1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chương IV HIỆN THỰC HÓA LÝ LUẬN CỦA KARL MARX VÀ FRIEDRICH ENGELS, V I LÊNIN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

57 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiện Thực Hóa Lý Luận Của Karl Marx Và Friedrich Engels, V.I. Lênin Về Chủ Nghĩa Xã Hội
Tác giả Karl Marx, Friedrich Engels, V.I. Lênin
Trường học Không có thông tin
Chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 1917
Thành phố Liên Xô
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 770,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

62 Chương IV HIỆN THỰC HÓA LÝ LUẬN CỦA KARL MARX VÀ FRIEDRICH ENGELS, V I LÊNIN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI I Hiện thực hóa lý luận chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô 1 Cách mạng tháng Mười Nga thành công, lý luận.. Chương IV HIỆN THỰC HÓA LÝ LUẬN CỦA KARL MARX VÀ FRIEDRICH ENGELS, V I LÊNIN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Trang 1

Chương IV: HIỆN THỰC HÓA LÝ LUẬN CỦA KARL MARX

VÀ FRIEDRICH ENGELS, V.I.LÊNIN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

I Hiện thực hóa lý luận chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô

1 Cách mạng tháng Mười Nga thành công, lý luận về chủ nghĩa xã hội trở thành hiện thực đầu tiên ở Liên Xô

Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra và kéo dài 4 năm (1914-1918) không chỉ đánh dấu chấm dứt thời kì phát triển tương đối hoà bình của chủ nghĩa tư bản mà còn chứng tỏ những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản đã bộc lộ rất sâu sắc Những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản đã làm xuất hiện tình thế cách mạng ở nhiều nước tư bản trong đó có nước Nga Ở Nga từ sau cải cách nông

nô (1861), kinh tế tư bản chủ nghĩa đã phát triển nhưng về chính trị chế độ chuyên chế phong kiến đang tồn tại Nước Nga cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ

XX không chỉ đứng trước cuộc cách mạng dân chủ tư sản, mà còn đang đứng trước cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa

Ngay từ 1905, khi viết tác phẩm Hai sách lược của đảng dân chủ xã hội trong cuộc cách mạng dân chủ, VI.Lênin đã phát triển tư tưởng cách mạng không ngừng của K.Marx và F.Engels, chuẩn bị về tư tưởng lý luận cho giai cấp công nhân Nga, Ông cũng đã làm rõ sự phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản khiến cho cách mạng xã hội chủ nghĩa có thể thắng lợi ở một nước hoặc vài nước, nơi đó không nhất thiết phải là nơi chủ nghĩa tư bản phát

triển cao nhất, và đặt ra nhiệm vụ cho giai cấp công nhân “biến chiến tranh đế

quốc thành nội chiến cách mạng”

Trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Nga là nước tham chiến và trở thành nơi tập trung mâu thuẫn, là khâu yếu nhất trong sợi dây của chủ nghĩa

đế quốc Sau ba năm chiến tranh nhân dân Nga đứng trước sự lựa chọn hoặc

là tiếp tục chết ngoài chiến trường bởi cuộc chiến tranh vô nghĩa, sống trong cảnh đói nghèo kiệt quệ, hoặc phải đứng lên làm cách mạng

Trang 2

Tháng 2 năm 1917, nhân dân Nga đã tiến hành cuộc cách mạng lật đổ chế độ chuyên chế Nga hoàng, chính phủ lâm thời được thành lập nhưng đó là chính phủ của giai cấp tư sản và tiếp tục theo đuổi chiến tranh Những mâu thuẫn cơ bản của xã hội Nga vẫn chưa được giải quyết, sau cách mạng tháng Hai nước Nga đang ở “đêm trước của cách mạng xã hội chủ nghĩa” Dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích đứng đầu là VI.Lênin, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga đã tiến hành khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền ở Pêtơrôgrat (thủ đô nước Nga lúc đó) đêm 24 rạng ngày 25 tháng 10 năm 1917 (lịch cũ của nước Nga)

Thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga là thắng lợi của cách mạng

xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, đã đưa chủ nghĩa xã hội từ lý luận trở thành hiện thực, nó đã đặt ra và giải quyết những vấn đề lý luận cơ bản nhất của chủ nghĩa Marx về cách mạng vô sản, chuyên chính vô sản, về việc xây dựng lực lượng đồng minh của giai cấp vô sản Cách mạng Tháng Mười còn chứng minh những dự báo, sự phát triển lý luận chủ nghĩa Marx của VI.Lênin

là đúng đắn, có giá trị mở đường cho phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới

Như nhận định của Hồ Chí Minh “giống như mặt trời chói lọi, cách

mạng Tháng Mười Nga chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người

bị áp bức bóc lột trên trái đất” Với thắng lợi Cách mạng tháng Mười, nhân

loại bước vào thời đại mới- thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa

xã hội trên phạm vi toàn thế giới

2 Sau cách mạng tháng Mười Nga Mô hình xã hội chủ nghĩa đầu tiên được xây dựng

a Thời kì 1917 đến 1929

Cách mạng Tháng Mười thành công, nhà nước Xôviết - chính quyền của giai cấp công nhân và nhân dân lao động được thành lập Nước Nga trở thành

Trang 3

nước đầu tiên đi lên chủ nghĩa xã hội trong vòng vây thù địch của chủ nghĩa

đế quốc Trong tình hình không có bất cứ kinh nghiệm nào có thể noi theo, Đảng Bônsêvích và nhà nước Xôviết chỉ có thể căn cứ vào ý tưởng của Marx

về xã hội chủ nghĩa tương lai và tình hình nước Nga lúc bấy giờ mà tìm kiếm phương thức xây dựng chủ nghĩa xã hội

Sau khi cách mạng thành công Chính quyền Xôviết ban hành hai Sắc

lệnh đầu tiên là Sắc lệnh về “hoà bình” nhằm rút ra khỏi chiến tranh đế quốc chủ nghĩa và Sắc lệnh về “ruộng đất” nhằm xoá bỏ chế độ sở hữu ruộng đất của địa chủ Đầu năm 1918, V.I.Lênin viết tác phẩm “Những nhiệm vụ trước

mắt của chính quyền Xôviết”, đặt ra những nhiệm vụ nhằm “tổ chức và quản

lí nước Nga” chủ trương thông qua chủ nghĩa tư bản quá độ đi lên chủ nghĩa

xã hội Nhưng sự can thiệp vũ trang của các nước đế quốc và cuộc phản loạn phản cách mạng trong nước buộc nhà nước Xôviết phải thực hiện chính sách

“Cộng sản thời chiến” (1918-1920) Ở thời kỳ này, mô hình chủ nghĩa xã hội

phát triển theo hướng lấy quốc hữu hoá tư liệu sản xuất làm cơ sở, mà đặc trưng là thể chế kế hoạch và phân phối nhà nước tập trung cao độ, mọi quyền lực tập trung vào trung ương Nhà nước trưng thu không bồi thường lương thực của nông dân, xoá bỏ thị trường, cấm trao đổi hàng hoá và hoạt động buôn bán, thực hiện chế độ tem phiếu cung cấp v.v Mặc dù thể chế này có ý nghĩa với thắng lợi nội chiến nhưng nó đã cản trở sự phát triển sản xuất, phá hoại liên minh công nông, đe doạ sự tồn tại của nhà nước Xôviết

Mùa xuân năm 1921, chiến tranh và nội chiến kết thúc, V.I.Lênin tỉnh táo đánh giá tình hình đã thay đổi, uốn nắn những sai lầm nóng vội, kịp thời

chuyển Chính sách “cộng sản thời chiến” sang chính sách “Kinh tế mới”; từ

bỏ tiến thẳng, lựa chọn biện pháp đi vòng lên chủ nghĩa xã hội Xuất phát từ hiện trạng kinh tế nước Nga lạc hậu, V.I.Lênin chủ trương cho phép bộ phận kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển, thu hút vốn nước ngoài, thực hiện chế độ

Trang 4

tô nhượng và cho thuê, để chủ nghĩa xã hội có thể được học hỏi thông qua cạnh tranh thị trường hàng hoá, qua đó có thể học tập kế thừa không chỉ kinh nghiệm sản xuất kinh doanh mà còn là kinh nghiệm quản lý kinh tế, quản lý nhà nước Nhà nước công nông phải nhanh chóng đuổi kịp làn sóng cách mạng kỹ thuật mới của thế giới Trong thời kì thực hiện chính sách kinh tế mới, Liên xô đã kí hợp đồng thuê nhượng với các công ty nước ngoài, năm

1921 là 5 hợp đồng, năm 1926 là 144 hợp đồng (24 hợp đồng khai thác mỏ,

41 hợp đồng thuộc ngành gia công, 36 hợp đồng thương nghiệp, 43 hợp đồng khác) Năm 1927 đã xây dựng 73 xí nghiệp thuê nhượng, năm 1928 nước ngoài đầu tư tăng lên đến 57,7 triệu rúp21 Liên xô cón lợi dụng khoản vay nước ngoài để nhập thiết bị, kỹ thuật và nhân tài.Điều đó đóng vai trò quan trọng đối với việc phục hồi và phát triển kinh tế Liên xô

Ở thời kỳ này, V.I.Lênin cũng rất quan tâm đến việc xây dựng bộ máy nhà nước Năm năm sau cách mạng Tháng Mười, V.I.Lênin cảm nhận rằng

“những cơ quan này chỉ luôn tô điểm bề ngoài, còn các mặt khác xem ra vẫn

là một số cơ quan nhà nước kiểu cũ điển hình nhất” Bộ máy nhà nước tập

quyền nặng nề, bệnh quan liêu nảy nở vì thế cần có sự thay đổi, V.I.Lênin đã

đề ra hàng loạt biện pháp phân quyền, phát huy dân chủ v.v trong cơ quan nhà nước, trong mối quan hệ giữa Đảng và các cơ quan nhà nước Điều này chứng tỏ V.I.Lênin và Đảng Bônsêvích đã cố gắng kết hợp thực tiễn để vận dụng chủ nghĩa Marx nhằm không ngừng củng cố và hoàn thiện chính quyền nhà nước, đảm bảo cho việc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội

b Thời kì 1930 – 1953 (thời Stalin)

Sau khi V.I.Lênin mất, Chính sách Kinh tế mới không được quán triệt thực hiện đầy đủ trên thực tế; từ năm 1930 dưới sự lãnh đạo của Stalin đã kết thúc trước thời hạn chính sách kinh tế mới Liên Xô chủ trương đẩy nhanh

Trang 5

quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, đẩy nhanh quá trình tập thể hoá nông nghiệp toàn diện Cũng thời gian này, sau cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 - 1933), nguy cơ của một cuộc chiến tranh thế giới mới đến gần Trong bối cảnh đó phải làm sao nhanh chóng biến nước Nga lạc hậu thành nước công nghiệp, vừa để xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, xoá

bỏ nghèo nàn lạc hậu, vừa để chuẩn bị đối phó với nguy cơ chiến tranh Để giải quyết nhiệm vụ đó nhà nước Xôviết không thể không áp dụng cơ chế kế hoạch hoá tập trung, từ đó hình thành một mô hình mới trong xây dựng chũ

nghĩa xã hội ở Liên Xô Mô hình đó được thể hiện rõ trong Về dự thảo Hiến

pháp Liên Xô tháng 12- 1936 Đó là: “Cơ sở căn bản của dự án Hiến pháp

sở hữu xã hội chủ nghĩa về đất đai, rừng, nhà máy, công xưởng, những công

cụ và tư liệu sản xuất khác; xóa bỏ bóc lột và giai cấp bóc lột; xóa bỏ thất nghiệp, lao động với tư cách là nghĩa vụ và trách nhiệm của từng công dân có khả năng lao động…” Để thực hiện xây dựng chủ nghĩa xã hội theo nguyên

tắc trên, Stalin cho rằng cần phải tiến hành thật nhanh công nghiệp hóa, tập thể hóa nền kinh tế nông nghiệp và cách mạng văn hóa Theo V.N.Sépchencô: công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội “bên trên” đòi hỏi một phong cách nhất định về lãnh đạo quá trình đó; chính quyền, Đảng và Nhà nước đưa ra những chỉ tiêu xác định dưới dạng những con số quyết định về kế hoạch 5 năm mà việc thực hiện nó là vô điều kiện Vì thế đã hình thành nên một phong cách quản lý hành chính mệnh lệnh, nó xuất hiện trong mọi mặt của đời sống xã hội Có thể gọi mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội của Stalin là mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội mang tính tổng động viên trong những điều kiện đặc biệt lạc hậu của đất nước và những nhân tố bên ngoài cực kì bất lợi Đây cũng

là tất yếu do điều kiện khách quan quy định

Trang 6

Mô hình chủ nghĩa xã hội thời Stalin đã đạt được một số thành tưu to lớn không thể phủ nhận được Chỉ trong một thời gian ngắn thông qua ba kế hoạch 5 năm, Liên Xô đã thực hiện công nghiệp hoá, điện khí hoá, tập thể hoá

và cơ giới hoá nông nghiệp Công hữu hoá và kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân đã làm cho Liên Xô từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành nước công nghiệp tiên tiến, đưa Liên Xô từ vị trí thứ 5 trong nền kinh tế thế giới trước cách mạng (sau Mỹ, Anh, Pháp, Đức), nhảy vọt lên đứng thứ 2 (sau Mỹ) Ở trong nước, Liên Xô đã xoá bỏ kinh tế tư hữu và giai cấp bóc lột, cải tạo kinh tế cá thể của nông dân thành kinh tế tập thể, đời sống của các tầng lớp nhân dân, các dân tộc được cải thiện và nâng cao, bộ mặt xã hội đã có những thay đổi to lớn Thực tiễn xã hội tỏ rõ tính ưu việt hơn hẳn chủ nghĩa tư bản Ngược lại, thế giới tư bản chủ nghĩa sau khủng hoảng kinh tế 1929-1933 được phục hồi đôi chút, năm 1937 lại rơi vào khủng hoảng kinh tế mới làm cho những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản bộc lộ gay gắt cuối cùng nổ ra chiến tranh thế giới thứ hai Trong bối cảnh đó, Liên Xô, nhờ những thành tựu kinh tế mà sức mạnh tổng hợp của đất nước được tăng cường, đã góp phần quyết định vào việc chiến thắng chủ nghĩa phát xít, cứu loài người khỏi thảm hoạ trong chiến tranh thế giới thứ hai và nâng cao uy tín của chủ nghĩa xã hội trên thế giới Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đó thì mô hình chủ nghĩa

xã hội thời Stalin cũng làm cho hệ thống chính trị - xã hội Liên Xô bắt đầu trở nên sơ cứng, dần dần bọc lộ những khuyết tật, hạn chế lớn, thiếu hẳn sự cạnh tranh, khả năng thích ứng, sự uyển chuyển và năng động cần thiết để đất nước phát triển lành mạnh; xã hội Liên Xô ngày càng trở nên trì trệ, nền chính trị với bộ máy quan liêu, độc đoán, chuyên quyền Đặc biệt, những ai đi tìm đường đi khác, mô hình khác cho chủ nghĩa xã hội thời gian này đều bị coi là

xa rời chủ nghĩa xã hội

Trang 7

c Thời kì 1953 đến 1964 (thời Khơrútsốp)

Sau khi Stalin qua đời (3-1953), Khơrútsốp được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng, lãnh đạo đất nước Nhìn chung chính sách kinh tế thời Khơrútsốp không có gì thay đổi so với Stalin, nhưng đời sống chính trị - xã hội có sự biến động khá lớn, đếu đó được thể hiện trong

“Cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa cộng sản ở Liên Xô” được thông qua tại Đại hội lần thứ XXII (10-1961) của Đảng Xuất pháp từ chỗ cho rằng chủ nghĩa

xã hội ở Liên Xô đã thắng lợi hoàn toàn và chắc chắn, đất nước bước vào giai đoạn xây dựng chủ nghĩa cộng sản Cương lĩnh mới đưa ra nhiệm vụ giải quyết các vấn đề quan trọng sau:

+ Trong kinh tế: xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa cộng sản

+ Trong chính trị - xã hội: tiến tới tự quản cộng sản chủ nghĩa

+ Trong tư tưởng – tinh thần: giáo dục con người mới phát triển toàn diện

Đại hội dự kiến thời gian để hiện thực hóa ba nội dung trên là trong vòng

15 đến 20 năm Có thể nhận thấy tính phi hiện thực, duy ý chí và không tưởng trong việc thực hiện ba nội dung trên, vì các nhà Lãnh đạo Liên Xô không thấy được những trở lực từ trong chính bộ máy lãnh đạo (quan liêu, cồng kệnh, mệnh lệnh…) và nền kinh tế đất nước (chậm thích ứng, khả năng co giản và biến động của nền kinh tế kém, ỷ lại, trông chờ…), cũng như những trở lực từ bên ngoài (sự chống phá của các nước tư bản, mâu thuẫn trong nội

bộ các nước xã hội chủ nghĩa…) tác động làm cho bản Cương lĩnh xây dựng

chủ nghĩa cộng sản không thực hiện được

d Thời kì 1964 đến 1982 (thời Brêgiơnép)

Tháng 10 – 1964, L.I.Brêgiơnép được bầu làm tổng bí thư thứ nhất ban chấp hành trung ương Đảng Cũng từ đây chức vụ lãnh đạo của Đảng và Chính phủ không còn tập trung vào một người như trước nữa, Ban lãnh đạo

Trang 8

mới ở Liên Xô có những điều chỉnh nhất định trong đường lối, chính sách

kinh tế và chính sách đối ngoại Cũng từ đây Liên Xô bước vào thời kì “chủ

nghĩa xã hội phát triển” (1965 – 1975), và sau đó là thời kì “tiếp tục hoàn thiện chủ nghĩa xã hội phát triển và xây dựng chủ nghĩa cộng sản” Sự kiện

đáng chú ý là vào năm 1977, Liên Xô ban bố Hiến pháp xã hội chủ nghĩa phát triển, thay cho hiến pháp năm 1936 Ban lãnh đạo Liên Xô lúc đó cho rằng trãi qua hơn 40 năm kể từ thời điểm ban hành hiến pháp 1936, đời sống kinh

tế - xã hội, chính trị của Liên Xô đã thay đổi đáng kể, nhân dân Xôviết đã xây dựng được xã hội xã hội chủ nghĩa phát triển và chin muồi, mà trụ cột của xã hội này là nền công nghiệp tiên tiến, hùng mạnh và nền nông nghiệp lớn, được cơ giới hóa cao Mặc dù vậy, giai đoạn 1964 – 1982 đã đi vào lịch sử với tính cách là “thời kì trì trệ”, bởi trên thực tế ở thời kì này đã xác lập một

hệ thống lãnh đạo, quản lý rất cứng nhắc, kìm hãm sự phát triển của xã hội Xôviết Đó là hệ thống hành chính mệnh lệnh, chế độ kế hoạch hóa và quản lý nghiêm ngặc nền kinh tế quốc dân, thời kỳ tăng cường sự điều hành của Trung ương, hạn chế quyền hành kinh tế của các nước cộng hòa Xôviết và của các địa phương

Sau khi Brêgiơnép qua đời, ngày 12 tháng 11 năm 1982 Iu.V.Anđrôpốp được bầu làm tổng bí thư Ban chấp hành Đảng cộng sản Liên Xô Ông được đánh giá là “con người gieo vào trái tim và tâm trí mọi người niềm hy vọng vào một thời kì tốt đẹp” Tuy nhiên Anđrôpốp chỉ lãnh đạo trong vòng một năm, ba tháng một thời gian quá ngắn để thực hiện những khát vọng của Ông

Kế nhiệm Ông là C.U.Trécnencô (2 – 1984) lãnh đạo đất nước Liên Xô to lớn trong vòng một năm rồi mất M.Goocbachốp được bầu làm tổng bí thư tháng

3 – 1985

Từ năm 1985, Liên Xô bắt đầu thời kì mới, thời kì “tăng tốc” hay “cải tổ” Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà quá trình cải tổ dẫn tới sự sụp đổ

Trang 9

của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô vào năm 1991 Mặc dù vậy, sự tồn tại 74 năm của mô hình chủ nghĩa xã hội Xôviết vẫn đã và đang có ý nghĩa lịch sử to lớn

về nhiều mặt đối với phong trào cách mạng thế giới

II Sự ra đời và phát triển của hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới

Trong chiến tranh thế giới thứ hai, Đảng Cộng sản ở nhiều nước châu

Âu và châu Á đã lãnh đạo quần chúng nhân dân phối hợp với Hồng quân Liên

Xô thành một mặt trận chống phát xít, có sự phối hợp chi viện cho nhau, tăng cường liên hệ quốc tế Chính sự lớn mạnh của các Đảng Cộng sản trong thời

kỳ chiến tranh là cơ sở để khi chủ nghĩa phát xít bị đánh bại, Đảng Cộng sản

ở nhiều nước đã đứng lên lãnh đạo quần chúng nhân dân vũ trang giành chính quyền thành lập nhà nước dân chủ nhân dân Trong thời gian 5 năm (từ năm

1944 đến năm 1949) ở châu Âu và châu Á đã có 11 nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo bằng 3 phương thức đã giành được chính quyền và sau đó đi lên chủ nghĩa xã hội

Phương thức thứ nhất chủ yếu dựa vào lực lượng vũ trang của nhân dân

nước mình, xây dựng các căn cứ địa cách mạng, khi thời cơ đến đã lãnh đạo nhân dân đứng lên giành chính quyền như: cộng hoà nhân dân liên bang Nam

Tư thành lập 1944; nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thành lập 1945; cộng hoà nhân dân Anbani năm 1946 và cộng hoà nhân dân Trung Hoa 1949

Phương thức thứ hai chủ yếu dựa vào Hồng quân Liên Xô giải phóng

đồng thời phối hợp vũ trang của nhân dân nước mình như Cộng hoà nhân dân BaLan (1945), Bungari (1946), Rummani (1948), Hunggari và Tiệp Khắc (1946) nhưng sau đó phải đấu tranh trong nội bộ chính phủ để trục xuất các phần tử tư sản, trở thành nước cộng hoà dân chủ nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo (Hunggari 7/1947; Tiệp Khắc 2/1948) và Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên thành lập 1948

Trang 10

Phương thức thứ ba hoàn toàn do Hồng quân Liên Xô giải phóng và

dưới sự giúp đỡ của Liên Xô để đi lên con đường xã hội chủ nghĩa như Cộng hòa dân chủ Đức (10/1949)

Vậy là sau chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa xã hội từ một nước đã

mở rộng ra 13 nước ở châu Âu và châu Á; với thắng lợi của cách mạng dân

chủ ở CuBa năm 1959, “Phong trào 26 tháng 7” do Phiden Castrô lãnh đạo,

nước cộng hoà Cu Ba chuyển sang chủ nghĩa xã hội Như vậy, chủ nghĩa xã hội đã không chỉ ở châu Âu, châu Á mà còn mở rộng đến khu vực Mỹ Latinh Những nước này về hình thái ý thức đều lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm tư tưởng chỉ đạo Về chính trị hình thành phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu, về quân sự ở châu Âu hình thành tổ chức thông qua Hiệp ước Vacsava

Về quan hệ kinh tế, đó là những nước có chung một kiểu cơ sở kinh tế - xã hội, quyền sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất và thông qua các hiệp ước song phương và Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) để tương trợ giúp đỡ lẫn nhau xây dựng cộng đồng thị trường thế giới xã hội chủ nghĩa Chủ nghĩa xã hội trở thành hệ thống tồn tại song song với hệ thống tư bản chủ nghĩa

III Quá trình tìm tòi con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và những thành tựu chủ yếu của chủ nghĩa xã hội hiện thực

1 Quá trình tìm tòi xây dựng chủ nghĩa xã hội

+ Ở Liên Xô: Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô,

chủ trương, đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô qua các giai đoạn phát triển được đánh giá là thoát ly thực tế của đất nước, lúc nào các nhà lãnh đạo Liên Xô cũng nôn nóng quá độ lên chủ nghĩa cộng sản một cách nhanh

nhất, sớm nhất; kết quả là “dục tốc bất đạt” Năm 1936, Stalin tuyên bố “đã

xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa” Năm 1939 quá độ lên chủ nghĩa cộng sản

nhưng chiến tranh thế giới thứ hai đã làm gián đoạn quá trình này Năm 1952, sau chiến tranh, Đại hội lần thứ XIX Đảng cộng sản Liên Xô lại khôi phục

Trang 11

khẩu hiệu quá độ lên chủ nghĩa cộng sản Thời kì Khơrútsốp (1953 – 1964) tiếp tục kiên trì khẩu hiệu tiếp tục quá độ lên chủ nghĩa cộng sản Năm 1959

Khơrútsốp đề ra khẩu hiệu Liên Xô đã bước vào thời kì mới “đẩy mạnh toàn

diện xây dựng chủ nghĩa cộng sản” Năm 1961, Đại hội XX Đảng cộng sản

Liên Xô đề ra nhiệm vụ phải xây dựng xong về cơ bản xã hội cộng sản chủ nghĩa trong 20 năm, đến năm 1970 phải vượt Mĩ về sản lượng tính theo đầu người, đến cuối năm 1980 phải xây dựng nên cơ sở vật chất của chủ nghĩa cộng sản, tiến tới thực hiện nguyên tắc phân phối theo nhu cầu Đến thời kì của Brêgiơnép (1964 – 1982) đã đánh giá lại và sửa chữa những nhận định và

chính sách của Khơrútsốp, thay đổi khẩu hiệu “đẩy mạnh toàn diện xây dựng

chủ nghĩa cộng sản” bằng cách nói “chủ nghĩa xã hội phát triển”, cho rằng

“xã hội xã hội chủ nghĩa phát triển là một giai đoạn hợp quy luật trên con

đường đi tới chủ nghĩa cộng sản” Đến thời kì của Anđrôpốp vẫn theo quan

điểm của Brêgiơnép Sau khi M.Goocbachốp lên cầm quyền, năm 1986 ông

dung cách nói “chủ nghĩa xã hội đang phát triển”, nhưng đánh giá này không

trở thành căn cứ của Đảng trong việc hoạch định đường lối chiến lược Các nước Đông Âu cũng đi theo mô hình của Liên Xô nên cũng không ít nước cũng nêu ra khẩu hiện xây dựng chủ nghĩa xã hội phát triển, vì thế thể chế kinh tế, chính trị cũng làm theo Liên Xô hoặc bị Liên Xô áp đặt

+ Các nước xã hội chủ nghĩa khác ngoài khu vực Liên Xô và đông Âu cũng tồn tại tư tưởng chỉ đạo “tả” đốt cháy giai đoạn, muốn thành công ngay

Ở Trung Quốc những năm 1950 chủ trương làm cuộc “đại nhảy vọt”, “chạy

1967 thực hiện chuyên chính toàn diện…tất cả những chính sách đó đều mang tính tả khuynh, nóng vội, làm cho tình hình đất nước Trung Quốc đảo lộn, đời sống kinh tế, chính trị - xã hội đứng bên bờ vục sụp đổ Trước tình

Trang 12

hình đó Hội nghị trung ương lần thứ 3 khóa XI đã họp (18 đến 22/12/1978) để tìm biện pháp tháo gỡ khó khăn Trên cơ sở đó, trong lời khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII Đảng cộng sản Trung Quốc (ngày 1-9-1982), ông

Đặng Tiểu Bình cho rằng: "Công cuộc xây dựng hiện đại hóa của chúng ta

phải xuất phát từ thực tế Trung Quốc Bất luận là cách mạng hay xây dựng đều phải chú ý học tập và tham khảo kinh nghiệm của nước ngoài Nhưng sao chép làm theo kinh nghiệm, mô thức nước khác, từ trước đến nay đều không thể thành công Về mặt này chúng ta đã có quá nhiều bài học Đem chân lý phổ biến của chủ nghĩa Marx kết hợp với thực tế cụ thể của nước ta, đi con đường riêng của mình, xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc,

đó là kết luận cơ bản mà chúng ta có được qua sự tổng kết những kinh nghiệm lịch sử lâu dài"

Chỉ có kết hợp nguyên lý chung với đặc điểm riêng một cách linh hoạt sáng tạo để tìm ra con đường riêng của Trung Quốc, đó là chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc Đại hội XII mới chỉ nêu lên vấn đề chứ chưa hệ thống hóa lý luận chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc Vấn đề này được kiểm nghiệm phát triển từ sau Đại hội XII đến Đại hội XIII (1987) mới tổng kết thành hệ thống và tiếp tục được bổ sung, hoàn chỉnh Từ chỗ lấy đấu tranh giai cấp làm chính sang lấy phát triển lực lượng sản xuất làm trọng tâm; chuyển từ đóng cửa sang mở cửa là một bước đột phá về mặt tư duy lý luận của Đảng cộng sản Trung Quốc Đánh giá bước chuyển biến này, Đại hội lần

thứ XV Đảng cộng sản Trung Quốc (12/9/1997) coi đây là “bản tuyên ngôn

trong bối cảnh sau kết khi thúc cuộc Đại cách mạng văn hóa”, mở ra con

đường mới trong thời kì mới, thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc

+ Ở Việt Nam sau khi thực hiện thống nhất đất nước 1976 tuyên bố “đã

bước vào thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, thực hiện phương châm “đẩy

Trang 13

nhanh cải tạo xã hội chủ nghĩa, nhanh chóng từ sản xuất nhỏ đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa” Cùng năm 1976, Đại hội lần thứ IV Đảng cộng sản

Việt Nam đề ra nhiệm vụ phải nhanh chóng xóa bỏ nền kinh tế nhiều thành phần phi xã hội chủ nghĩa, quyết định trong 5 năm phải hoàn thành việc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam, và quyết định trong vòng 20 năm (đến 1996) đưa Việt Nam từ sản xuất nhỏ đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Về sau Đảng cộng sản Việt Nam cho rằng do nhận thức chưa đầy đủ đối với tính lâu dài, tính quanh co phức tạp của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đường

lối và chính sách của Đảng có những sai lầm “thoát ly thực tế nước mình, đi

ngược quy luật khách quan, đốt cháy giai đoạn phát triển ” làm cho nền kinh

tế Việt Nam rơi vào khủng hoảng trì trệ Từ cuối năm 1979 trở đi, nhất là sau Đại hội lần thứ V của Đảng cộng sản Việt Nam (3/1982), Việt Nam bắt đầu điều chỉnh chính sách; đến Đại hội VI năm 1986 bắt đầu đổi mới toàn diện + Ở Lào, sau khi giành thắng lợi cách mạng 1975, Lào bắt đầu thời kỳ

“không kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên chủ

nghĩa xã hội” Đến năm 1976, Lào tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với

công thương nghiệp tư doanh, nghiêm khắc hạn chế hoạt động kinh doanh và phạm vi kinh doanh của tư thương Sau đó thực hiện chính sách thu mua lương thực thừa của nông dân, không được bán lương thực tư do trên thị trường Đến năm 1970 Lào quyết định đẩy mạnh hợp tác hóa nông nghiệp trong cả nước… Do chính sách xa rời thực tế, nền kinh tế Lào ngừng trệ, sản xuất giảm sút Hội nghị Trung ương lần thứ bảy khóa II tháng 11 năm 1979 của Đảng nhân dân cách mạng Lào nhìn lại thiếu sót trong kinh tế và cho rằng

“sai lầm đốt cháy giai đoạn, thoát ly thực tế, nóng vội, mạo hiểm” Đến Đại

hội IV năm 1986, Đảng nhân dân cách mạng Lào đề ra nhiệm vụ trước mắt là phải củng cố và phát triển chế độ dân chủ nhân dân Khắc phục những sai lầm trong chủ trương xây dựng kinh tế, xã hội, chính trị của Lào trước đây

Trang 14

+ Ở Cuba năm 1961 đã tuyên bố thực hiện chủ nghĩa xã hội, tiếp theo đó tiến hành cải tạo chế độ sở hữu tư liệu sản xuất, năm 1963 hoàn thành cải cách ruộng đất và quốc hữu hóa xí nghiệp nước ngoài và nhanh chóng xây

dựng chế độ “quốc hữu” làm chính Năm 1968 phát động cuộc tấn công cách

mạng thủ tiêu toàn bộ kinh tế tư nhân, buôn bán lẽ, thực hiện công hữu hóa, quốc hữu hóa tư liệu sản xuất một cách triệt để Về sao Phiden Castro người

lãnh đạo Cuba cho rằng những năm 1960 làm việc xuất phát từ “lý tưởng”, dựa vào tình cảm đã mắc sai lầm “duy tâm chủ nghĩa” đi ngược quy luật

khách quan Năm 1970, Cuba bắt đầu những sai lầm và quyết định thành lập

“thể chế lãnh đạo kinh tế và kế hoạch” Đến năm 1980 tiến hành triển khai

một số cải cách nhỏ, lợi dụng thị trường đề phát triển, đến năm 1990 Cuba mở cửa thị trường buôn bán nông phẩm làm dịu tình hình căng thẳng Năm 1993 Cuba tuyên bố cải cách nền kinh tế Cuba bắt đầu đi lên và từng bước phát triển ổn định

2 Những thành tựu chủ yếu của chủ nghĩa xã hội hiện thực

Khi bắt đầu sự nghiệp cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, các nước xã hội chủ nghĩa có những đặc điểm khác nhau nhưng có điểm chung nổi bật là đều từ điểm xuất phát thấp về kinh tế - xã hội, nhiều nước đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu Ở châu Âu, tuy kinh tế tư bản chủ nghĩa đã phát triển ở trình độ nhất định nhưng giai cấp tư sản trước đó cũng chưa tạo được một nền công nghiệp tương đối hoàn chỉnh

Ở châu Á, các nước đi lên chủ nghĩa xã hội như Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Mông Cổ đều là những nước lạc hậu từ sản xuất nhỏ chưa qua tư bản chủ nghĩa đi lên chủ nghĩa xã hội Hơn nữa các nước đi lên chủ nghĩa xã hội đều phải trãi qua những cuộc chiến tranh kéo dài, đất nước bị tàn phá nặng nề

Có thấy hết những khó khăn khi bắt tay vào thực hiện những nhiệm vụ chưa

Trang 15

từng có tiền lệ trong lịch sử, mới thấy được những thành tựu trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội mà các nước đi lên chủ nghĩa xã hội tạo ra

Trãi qua hơn 70 năm tồn tại và phát triển chủ nghĩa xã hội đã đem lại những thành tựu to lớn

+ Về chính trị Chế độ người bóc lột người về cơ bản đã bị xoá bỏ, trên

phạm vi toàn xã hội không còn tồn tại giai cấp bóc lột, chế độ xã hội chủ nghĩa từng bước được xây dựng, nhân dân lao động trở thành người làm chủ đất nước Chế độ xã hội chủ nghĩa đã tạo nên sự thống nhất trong cộng đồng

xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lí điều hành của nhà nước đã tập trung được mọi nguồn lực, sự đồng thuận của xã hội để vượt qua khó khăn thử thách

+ Về kinh tế Từ những điểm xuất phát thấp, nhưng nhờ tập trung nguồn

lực của cải vật chất, phát huy sức mạnh chính trị, các nước xã hội chủ nghĩa

đã đạt được những thành tựu to lớn trong kinh tế Nước Nga sau cách mạng Tháng Mười, qua 3 năm chiến tranh và nội chiến như người “bị đánh sắp chết” và tồn tại trong vòng vây thù địch của chủ nghĩa đế quốc nhưng đến năm 1938 sản lượng công nghiệp của Liên Xô tăng hơn 9 lần so với 1913, trong khi đó Mỹ, Anh và Đức chỉ tăng khoảng 1,3 lần Liên Xô từ một nước nông nghiệp lạc hậu chỉ qua 3 kế hoạch 5 năm thực hiện công nghiệp hoá, điện khí hoá, tập thể hoá và cơ giới hoá nông nghiệp đã trở thành nước công nghiệp tiến tiến Sự lớn mạnh về kinh tế tạo điều kiện để phát triển công nghiệp quốc phòng, đảm bảo cho Liên Xô có điều kiện bảo vệ vững chắc tổ quốc xã hội chủ nghĩa và góp phần quyết định vào việc chiến thắng chủ nghĩa phát xít trong chiến tranh thế giới thứ hai Sau chiến tranh thế giới thứ II, hệ thống xã hội chủ nghĩa có sự phát triển to lớn, chỉ tính riêng các nước tham gia Hội đồng tương trợ kinh tế, khi mới thành lập (1949) chỉ chiếm 20% tổng sản lượng công nghiệp thế giới, đến đầu những năm 80 đã chiếm 40% Nhịp

Trang 16

độ phát triển kinh tế trong những năm 60, 70 của thế kỷ XX ở các nước xã hội chủ nghĩa đã cao hơn 2 lần so với các nước tư bản chủ nghĩa

+ Về văn hoá khoa học kỹ thuật Các nước xã hội chủ nghĩa cũng đã đạt

được những thành tựu rực rỡ: nâng cao trình độ học vấn cho người lao động, dẫn đầu thế giới về nhiều lĩnh vực, nhất là lĩnh vực nghiên cứu chinh phục khoảng không vũ trụ Trong các lĩnh vực văn hoá, giáo dục, y tế cũng có những thành tựu to lớn

Với sức mạnh tổng hợp của mình, hệ thống xã hội chủ nghĩa đã có ảnh hưởng to lớn đến đời sống chính trị thế giới Chủ nghĩa xã hội trở thành chổ dựa của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào bảo vệ hoà bình thế giới Các nước xã hội chủ nghĩa đã góp phần thức tỉnh, cổ vũ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, làm sụp đổ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc Ở nhiều nước sau khi giành độc lập dân tộc đã lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa cho dân tộc mình Cũng chính sự lớn mạnh của chủ nghĩa xã hội, sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc và cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động những thập niên 50, 60 và 70 của thế kỷ XX buộc các nước tư bản chủ nghĩa muốn tồn tại phải có những điều chỉnh của

Trong những thành tựu cơ bản trên, chủ nghĩa xã hội hiện thực còn có những đóng góp hết sức to lớn cho sự phát triển của nhân loại cụ thể:

+ Trước hết: chủ nghĩa xã hội giành được thành tựu to lớn về mặt tìm

tòi, xây dựng một chế độ xã hội hoàn toàn mới Kể từ khi chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời cho đến nay, đặc biệt là sau khi xuất hiện nhà nước xã hội chủ nghĩa, lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội đã giành được những tiến bộ

to lớn trong việc tìm tòi một chế độ xã hội khác với chế độ bóc lột, tức là có thể bảo đảm sự bình đẳng chính trị và quyền làm chủ của toàn thể nhân dân, xóa bỏ chế độ người bóc lột người Mọi quyền lực nhà nước xã hội chủ nghĩa

Trang 17

đều thuộc về nhân dân, nhân dân thực sự làm chủ, bảo đảm sự bình đẳng chính trị của toàn thể nhân dân, thực hiện bầu cử dân chủ, quyết sách dân chủ, bảo đảm nhân dân được hưởng quyền lợi và sự tự do rộng rãi theo pháp luật, tôn trọng và bảo đảm quyền con người Các nhà nước xã hội chủ nghĩa kiên trì lấy chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa làm nền tảng của chế độ kinh tế, từng bước xóa bỏ chế độ người bóc lột người

+ Thứ hai: chủ nghĩa xã hội đã khiến cho loài người dần dần thoát khỏi

“vòng xoái quái ác của chiến tranh”, làm cân bằng với thế lực chiến tranh, duy trì hòa bình thế giới Sau khi bước vào thế kỉ XX, mâu thuẫn giữa các cường quốc đế quốc gay gắt chưa tưng thấy, chúng đã kiệt sức trong việc điều tiết mối quan hệ lẫn nhau, bên nào cũng ra sức dùng chiến tranh tàn khốc để

áp đảo và trấn áp đối phương nhằm bá quyền và thống trị thế giới Thế là trong hai ba chục năm ngắn ngủi đã phải khiến cho loài người phải gánh chịu tai ương của hai cuộc chiến tranh thế giới Sự ra đời và vươn lên của các nước

xã hội chủ nghĩa đã khiến cho loài người dần dần thoát khỏi vòng xoái tai quái của chiến tranh này Sau khi cách mạng tháng mười Nga thành công, chính quyền Xô viết lập tức ra tuyên bố rút khỏi chiến tranh bẩn thiểu, đồng thời ban bố sắc lệnh hòa bình, kêu gọi kí hòa ước vô điều kiện, đẩy nhanh việt kết thúc chiến tranh thế giới thứ nhất Trong chiến tranh thế giới thứ hai, Liên

Xô xã hội chủ nghĩa đã trở thành đội quân chủ lực của cuộc chiến tranh chống phát xít Sau chiến tranh, Mĩ và đồng minh đóng quân khắp nơi trên thế giới, hình thành các tập đoàn quân sự, trang bị vũ khí hạt nhân uy hiếp lẫn nhau, khiến cho thế giới đứng trước nguy cơ của một cuộc đại chiến thế giới Những năm 1950, vệ tinh nhân tạo của Liên Xô đươc phóng lên vũ trụ, thử nghiệm thành công bom nguyên tử, những năm 1950 – 1960, Trung Quốc thử nghiệm hai tên lửa, một vệ tinh thành công làm cho thế giới có được lực lượng cân bằng chiến tranh Có thể nói không có các nước xã hội chủ nghĩa

Trang 18

và lực lượng yêu chuộng hòa bình trên thế giới tiến hành cuộc chiến tranh không mệt mỏi với thế lực đế quốc, thì chiến tranh thế giới thứ ba có thể sẽ diễn ra gây ra đau khổ cho nhân loại

+ Thứ ba: chủ nghĩa xã hội đã phát huy vai trò to lớn trong việc chôn

vùi chủ nghĩa thực dân tàn bạo Chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc đã nô dịch, cướp bóc, áp bức và bóc lột các nước nhỏ yếu trên thế giới trong suốt một thời gian dài, chia cắt xong thế giới, xây dựng một hệ thống thực dân tàn bạo trên thế giới Thắng lợi cách mạng tháng Mười đã tăng cường thêm lòng tin chống áp bức thực dân của đông đảo nhân dân các nơi thuộc địa, nửa thuộc địa và phụ thuộc; đồng thời cung cấp cho họ vũ khí tư tưởng để tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng Dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội, đặc biệt sau chiến tranh thế giới thứ hai, làn sóng phong trào giải phóng dân tộc ngày một dâng cao, lần lượt có hơn 100 nước giành được độc lập, làm cho hệ thống thực dân được chủ nghĩa đế quốc dựng lên hàng mấy thế kỉ cuối cùng sụp đổ hoàn toàn

+ Thứ tư: chủ nghĩa xã hội đã có đóng góp quan trọng đối với việc

thúc đẩy tiến bộ lịch sử và văn minh nhân loại phát triển Chủ nghĩa tư bản tuy coi chủ nghĩa xã hội là mặt đối lập, nhưng thực tế, không có chủ nghĩa xã hội, thì không có được chủ nghĩa tư bản đã cải tạo ngày nay

Cuộc đại khủng hoảng thế giới bùng nổ năm 1929, đã tuyên cáo lý luận

tự điều tiết thị trường truyền thống của chủ nghĩa tư bản bị mất hiệu lực, cần tìm kiếm lối thoát mới Thể chế kế hoạch xã hội chủ nghĩa mà Liên Xô mới xây dựng về khách quan đã cung cấp cho chủ nghĩa tư bản một vật tham chiếu, khiến cho chủ nghĩa tư bản có được thuật kéo dài sự già yếu từ trong thể chế này Trước khi cuộc đại khủng hoảng bùng nổ, Liên Xô đã bắt đầu thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất từ 1928, điều này lập tức khiến cho các nhà kinh tế học phương Tây chú ý chặt chẽ Chủ tịch hiệp hội kinh tế Mĩ, nhà

Trang 19

lý luận trường phái kinh tế học cổ điển mới Pred Manvill Taylor (1855 – 1932), năm 1929 đã công bố bài “Chỉ dẫn sản xuất của nhà nước xã hội chủ nghĩa”, đưa ra khái niệm mới “kế hoạch mang tính chỉ đạo” nhấn mạnh các nước tư bản chủ nghĩa nếu như áp dụng “kế hoạch mang tính chỉ đạo” để tiến hành điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế thị trường thì sẽ rất có lợi Năm 1929, vào thời phút Mĩ lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế nặng nề, sau khi lãnh tụ đảng dân chủ Roosevelt lên làm tổng thống, đã nghe theo lời khuyên nhà nước can thiệp, chính phủ tiến hành điều tiết kế hoạch, bắt đầu thực hiện

“chính sách mới”, từ đó làm cho chủ nghĩa tư bản “ngoài bàn tay vô hình” này ra, lại thêm một “bàn tay hữu hình” nhà nước can thiệp, quả nhiên thu được hiệu quả đẩy nhanh phục hội kinh tế Không lâu sau, tức vào năm 1936, nhà kinh tế học của Anh Jonh Maynard Keynes (1883 – 1946) đã công bố tác phẩm tiêu biểu “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ”, mới tổng kết

về mặt lý luận kinh nghiệm biện pháp chống khủng hoảng của các nước tư bản chủ nghĩa, đưa ra lý luận cơ bản thích ứng với nhu cầu của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước Đó chính là tăng cường sự can thiệp và điều tiết của nhà nước dưới tiền đề không đụng chạm đến chế độ tư hữu của chủ nghĩa tư bản

Tóm lại, trong thế kỉ XX, chủ nghĩa xã hội đã mở ra thời đại mới trong

lịch sử loài người, chiến thắng chủ nghĩa phát xít cực kì hung ác, làm cân bằng thế lực chiến tranh, bảo vệ hòa bình thế giới, thúc đẩy sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc, chôn vùi hệ thống thực dân tàn bạo, đồng thời buộc chủ nghĩa tư bản phải tiến hành điều chỉnh và cải tạo, từ đó có đóng góp không thể phai mờ đối với tiến bộ loài người và văn minh thế giới Không có chủ nghĩa xã hội thì sẽ không có những điều chỉnh tiến bộ ngày nay

Trang 20

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Trình bày bước ngoặt đưa chủ nghĩa xã hội khoa học trở thành hiện thực?

2 Mô hình chủ nghĩa xã hội được xây dựng đầu tiên như thế nào?

3 Sự ra đời và phát triển của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới và quá trình tìm con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của các nước trong hệ thống đó?

4 Những thành tựu của chủ nghĩa xã hội hiện thực trong quá trình xây dựng?

Trang 21

Chương V: SỰ SỤP ĐỔ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HIỆN THỰC Ở LIÊN XÔ

VÀ ĐÔNG ÂU – NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHỦ YẾU

I Sự khủng hoảng và sụp đổ chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô

và Đông Âu

Bắt đầu từ cuối những năm 80 của thế kỉ XX, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đi vào thời kì khủng hoảng Từ tháng 4/1989 đến tháng 9/1991, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô lần lượt sụp đổ,

tạo nên “cơn chấn động” chính trị lớn nhất trong lịch sử phong trào cộng sản

và công nhân quốc tế Vấn đề đặt ra là vì sao chế độ xã hội chủ nghĩa lại bị thất bại ở Liên Xô và Đông Âu? Cho đến nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hiện tượng lịch sử này, đưa ra nhiều nguyên nhân cả sâu xa và trực tiếp, cả bên trong và bên ngoài để cắt nghĩa, lí giải về sự khủng hoảng và sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên

Xô và Đông Âu, trong đó có các nguyên nhân chủ yếu sau:

1 Nguyên nhân khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu

a Về kinh tế

Bước vào thập niên 70 của thế kỉ XX, tình hình thế giới có nhiều biến động, báo hiệu cuộc khủng hoảng chung mang tính toàn cầu (không trừ một quốc gia nào) Mở đầu là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng về năng lượng dầu

mỏ năm 1973, chứng tỏ sự khan hiếm và thiếu hụt của nguồn năng lượng dầu

mỏ, dẫn tới giá cả tăng cao, kéo theo là hàng loạt các cuộc khủng hoảng khác

về kinh tế, tài chính và chính trị, đặt ra cho toàn nhân loại những vấn đề bức thiết phải giải quyết (sự bùng nổ dân số, hiểm họa môi trường, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt; sự giao lưu, hợp tác quốc tế ngày càng phát triển theo xu thế quốc tế hóa…) để thích nghi về kinh tế, chính trị và xã hội

Những biến động này đòi hỏi các quốc gia phải tiến hành những cải cách điều chỉnh về cơ cấu kinh tế, chính trị - xã hội cho phù hợp với tình hình mới

Trang 22

Đây là sự thách thức và cũng là một cơ hội để vươn lên của mỗi quốc gia, nhưng những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước Liên Xô và Đông Âu lại không nhận thức đầy đủ những thách thức đó, chủ quan cho rằng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa không chịu sự tác động của cuộc khủng hoảng chung toàn thế giới nên chậm thích ứng, chậm sửa đổi và đã bỏ lỡ cơ hội này Trước hết, là

do quan niệm giản đơn, phiến diện về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất; cho rằng, có thể dùng ý chí cách mạng để xây dựng nhanh quan hệ sản xuất tiên tiến trên cái nền lực lượng sản xuất còn nhiều yếu kém và lạc hậu, và cho rằng, quan hệ sản xuất tiên tiến tự nó mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ Liên Xô bị khủng hoảng từ lâu nhưng mãi đến năm 1985 mới bắt đầu cải tổ Các nhà lãnh đạo Đông Âu thì cho rằng chủ nghĩa xã hội là ưu việt và bản thân họ chẳng có gì sai mà sửa chữa Song khi thay đổi lại xa rời nguyên lý Marx – Lênin

Sau cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới năm 1973, các nước tư bản chủ nghĩa đã ngồi lại họp với nhau và nhận thấy một điều rằng: sự phát triển của họ không còn phù hợp, cần phải tự điều chỉnh và thích nghi hơn với tình hình mới Vì thế, họ đã nhanh chóng tiến hành nhiều cải cách, điều chỉnh cơ cấu kinh tế, chính trị, xã hội, hình thức quản lí, đi sâu vào khoa học – kĩ thuật, đổi mới công nghệ, nên đã vượt qua được khủng hoảng và tiếp tục đi lên Thế giới đang chứng kiến những đổi thay kì diệu do cuộc cách mạng khoa học – công nghệ mang lại Cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật thế giới hay còn gọi là cách mạng công nghệ bước sang giai đoạn mới, phát triển theo chiều sâu, đã đạt được những thành tựu kì diệu, có vị trí và ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự phát triển của lịch sử nhân loại:

+ Một là, làm thay đổi các nhân tố sản xuất, thúc đẩy sự phát triển nhanh

chóng của sản xuất và tăng năng suất lao động, mở rộng lĩnh vực hoạt động của con người, sáng tạo công cụ và kĩ thuật sản xuất mới, cải tiến việc sản

Trang 23

xuất và quản lí lao động, nâng cao không ngừng mức sống và chất lượng cuộc sống của con người Từ đó dẫn đến những thay đổi lớn về cơ cấu dân cư, chất lượng nguồn nhân lực, những đòi hỏi mới về giáo dục và đào tạo nghề nghiệp

+ Hai là, loài người chuyển sang một nền văn minh mới với nhiều tên

gọi

+ Ba là, kinh tế thế giới được quốc tế hóa cao độ, xu thế toàn cầu hóa –

khu vực hóa đang từng bước phát triển – thế giới như thu nhỏ lại, mọi sự liên lạc, gặp gỡ có thể diễn ra hết sức nhanh chóng

+ Bốn là, những mặt trái của khoa học – kĩ thuật mà con người chưa thể

khắc phục được như tình trạng ô nhiễm môi trường trên Trái đất cũng như trong vũ trụ, những tai nạn lao động và giao thông, các loại dịch bệnh mới…

và nhất là việc chế tạo những loại vũ khí hiện đại có sức công phá và hủy diệt nhiều lần sự sống trên hành tinh

Trong tình hình mới, mô hình và cơ chế kinh tế cũ của chủ nghĩa xã hội vốn đã tồn tại nhiều khuyết tật (phát triển kinh tế theo chiều rộng với hiệu quả thấp và thiếu sức sống, phủ nhận quy luật khách quan về kinh tế), đã cản trở

sự phát triển mọi mặt của xã hội Sau khi V.I.Lênin qua đời ở Liên Xô, chính sách kinh tế mới không được tiếp tục thực hiện mà chuyển sang kế hoạch hóa tập trung cao độ Thời gian đầu, kế hoạch hóa tập trung đã phát huy tác dụng mạnh mẽ, song đã biến dạng thành kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp Sau chiến tranh thế giới lần hai, Liên Xô vẫn tiếp tục duy trì mô hình này Trong mô hình này đã tuyệt đối hóa, từ bỏ hay gần như từ bỏ một cách chủ quan duy ý chí nền kinh tế hàng hóa, cơ chế thị trường, thực hiện bao cấp tràn lan, triệt tiêu tính chủ động, sáng tạo của người lao động

Bên cạnh đó, một nguyên nhân khác là các nhà lãnh đạo của Liên Xô và Đông Âu đã đánh giá quá cao chủ nghĩa xã hội hiện thực và đánh giá quá thấp

Trang 24

chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc; chủ quan nóng vội, đốt cháy giai đoạn trong việc hoạch định các bước đi của tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội (như quan điểm của Liên Xô về “chủ nghĩa xã hội đã hoàn toàn thắng lợi”,

“xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa”, “chủ nghĩa xã hội phát triển” ), không thấy hết tính chất lâu dài, quanh co, phức tạp của thời kì quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội

Những sai lầm chủ quan nghiêm trọng kéo dài trên đã cản trở sự cải tổ, cải cách, đổi mới, là nguyên nhân sâu xa làm chế độ xã hội chủ nghĩa suy yếu, rơi vào khủng hoảng Đó không phải những sai lầm khuyết tật do bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, mà do quan niệm giáo điều về chủ nghĩa xã hội

b Về chính trị

Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, xây dựng năng lực cầm quyền của một chính đảng cách mạng sau khi giành được chính quyền chưa thực hiện đầy đủ, khiến Đảng không phát huy được vai trò của người lãnh đạo, người tổ chức nhân dân; vừa không phát huy dân chủ trong Đảng và trong xã hội , dẫn đến tình trạng quan liêu, tham nhũng, xa rời quần chúng,

xa rời thực tiễn

Sự bất mãn trong nhân dân ngày càng tăng trước những hiện tượng thiếu dân chủ, chưa công bằng, vi phạm pháp chế xã hội chủ nghĩa, tệ quan liêu, độc đoán trong bộ máy Nhà nước làm cho đất nước lâm vào tình trạng trì trệ rồi khủng hoảng toàn diện

Trong những năm 1989 – 1991, chế độ xã hội chủ nghĩa đã bị sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu, chế độ mới được dựng lên với những nét chung nổi bật là:

• Tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội

• Thực hiện đa nguyên chính trị và chế độ đa đảng

Trang 25

• Xây dựng Nhà nước pháp quyền đại nghị và nền kinh tế theo cơ chế thị trường

• Các chính đảng vô sản đều đổi tên đảng và chia rẽ thành nhiều phe phái

• Tên nước, Quốc kì, Quốc huy và ngày Quốc khánh thay đổi, theo hướng chung gọi là các nước cộng hòa

2 Nguyên nhân sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu

Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu là do nhiều nguyên nhân

- Nguyên nhân sâu xa nằm trong mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội theo kiểu cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp thay cho cơ chế thị trường, kế hoạch hóa cao độ Mô hình đó đã có những phù hợp nhất định trong thời kì đặc biệt trước đây, nhưng không còn phù hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa, không sáng tạo và không năng động, ngày càng bộc lộ sự thiếu tôn trọng các quy luật phát triển khách quan về kinh tế - xã hội, chủ quan, duy ý chí, làm nảy sinh tình trạng thụ động xã hội, thiếu dân chủ và công bằng, vi phạm pháp chế xã hội chủ nghĩa

Xét về mặt kinh tế, khiếm khuyết và hạn chế của mô hình cũ là đã không chú trọng đầy đủ tới đặc điểm kinh tế hàng hóa và quy luật giá trị, tới cơ cấu

đa dạng của sản phẩm hàng hóa có chất lượng và giá trị cao để cạnh tranh Do quan niệm giản đơn về tính thuần nhất của sở hữu xã hội chủ nghĩa nên các hình thức sở hữu ngoài quốc doanh và tập thể không được chú trọng, tiềm năng và năng lực kinh tế cá thể, tư nhân không được khai thác Chủ nghĩa tư bản nhà nước như một hình thức phát triển kinh tế của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Lênin nêu ra trong Chính sách kinh tế mới (NEP) đã không được vận dụng Kinh tế hiện vật và kinh tế chỉ huy đã chi phối mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, dẫn đến sự cứng nhắc trong quản lí, trong cơ chế và

Trang 26

chính sách Năng suất, chất lượng, hiệu quả tuy vẫn được thường xuyên nhắc tới nhưng lại không dựa trên cơ sở lợi ích trực tiếp của người lao động nên không khuyến khích được sự nhiệt tình, chủ động, sáng tạo của người lao động Tài sản, nguyên vật liệu và các nguồn lực, kể cả con người bị lãng phí rất lớn Kĩ thuật công nghệ bị lạc hậu chậm đổi mới

Xét về mặt chính trị, hạn chế của mô hình này biểu hiện ở chỗ hệ thống

tổ chức và bộ máy cồng kềnh, nhiều tầng nấc, dễ dẫn tới tình trạng quan liêu hóa, xa rời thực tiễn, xa dân, kém hiệu quả, không phân biệt rõ ràng, chức năng, nhiệm vụ và phương thức hoạt động giữa Đảng và Nhà nước cũng như các tổ chức khác trong hệ thống tổ chức chính trị, dẫn tới sự chồng chéo dẫm chân lên nhau Nguyên tắc tập trung dân chủ bị vi phạm Quyền làm chủ của người lao động, sự tham gia của quần chúng vào hoạt động quản lí Nhà nước

và đời sống chính trị - xã hội nói chung còn bị hạn chế và ít tác dụng do tính chất dân chủ hình thức, quan liêu, tham nhũng gây nên

Xét về mặt văn hóa – xã hội và đời sống tinh thần, những khiếm khuyết của mô hình cũ biểu hiện ở sự vi phạm quyền tự do dân chủ của công dân, sự thiếu nghiêm minh trong việc thực thi pháp luật, thiếu dân chủ và công bằng

xã hội Tính hình thức và bệnh giáo điều đã làm cho công tác giáo dục hệ tư tưởng và ý thức xã hội xa rời thực tế cuộc sống, lí luận tách rời thực tiễn Các lĩnh vực văn hóa tinh thần rơi vào sự đơn điệu, nghèo nàn Sự giao lưu văn hóa quốc tế không được khuyến khích

- Những thiếu sót, khuyết tật lâu ngày chậm được khắc phục, sửa chữa càng làm cho các nước xã hội chủ nghĩa xa rời những tiến bộ, văn minh của thế giới, nhất là sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học – kĩ thuật hiện đại, đưa tới tình trạng trượt dài từ trì trệ đến khủng hoảng nặng nề về kinh tế - xã hội Sự thực, không phải các nhà lãnh đạo nhiều nước xã hội chủ

Trang 27

nghĩa trước đây không nhận thấy những trì trệ đó, nhưng mọi cố gắng cải cách đều không thu được kết quả trong khuôn khổ cơ chế mô hình cũ

- Sau này khi tiến hành cải tổ, cải cách, những người lãnh đạo ở Liên Xô

và Đông Âu lại liên tiếp phạm thêm nhiều sai lầm nghiêm trọng về bước đi, nội dung, phương pháp, trong đó điều chủ yếu là buông lỏng chuyên chính vô sản, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xa rời chủ nghĩa Marx – Lênin, hiện thực dân chủ hóa, công khai hóa cao độ, mơ hồ về chính trị, giai cấp; bị các thế lực phản động, đế quốc lợi dụng tiến công chủ nghĩa xã hội Cải tổ là tất yếu, khách quan xuất phát từ bản chất của chủ nghĩa xã hội, là nhu cầu chín muồi của các nhân tố chủ quan, khách quan Vấn đề là phải cải

tổ như thế nào Cuộc cải tổ của Goócbachốp được các nước phương Tây ngàn lần cổ vũ, hậu thuẫn… Cải tổ kiểu như thế mà chế độ xã hội chủ nghĩa không sụp đổ mới là điều đáng ngạc nhiên23 Như vậy, trong cải tổ, Đảng Cộng sản Liên Xô và các nước Đông Âu đã mắc sai lầm rất nghiêm trọng về đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức Đó là đường lối hữu khuynh, cơ hội và xét lại, thể hiện trước hết ở những người lãnh đạo cao nhất Những tuyên bố ban đầu:

“cải tổ để có nhiều dân chủ hơn, nhiều chủ nghĩa xã hội hơn”, “chúng ta sẽ đi tới chủ nghĩa xã hội tốt đẹp hơn chứ không đi ra ngoài nó”, “chúng ta tìm trong khuôn khổ của chủ nghĩa xã hội chứ không phải ở ngoài giới hạn của nó những câu trả lời cho các vấn đề do cuộc sống đặt ra” , rốt cuộc chỉ là những tuyên bố suông ngụy trang cho ý đồ phản bội

Có thể thấy sai lầm của cải tổ biểu hiện chủ yếu ở những điểm sau:

Thứ nhất, sự dao động về tư tưởng, lập trường chính trị dẫn tới mất

phương hướng chính trị và từ bỏ nguyên tắc ở những thời điểm bước ngoặt, chấp nhận đa nguyên hệ tư tưởng và đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, phủ

23

Nguyễn Đức Bình – Đôi điều suy nghĩ về vận mệnh chủ nghĩa xã hội.Tạp chí Cộng sản, số 13, 7/2003, tr.10

Trang 28

nhận tập trung dân chủ là nguyên tắc cốt tử của Đảng Cộng sản và Nhà nước

xã hội chủ nghĩa, làm cho Đảng không còn là một tổ chức chính trị cầm quyền mà trở thành một câu lạc bộ bàn suông Nhà nước không còn quyền lực điều hành và không kiểm soát nổi tình hình đất nước

Những người lãnh đạo cải tổ lùi dần từng bước, từng bước, thậm chí ngày càng công khai tuyên bố từ bỏ những mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà họ từng hứa hẹn, từ bỏ chủ nghĩa Marx - Lênin, từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản

Thứ hai, không giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cải cách kinh tế

và cải cách chính trị Khi cải cách kinh tế tiến triển thì không kịp thời tiến hành cải cách chính trị Đến khi cải cách kinh tế gặp khó khăn thì lại chuyển trọng tâm sang cải cách chính trị

Thứ ba, phiêu lưu mạo hiểm trong chính sách, bước đi và biện pháp cải

tổ Đó là tăng tốc kinh tế - kĩ thuật thời kì đầu, cấm bia rượu… là những tính toán chủ quan duy ý chí gây rối loạn kinh tế, mất ổn định xã hội Cải tổ chính trị không dựa trên thực trạng kinh tế, tiến hành “dân chủ công khai” một cách

mơ hồ, mở đường cho các thế lực phản động tấn công vào Đảng, vào chủ nghĩa xã hội, thao túng xã hội, kích động, mị dân, lừa bịp quần chúng

Bằng phát súng lệnh “công khai”, “dân chủ”, “không vùng cấm”, cải tổ

đã nhanh chóng tạo ra làn sóng phê phán, công kích, bôi đen tất cả những gì gắn với lịch sử hơn 70 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, phủ định sạch trơn mọi thành tựu của chủ nghĩa xã hội Nó gây hoang mang, xáo động đến cực

độ trong tư tưởng xã hội, phá vỡ niềm tin của quần chúng đối với những giá trị của chủ nghĩa xã hội Người ta sử dụng toàn bộ phương tiện thông tin đại chúng để làm việc này và chiến dịch tuyên truyền, đào bới, phủ định quá khứ được các đài, báo phương Tây tiếp sức mạnh mẽ và lái theo những ý đồ, mục đích của phương Tây

Ngày đăng: 22/10/2022, 01:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. GS`. Đỗ Tư, GS.PTS. Trịnh Quốc Tuấn; PGS,PTS Nguyễn Đức Bách, Lược khảo lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược khảo lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
7. GS.TS. Hoàng Chí Bảo, Chủ nghĩa xã hội hiện thực và quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa xã hội hiện thực và quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật
17. Trương Lôi Khắc, Tự Lập Bình Lịch sử, hiện trạng và tương lai của chủ nghĩa xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử, hiện trạng và tương lai của chủ nghĩa xã hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
1. C.Mác và Ph. Ăng ghen: toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 Khác
2. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội - 1987 Khác
3. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội - 1991 Khác
4. Đào Xuân Sâm: Chính sách kinh tế mới của Lê nin và công cuộc đổi mới của chúng ta, NXB Sự thật, Hà Nội 1990 Khác
6. PGS. TS. Đỗ Công Tuấn, TS. Đặng Thị Linh: Giáo trình lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Nxb Giáo dục Việt Nam – 2013 Khác
8. GS.TS. Hoàng Chí Bảo, Từ thực tiễn đổi mới đến nhận thức lý luận mới về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ( 1986- 2011), Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội 2012 Khác
9. GS.TS. Nguyễn Ngọc Long (cb): Chủ nghĩa Mác – Lê nin với vận mệnh và tương lai của chủ nghĩa xã hội hiện thực, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2009 Khác
12. Lê Hữu Tầng: Chủ nghĩa xã hội từ lý luận đến thực tiễn những bài học kinh nghiệm chủ yếu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2003 Khác
13. Lý Văn Ngoan: Luận văn thạc sĩ: Công cuộc cải tổ ở Liên Xô (1985- 1991) Khác
14. Ngô Hoan: Nguyên nhân và tác động của sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô tới tiến trình cách mạng thế giới hiện nay. Luận án PTSKH Lịch sử, mã số 50305. Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - 1995 Khác
15. Nguyễn Anh Thái (cb): Lịch sử thế giới hiện đại (1917 - 1945). NXB Giáo dục, Hà Nội - 1998 Khác
16. Tiêu phong: Hai chủ nghĩa một trăm năm. Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Khác
18. V.I.Lênin: toàn tập, tiếng Việt, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva,1978 Khác
19. V.I.Lênin: toàn tập, tiếng Việt, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva,1978 Khác
20. Viện khoa học công an: Sự phản bội của Góocbachốp. Công an nhân dân, Hà Nội - 1998 Khác
21. Xem Lê Hưu Tầng (cb): Chủ nghĩa xã hội từ lý luận đến thức tiễn, những bài học kinh nghiệm chủ yếu, Nxb Chính trị Quốc gia – Hà Nội 3003 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w