1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chương 5 THÍ NGHIỆM VỀ ĐỘ ÊM DỊU CHUYỂN ĐỘNG VÀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ CƠ BẢN CỦA HỆ DAO ĐỘNG Ô TÔ

44 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thí Nghiệm Về Độ Êm Dịu Chuyển Động Và Phương Pháp Xác Định Các Thông Số Cơ Bản Của Hệ Dao Động Ô Tô
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 3,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

74 Chương 5 THÍ NGHIỆM VỀ ĐỘ ÊM DỊU CHUYỂN ĐỘNG VÀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ CƠ BẢN CỦA HỆ DAO ĐỘNG Ô TÔ 5 1 THÍ NGHIỆM VỀ ĐỘ ÊM DỊU CHUYỂN ĐỘNG CỦA Ô TÔ Độ êm dịu chuyển động của ô tô xác địn.

Trang 1

74

Chương 5 THÍ NGHIỆM VỀ ĐỘ ÊM DỊU CHUYỂN ĐỘNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG

SỐ CƠ BẢN CỦA HỆ DAO ĐỘNG Ô TÔ

5.1 THÍ NGHIỆM VỀ ĐỘ ÊM DỊU CHUYỂN ĐỘNG CỦA Ô TÔ

Độ êm dịu chuyển động của ô tô xác định tính tiện nghi (comfort) chung của nó tức là đảm bảo sự êm dịu cho hành khách và hàng hóa cũng như tốc độ yêu cầu khi chuyển động trên đường cứng với những lớp phủ mặt đường nhấp nhô khác nhau Thông số cơ bản đánh giá độ êm dịu chuyển động của ô tô là giá trị gia tốc bình phương trung bình RMS (Root Mean Square) σ [m/s2] hay tỷ lệ so với gia tốc trọng trường g (9.81 m/s2) và được xác định bằng các phương pháp đặc trưng của ô tô Giá trị của gia tốc bình phương trung bình được xác định theo công thức:

σ𝑧̈t = [1

𝑇 ∫ 𝑧̈t(t)dt 0𝑇 ]½Trong đó:

𝑧̈t(t) là biên độ gia tốc thẳng đứng biến thiên theo thời gian [s];

T [s] là khoảng thời gian đo

Trong các thí nghiệm kéo dài trong vòng 8 giờ ở các tần số dao động được cho là nhạy cảm với con người (từ 4 tới 8 Hz) thì các giá trị RMS tác động lên con người sẽ tạo nên các cảm giác:

- Dễ chịu: 0.1 m/s2

- Gây mệt mỏi: 0.315 m/s2

- Gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe: 0.63 m/s2

Cùng với gia tốc bình phương trung bình trong dịch chuyển thẳng đứng của thùng xe thì giá trị cực đại của gia tốc này 𝑍𝑇̈ cũng được xác định và là một thông số cần được hạn chế Giá trị gia tốc cực đại được xác định trên đường và ở tốc độ gây ra sự cộng hưởng của KLĐT và KLKĐT của ô tô Giá trị hạn chế của gia tốc này thường ở mức nhỏ hơn 0.5 m/s2 Điều kiện thí nghiệm cần được chuẩn bị như sau: Xe có chất lượng tốt, tải trọng đủ và bố trí hợp lý để tọa độ trọng tâm đúng như thiết kế, lốp xe được bơm đúng áp lực, các chi tiết của hệ thống treo phải được kiểm tra đúng quy định, thiết bị đo phải được gắn cứng vững trên xe

Trang 2

Thí nghiệm được tiến hành trên các nhóm đường như sau:

- Nhóm I: Đường bê tông nhựa trạng thái tốt (với độ nhấp nhô bình phương trung bình vào khoảng 0.7 - 1.2 cm)

- Nhóm II là mặt đường trải đá ở trạng thái trung bình (chiều cao bình phương trung bình của độ không phẳng vào khoảng 2.5 - 3.5 cm)

- Nhóm III là đường trải đá ở trạng thái xấu (chiều cao bình phương trung bình của nhấp nhô khoảng 2.5 - 3.5 cm)

Ô tô du lịch được thí nghiệm chỉ trên loại đường nhóm I và II Trên mỗi loại đường thí nghiệm được tiến hành ở ít nhất 3 tốc độ (theo quy định của tiêu chuẩn) Trong trường hợp xuất hiện cộng hưởng của KLĐT thì ta tính thêm chế độ tốc độ cộng hưởng này

Các cảm biến gia tốc thẳng đứng được đặt ở các vị trí sau:

Ở xe du lịch cảm biến được đặt ở vị trí bên trái phía trước và bên phải phía sau của các ghế ngồi

Ở xe buýt cảm biến đặt ở các ghế ngồi bên trái trên cầu trước, cầu sau và vị trí ghế người lái

Ở những xe tải thì cảm biến đặt ở giữa ghế ngồi của người lái Các số liệu thí nghiệm về gia tốc bình phương trung bình phải được gia công với sai số không lớn hơn 5% Kết quả các giá trị bình phương trung bình được vẽ lên đồ thị trong sự phụ thuộc vào tốc độ chuyển động

và tương ứng với từng loại đường Các xung gia tốc cực đại cũng được ghi nhận và lập thành bảng thống kê

5.2 XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ CƠ BẢN CỦA HỆ DAO ĐỘNG

Trong chương 3 và 4 chúng ta đã đề cập tới nhiều thông số cơ bản của hệ thống treo như tỷ số truyền cơ cấu hướng, tần số dao động riêng,

hệ số không chu kỳ riêng, mô men quán tính thu gọn của ô tô Đây là các thông số phụ thuộc vào cấu tạo của ô tô và có ảnh hưởng quan trọng tới dao động của xe Những quan hệ lý thuyết của các thông số này đã được

đề cập, nhưng việc xác định giá trị của chúng theo lý thuyết gặp nhiều khó khăn vì đối với một ô tô cụ thể khó có thể đo đạc các thông số riêng

lẻ như độ cứng lò xo, hệ số cản giảm chấn, khối lượng và mô men quán tính thùng xe, khối lượng và mô men quán tính cầu xe v.v Chính vì vậy các phương pháp tính toán dựa vào các thông số thực nghiệm dễ đo đạc

sẽ được giới thiệu trong chương này

Trang 3

5.2.2 Xác định hệ số không tuần hoàn ψ

Hình 5.2 Xung dao động tự do có giảm chấn

Trang 4

Với hệ một khối lượng dao động tự do có lực cản, bằng thiết bị đo dao động (dịch chuyển thẳng đứng Z của KLĐT) ta có thể vẽ được đồ thị như Hình 5.2

Trên đồ thị ta có thể xác định các biên độ dịch chuyển z1, z2, …zn Khi đó hệ số không tuần hoàn ψ có thể xác định bằng một trong các công thức sau:

5.2.3 Xác định tỷ số truyền cơ cấu hướng

Trong tính toán hệ thống treo cần phân biệt các khái niệm độ cứng

và hệ số cản giảm chấn của hệ thống treo và của các phần tử đàn hồi và giảm chấn Sự khác biệt giữa chúng liên quan tới tỷ số truyền động học

của cơ cấu hướng hệ thống treo Dưới đây giới thiệu phương pháp xác

định tỷ số truyền này của một cơ cấu hướng kiểu Mc.Pherson phổ biến trên xe du lịch

Hình 5.3 Cơ cấu hướng hệ thống treo Mc.Pherson

Trang 5

5.2.4 Xác định mô men quán tính khối lượng

Mô men quán tính thu gọn JT tg của ô tô là một thông số cấu tạo quan trọng liên quan tới tính độc lập hay phụ thuộc của dao động 2 cầu (tỷ số quán tính ρ2 / a.b) Trong chương 4 chúng ta đã có quan hệ xác định giá trị này, nó phụ thuộc vào khối lượng và mô men quán tính của thùng xe, khối lượng và mô men quán tính cầu xe cũng như một số thông

số kích thước và việc xác định bằng lý thuyết rất phức tạp Chính vì vậy giá trị mô men quán tính của xe thường được xác định bằng đo đạc thực nghiệm bằng cách đưa ô tô lên một thiết bị đo kiểu platform treo như sau:

Hình 5.4 Xác định mô men quán tính của giá treo I 0

Trang 6

Trước tiên ta xác định mô men quán tính của platform J 0 theo Hình 5.4 như sau:

Viết phương trình Eurler đối với điểm A, ta có:

∑ My = 0 suy ra: J0 𝜃̈ = - M.g.h1sinθ

Ta cũng có phương trình vi phân chuyển động:

J0 𝜃̈ + M.g.h1sinθ = 0, vì θ rất nhỏ nên sin θ = θ, khi đó:

J0 𝜃̈ + ωn2.θ = 0 với ωn = (Mgh1 /J0)1/2 được gọi là tần số riêng của chuyển động (lắc)

Chu kỳ lắc được xác định: Tn = 2π /ωn (giây) lại có thể đo được bằng thực nghiệm bằng cách xác định giá trị trung bình sau một số chu

kỳ lắc hoặc xác định bằng gia tốc kế

Cuối cùng chúng ta có thể xác định mô men quán tính của platform

J 0 đối với điểm A:

Hình 5.5 Xác định mô men quán tính của xe trong mặt phẳng dọc

Tiếp theo ta xác định moment quán tính khối lượng trong chuyển động xoay xung quanh trục Y đi qua trọng tâm C (với tọa độ đã biệt trước) như sau (Hình 5.5):

Trang 7

Khi chu kỳ dao động Tn = 2π/ωn, có thể xác định bằng thực nghiệm thì moment quán tính Iy có thể xác định theo công thức sau đây:

Jy = (Mh1 + mh2)gTn2/4π2

- J0 – mh22 [5.6]

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 5

1 Phương pháp chung khi tiến hành thí nghiệm xác định độ êm dịu

chuyển động của ô tô?

2 Phương pháp xác định tần số dao động riêng của hệ dao động, ý nghĩa

của tần số này?

3 Phương pháp xác định hệ số không tuần hoàn của hệ dao động tắt dần?

4 Phương pháp xác định tỷ số truyền của cơ cấu hướng hệ thống treo?

5 Phương pháp thực nghiệm xác định mô men quán tính thu gọn của ô

tô, ý nghĩa của mô men này?

Trang 8

Chương 6 DAO ĐỘNG TẦN SỐ CAO VÀ TIẾNG ỒN

Trong chương 4 chúng ta đã nghiên cứu dao động của xe trong vùng tần số thấp, nguồn kích thích khi đó chủ yếu là do độ không phẳng của mặt đường Dao động trong vùng tần số thấp như vậy chủ yếu gây ảnh hưởng tới con người (tính êm dịu) và khả năng bám giữa bánh xe và mặt đường, năng lượng dao động trong vùng này rất lớn do dịch chuyển của hai khối lượng rất lớn là KLĐT và KLKĐT, sự triệt tiêu năng lượng dao động này chủ yếu nhờ vào sự giảm chấn của hệ thống treo

Trong chương tiếp theo này chúng ta sẽ đề cập tới một số chi tiết dao động với tần số cao đó là lốp xe và thùng xe Trong dải tần số cao này năng lượng dao động được lan truyền và chủ yếu theo hai con đường: theo con đường kết cấu tạo ra sự rung động của xe và theo con đường âm học (acostic) tức là sóng dao động truyền vào không khí và tạo

ra tiếng ồn

Tiếng ồn của ô tô được chia thành hai phần: tiếng ồn bên ngoài phát thải ra môi trường xung quanh và tiếng ồn bên trong tác động ở không gian bên trong xe

Có nhiều cụm chi tiết phát ra tiếng ồn bên ngoài xe nhưng rõ nét nhất và cũng trong phạm vi của giáo trình chúng ta chỉ quan tâm tới dao động và tiếng ồn của lốp xe khi lăn trên đường

Tiếng ồn bên trong xe là do ảnh hưởng kích thích của dao động các cụm như động cơ và hệ thống truyền lực, nó là chỉ tiêu quan trọng liên quan tới tiện nghi và môi trường trong xe và vì thế được thảo luận trong chương này

6.1 DAO ĐỘNG VÀ TIẾNG ỒN CỦA LỐP

Trong chương này chúng ta đề cập tới 3 đặc tính của lốp, chúng có

ý nghĩa quan trọng khi nghiên cứu phát triển các mẫu xe mới Các đặc tính này là đặc tính dao động của vỏ lốp, lực và mô men xuất hiện khi lăn

do những sai lệch nào đó so với dạng lý tưởng và tiếng ồn khi lan truyền theo con đường âm học

Dao động riêng của vỏ lốp có tần số vào khoảng 35 - 40 Hz và chúng không ảnh hưởng gì tới độ êm dịu của xe nhưng chúng lại tạo ra

Trang 9

Tiếng ồn âm học xuất hiện khi lốp lăn ở tốc độ cao và là thành phần chủ yếu gây ra tiếng ồn bên ngoài khi xe chạy đối với tất cả các loại

xe (tiếng ồn này còn lớn hơn cả tiếng ồn gây ra do hệ thống truyền lực)

6.1.1 Dao động riêng của lốp

Lốp xe là một phần tử đàn hồi có độ cứng và khối lượng phân tán,

nó có thể dao động theo các hướng: hướng tâm, hướng ngang và hướng vòng (tiếp tuyến) Giống như một vật thể đàn hồi, lốp sẽ dao động khi

thay đổi trạng thái tĩnh Biên dạng dao động của lốp sẽ quy định bậc của

dao động: nếu biên dạng có 2 điểm cực đại và tương ứng với nó là 2

điểm cực tiểu thì ta nói lốp có dạng dao động bậc 2, nếu có 3 cực đại và 3 cực tiểu, ta nói lốp có dạng dao động bậc 3…

Trên Hình 6.1 chỉ ra các bậc dao động hướng tâm của lốp Rõ ràng rằng khi tăng tần số dao động thì bậc dao động của lốp tăng lên

Hình 6.1 Các bậc dao động hướng tâm của lốp

Trước tiên chúng ta quan tâm tới dao động hướng tâm (liên quan tới dao động của vòng lốp và sự co rút của profil ngang)

Trang 10

Các dạng dao động và tần số dao động riêng cũng có thể tính toán trong các trường hợp xác định với sai số không lớn so với các thực nghiệm dưới đây:

Khi chúng ta tác động (làm lệch) một cách có chu kỳ một vòng lốp không tải với một biên độ hằng số thì lốp sẽ bị biến dạng hướng tâm trên toàn bộ vòng lốp Trên Hình 6.2 chỉ ra các trường hợp ứng với các tần số kích thích khác nhau Vì ở chỗ tác dụng ngoại lực biên dạng dao động nói chung không liên tục nên các biên dạng thực tế nói chung khác với biên dạng lý tưởng được mô tả trên Hình 6.1 Các biên dạng trên Hình 6.2 a, b được vẽ ở các biên độ cực đại của biến dạng hướng tâm và nó xuất hiện một sự chậm pha là φr so với biên độ cực đại của tác động kích thích Giá trị của các góc chậm pha này cho trên hình vẽ

Bằng phương pháp như trên ta có thể xác định cả dạng dao động cũng như tần số riêng của dao động ở các tần số kích thích mà khi đó xảy

ra hiện tượng cộng hưởng Thí dụ các lốp 155-15 theo Hình 6.2 a, b sẽ cộng hưởng ở các tần số sau:

Khi lốp chịu tải hướng tâm thì sẽ có sự thay đổi cả về dạng dao động cũng như tần số dao động riêng so với Hình 6.2, tuy nhiên sự khác biệt này là nhỏ

Ở lốp xe lăn thì các mối quan hệ hơi phức tạp hơn do ảnh hưởng của các lực sinh ra do sự quay (lực ly tâm, lực Coriolis) tác dụng lên vỏ lốp

Ở lốp đứng yên không quay thì các nút dao động luôn luôn được kết tại các điểm xác định trên lốp Nếu như lốp quay và xảy ra dao động thì các nút dao động phải có liên hệ cứng với tâm bánh xe và vùng tiếp xúc giữa bánh xe và mặt đường - ở đây là một hệ tọa độ cứng nối với tâm bánh xe mà không thể kết lại tại một chỗ nào đó trên vòng lốp

Trang 11

6.1.2 Tiếng ồn khi lăn của lốp

Khi bánh xe lăn tiếng ồn âm học xuất hiện trong dải tần số từ 100 - 10.000 Hz Trong đó ở xe tải thì tần số cực đại trong khoảng 1000 Hz, ở

xe du lịch thì trong khoảng từ 100 - 1000 Hz Nguồn gây ra tiếng ồn chủ yếu như sau:

1 Ở một số lốp thì lớp vỏ cao su (tạo thành hoa lốp) khi lăn trên đường có thể tạo thành các “túi” trong đó có thể xuất hiện áp suất hoặc độ chân không khi lốp lăn Khi các túi này được mở ra lúc bánh xe lăn sẽ xuất hiện chênh lệch áp suất so với môi trường và tạo ra tiếng ồn Tần số cơ bản của loại tiếng ồn này phụ thuộc vào

số lượng các “túi” trên vòng lốp và tốc độ chuyển động của xe

2 Khi lốp lăn thì một phần nào đó trên vòng lốp tại vùng tiếp xúc sẽ tồn tại ứng suất nén và trượt Khi ra khỏi vùng tiếp xúc thì ứng suất này được giải phóng, điều này dẫn đến sự rung động cục bộ của

Trang 12

một phần hoa lốp và được truyền qua thành của lốp vào không khí tạo ra tiếng ồn Lực kéo và lực ngang càng lớn thì hiện tượng này càng rõ nét (khi quay vòng thường có tiếng “huýt gió”)

Từ hai nguyên lý cơ bản tạo ra tiếng ồn nói trên có thể dẫn ra các nguyên nhân làm gia tăng tiếng ồn khi chuyển động như sau:

- Tăng kích thước của lốp: Khi tăng kích thước lốp sẽ tăng khả năng tạo “túi” hoặc số lượng các “túi” sẽ tăng lên, ngoài ra tăng kích thước lốp sẽ làm tăng phần biến dạng củng như năng lượng biến dạng vì vậy làm gia tăng tiếng ồn

- Chế tạo hoa lốp có nhiều “túi” hoặc khuynh hướng tạo ra nhiều

“túi” khi chuyển động

- Tạo ra hoa lốp có răng ngang (dễ biến dạng dọc khi chuyển động thẳng và phanh) hoặc răng dọc (dễ biến dạng ngang khi quay vòng) Sự gia tăng biến dạng và trượt sẽ làm tăng tiếng ồn

- Tăng tốc độ chuyển động: Khi tăng tốc độ chuyển động làm cho tần suất xuất hiện các “túi” tăng lên, ngoài ra thời gian phục hồi biến dạng sẽ giảm đi khiến năng lượng biến dạng lan truyền lên thành lốp và tạo ra tiếng ồn

- Vật liệu lốp có biến dạng trễ nhỏ (khả năng tự giảm chấn trong lốp nhỏ): Biến dạng trễ là hiện tượng tạo ra nội ma sát bên trong lốp,

nó là thành phần của cản lăn và làm cho lốp nóng lên Như vậy biến dạng trễ lớn sẽ tiêu thụ nhiều năng lượng và làm giảm tiếng ồn

và ngược lại

- Khi tăng tải trọng hướng tâm ở cùng một áp suất lốp hoặc giảm áp suất lốp ở cùng một tải trọng: trường hợp này làm tăng biến dạng lốp cả theo hướng tiếp tuyến và hướng hướng tâm nên làm gia tăng tiếng ồn

Trên Hình 6.3 chỉ ra ảnh hưởng của dạng hoa lốp và tốc độ chuyển động của ô tô tới mức ồn ở lốp xe tải 1100 - 20 khi tải trọng là 20 kN Tiếng ồn sẽ tăng khi tăng tốc độ - điều này đúng với lý thuyết về âm học

là mức ồn sẽ tăng khi tăng nguồn gây tiếng ồn trong một đơn vị thời gian

Trang 13

Sự mòn của hoa lốp (Hình 6.4) thường làm tăng tiếng ồn chủ yếu

do sự tăng áp suất và độ chân không tại bề mặt giữa lốp và mặt đường, mặt khác là do sự tăng của ứng suất trượt trong các phần tử lốp và làm tăng tác dụng lực lên thân lốp Tuy nhiên khi sự mòn là đáng kể, thí dụ lốp mòn hết cỡ (không còn hoa lốp nữa) thì mức ồn lại giảm đi (chỉ số % chỉ mức độ mòn của hoa lốp)

Hình 6.4 Ảnh hưởng của sự mòn hoa lốp tới tiếng ồn

Trang 14

Ảnh hưởng tương tự như sự mòn là sự tồn tại của lớp nước trên mặt đường Trên đường ướt thì thường lốp ồn hơn

Sự gia tăng của tiếng ồn phụ thuộc nhiều vào lớp hoa lốp và độ nhám micro của mặt đường Lớp xương của vỏ lốp càng dầy, độ mấp mô mặt đường càng cao, nước càng dễ thoát ra khỏi vùng tiếp xúc thì tiếng

ồn sẽ giảm đi khi chuyển động trên đường ướt

Tăng tải trọng khi áp suất lốp không đổi sẽ làm tăng tiếng ồn (Hình 6.5, ứng với các lốp ở Hình 6.3)

Hình 6.5 Ảnh hưởng đến tiếng ồn của tải trọng hướng kính khi áp

Trang 15

Thùng xe chịu kích thích bởi dao động của động cơ, của bánh xe thông qua hệ thống treo, vùng tần số kích thích này rất rộng

Thông qua bánh xe và hệ thống treo kích thích từ mặt đường truyền lên thùng xe có tần số từ 0 tới 400 Hz, còn sự hoạt động của động cơ tạo

ra kích thích trong hệ thống treo của động cơ với tần số từ 10 Hz và thậm chí lên tới vài kHz Tần số của các lực kích thích thực tế bao phủ hết các tần số dao động riêng của thân xe

Tuy nhiên theo quan điểm dao động kết hợp với tiếng ồn chúng ta chỉ nghiên cứu trong dải tần số thấp với tần số nhỏ hơn 300 Hz, khi đó dao động sẽ ảnh hưởng tới cả độ êm dịu và tiếng ồn của thân xe

6.2.1 Dao động uốn và xoắn của thân xe liền khối

Các dạng và tần số dao động riêng của bộ khung thùng xe: Dao

động của thùng xe có thể coi là dao động của một vật thể tự do (đặc biệt

là khi hệ thống treo cứng) Giữa dao động của toàn bộ thùng xe và dao động của bộ khung của nó có một sự khác biệt nhất định

Bộ khung xe được hiểu là bộ phận trên đó có lắp ráp (bằng lông) các chi tiết khác như chắn bùn, dầm ngang, các cửa… nhưng không

bu-kể động cơ

Các dạng cơ bản và tần số dao động tự do của các dao động uốn thẳng đứng, uốn ngang, xoắn và dao động ngang của loại xe du lịch 4 cửa được chỉ ra trên Hình 6.7

Trang 16

Hình ảnh chi tiết hơn của các biên độ dao động cộng hưởng của nhóm ô tô du lịch với động cơ phía trước khi kích thích bởi lực thẳng đứng khoảng 200 N theo chu kỳ được cho trên Hình 6.8

Hình 6.7 Các dạng cơ bản của dao động thùng xe

Đối với các thùng xe du lịch kín thông thường thì hầu như không

có sự khác biệt nào về hình dạng riêng và cả tần số dao động riêng so với những điều đã chỉ ra ở trên, và vì thế có thể coi một cách điển hình là: tần

số riêng thấp nhất của dao động uốn thẳng đứng của khung thùng xe (2 góc) nằm trong khoảng 30 - 35 Hz, dao động xoắn (1 góc) trong khoảng

từ 25 - 30 Hz, dao động uốn ngang (2 góc) trong khoảng 35 - 40 Hz (chú

ý rằng đây là tần số ứng với tần số kích thích và xuất hiện xung cộng hưởng - Hình 6.9) Tần số dao động riêng lớn thường có ở ô tô có chiều dài cơ sở lớn

Hình 6.8 Các biên độ uốn thẳng đứng

và xoắn của thùng xe

Hình 6.9 Đặc tính biên độ dịch chuyển các điểm mép theo Hình 6.8

Trang 17

90

Ảnh hưởng của tần số riêng và dạng dao động thì rất khó phân biệt, ngược lại thì đặc tính biên độ của các thân xe riêng biệt khi lực kích thích tần số thấp thì có sự khác biệt rõ ràng do ảnh hưởng của độ cứng tuyệt đối cũng như sự giảm chấn kết cấu khác nhau

Tần số riêng và các dạng dao động của thùng xe có lắp đầy đủ thiết bị: Khi lắp ráp đầy đủ các bộ phận thì tất cả các tần số dao động

thấp nhất của thùng xe giảm tới 30% so với khung xương xe Điều này là

do các quan hệ liên kết giữa các bộ phận của thùng xe nhưng chủ yếu là

do xuất hiện các dao động không đối xứng rõ nét do ảnh hưởng của việc

bố trí không đối xứng các cụm chi tiết trên thùng xe

Tần số riêng của dao động uốn thẳng đứng xe du lịch vào khoảng

20 - 25 Hz, dao động xoắn vào khoảng 18 - 23 Hz, dao động uốn ngang khoảng 30 - 35 Hz

Các dạng dao động gần như bảo toàn theo Hình 6.7

Khả năng giảm chấn bên trong lớn hơn từ 2 tới 5 lần so với khung xương nhưng cực đại cộng hưởng lại không rõ ràng

Ở thùng xe có đầy đủ các bộ phận người ta cũng xác định được những dao động của các chi tiết riêng lẻ với tần số riêng khá thấp và nó không làm thay đổi đặc tính tần số thấp cơ sở của thùng xe nhưng lại liên quan tới hiện tượng cộng hưởng một cách rõ nét Thí dụ: dao động của tấm cản với tần số riêng khoảng 25 - 40 Hz, của ac-qui khoảng 40 - 50 Hz… Một bộ phận dao động rõ nét trên thùng xe là vô lăng với tần số dao động riêng khoảng 25 - 30 Hz Dao động này hầu như không ảnh hưởng gì tới dao động của thùng xe về tổng thể nhưng có thể tạo ra dao động của các đòn điều khiển lái

6.2.2 Dao động của thùng xe trong dải tần số từ 40 đến 300 Hz

Dạng và tần số dao động riêng của thùng xe: Trong dải tần số nói

trên (tức là dải tiếng ồn tần số thấp) thì tại thùng xe xuất hiện hàng loạt các dạng dao động riêng bậc cao, khi đó các bộ phận khác nhau của thùng xe sẽ đồng thời dao động với các cường độ khác nhau Nhưng quan trọng nhất trong số chúng là những rung động gây ra dao động của panel bao quanh không gian hành khách vì nó trực tiếp tạo ra sự thay đổi áp lực không khí và tạo ra tiếng ồn trong xe Dao động này liên kết với dao động của các đầu mút của thùng xe như được chỉ ra trên Hình 6.6 đối với trường hợp uốn thẳng đứng 3 góc, biểu thị điển hình của chúng là dao động “vòng” của thùng xe Dạng điển hình của các dao động thùng xe bao quanh không gian hành khách chỉ ra trên Hình 6.10 và 6.11 Các bậc dao động ở đây chủ yếu liên quan tới tổng số các góc theo đường vòng

Trang 18

của không gian hành khách (bậc dao động bằng một nửa tổng số góc) Trên Hình 6.10 thể hiện 1 dao động vòng bậc 2 còn trên Hình 6.11 là 3 dao động vòng bậc 3 và 1 dao động vòng bậc 4

Hình 6.10 Dao động vòng của các điểm mép của thùng xe

Trang 19

92

Hình 6.12 Sự phụ thuộc của dao động thùng xe với tiếng ồn bên trong xe

Các sóng được truyền đi ở các dạng khác nhau và các sóng phản xạ

từ các chỗ gãy sẽ cộng thêm theo kiểu vec-tơ và do đó làm xuất hiện sóng dừng

Sóng dừng: Khi sóng truyền trong môi trường không đồng nhất sẽ

xảy ra hiện tượng phản xạ, sóng phản xạ giao thoa với sóng truyền tới và tạo ra sự xen kẽ hay triệt tiêu nhau và tạo ra sóng dừng Như vậy sóng dừng là kết quả của sự giao thoa của hai hay nhiều sóng cùng truyền dọc theo môi trường tương đồng Dọc theo đường truyền sẽ có những điểm không chuyển động (biên độ không đổi) - gọi là các điểm nút của sóng dừng, các điểm chuyển động với biên độ lớn gọi là bụng sóng Nút và bụng sóng luôn xen sẽ nhau

Nếu như phần lớn các sóng xuất hiện cùng pha với nhau thì sẽ xảy

ra cộng hưởng kết cấu thân xe với tần số đã cho Có một số điểm của thùng xe khi đó lại ở trạng thái tĩnh và một số điểm khác lại có biên độ dao động cực đại Với một số lượng lớn các tần số riêng của thùng xe thì

số lượng các cộng hưởng này là đáng kể

Với dao động uốn của mỗi một panel như vậy sẽ tạo ra một khoảng không gian trong xe ở đó bao trùm các sóng, nếu giá trị trung bình của sóng âm thanh panel tới 200 Hz thì tỷ lệ với tốc độ dao động của panel, nếu trên 200 Hz thì tỷ lệ với gia tốc dao động của nó Các sóng âm phát

ra từ một panel có thể bị dội lại từ tấm panel khác và cộng thêm vào sóng phát ra đó Hiện tượng này làm tăng hiệu ứng dao động âm giống như sự cộng hưởng âm xảy ra bên trong khoang hành khách Theo quan điểm tiếp nhận chủ quan của tiếng ồn thì các điểm phía trên đầu hành khách 4

và 4’ có ý nghĩa quan trọng

Trang 20

Sự phản xạ sóng âm của các panel tự do sẽ dẫn đến một sự trao đổi năng lượng giữa phần cấu trúc của thùng xe với không khí Chừng nào

mà năng lượng của sóng áp suất được truyền dẫn tới kết cấu của thùng xe thì biên độ của sóng âm sẽ giảm đi nhưng biên độ dao động cơ học của các panel phản xạ lại tăng lên Như vậy việc ngăn chặn dao động cơ học của các panel lại có thể làm tăng tiếng ồn trong thùng xe Vấn đề quan trọng trong trường hợp này là các mối quan hệ về pha của dao động âm

và dao động panel kích thích bằng con đường cơ học

Mức độ của áp lực âm thanh không thể đánh giá theo dao động của các panel riêng biệt Thông thường mức áp lực này ở trong xe ở khoảng tần số đang xem xét thì phụ thuộc chủ yếu vào pha của dao động panel mui và sàn xe Nếu như các dao động này cùng pha (và cùng hướng đối với trục Z) thì mức áp suất âm học sẽ nhỏ nhất, nếu ngược pha thì sẽ là lớn nhất Điều này được mô tả trên Hình 6.13, ở đây bán kính vòng tròn biểu thị mức độ của áp lực tiếng ồn phía trên đầu hành khách khi dao động của mui và sàn xe cùng pha hoặc ngược pha

Cộng hưởng âm thanh bên trong thùng xe: Một cách tổng quát có

thể nói rằng sóng dừng có thể xuất hiện theo cả 3 hướng tọa độ, tuy nhiên sóng dừng theo hướng ngang rất hiếm khi xuất hiện

Hình 6.13 So sánh mức độ tiếng ồn phía trên đầu hành khách khi mui

và sàn xe dao động cùng pha và ngược pha

Những sóng dừng không đối xứng so với mặt phẳng tọa độ của xe (thí dụ dao động xoắn của thùng xe) có thể xuất hiện nhưng lại có một mức áp suất âm rất thấp Vì thế dạng chủ yếu của sóng dừng bên trong xe

là sóng dừng trong mặt phẳng dọc của hệ tọa độ xe Trên Hình 6.14 chỉ

ra các ví dụ điển hình của 3 bậc sóng dừng bên trong xe ô tô du lịch, kích thước các vòng tròn chỉ mức độ áp lực tiếng ồn, đường chấm chỉ các điểm nút của sóng dừng nơi đó mức tiếng ồn bằng không

Trang 21

94

Hình 6.14 Đặc tính tần số và dạng của dao động âm dừng bên trong

thùng xe ứng với 3 bậc đầu tiên

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 6

1 Phân tích các biên dạng dao động của lốp

2 Phân tích về tần số dao động riêng của lốp

3 Nêu bản chất vật lý làm phát sinh tiếng ồn của lốp xe khi lăn

4 Phân tích các yếu tố làm gia tăng tiếng ồn của lốp

5 Trình bày mối liên quan giữa tiếng ồn của lốp với các yêu cầu khác

của lốp xe như bám dọc, bám ngang, biến dạng dọc (tiếp tuyến) và biến dạng ngang

6 Các dạng và tần số dao động riêng của khung xe?

7 Các yếu tố tạo ra tiếng ồn và phân bố tiếng ồn bên trong thùng xe?

Trang 22

Chương 7 CÁC NGUỒN GÂY TIẾNG ỒN – MỨC ĐỘ

VÀ CÁC TIÊU CHUẨN TIẾNG ỒN

7.1 CÁC NGUỒN GÂY RA TIẾNG ỒN

Nguyên nhân gây ra những tiếng ồn, rung động và giật xóc hầu hết

xuất phát từ những cụm chi tiết riêng lẻ Những bộ phận có thể gây ra

một hay nhiều tiếng ồn, rung động và giật xóc là:

Ngày đăng: 22/10/2022, 01:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 5.3. Cơ cấu hướng hệ thống treo Mc.Pherson - Chương 5 THÍ NGHIỆM VỀ ĐỘ ÊM DỊU CHUYỂN ĐỘNG VÀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ CƠ BẢN CỦA HỆ DAO ĐỘNG Ô TÔ
Hình 5.3. Cơ cấu hướng hệ thống treo Mc.Pherson (Trang 4)
Với các thơng số kích thước như Hình 5.3 thì độ cứng và hệ số cản giảm chấn tương đương của hệ thống treo được tính: - Chương 5 THÍ NGHIỆM VỀ ĐỘ ÊM DỊU CHUYỂN ĐỘNG VÀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ CƠ BẢN CỦA HỆ DAO ĐỘNG Ô TÔ
i các thơng số kích thước như Hình 5.3 thì độ cứng và hệ số cản giảm chấn tương đương của hệ thống treo được tính: (Trang 5)
Trước tiên ta xác định mơ men qn tính của platform J0 theo Hình 5.4 như sau: - Chương 5 THÍ NGHIỆM VỀ ĐỘ ÊM DỊU CHUYỂN ĐỘNG VÀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ CƠ BẢN CỦA HỆ DAO ĐỘNG Ô TÔ
r ước tiên ta xác định mơ men qn tính của platform J0 theo Hình 5.4 như sau: (Trang 6)
Trên Hình 6.1 chỉ ra các bậc dao động hướng tâm của lốp. Rõ ràng rằng khi tăng tần số dao động thì bậc dao động của lốp tăng lên - Chương 5 THÍ NGHIỆM VỀ ĐỘ ÊM DỊU CHUYỂN ĐỘNG VÀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ CƠ BẢN CỦA HỆ DAO ĐỘNG Ô TÔ
r ên Hình 6.1 chỉ ra các bậc dao động hướng tâm của lốp. Rõ ràng rằng khi tăng tần số dao động thì bậc dao động của lốp tăng lên (Trang 9)
Hình 6.2. Các dạng dao động của vịng lốp khi kích thích một phần nhỏ của vòng lốp bằng máy tạo dao động với dịch chuyển hằng số và - Chương 5 THÍ NGHIỆM VỀ ĐỘ ÊM DỊU CHUYỂN ĐỘNG VÀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ CƠ BẢN CỦA HỆ DAO ĐỘNG Ô TÔ
Hình 6.2. Các dạng dao động của vịng lốp khi kích thích một phần nhỏ của vòng lốp bằng máy tạo dao động với dịch chuyển hằng số và (Trang 11)
Sự mòn của hoa lốp (Hình 6.4) thường làm tăng tiếng ồn chủ yếu do sự tăng áp suất và độ chân không tại bề mặt giữa lốp và mặt đường,  mặt khác là do sự tăng của ứng suất trượt trong các phần tử lốp và làm  tăng tác dụng lực lên thân lốp - Chương 5 THÍ NGHIỆM VỀ ĐỘ ÊM DỊU CHUYỂN ĐỘNG VÀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ CƠ BẢN CỦA HỆ DAO ĐỘNG Ô TÔ
m òn của hoa lốp (Hình 6.4) thường làm tăng tiếng ồn chủ yếu do sự tăng áp suất và độ chân không tại bề mặt giữa lốp và mặt đường, mặt khác là do sự tăng của ứng suất trượt trong các phần tử lốp và làm tăng tác dụng lực lên thân lốp (Trang 13)
Hình 6.3. Ảnh hưởng của hình dạng hoa lốp tới mức độ ồn của lốp xe tải - Chương 5 THÍ NGHIỆM VỀ ĐỘ ÊM DỊU CHUYỂN ĐỘNG VÀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ CƠ BẢN CỦA HỆ DAO ĐỘNG Ô TÔ
Hình 6.3. Ảnh hưởng của hình dạng hoa lốp tới mức độ ồn của lốp xe tải (Trang 13)
Tăng tải trọng khi áp suất lốp không đổi sẽ làm tăng tiếng ồn (Hình 6.5, ứng với các lốp ở Hình 6.3) - Chương 5 THÍ NGHIỆM VỀ ĐỘ ÊM DỊU CHUYỂN ĐỘNG VÀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ CƠ BẢN CỦA HỆ DAO ĐỘNG Ô TÔ
ng tải trọng khi áp suất lốp không đổi sẽ làm tăng tiếng ồn (Hình 6.5, ứng với các lốp ở Hình 6.3) (Trang 14)
Hình 6.5. Ảnh hưởng đến tiếng ồn của tải trọng hướng kính khi áp suất lốp hằng số - Chương 5 THÍ NGHIỆM VỀ ĐỘ ÊM DỊU CHUYỂN ĐỘNG VÀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ CƠ BẢN CỦA HỆ DAO ĐỘNG Ô TÔ
Hình 6.5. Ảnh hưởng đến tiếng ồn của tải trọng hướng kính khi áp suất lốp hằng số (Trang 14)
Hình 6.10. Dao động vòng của các điểm mép của thùng xe - Chương 5 THÍ NGHIỆM VỀ ĐỘ ÊM DỊU CHUYỂN ĐỘNG VÀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ CƠ BẢN CỦA HỆ DAO ĐỘNG Ô TÔ
Hình 6.10. Dao động vòng của các điểm mép của thùng xe (Trang 18)
Hình 6.11. Dao động “vịng” của thùng xe - Chương 5 THÍ NGHIỆM VỀ ĐỘ ÊM DỊU CHUYỂN ĐỘNG VÀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ CƠ BẢN CỦA HỆ DAO ĐỘNG Ô TÔ
Hình 6.11. Dao động “vịng” của thùng xe (Trang 18)
Hình 6.12. Sự phụ thuộc của dao động thùng xe với tiếng ồn bên trong xe - Chương 5 THÍ NGHIỆM VỀ ĐỘ ÊM DỊU CHUYỂN ĐỘNG VÀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ CƠ BẢN CỦA HỆ DAO ĐỘNG Ô TÔ
Hình 6.12. Sự phụ thuộc của dao động thùng xe với tiếng ồn bên trong xe (Trang 19)
Hình 6.14. Đặc tính tần số và dạng của dao động âm dừng bên trong thùng xe ứng với 3 bậc đầu tiên - Chương 5 THÍ NGHIỆM VỀ ĐỘ ÊM DỊU CHUYỂN ĐỘNG VÀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ CƠ BẢN CỦA HỆ DAO ĐỘNG Ô TÔ
Hình 6.14. Đặc tính tần số và dạng của dao động âm dừng bên trong thùng xe ứng với 3 bậc đầu tiên (Trang 21)
Hình 7.1. Biểu thị các bộ phận có thể gây ra tiếng ồn trên xe - Chương 5 THÍ NGHIỆM VỀ ĐỘ ÊM DỊU CHUYỂN ĐỘNG VÀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ CƠ BẢN CỦA HỆ DAO ĐỘNG Ô TÔ
Hình 7.1. Biểu thị các bộ phận có thể gây ra tiếng ồn trên xe (Trang 23)
Hình 7.2. Biểu thị tiếng ồn do sự cháy - Chương 5 THÍ NGHIỆM VỀ ĐỘ ÊM DỊU CHUYỂN ĐỘNG VÀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ CƠ BẢN CỦA HỆ DAO ĐỘNG Ô TÔ
Hình 7.2. Biểu thị tiếng ồn do sự cháy (Trang 24)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w