1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giải bài tập Vật lý 6

23 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giải bài tập Vật lý 6
Trường học Trường Trung Học Cơ Sở [Tên Trường], [Địa Chỉ], Việt Nam
Chuyên ngành Vật Lý
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 245,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh hướng dẫn học sinh phương pháp giải thích một số hiện tượng thường gặp trong thực tế, giáo viên cần phải hướng dẫn học sinh phương pháp giải bài tập vật lí.. Dạy giải bài tập vậ

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 4

1 Cơ sở lý luận 4

2.Cơ sở thực tiễn 4

3 Trình tự giải bài tập vật lý 5

3.1 Tìm hiểu kỹ đề bài 6

3.2 Xác lập được mối liên hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm 6

3.3 Phân tích nội dung bài tập, lập kế hoạch giải 6

3.4.Thực hiện kế hoạch giải 7

3.5.Kiểm tra, xác nhận kết quả 7

4 Hai phương pháp suy luận để giải bài tập vật lý 11

4.1 Giải bài tập bằng phương pháp phân tích 11

4.2 Giải bài tập bằng phương pháp tổng hợp 15

5 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 19

6 Bài học kinh nghiệm 20

7.Hướng phổ biến áp dụng đề tài 20

PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO 22

Trang 2

PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lí do chọn đề tài:

Trong việc nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng bộ môn nói riêng Việc cải tiến phương pháp dạy học là một nhân tố quan trọng, bên cạnh việc bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, việc phát huy tính tích cực của học sinh rất cần thiết Quá trình dạy học là công việc giáo dục phải được tiến hành trên cơ

sở tự nhận thức, tự hành động, việc khơi dậy phát triển ý thức năng lực tư duy, bồi dưỡng phương pháp tự học là con đường phát triển tối ưu của giáo dục Cũng như trong học tập các bộ môn khác, học Vật lí lại càng cần phát triển năng lực tích cực, năng lực tư duy của học sinh Bởi vì học không phải chỉ biết mà còn phải hiểu để giải thích hiện tượng vật lí

Môn Vật lí có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của trường THCS, cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức vật lí cơ bản, bước đầu hình thành ở học sinh những kỹ năng và thói quen làm việc khoa học

Việc dạy môn Vật lí trong nhà trường phổ thông rất quan trọng vì kiến thức vật lí được vận dụng rất nhiều trong cuộc sống Bên cạnh hướng dẫn học sinh phương pháp giải thích một số hiện tượng thường gặp trong thực tế, giáo viên cần phải hướng dẫn học sinh phương pháp giải bài tập vật lí Thông qua việc giải bài tập giúp học sinh củng cố, đào sâu, mở rộng, hoàn thiện kiến thức lí thuyết

Giải bài tập vật lí đòi hỏi học sinh hoạt động tích cực, tự lập và sáng tạo Vì vậy, học Vật lí có tác dụng tốt cho sự phát triển tư duy của học sinh

Dạy giải bài tập vật lí là công việc khó khăn, giáo viên tổ chức hướng dẫn hoạt động trí tuệ của học sinh Do đó, mỗi giáo viên phải lựa chọn một phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh lớp mình phụ trách giảng dạy Muốn học sinh học tốt môn Vật lí thì giáo viên phải có phương pháp dạy tốt kích thích được khả năng hứng thú của học sinh giúp từng bước nâng cao chất lượng bộ môn

Vừa qua cùng với sự đổi mới phương pháp dạy học chung của ngành giáo dục, bản thân cũng tự kiểm tra, tổng kết tình hình dạy học bộ môn Vật lí, cùng với việc tiếp thu các chuyên đề, thấy được tác dụng giáo dưỡng và giáo dục rất lớn đối với học sinh khi giải bài tập vật lí Từ đó vận dụng vào quá trình giảng dạy, tôi thấy hiệu quả hơn so với trước đây, chất lượng học sinh được nâng cao

rõ rệt

Xuất phát từ những lí do trên, tôi quyết định chọn đề tài: “ Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giải bài tập Vật Lý 6” nhằm giúp học sinh nắm chắc được kiến thức cơ bản, mở rộng và hiểu sâu kiến thức, góp phần nâng cao được chất lượng bộ môn Vật lí và biết vận dụng vào thực tế

Trang 3

2 Mục đích nghiên cứu:

- Nghiên cứu và áp dụng đề tài vào thực tiễn dạy và học nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh trong quá trình giải bài tập vật lý

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:

- Các bài tập Vật lí 6 cơ bản và nâng cao

- Học sinh lớp 6 trường THCS

4 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Để đạt được mục đích nghiên cứu, tôi đã đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ

thể như sau:

+ Nghiên cứu về phương pháp giải bài tập vật lý 6 cho học sinh

+ Phân tích lý do thực hiện đề tài “ Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giải bài tập Vật Lý 6”

+ Tiến hành thực nghiệm sư phạm theo nội dung và tiến trình đã soạn thảo Phân tích kết quả thực nghiệm để đánh giá tính hiệu quả đề tài

5 Phương pháp nghiên cứu:

Để thực hiện các nhiệm vụ trên, tôi sử dụng phối hợp các phương pháp:

- Nghiên cứu lí luận:

+ Nghiên cứu tài liệu về phương pháp giải bài tập vật lý ở trường trung học cơ sở

+ Sách giáo khoa môn Vật lí và một số môn khác có liên quan

- Nghiên cứu thực tiễn:

+ Tìm hiểu tình hình giải bài tập Vật lí 6

(sử dụng phiếu điều tra, trao đổi trực tiếp với giáo viên, học sinh; dự giờ môn Vật lí để quan sát hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học của học sinh

để thu thập những làm rõ cơ sở lí luận của đề tài)

- Vận dụng lí luận vào tổ chức hoạt động giải bài tậpVật lí 6

Trang 4

PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Cơ sở lý luận:

Căn cứ Quyết định số 16/2006/QĐ-BGD &ĐT ngày 5/6/2006 của Bộ trưởng

Bộ giáo dục và đào tạo đã nêu “Phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh” Do đó giáo viên có nhiệm vụ quan trọng, tạo niềm vui hứng thú, tìm tòi, khám phá, phát hiện và xử lí thông tin, tự hình thành tri thức mới Giáo viên còn là người tổ chức các hoạt động nhận thức cho học sinh, dạy cho học sinh tìm ra chân lí, hình thành các năng lực tự học sáng tạo, hợp tác và học để đáp ứng cho nhu cầu cuộc sống, hiện tại, tương lai đem lại sự cần thiết bổ ích cho bản thân và cho sự phát triển của xã hội

Hướng dẫn học sinh phương pháp giải bài tập môn Vật lí 6 cũng nằm trong mục tiêu học tập đó Vì học Vật lí có ý nghĩa rất quan trọng trong việc củng cố, đào sâu, mở rộng, rèn luyện kiến thức lí thuyết và rèn luyện cho học sinh kỹ năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn

Các bài tập Vật lí 6 có nội dung rất phong phú, đa dạng Vì vậy phương pháp giải chúng cũng muôn hình, muôn vẻ, không thể nói có một phương pháp chung nhất, một phương pháp vạn năng có thể giải mọi bài tập vật lí Tuy nhiên, từ khả năng phân tích của giáo viên trong quá trình giải bài tập vật lí có thể chỉ ra những nét khái quát về các bước chung của tiến trình giải một bài tập vật lí Điều này sẽ có tác dụng định hướng đúng đắn phương pháp giải bài tập vật lí nói chung và bài tập Vật lí 6 nói riêng Giáo viên có thể kiểm tra hoạt động giải bài tập của học sinh và có thể hướng dẫn giúp đỡ các em giải bài tập đạt hiệu quả

2 Cơ sở thực tiễn:

-Học sinh vận dụng các kiến thức liên quan để giải bài tập còn hạn chế

-Học sinh tư duy còn chậm, thường gặp khó khăn trong việc giải các loại bài tập định lượng tính toán

-Khả năng trình bày cách giải một bài toán chưa đạt yêu cầu, chưa đảm bảo tính hệ thống của một bài giải hoàn chỉnh

- Mục đích của việc giải bài tập vật lí:

+ Giải bài tập vật lí trang bị kiến thức mới cho học sinh nhằm đảm bảo cho học sinh lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và vững chắc

Trang 5

+ Giải bài tập giúp học sinh rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức, liên

hệ lí thuyết với thực tế, học tập với đời sống

+ Giải bài tập là một phương tiện có tầm quan trọng trong việc rèn luyện

tư duy cho học sinh Bởi vì, giải bài tập là một hình thức làm việc cơ bản của học sinh Trong khi giải bài tập, học sinh phải phân tích điều kiện trong đề bài,

tự xây dựng những lập luận và tính toán Trong những điều kiện đó, tư duy sáng tạo của học sinh được phát triển, năng lực làm việc độc lập của học sinh được nâng cao

+Giải bài tập vật lí là một phương tiện ôn tập, củng cố kiến thức đã học một cách sinh động và có hiệu quả Khi giải bài tập đòi hỏi học sinh phải nhớ lại các công thức, các tính chất, các đặc điểm đã học, có khi phải vận dụng một cách tổng hợp các kiến thức đã học trong cả một chương và ghi nhớ vững chắc kiến thức đã học

+ Thông qua giải bài tập có thể rèn luyện cho học sinh những đức tính tốt như tinh thần tự lập, tính cẩn thận, tính kiên trì, tinh thần vượt khó

+Giải bài tập vật lí là phương tiện kiểm tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng của học sinh một cách chính xác

3.Trình tự giải bài tập vật lí:

Trong dạy học môn Vật lí, giáo viên phải lập kế hoạch cho từng tiết, từng bài cụ thể Có như vậy, giáo viên mới phát huy được khả năng của bài tập trong việc thực hiện những yêu cầu của dạy học môn Vật lí Do đó khi dạy Vật lí, giáo viên cần thực hiện các công việc sau:

- Lựa chọn các bài tập phù hợp với đối tượng học sinh của từng lớp học

- Lựa chọn các bài tập củng cố, bổ sung, hoàn thiện kiến thức lí thuyết đã học, cung cấp cho học sinh những hiểu biết về thực tế, kĩ thuật có liên quan đến kiến thức lí thuyết

- Lựa chọn bài tập cơ bản, điển hình nhằm từng bước hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức đã học để giải các bài tập cơ bản, hình thành phương pháp chung giải mỗi loại bài tập đó

- Lựa chọn, chuẩn bị các bài tập, đánh giá chất lượng của học sinh về từng kiến thức cụ thể, về từng phần của chương trình

- Sắp xếp các bài tập đã lựa chọn thành một hệ thống, định rõ kế hoạch và phương pháp sử dụng trong tiến trình dạy học

Xuất phát từ các công việc cụ thể nêu trên, hướng dẫn học sinh giải các bài tập Vật lí 6 cần thực hiện theo trình tự sau:

Trang 6

Các bài tập vật lí có nội dung rất phong phú, đa dạng Vì vậy phương pháp giải bài tập vật lí cũng muôn hình, muôn vẻ Tuy nhiên, giáo viên phân tích nội dung đề toán trong quá trình giải bài tập vật lí từ đó có thể chỉ ra được những nét khái quát về các bước chung của tiến trình giải bài tập vật lí Theo các bước chung của tiến trình giải bài tập, giáo viên có thể kiểm tra được hoạt động giải bài tập của học sinh và có thể hướng dẫn giúp đỡ học sinh giải bài tập có hiệu quả Nói chung, tiến trình giải bài tập vật lí được tiến hành theo các bước sau đây:

3.2 Xác lập được mối liên hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm

- Đối chiếu các dữ kiện đã cho và cái phải tìm, xem xét bản chất vật lí của tình huống đã cho để nhận ra các tính chất, các đặc điểm, các công thức lí thuyết có liên quan

- Xác lập được các mối liên hệ cụ thể của các dữ kiện đã cho và cái phải tìm -Lựa chọn được các mối liên hệ cơ bản, cho thấy sự liên hệ của cái phải tìm và cái đã cho từ đó rút ra kết luận của cái phải tìm

3.3 Phân tích nội dung bài tập, lập kế hoạch giải

- Tìm sự liên hệ giữa những cái chưa biết (ẩn) và những cái đã biết (dữ kiện)

- Nếu chưa tìm được trực tiếp các mối liên hệ ấy thì có thể phải suy luận, tính toán biến đổi, áp dụng một số công thức liên quan

- Xây dựng được một dự kiến về kế hoạch giải

Đối với những bài tập đơn giản thì khi vận dụng kiến thức vật lí vào điều kiện cụ thể của bài tập, ta có thể thấy ngay được mối liên hệ trực tiếp giữa cái phải tìm và những cái đã cho Chẳng hạn, ta có thể dẫn ra một công thức vật lí

mà trong đó có chứa đại lượng phải tìm cùng với các đại lượng khác đều là các đại lượng đã cho hoặc đã biết Nhưng với các bài tập phức tạp hơn thì không thể dẫn ra ngay được mối liên hệ trực tiếp với cái phải tìm và cái đã cho, mà phải dựa trên một số các mối liên hệ trong đó có chứa yếu tố phải tìm hoặc yếu tố đã cho cùng với các yếu tố khác chưa cho biết trong điều kiện của bài tập, rồi tiếp

Trang 7

tục luận giải để đi tới xác lập được mối liên hệ trực tiếp của cái phải tìm và cái

đã cho Trong sự biến đổi các mối liên hệ ban đầu để đi đến xác định được cái phải tìm, ta thấy được vai trò quan trọng của sự vận dụng, các kiến thức, kĩ năng

đã học Cùng với những kiến thức vật lí, nhiều bài tập phức tạp học sinh khó tìm cách giải Do đó, giáo viên vật lí cần hướng dẫn giúp đỡ học sinh lập kế hoạch giải cần thiết

Đối với những bài tập định tính, không cần tính toán phức tạp, nhưng cũng cần có sự suy luận logic Giáo viên cần phải giúp đỡ học sinh trong việc luận giải chặt chẽ từng bước để đi đến kết luận cuối cùng

3.4 Thực hiện kế hoạch giải

-Tôn trọng trình tự phải để thực hiện các chi tiết của dự kiến, nhất là khi gặp một bài tập phức tạp

-Thực hiện một cách cẩn thận các phép tính số học, đại số hoặc hình học Nên hướng dẫn học sinh làm quen dần với cách giải bằng chữ và chỉ thay giá trị bằng

số của các đại lượng trong biểu thức cuối cùng

- Khi tính toán bằng số, phải chú ý đảm bảo những trị số của kết quả đều có ý nghĩa

3.5 Kiểm tra, xác nhận kết quả

Để có thể xác nhận kết quả vừa tìm cần được kiểm tra lại việc giải theo một hoặc một số cách sau đây:

-Kiểm tra xem đã trả lời hết câu hỏi chưa

-Kiểm tra lại xem tính toán có đúng không

-Xem xét kết quả về ý nghĩa thực tế xem có phù hợp hay không

-Kiểm tra bằng thực nhgiệm xem có phù hợp không

-Giải bài tập theo cách khác xem có cho cùng kết quả không

Ví dụ minh họa các bước giải bài tập vật lí:

*Bài tập đơn giản:

+Bài tập định tính:

Ví dụ 1: Trong các sự vật và hiện tượng sau đây, hãy chỉ ra vật tác dụng lực và

kết quả mà lực đã gây ra cho vật bị nó tác dụng:

a)Nhà cửa, cây cối bị đổ, gãy sau cơn bão

Trang 8

b)Chiếc phao của cần câu cá đang nổi, bổng bị chìm xuống nước

c)Quả bóng đang rơi xuống chạm mặt đất rồi nảy lên

Hướng dẫn giải:

-Tìm hiểu đề bài:

Đề bài cho các sự vật, hiện tượng sau đây:

+Nhà cửa, cây cối bị đổ, gãy

+Chiếc phao cần câu cá

+Quả bóng đang rơi

-Xác lập mối liên hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm: các mối liên hệ cụ thể là

+Các loại lực tác dụng lên các sự vật và hiện tượng đã cho trên đề bài

+Kết quả mà lực tác dụng lên các sự vật và hiện tượng đó

Lực của gió tác dụng lên cây cối, nhà cửa

Lực của con cá tác dụng lên lưỡi câu

Lực của mặt đất tác dụng lên quả bóng

-Phân tích nội dung bài tập, lập kế hoạch giải: giáo viên có thể phân tích nội

dung từng sự vật, hiện tượng dựa theo sơ đồ sau:

+Gió tạo thành giông bão lực đẩy nhà cửa, cây cối nhà cửa, cây cối

Ví dụ 2: Khi đun nóng chất lỏng thì khối lượng riêng của chất lỏng tăng lên hay

giảm đi?

Hướng dẫn giải

-Tìm hiểu đề bài:

Trang 9

+Đề bài cho chất lỏng được nung nóng

+Hỏi: Khối lượng riêng của chất lỏng tăng hay giảm? Giải thích

-Xác định mối liên hệ:

+Khi đun nóng chất lỏng thì chất lỏng nở ra, thể tích chất lỏng tăng lên

+Áp dụng công thức D=m

V để trả lời câu hỏi đặt ra

-Lập kế hoạch và thực hiện giải:Áp dụng công thức tính khối lượng riêngD=m

V Khi đun nóng chất lỏng thì khối lượng chất lỏng không thay đổi còn thể tích của chất lỏng tăng vì vậy khối lượng riêng của chất lỏng giảm đi

-Xác lập mối liên hệ:Đề bài cho khối lượng, khối lượng riêng Muốn tính thể

tích của dầu hỏa cần áp dụng công thức tính khối lượng riêng D=m

V, sau đó suy

ra thể tích cần tìm V=m

D

-Lập kế hoạch và thực hiện giải:

Thể tích của dầu hỏa là

Trang 10

Tính 300C = ? 0F

370C = ? 0F

-Xây dựng mối liên hệ giữa cái đã cho và cái cần tìm:

+Áp dụng cách đổi từ nhiệt độ của nhiệt giai Xenciut sang nhiệt độ của nhiệt giai Farenhai

*Bài tập nâng cao:

Ví dụ: Biết 10dm3 cát có khối lượng 15kg

Trang 11

+Áp dụng công thức tính khối lượng riêng D=m

V để tính khối lượng riêng của cát ban đầu

+Áp dụng công thức tính trọng lượng riêngd=P

Vtừ đó suy ra P = d.V +Áp dụng công thức liên quan giữa khối lượng và trọng lượng P=10m

-Thực hiện các bước giải:

Khối lượng riêng của cát là:

4 Hai phương pháp suy luận để giải bài tập vật lí

Đối với các bài tập vật lí, khi giải các bài tập đòi hỏi học sinh phải áp dụng các bước giải vào trong giải bài tập, đảm bảo được tính hệ thống khi giải bài tập Ngoài ra khi giải bài tập, giáo viên cần hướng dẫn học sinh thực hiện một trong hai phương pháp sau đây:

4.1 Giải bài tập bằng phương pháp phân tích

Theo phương pháp này, xuất phát điểm từ suy luận đại lượng cần tìm Người giải phải tìm xem đại lượng chưa biết này có liên quan với những đại lượng vật

lí nào khác và một khi biết sự liên hệ này thì biểu diễn nó thành những công thức tương ứng Nếu một vế của công thức là đại lượng cần tìm còn vế kia chỉ gồm những dữ liệu của bài tập thì công thức ấy cho ra đáp số của bài tập Nếu

Ngày đăng: 22/10/2022, 04:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Luật Giáo dục, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2005
2. Vũ Quang( tổng chủ biên), Bùi Gia Thịnh (chủ biên), Nguyễn Phương Hồng (2007), Sách giáo khoa Vật Lí 6,Sách bài tập Vật lý 6 NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Phương Hồng (2007), Sách giáo khoa Vật Lí 6,Sách bài tập Vật lý 6
Tác giả: Vũ Quang( tổng chủ biên), Bùi Gia Thịnh (chủ biên), Nguyễn Phương Hồng
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2007
3. Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng, Phạm Xuân Quế (2002), Phương pháp dạy học Vật lí ở trường phổ thông. NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Vật lí ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng, Phạm Xuân Quế
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2002
4. Nguyễn Phúc Thuần (2007), Tôi đã dạy Vật lí 6 như thế nào?(NXB Đại học sư phạm) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi đã dạy Vật lí 6 như thế nào?(
Tác giả: Nguyễn Phúc Thuần
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm)
Năm: 2007
5. Phạm Hữu Tòng (2007), Dạy học Vật lí ở trường phổ thông theo định hướng phát triển hoạt động học tích cực, tự chủ, sáng tạo và tư duy khoa học Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w