắp đáo hạn
Các khoản phải thu: là chỉ tiêu phản ánh khoản tiền dự kiến thu được nhờ hoạt động bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ
Hàng tồn kho: là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ giá trị số hàng tồn kho dự trữ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (sau khi trừ đi trừ đi khoản dự phòng
4 Giáo trình "Tài chính doanh nghiệp", NXB Đại học Kinh tế Quốc dân (2016), tr.58
5 Giáo trình "Tài chính doanh nghiệp", NXB Đại học Kinh tế Quốc dân (2016), tr.59
Trang 17giảm giá hàng tồn kho)+"Tài sản dài hạn của doanh nghiệp là những tài sản có thời hạn sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong nhiều kỳ kinh doanh hoặc dài hơn một năm tài chính"6
Bao gồm những loại sau:
Tài sản cố định: Là loại tài sản có giá trị sử dụng trong nhiều năm, chỉ được thanh lý khi hết giá trị sử dụng hoặc công ty gặp khó khăn về tài chính Tài sản cố định có giá trị được ghi nhận giảm dần theo thời gian thông qua việc trích khấu hao
Bất động sản đầu tư: Là toàn bộ giá trị của bất động sản được doanh nghiệp đầu tư sau khi trừ hao mòn lũy kế
Các khoản đầu tư tài chính dài hạn: Phản ánh toàn bộ giá trị các khoản đầu tư dài hạn tại thời điểm báo cáo như đầu tư vào công ty con, góp vốn liên doanh với công ty khác, các khoản cho vay dài hạn,
-"Nợ phải trả là các khoản giảm trừ lợi ích kinh tế trong tương lai, phát sinh từ nghĩa vụ của một thực thể mà trong tương lai phải chuyển giao tài sản hay cung cấp dịch vụ cho một thực thể khác, nghĩa vụ này phát sinh từ các giao dịch trong quá khứ"7 Nợ phải trả cũng bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn
+"Nợ ngắn hạn là các nghĩa vụ được thực hiện trong vòng một năm hay một chu kỳ hoạt động bình thường của doanh nghiệp"8 Bao gồm các khoản mục cơ bản:
6 Giáo trình "Tài chính doanh nghiệp", NXB Đại học Kinh tế Quốc dân (2016), tr.59
7 Giáo trình "Tài chính doanh nghiệp", NXB Đại học Kinh tế Quốc dân (2016), tr.59
8 Giáo trình "Tài chính doanh nghiệp", NXB Đại học Kinh tế Quốc dân (2016), tr.60
9 Giáo trình "Tài chính doanh nghiệp", NXB Đại học Kinh tế Quốc dân (2016), tr.60
Trang 181.2.4.2 Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
"Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính phản ánh một cách tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ nhất định"11
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh thể hiện kết quả đƣợc tích lũy trong một giai đoạn nhất định của doanh nghiệp, phản ánh doanh nghiệp có đạt đƣợc lợi nhuận hay không Các chỉ tiêu cơ bản của Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh gồm: doanh thu, chi phí, lợi nhuận
-"Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu hoặc sẽ thu đƣợc phát sinh từ các hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ kế toán góp phần làm tăng
10 Giáo trình "Tài chính doanh nghiệp", NXB Đại học Kinh tế Quốc dân (2016), tr.60
11 Giáo trình "Tài chính doanh nghiệp", NXB Đại học Kinh tế Quốc dân (2016), tr.62
Trang 19vốn chủ sở hữu không bao gồm vốn góp của cổ đông hoặc chủ sở hữu"12
+Chi phí sản xuất kinh doanh chính là biểu hiện bằng tiền của tất cả các nguồn lực mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ
Tùy theo mục tiêu mà chi phí sản xuất kinh doanh lại được phân loại thành các khoản mục chi phí khác nhau
Phân loại theo công dụng kinh tế và địa điểm phát sinh:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí sản xuất chung
Chi phí bán hàng
Chi phí quản lý doanh nghiệp Cách thức phân loại này giúp doanh nghiệp quản lý được chi phí kinh doanh theo địa điểm phát sinh và thuận lợi tiến hành tổng hợp chi phí để tính giá thành sản phẩm
Phân loại theo bản chất kinh tế:
Chi phí lương
Chi phí nguyên vật liệu, vật tư
Chi phí khấu hao tài sản cố định
12 Giáo trình "Tài chính doanh nghiệp", NXB Đại học Kinh tế Quốc dân (2016), tr.62
13 Giáo trình "Tài chính doanh nghiệp", NXB Đại học Kinh tế Quốc dân (2016), tr.63
Trang 20 Chi phí dịch vụ mua ngoài
Chi phí sản xuất kinh doanh bằng tiền khác Cách thức phân loại này giúp doanh nghiệp quản lý được chi phí dựa trên yếu tố đầu vào trong kỳ, từ đó giúp dự đoán được chi phí cho kỳ kế hoạch
+Chi phí tài chính là biểu hiện bằng tiền của tất cả hao phí mà doanh nghiệp phải chịu bởi các hoạt động tài chính trong kỳ (hoạt động huy động vốn, hoạt động đầu
tư tài chính hoặc các hoạt động mang yếu tố tài chính khác)
Về cơ bản chi phí tài chính gồm các khoản: lãi vay phải trả, trái tức, tiền lãi thuê tài chính, dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán, lỗ đầu tư chứng khoán, chiết khấu thanh toán cho khách hàng, lãi tiền trả chậm,
+Chi phí khác là biểu hiện bằng tiền của những hao phí mà doanh nghiệp phải chịu nhưng không thường xuyên, có tính chất bất thường trong kỳ
Chi phí khác bao gồm một số khoản cơ bản: Giá trị còn tại của tài sản đã thanh
lý, chi phí khắc phục rủi ro, phạt hợp đồng,
-Lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí trong một kỳ của doanh nghiệp Lợi nhuận sau thuế là lợi nhuận trước thuế sau khi đã trừ đi khoản thuế thu nhập doanh nghiệp
Lợi nhuận có ý nghĩa vô cùng lớn, bởi nó là kết quả cuối cùng đánh giá sự hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, là nguồn lực để doanh nghiệp tái sản xuất, thực hiện nghĩa vụ đóng thuế và đóng góp cho nền kinh tế
Tại nhiều doanh nghiệp, lợi nhuận sau thuế sau khi đã bù đắp các khoản lỗ, nộp phạt, sẽ được trích lập vào các quỹ như: quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ trợ cấp thất nghiệp, quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng
Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh có ý nghĩa rất lớn đối với nhà quản lý bởi
nó phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh Từ đó, nhà quản lý
có thể ra được những quyết định kinh tế phù hợp trong giai đoạn tiếp theo
1.2.4.3 Phân tích các chỉ tiêu tài chính
Để cạnh tranh trong nền doanh nghiệp, mỗi doanh nghiệp cần phải biết tính toán và đánh giá các chỉ tiêu tài chính trong và ngoài đơn vị Trong đó, cần chú ý một
số nội dung đề sau:
Trang 21 Cơ cấu vốn và nguồn vốn
Phân tích cơ cấu nguồn trước tiên cần xác định tỷ trọng của từng loại nguồn vốn
so với tổng vốn ở thời điểm đầu kỳ và cuối kỳ Tiếp đến tiến hành so sánh giữa các loại nguồn vốn với nhau và với tổng vốn cả về số tiền và tỷ trọng, từ đó nhà phân tích
sẽ đưa ra được đánh giá khái quát về cơ cấu nguồn vốn, nhận định được sự phân bổ vốn có hiệu quả hay không Nhờ vậy, nhà quản lý sẽ có những quyết định hợp lý để quản trị nguồn vốn Mặt khác, khi phân tích nên chú trọng đánh giá tổng quát cơ cấu vốn và một số thành phần vốn quan trọng của doanh nghiệp như:
Tỷ lệ nợ phải trảVốn chủ sở hữu =
Tổng nợ phải trảTổng vốn chủ sở hữu (1)
Tỷ lệ vay ngắn hạnTổng nguồn vốn =
Tổng vay ngắn hạnTổng nguồn vốn (2)
Tỷ lệ nợ phải trả người bánTổng nguồn vốn =
Tổng nợ phải trả người bánTổng nguồn vốn (3)
Tỷ lệ nợ ngắn hạnTổng nợ phải trả =
Tổng nợ ngắn hạnTổng nợ phải trả (4) Chỉ tiêu (1) phản ánh rủi ro trong cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ tỷ trọng nợ phải trả của doanh nghiệp càng lớn, rủi ro về vốn của doanh nghiệp càng cao Doanh nghiệp sử dụng càng nhiều vốn vay thì càng có nguy cơ mất khả năng thanh toán và thậm chí có thể mất quyền kiểm soát công ty Tuy nhiên việc sử dụng nợ có ưu điểm giúp công ty tiết kiệm được nhiều chi phí sử dụng vốn Ngược lại, việc huy động nhiều vốn chủ sở hữu khiến cho an ninh tài chính của doanh nghiệp được đảm bảo nhưng lại khiến doanh nghiệp mất đi lợi thế cạnh tranh khi không tận dụng được nguồn vốn có chi phí thấp để tối đa hóa hiệu quả kinh doanh
Chỉ tiêu (2), (3), (4) giúp cho nhà phân tích đánh giá được sự tự chủ tài chính của doanh nghiệp Các chỉ tiêu này càng cao càng chứng tỏ doanh nghiệp càng lệ thuộc về tài chính Điều này chỉ ra rằng doanh nghiệp phụ thuộc vào những khoản vay ngắn hạn, nhu cầu thanh toán trong ngắn hạn của doanh nghiệp lớn
Khả năng thanh toán ngắn hạn, dài hạn
Khả năng thanh toán là khả năng đáp ứng nghĩa vụ thanh toán của doanh nghiệp trong vòng 12 tháng (ngắn hạn) hoặc trên 12 tháng (dài hạn) Chỉ số đo lường khả
Trang 22nhanh
Chỉ số thanh toán ngắn hạn = Tổng tài sản ngắn hạnTổng nợ ngắn hạn (1) Chỉ số thanh toán nhanh = Tổng nợ ngắn hạn (2) Tài sản nhanhChỉ số (1) thường ở mức 2-3 được xem là tốt Bởi lẽ nếu chỉ số này quá thấp chứng tỏ doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn khi thực hiện nghĩa vụ tài chính Ngược lại, chỉ số này quá cao thể hiện tài sản lưu động của doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn
và như vậy hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp sẽ không được cao
Chỉ số (2) cao hay thấp còn phụ thuộc vào cách tính, đôi khi hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản quá thấp sẽ không được đưa vào tính toán
Khi phân tích khả năng thanh toán dài hạn, nhà phân tích cần nghiên cứu khả năng thanh toán lãi vay và mức độ rủi ro của các khoản nợ ngắn hạn và dài hạn Một
số chỉ số nhà phân tích cần quan tâm:
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT)
Chi phí lãi vay (3)
Hệ số nợ = Tổng tài sản (4) Nợ phải trả
Hệ số nợVốn chủ sở hữu =
Nợ phải trảVốn chủ sở hữu (5)
Hệ số thanh toán tài sản dài hạn đối với nợ dài hạn = Tài sản dài hạnNợ dài hạn (6) Các chỉ tiêu (4), (5) chỉ ra mức độ rủi ro tài chính của doanh nghiệp Nếu hệ số (4), (5) cao, chứng tỏ khả năng thanh toán nợ vay dài hạn sẽ càng kém, càng thể hiện mức độ rủi ro tài chính cao Các chủ nợ cũng cần chú ý đến các chỉ tiêu này bởi nó thể hiện mức độ an toàn của họ, phòng khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán Ngược lại, chỉ tiêu (6) càng cao cang chứng tỏ các khoản nợ dài hạn càng được đảm bảo
Trong hoạt động kinh doanh, mỗi ngành nghề sẽ có chính sách sử dụng tài sản
và nguồn vốn khác nhau Ngoài ra, tình hình thị trường cũng ảnh hưởng đến quyết định về việc sử dụng tài sản của nhà quản lý Ví dụ như nếu nhà quản lý nhận định giá hàng hóa sẽ tăng trong thời gian tới thì doanh nghiệp sẽ có chính sách găm hàng để bàn vào kỳ sau, và khi đó tỷ trọng hàng tồn kho sẽ lớn Bởi vậy, để có nhận định chính
Trang 23xác về các chỉ số về khả năng thanh toán Nhà phân tích cần phải có sự so sánh các chỉ
số thanh toán của doanh nghiệp với các chỉ số trung bình ngành cũng như xem xét sự biến động của các chỉ số theo thời gian
Khả năng sinh lời
Doanh nghiệp chỉ có thể sinh lời khi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tạo ra lợi nhuận lớn hơn mức mà nhà đầu tư có thể tự tạo trên thị trường vốn Các chỉ
số thể hiện khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà nhà phân tích cần chú ý:
ROE = Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu bình quân ROC = Lợi nhuận sau thuế
Vốn đầu tư bình quân ROA = Lợi nhuận sau thuế
Tài sản bình quân ROS = Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần ROE là chỉ tiêu thể hiện mức độ hiệu quả khi đầu tư của vốn chủ sở hữu, thể hiện 1 đơn vị vốn chủ sở hữu đem lại bao nhiêu lợi nhuận ROE càng cao chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng vốn chủ sở hữu càng hiệu quả Ngoài ra, ROE cao còn thể hiện khả năng quản trị vốn một cách cân đối, hợp lý của ban lãnh đạo và đó là một điều làm hấp dẫn các nhà đầu tư
ROC là chỉ tiêu biểu hiện sức sinh lời của vốn đầu tư Đây là chỉ tiêu mà các nhà đầu tư quan tâm nhất Chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ lợi nhuận nhà đầu tư thu được khi góp vốn vào doanh nghiệp càng cao
ROA là chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi của tài sản Chỉ số này càng cao, chứng tỏ hiệu quả kinh tế khi đưa tài sản vào quy trình sản xuất kinh doanh càng hiệu quả và ngược lại
ROS là chỉ tiêu chỉ ra sức sinh lợi của doanh thu Chỉ tiêu này thể hiện một đơn
vị doanh thu thuần đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này càng cao càng thể hiện doanh nghiệp phân bổ chi phí hợp lý
Hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh được xác định thông qua phân tích, xem xét sự biến động
Trang 24quả kinh doanh ở kỳ này với kỳ trước trên cả phương diện số lượng tuyệt đối và tương đối để đưa ra kết kuận
Sau khi tiến hành xem xét số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh, cần tính toán các chỉ số thể hiện mức độ sử dụng các khoản chi phí, các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, cụ thể:
Thứ nhất, nhóm chỉ tiêu phản ánh mức độ sử dụng chi phí:
Tỷ suất giá vốn bán hàng trên doanh thu thuần = Giá vốn bán hàngDoanh thu thuần x 100
Tỷ số này cho biết trị giá vốn bán hàng chiếm bao nhiêu phần trăm tổng doanh thu Chỉ số này càng nhỏ chứng tỏ việc kiểm soát chi phí để sản xuất sản phẩm càng tốt và ngược lại
Tỷ suất chi phí bán hàng trên doanh thu thuần = Chi phí bán hàngDoanh thu thuần x 100 Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp phải bỏ ra bao nhiêu chi phí bán hàng cho
100 đồng doanh thu thuần Chỉ số này càng nhỏ càng chứng tỏ hoạt động bán hàng của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao và ngược lại
Tỷ suất chi phí quản lý DN trên doanh thu thuần = Doanh thu thuần x 100 Chi phí quản lýChỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp phải bỏ ra bao nhiêu chi phí quản lý để thu được 100 đồng doanh thu thuần Chỉ số này càng nhỏ càng thể hiện quy trình quản trị của doanh nghiệp hiệu quả và ngược lại
Thứ hai, nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh:
Tỷ suất lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trên doanh thu thuần =
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh
Doanh thu thuần x 100 Chỉ tiêu này phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh, cho biết ứng với mỗi 100 đồng doanh thu thuần là bao nhiêu đồng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh Chỉ số này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp càng làm ăn có hiệu quả
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên doanh thu thuần = Lợi nhuận trước thuếDoanh thu thuần x 100
Chỉ tiêu này thể hiện bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế thì ứng với 100 đồng doanh thu thuần
Trang 25- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần: Chỉ tiêu này phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động kinh doanh và cho biết cứ 100 đồng doanh thu thuần thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần = Lợi nhuận sau thuếDoanh thu thuần x 100
Đây là chỉ tiêu phản ánh khách quan nhất kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh ứng với 100 đồng doanh thu là bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
Rủi ro tài chính
Ngoài những chỉ tiêu ở trên, để phân tích rủi ro tài chính của doanh nghiệp, nhà phân tích còn có thể sử dụng một số chỉ tiêu phản ánh tình hình công nợ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp:
-Hệ số nợ trên tài sản = Tổng số tài sản Tổng số nợ
Chỉ tiêu này thể hiện tỷ trọng của số nợ trong tổng tài sản của doanh nghiệp Tỷ
số này càng tăng thì chứng tỏ doanh nghiệp càng có rủi ro lớn và ngược lại
Hệ số nợ trên tài sản ngắn hạn = Tài sản ngắn hạn Nợ ngắn hạnChỉ tiêu này có ý nghĩa tương tự với chỉ tiêu trên Nhưng đối với nhà quản trị cần ra quyết định trong ngắn hạn, nó cần được lưu tâm hơn
Hệ số thu hồi nợ = Số dư bình quân các khoản phải thu x 100 Doanh thu thuầnChỉ tiêu này thể hiện rằng nếu tiền bán chậm càng giảm, số dư nợ phải thu giảm thì hệ số thu nợ sẽ càng tăng, đồng nghĩa với việc rủi ro tài chính càng giảm và ngược lại
Thời hạn thu hồi nợ bình quân = Thời gian trong kỳ báo cáoHệ số thu hồi nợ x 100
Do thời gian trong kì báo cáo luôn là cố định, bởi vậy sự biến động của thời hạn thu hồi nợ chỉ phụ thuộc vào hệ số thu hồi nợ Hệ số thu hồi nợ là đại lượng tỉ lệ nghịch với thời hạn thu hồi nợ, bởi thế để giảm thời hạn thu hồi nợ, cần tăng hệ số thu hồi nợ và ngược lại
Trang 26Hệ số quay vòng hàng tồn kho = Số dư bình quan hàng tồn kho x 100 Trị giá vốn hàng xuấtChỉ tiêu này chỉ ra rằng cần phải rút ngắn chu kì sản xuất, hoặc tăng tốc độ bán hàng thì giá trị hàng tồn kho sẽ giảm một cách hợp lý, nhờ vậy, rủi ro tài chính cũng sẽ giảm
Thời hạn quay vòng hàng tồn kho = Hệ số quay vòng hàng tồn kho x 100 Thời gian trong kỳ báo cáoChỉ số này thể hiện rằng hệ số vòng quay hàng tồn kho tỷ lệ thuận với thời gian cho một vòng quay hàng tồn kho Như vậy, để giảm thiểu rủi ro tài chính cần tăng số vòng quay hàng tồn kho
Hệ số thanh toán lãi vay = Tổng lợi nhuận trước thuếChi phí lãi vay x 100 Chỉ tiêu này thể nếu doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, lợi nhuận ngày càng tăng thì hệ số thanh toán lãi vay càng tăng và rủi ro tài chính càng giảm
Chỉ tiêu về giá trị thị trường
Thu nhập 1 cổ phần thường (EPS) = Số lượng cổ phiếu đang lưu hành Lợi nhuận sau thuếChỉ số này được các nhà đầu tư sử dụng để đánh giá khả năng kiếm lợi nhuận khi mua cổ phiếu của doanh nghiệp, EPS phản ánh phần lợi nhuận mà cổ đông có thể nhận được cho mỗi cổ phần mà mình đang nắm giữ Chỉ số này càng cao càng thể hiện
doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả và càng có sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư
Hệ số giá trên thu nhập (P/E) = Thu nhập 1 cổ phần thường Giá thị trường của cổ phiếuChỉ số này cho biết nhà đầu tư sẵn sàng trả bao nhiêu để thu về 1 đồng lợi nhuận từ cổ phiếu của công ty Chỉ số này cao hay thấp phụ thuộc vào sự kì vọng của các nhà đầu tư vào khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai
Hệ số giá thị trường trên giá trị sổ sách:
(M/B) = Giá thị trường của cổ phiếu
Giá trị sổ sách của cổ phiếu Giá trị sổ sách = Số lượng cổ phiếu đang phát hành Vốn chủ sở hữu
Tỷ số M/B phản ánh mối quan hệ giữa giá thị trường và giá trị ghi nhận trong sổ
Trang 27sách, thể hiện lợi nhuận do 1 đồng tiền thực tạo ra ứng với M/B đồng tiền kì vọng
1.2.4.4 Phân tích tình hình sử dụng đòn bảy tài chính tại doanh nghiệp
Sử dụng đòn bẩy tài chính là việc doanh nghiệp sử dụng các nguồn vốn vay thay cho vốn chủ sở hữu Đòn bẩy tài chính là một con dao hai lưỡi bởi doanh nghiệp càng nợ nhiều mà không có biện pháp sử dụng hợp lý thì sẽ dẫn đến xác suất khánh kiệt, mất khả năng chi trả và phá sản Tuy nhiên, sử dụng nguồn vốn vay cũng có lợi thế ở chỗ lãi suất vay vốn là một khoản chi phí được miễn thuế
Độ lớn đòn bẩy tài chính:
(DFL) = Tỷ lệ thay đổi tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu
Tỷ lệ thay đổi lợi nhuận trước thuế và lãi vay Một số chỉ số nợ thể hiện đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp:
Chỉ số nợ = Tổng tài sản Tổng nợ Chỉ số nợ (vốn cổ phần) = Tổng vốn cổ phần Tổng nợ
Số nhân vốn cổ phần = Tổng vốn cổ phần Tổng tài sảnCác chỉ số nợ thể hiện được năng lực tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp Đây là chỉ số mà cả doanh nghiệp lẫn các nhà đầu tư, nhà cho vay hết sức quan tâm Tuy nhiên, giá trị ghi nhận trên báo cáo tài chính có thể rất khác giá trị trên thị trường Ngoài ra, có những hình thức nợ không thể hiện trên báo cáo như nghĩa vụ trả tiền hưu trí hoặc thuê tài sản
Chỉ số bao phủ lãi vay = Thu nhập trước lãi vay và thuế
Lãi vay Chỉ số bao phủ lãi vay thể hiện khả năng trả lãi vay của doanh nghiệp
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới cách tiếp cận phân tích tài chính trong doanh nghiệp
Trang 28tại Tất cả những yếu tố trên đều là cơ sở cho những đánh giá về tình hình tài chính doanh nghiệp
Số liệu sử dụng để phân tích tài chính: Đây là tài liệu quan trọng nhất trong việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp Số liệu được tính toán,thu thập và tổng hợp một cách khách quan và trung thực sẽ đưa đến những kết quả đúng với thục tế và đó là tiền đề để nhà quản lý đưa ra những nhận định chính xác Trong thực tế, nhiều doanh nghiệp cố tình đưa ra những số liệu tài chính sai lệch để đáp ứng những mục đích riêng như đối phó với cơ quan quản lý nhà nước hay để đạt đủ điều kiện vay vốn
Trình độ của nhà phân tích tài chính: Kết quả của việc phân tích tài chính có chính xác, hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào năng lực của chuyên viên phân tích Ngoài ra, mỗi nhà phân tích với mục đích khác nhau sẽ có cái nhìn khác nhau, bởi vậy kết quả họ đưa ra nhất định có sự khác biệt
Đó cũng có thể là những nhân tố ảnh hưởng đến riêng ngành kinh tế như sự biến động của tỷ trọng trong ngành, sự thay đổi nhu cầu của khách hàng, những tiến bộ phát triển của khoa học kỹ thuật, Đây là những yếu tố nhà hoạch định chiến lược không thể bỏ qua khi phân tích tài chính
Ngoài ra, một yếu tố quan trọng để nhà phân tích đưa ra kết luận là những chỉ tiêu trung bình của ngành Nhà phân tích cần so sánh các chỉ tiêu của doanh nghiệp với các chỉ tiêu trung bình ngành và chỉ tiêu của các đối thủ cạnh tranh để thấy được vị thế của doanh nghiệp ngành kinh tế
Trang 29Chương 2 Phân tích tình hình tài chính của công ty cổ phần FPT
2.1 Khái quát về công ty cổ phần FPT
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển công ty
2.1.1.1.Giới thiệu chung về công ty
Tên doanh nghiệp: CÔNG TY CỔ PHẦN FPT
Mã số doanh nghiệp: 0101248141 Địa chỉ trụ sở chính: Số 17 phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội, Việt Nam
Người đại diện theo pháp luật: Chủ tịch Hội đồng quản trị TRƯƠNG GIA BÌNH; Tổng Giám đốc NGUYỄN VĂN KHOA
Ngành nghề kinh doanh chính (ghi nhận trên đăng ký kinh doanh): Hoạt động viễn thông khác(Chi tiết: - Cung cấp các dịch vụ internet và gia tăng trên mạng; - Kinh doanh dịch vụ kết nối Internet (IXP))
Vốn điều lệ: 6.167.039.720.000 VNĐ 2.2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển
Ngày 13/9/1988, Công ty Công nghệ Thực phẩm (tên gọi đầu tiên của FPT) đã được thành lập dưới quyết định của Viện trưởng Viên Nghiên cứu Công nghệ Quốc gia Giám đốc khi đó là ông Trương Gia Bình Công ty khi vừa mới thành lập không
có tài sản, vốn liếng, chỉ dựa vào quyết tâm và khát vọng của 13 nhà khoa học trẻ vượt qua mọi thử thách Để đến ngày hôm nay Công ty cổ phần FPT đã là công ty hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông và vươn ra nước ngoài
có chỗ đứng trong thị trường quốc tế Năm 2018, Công ty đạt doanh thu 23.214 tỷ đồng, Giá trị vốn hóa đạt hơn 30.000 tỷ đồng, quy mô nhân sự lên đến 27.843 người, công ty đã hiện diện tại 45 quốc gia và cùng lãnh thổ Các bước phát triển đáng nhớ của Công ty cổ phần FPT được tóm tắt ở dưới:
Trang 30vào Việt Nam
Tham gia lĩnh vực Internet, tạo bước phát triển đột phá cho thị trường Việt Nam
Thành lập Công ty Công nghệ Thực phẩm, tiền thân của Công ty cổ phần
FPT
Lựa chọn con đường tin học, Đổi tên thành Công ty Phát triển Đầu tư Công nghệ FPT, Mở chi nhánh đầu tiên tại TP Hồ Chí Minh
Ra mắt VnExpress - 1 trong những báo điện tử đầu tiên tại Việt Nam
Nhận chứng chỉ ISO 9001, đặt nền móng cho Hệ thống quản trị toàn
diện FPT
Thành lập Trường đại học FPT
Niêm yết trên thị trường chứng
khoán Công ty đổi tên thành Công ty Cổ
phần FPT (FPT Corporation)
FPT.eGov và FPT.eHospital đạt giải bạc và vàng tại Giải Asean ICT Award 2012 Đại học FPT trở thành trường ĐH đầu tiên của Việt Nam đạt chuẩn 3* của QS Star Đầu tư mở rộng chuỗi bán
lẻ FPT và Thương mại điện tử
Trang 31Hình 2.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần FPT
Tiến hành thương vụ M&A đầu tiên trong lĩnh vực CNTT của Việt Nam tại thị trường nước ngoài Cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền
Trở thành doanh nghiệp đầu tiên được cấp Giấy phép Viễn thông tại Myanmar Ký hợp đồng giá trị kỷ lục tại Bangladesh, mở ra hướng phát triển mới tại thị trường Nam
Á
Đồng hành cùng các tập đoàn hàng đầu trên thế giới trong cuộc cách mạng số như GE, AWS, Microsoft
Mở 02 văn phòng tại Hàn Quốc và
Trung Quốc
Trang 322.1.2 Đặc điểm cơ cấu bộ máy hoạt động của công ty
2.1.2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy hoạt động của công ty
2.1.2.2 Chức năng của từng bộ phận
Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có quyền lực cao nhất công ty, quyết định những vấn đề tối quan trọng trong doanh nghiệp, có quyền bầu ra Hội đồng quản trị để điều hành công ty
Hội đồng quản trị của công ty là đơn vị trực tiếp lãnh đạo tất cả hoạt động của công ty, giám sát hoạt động của Ban giám đốc và các đơn vị khác Cụ thể quyền hạn của Hội đồng quản trị bao gồm: Quyết định kế hoạch, chiến lược sản xuất kinh doanh ,quyết định ngân sách, mức vốn trung và dài hạn, quyết định cơ cấu tổ chức công ty, quyết định chào bán cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoán chuyển đổi khác của
cả Công ty mẹ lẫn các công ty thành viên
Ban giám đốc là đơn vị điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty
Đại hội đồng cổ đông
Ủy ban nhân sự và lương thưởng
Ủy ban chính sách phát triển
Hội đồng tư vấn Văn phòng chủ tịch
Trang 33trên cơ sở tuân thủ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị
Ban kiểm soát có chức năng giám sát Hội đồng quản trị và ban giám đốc trong việc quản lý và điều hành công ty
Ủy ban nhân sự và tiền lương trực thuộc hội đồng quản trị, có chức năng chỉ đạo xây dựng khung chính sách và qui trình nhân sự cho cả công ty mẹ và các công ty thành viên, hỗ trợ Hội đồng quản trị ra các quyết định bổ nhiệm, bãi nhiệm các chức danh quản lý
Ủy ban chính sách và phát triển trực thuộc Hội đồng quản trị, chịu trách nhiệm
đề xuất định hướng phát triển lên Hội đồng quản trị, tham gia chỉ đạo và giám sát các vấn đề liên quan đến chính sách phát triển
Hội đồng tư vấn là đơn vị trực thuộc Hội đồng quản trị, có trách nhiệm tư vấn, kiến nghị cho Hội đồng các vấn đề về chiến lược phát triển dài hạn, bền vững, các vấn ddề trọng yếu của công ty về việc thiết lập và phát triển quan hệ chiến lược với các cơ quan chính quyền trong và ngoài nước, các đối tác nước ngoài, tư vấn các vấn đề về xây dựng và gìn giữ văn hóa công ty
Văn phòng Chủ tịch là đơn vị nắm vai trò thư ký, hỗ trợ cho Hội đồng quản trị
và Chủ tịch Hội đồng quản trị
2.1.3 Khái quát về ngành nghề kinh doanh của công ty
Các ngành nghề kinh doanh của Công ty cổ phần FPT bao gồm:
Dịch vụ Internet băng thông rộng
Dịch vụ kênh thuê riêng
Điện thoại cố định
Phân phối sản phẩm công nghệ thông tin và viễn thông
Sản xuất và lắp ráp máy tính
Dịch vụ tin học
Trang 34 Giải trí truyền hình
Lĩnh vực giáo dục-đào tạo
Đào tạo công nghệ
Dịch vụ tài chính-ngân hàng
Đầu tư phát triển hạ tầng và bất động sản
Nghiên cứu và phát triển Trong đó, Công ty cổ phần FPT đặt trọng tâm kinh doanh ở các lĩnh vực chính là: Công nghệ, Viễn thông, Phân phối và bán lẻ sản phẩm công nghệ và Giáo dục
Công nghệ luôn là công cụ chiến lược giúp các doanh nghiệp tạo lợi thế kinh doanh trên thị trường Công ty cổ phần FPT với đội ngũ gồm 12.219 kỹ sư và chuyên gia công nghệ là đơn vị hàng đầu tại Việt Nam, cung cấp các ứng dụng công nghệ để đổi mới sáng tạo hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp trong cả nước
Công ty cổ phần FPT hiện là 1 trong 3 đơn vị cung cấp dịch vụ viễn thông lớn nhất Việt Nam Hiện nay, tại thị trường trong nước, hạ tầng internet của Công ty FPT
đã phủ sóng ở 59/63 tỉnh thành Dung lượng băng thông quốc tế của FPT đạt tốc độ
280 Gbps, FPT cũng là thành viên của Tuyến cáp quang Liên lục địa Á Mỹ AAG (Asia – American Gateway), APG
Hiện nay, Công ty FPT đang là nhà phân phối và bán lẻ các sản phẩm công nghệ số một Việt Nam với 1500 đại lý phân phối tại khắp các tỉnh thành trong cả nước Đối tác của FPT gồm hơn 30 thương hiệu nổi tiếng trên thế giới như Asus, Acer, Apple, Dell, Microft,
Công ty cổ phần FPT luôn mong muốn đóng góp nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực Công nghệ thông tin cho Việt Nam Phương pháp giảng dạy và đào tạo của Trường đại học FPT áp dụng nhiều pương pháp quốc tế như liên kết sinh viên với doanh nghiệp, chú trọng kỹ năng ngoại ngữ, gắn đào tạo với thực tiễn
2.1.4 Phân tích SWOT của công ty
2.1.4.1 Điểm mạnh
Các lĩnh vực hoạt động của FPT như Viễn thông, công nghệ là những ngành yêu cầu vốn đầu tư lớn Vì rào cản gia nhập ngành là khá khó khăn, bởi vậy đối thủ cạnh tranh của Công ty cổ phần FPT là không nhiều
Trang 35Hiện nay, Công ty cổ phần FPT đang nắm giữ 9,1% cổ phần của ngân hàng TPBank, bởi vậy đòn bẩy tài chính của Công ty tăng lên đáng kể
Công ty FPT đang thúc đẩy nghiên cứu thị trường tự động hóa như:xe tự lái, ứng dụng công nghệ trong tài chính (Fintech) Đây là lĩnh vực có tiềm năng lớn mà chưa doanh nghiệp nào tại Việt Nam tham gia vào
2.1.4.2 Điểm yếu
Hiện nay, FPT đang gặp phải sự cạnh tranh gay gắt của Viettel và VNPT trong lĩnh vực internet cáp quang Bởi vậy mặc dù là doanh nghiệp tiên phong nhưng FPT đã dần bị Viettel vượt mặt
Chi phí quản lý doanh nghiệp của FPT đang ở mức khá cao Tại quý 1/2018, chi phí này đã tăng 11% so với cùng kỳ năm ngoái đến mức 770 tỷ đồng
Xét riêng trong lĩnh vực xuất khẩu phần mềm, FPT hiện vẫn chỉ tham gia trong vai trò gia công chứ chưa thể tự chủ về mặt công nghệ Trong lĩnh vực băng thông internet, chủ yếu thị phần của FPT nằm ở các thành phố lớn
Trang 362.2 Phân tích tình hình tài chính tại Công ty cổ phần FPT
2.2.1 Phân tích tài sản và nguồn vốn
2.2.1.1 Phân tích cơ cấu và diễn biến tài sản
Để phân tích cơ cấu và diễn biến tài sản của Công ty cổ phần FPT, cần dựa vào các số liệu được công bố trong các bản báo cáo tài chính trong giai đoạn 2016-2018 Số liệu trong báo cáo tài chính được tập hợp và xử lý thành các bảng dưới đây:
Bảng 2.1 Cơ cấu tài sản Công ty cổ phần FPT giai đoạn 2016-2018
IV Các khoản đầu tư tài chính dài hạn Đồng 826.327.509.802 1.783.369.007.284 2.202.466.649.730
V Tài sản dài hạn khác Đồng 1.106.341.813.359 871.868.027.531 1.350.211.370.859
(Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất của Công ty cổ phần FPT 2016-2018)
Trang 37Bảng 2.2 Diễn biến Cơ cấu tài sản theo số tuyệt đối Công ty cổ phần FPT giai
III Tài sản dở dang dài hạn -215.420.528.079 -26,74% 369.218.187.536 31,43%
IV Các khoản đầu tƣ tài chính dài hạn 957.041.497.482 53,66% 419.097.642.446 19,03%
V Tài sản dài hạn khác -234.473.785.828 -26,89% 478.343.343.328 35,43%
(Nguồn: Tác giả xử lý từ dữ liệu bảng 1)
Bảng 2.3 Diễn biến Cơ cấu tài sản theo tỷ trọng Công ty cổ phần FPT giai đoạn
Trang 38III Tài sản dở dang dài hạn 3,42% 3,22% 3,95% -0,20% 0,73%
IV Các khoản đầu tư tài chính dài hạn 2,77% 7,13% 7,40%
4,36% 0,27%
V Tài sản dài hạn khác 3,71% 3,49% 4,54% -0,22% 1,05%
(Nguồn: Tác giả xử lý từ dữ liệu bảng 1)
Qua các bảng số liệu nêu trên có thể thấy tình hình tài sản của Công ty cổ phần FPT biến động như sau:
Tổng tài sản năm 2017 so với năm 2016 giảm 4.833.584 triệu đồng tương đương với 16,2 % nguyên nhân dẫn đến việc tổng tài sản tăng giảm là do: Trong năm
2017, công ty cổ phần FPT có một biến động lớn đó là quyết định tách hoạt động phân phối và bán lẻ ra khỏi công ty, đồng nghĩa với việc FPT Retail và FPT Trading (sau đổi tên thành Synnex FPT) không còn thuộc sở hữu của Công ty cổ phần FPT nữa (FPT giảm tỷ lệ sở hữu ở hai công ty này xuống mức dưới 50% và hai công ty này trở thành công ty liên kết chứ không còn là công ty con nữa) Do vậy tổng giá trị tài sản của FPT không còn hợp nhất với 2 công ty trên nên có sự sụt giảm lớn ở giá trị tổng tài sản trong Báo cáo tài chính tính đến 31/12/2017 Xét về cơ cấu, trong năm 2017, Các khoản phải thu ngắn hạn(24,61%) và Tài sản cố định(20,99%) chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản Trong khối lượng tổng tài sản giảm đi, giảm nhiều nhất là Tiền và
Trang 39các khoản tương đương tiền và hàng tồn kho Nhưng đến năm 2018 tổng tài sản đã tăng 4.757.390 triệu đồng tương đương 19,03%, chứng tỏ hoạt động kinh doanh của công ty sau khi 2 công ty FPT Retail và FPT Trading tách ra vẫn tiến triển tốt và có sự tăng trưởng ổn định Trong năm 2018, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản là Các khoản phải thu ngắn hạn(21,6%) và Tài sản cố định(21,89%) Trong lượng tài sản tăng lên, Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn và Tài sản cố định tăng lên nhiều nhất
Cụ thể sự biến động như sau:
Tài sản ngắn hạn: Năm 2017 so với năm 2016 tài sản ngắn hạn giảm 5.848.725 triệu đồng tương ứng với mức giảm 16.7% trong khi đó tài sản ngắn hạn năm 2018 so với 2017 lại tăng 2.346.149 triệu đồng tương ứng với tăng 14,61% Tỷ trọng của tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản trong vòng 3 năm có xu hướng giảm dần
Tiền và các khoản tương đương tiền năm 2017 giảm 2.532.701 triệu đồng tương ứng với mức giảm 42,12% Lượng tiền mặt của FPT giảm mạnh nguyên nhân chính cũng là bởi việc thoái vốn trong 2 công ty chuyên về mảng phân phối và bán lẻ Nhưng sang năm 2018 thì lượng tiền mặt tại quỹ tăng lên 445.067 triệu đồng tương ứng với
tỷ lệ tăng 12,79% nhờ dòng tiền từ hoạt động kinh doanh tăng trưởng mạnh Tỷ trọng của khoản mục này trên tổng tài sản trong năm 2017 sụt giảm so với năm 2016 và đến năm 2018 thì tỷ trọng này giữ nguyên ở mức trong năm 2017
Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn vẫn tăng lên theo từng năm Năm 2017, tăng 907.358.926.336 VNĐ tương đương với 26,13% so với năm trước Năm 2018 tăng 1.189.177.515.064 VNĐ tương đương với 27,15 % so với năm 2017 Tỷ trọng các khoản mục đầu tư tài chính vẫn tiếp tục tăng qua từng năm bởi FPT luôn tăng cường đầu tư vào các công ty liên kết và các đơn vị khác
Khoản phải thu ngắn hạn năm 2017 so với năm 2016 giảm 488.353 triệu đồng tương ứng với 7,35% Nhưng năm 2018, khoản phải thu ngắn hạn đã tăng lên 275.163 triệu đồng so với năm 2017, tương ứng tăng 4,47% Tỷ trọng các khoản phải thu trên tổng tài sản năm 2017 tăng lên so với năm 2016 nhưng đã giảm đi ở năm 2018 Lí do
là bởi FPT đã thoái vốn trong công ty chuyên về mảng bán lẻ (với lĩnh vực bán lẻ thì
số nợ phải thu thường thấp hơn so với các ngành sản xuất bởi hàng bán ra thu được tiền ngay) Ngoài ra, nguyên nhân cũng có thể đến từ phương thức tiêu thụ, chính sách
Trang 40tín dụng bán hàng, chính sách thanh toán tiền hàng cũng như khả năng quản lý nợ chưa thực sự hoàn thiện (thể hiện ở việc giá trị các khoản nợ xấu tăng thêm theo từng năm
từ 2016-2018,tuy nhiên tỷ trọng các khoản nợ xấu trong các khoản phải thu không cao nên năm 2018, tỷ trọng các khoản phải thu trên tổng tài sản vẫn giảm)14
Hàng tồn kho năm 2017 giảm 3.533.596 triệu đồng, tương ứng với mức giảm 81,6% so với năm 2016 Lượng hàng tồn kho giảm mạnh cũng là bởi lượng hàng tồn kho của FPT Retail và FPT Trading (2 công ty phân phối và bán lẻ, nắm giữ phần lơn lượng hàng tồn kho của cả Công ty) không còn được tính trong Báo cáo tài chính năm
2017 Năm 2018 hàng tồn kho tăng 320.474 triệu đồng tương ứng với tăng 31.41%
Lượng hàng tồn kho tăng chủ yếu là do một số thiết bị hạ tầng viễn thông cũ, nay không còn được sử dụng do chuyển đổi sang hạ tầng quang, nên số thiết bị này được phân loại vào hàng tồn kho chờ thanh lý Bởi vậy, tỷ trọng hàng tồn kho trên tổng tài sản ở năm 2017 đã giảm nhiều so với năm 2016 và đến năm 2018, tỷ số này đã tăng nhẹ Ngoài ra, sự biến đổi của lượng hàng tồn kho theo từng năm còn phụ thuộc vào chính sách dự trữ cũng như hệ thống cung cấp của công ty
Năm 2017 tài sản ngắn hạn khác giảm 201.432 triệu đồng, tương ứng với mức 16,39% so với năm 2016 Năm 2018 khoản tài sản ngắn hạn khác tăng 116.265 triệu đồng tương ứng với mức 11,31% so với năm 2017 Tỷ trọng của tài sản ngắn hạn khác
so với tổng tài sản giảm theo từng năm nhưng không đáng kể
Tài sản dài hạn Qua bảng phân tích biến động tài sản ta thấy quy mô của tài sản dài hạn tăng lên chủ yếu là do tăng về tài sản cố định và các khoản đầu tư tài chính dài hạn Mức tăng tài sản cố định lần lượt là 657.301 triệu đồng vào năm 2017 tương ứng với 14,32% so với năm 2016 và 1.266.450 triệu đồng vào năm 2018 tướng ứng với 24,14% so với năm 2017 Nguyên nhân của sự tăng trưởng này là bởi trong giai đoạn này nhiều hạng mục đầu tư cơ bản của Công ty FPT được hoàn thành như: FPT Tower, Khu tổ hợp đại học và công viên phần mềm FPT tại Cần Thơ, Công ty tiếp tục đầu tư mạnh cả chiều sâu lẫn chiều rộng vào các công ty con và công ty liên kết và đạt những thành tựu như:
14 Năm 2016, tổng các khoản phải thu khó đòi đạt mức 254.137 triệu đồng, năm 2017 là 300.520 triệu đồng và
2018 là 387.028 triệu đồng (Nguồn: Thuyết minh báo các tài chính hợp nhất CTCP FPT năm 2016-2018)